Tải bản đầy đủ (.pdf) (127 trang)

Làng bản cổ truyền của dân tộc tày ở huyện võ nhai thái nguyên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.31 MB, 127 trang )


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM





TRẦN VĂN QUYỀN





LÀNG BẢN CỔ TRUYỀN CỦA DÂN TỘC TÀY
Ở HUYỆN VÕ NHAI THÁI NGUYÊN






LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ









THÁI NGUYÊN - NĂM 2010


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM





TRẦN VĂN QUYỀN




LÀNG BẢN CỔ TRUYỀN CỦA DÂN TỘC TÀY
Ở HUYỆN VÕ NHAI THÁI NGUYÊN


Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.54





LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ




NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. ĐÀM THỊ UYÊN



THÁI NGUYÊN - NĂM 2010


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
Lêi c¶m ¬n

Tác giả luận văn xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới người hướng dẫn
khoa học là PGS. TS Đàm Thị Uyên. Người đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ
trong suốt thời gian qua để tác giả hoàn thành luận văn.
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử-
Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, đặc biệt là thầy giáo - nhà dân tộc
học Hoàng Hoa Toàn. Người đã đóng góp những ý kiến rất quý báu và bổ ích
cho tác giả trong qua trình tiến hành luận văn.
Tác giả cũng xin cảm ơn Thư viện trường Đại học sư phạm Thái
Nguyên, Huyện uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và các phòng ban

chuyên môn của huyện Võ Nhai; Sở Văn hoá thông tin tỉnh Thái Nguyên;
Bảo tàng văn hoá các dân tộc Việt Nam, … đã góp phần cung cấp thông tin
giúp tác giả hoàn thành luận văn.
Cuối cùng tác giả xin cảm ơn các bạn đồng nghiệp, là anh Nông Ngọc
Toản giáo viên trường THPT Võ Nhai, anh Nông Ngọc Châu bí thư đoàn xã
Vũ Chấn cùng đông đảo bạn bè và đặc biệt là gia đình, người thân đã quan
tâm, động viên và giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận
văn này.

Thái Nguyên, tháng 09 năm 2010.
Tác giả



TRẦN VĂN QUYỀN





Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU......................................................................................................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................................................................................................................... 6
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề......................................................................................................................................................... 8
3. Mục đích, đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu của đề tài. ..................... 10
3.1. Mục đích ................................................................................................................................................................................................ 10

3.2. Đối tượng nghiên cứu. .................................................................................................................................................... 11
3.3. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................................................................................................. 11
3.4. Nội dung nghiên cứu của đề tài ....................................................................................................................... 11
4. Nguồn tư liệu ............................................................................................................................................................................................... 12
5. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................................................................................................... 12
6. Đóng góp của đề tài .......................................................................................................................................................................... 12
7. Cấu trúc của đề tài .............................................................................................................................................................................. 13
CHƢƠNG 1 ...................................................................................................................................................................................................................... 15
KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN ................................................................ 15
1.1. Lịch sử hành chính huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên ................................................... 15
1.2. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên ........................................................................................................................ 16
1.2.1. Vị trí địa lý ................................................................................................................................................................................... 16
1.2.2. Điều kiện tự nhiên ........................................................................................................................................................... 17
1.3. Khái quát về kinh tế - xã hội của huyện Võ Nhai ..................................................................... 21
1.4. Dân cư và các dân tộc trên địa bàn huyện ............................................................................................. 23
1.4.1. Dân cư ................................................................................................................................................................................................. 23
1.4.2. Các dân tộc ở Võ Nhai ............................................................................................................................................. 25
CHƢƠNG 2 ...................................................................................................................................................................................................................... 29
LÀNG BẢN CỔ TRUYỀN CỦA NGƢỜI TÀY .............................................................................................................. 29
Ở HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN ................................................................................................................ 29
2.1. Tên gọi và không gian sinh tồn ............................................................................................................................... 29


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
2.1.1. Tên gọi và nguồn gốc tên gọi của làng bản ........................................................................... 29
2.1.2. Không gian sinh tồn...................................................................................................................................................... 37
2.2. Cơ cấu tổ chức .................................................................................................................................................................................... 56
2.2.1. Các tổ chức quản trị ...................................................................................................................................................... 56

2.2.2. Tổ chức dòng họ ................................................................................................................................................................. 62
2.2.3. Các tổ chức có tính chất xã hội .................................................................................................................. 66
2.2.4. Kiến trúc công cộng và các hoạt động cộng đồng ...................................................... 70
2.3. Những đặc trưng và vai trò của làng bản trong lịch sử .................................................... 79
2.3.1. Tính chất đặc trưng của làng bản cổ truyền của người Tày ở Võ Nhai .... 79
2.3.2 Vai trò của làng bản ........................................................................................................................................................ 80
CHƢƠNG 3 ...................................................................................................................................................................................................................... 85
NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA LÀNG BẢN NGƢỜI TÀY Ở VÕ NHAI................................................... 85
TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM ĐẾN NAY .................................................................................................. 85
3.1. Nguyên nhân biến đổi ............................................................................................................................................................. 85
3.2. Diễn biến và những biểu hiện .................................................................................................................................... 86
3.2.1. Những biến đổi về không gian sinh tồn ....................................................................................... 86
3.2.2. Những biến đổi trong nền kinh tế .......................................................................................................... 94
3.2.3. Sự biến đổi trong cơ cấu tổ chức ............................................................................................................. 99
3.3. Một vài kiến nghị .......................................................................................................................................................................104
PHẦN KẾT LUẬN ......................................................................................................................................................................................107
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................................................................................................113
DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI CUNG CẤP THÔNG TIN .............................................109
PHỤ LỤC ẢNH .................................................................................................................................................................................................115







Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
PHẦN MỞ ĐẦU


1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ
với nhau. Đó là mối quan hệ giữa “cái chung” và “cái riêng” trong triết học.
Nghiên cứu lịch sử một địa phương, một tộc người sẽ góp phần quan trọng
làm sáng tỏ bức tranh vốn đã rất phong phú và phức tạp của lịch sử dân tộc.
Việc nghiên cứu cơ cấu tổ chức của làng xã cổ truyền là chiếc chìa khoá
để tìm hiểu và lý giải tất cả sự phong, phú rộng lớn và bao quát của vấn đề
làng xã. Làng xã trong tiến trình lịch sử Việt Nam có vai trò hết sức to lớn mà
chúng ta không thể phủ nhận. Nghiên cứu làng xã, chúng ta sẽ làm sáng tỏ
nhiều vấn đề của lịch sử dân tộc cũng như những truyền thống, phẩm chất của
con người Việt Nam nói chung.
Vấn đề nghiên cứu làng xã cổ truyền Việt Nam càng trở nên bức thiết và
có ý nghĩa hơn khi hiện nay vấn đề: Nông nghiệp – nông dân – nông thôn
ngày càng nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước ta. Đảng đề
ra mục tiêu là phải đẩy mạnh công cuộc hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn,
đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở. Loại bỏ những gì,
giữ lại và phát huy những gì là vấn đề có tính nguyên tắc trong công cuộc xây
dựng nông thôn mới hiện nay. Điều đó chỉ có thể được thực hiện khi chúng ta
có những hiểu biết sâu sắc qua sự nghiên cứu nghiêm túc về làng xã cổ
truyền.
Tầm quan trọng rất lớn của vấn đề về cả lý luận và thực tiễn là như vậy
nhưng những nghiên cứu về làng xã Việt Nam hiện nay mới chỉ là bước đầu,
còn đơn sơ và chưa đáp ứng được nhu cầu nhận thức cũng như thực tiễn. Nghị
quyết Hội nghị lần thứ VII, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt
Nam khoá X ngày 5/8/2008 đã chỉ ra “Nhận thức về vị trí, vai trò của nông

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7

nghiệp, nông dân, nông thôn còn bất cập so với thực tiễn; chưa hình thành
một cách có hệ thống, các quan điểm lý luận về phát triển nông nghiệp, nông
dân, nông thôn; cơ chế chính sách phát triển các lĩnh vực này thiếu đồng bộ,
thiếu tính đột phá, một số chủ trương chính sách không hợp lý, thiếu tính khả
thi nhưng chậm điều chỉnh, bổ sung kịp thời…”
Trong bối cảnh đó, việc đi sâu nghiên cứu nhằm nâng cao nhận thức của
chúng ta về vấn đề làng xã Việt Nam cổ truyền và hiện đại có ý nghĩa rất lớn
trước khi đưa ra và thực hiện có hiệu quả những chính sách phát triển nông
nghiệp - nông thôn – nông dân.
Nghiên cứu những vấn đề làng bản cổ truyền của các dân tộc thiểu số
cũng có ý nghĩa không kém phần quan trọng vì đồng bào các dân tộc thiểu số
là bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam.
Võ Nhai là huyện vùng cao của tỉnh Thái Nguyên, đồng bào các dân tộc
nơi đây đã có những đóng góp rất lớn cho cách mạng trong lịch sử. Đến nay,
điều kiện kinh tế vật chất và đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc
trong Huyện còn ở mức thấp. Trong các dân tộc thiểu số ở đây, người Tày có
số lượng lớn nhất và có quá trình định cư lâu dài nhất.
Việc nghiên cứu làng bản cổ truyền của người Tày sẽ góp một phần rất
quan trọng vào việc tái hiện lại bức tranh toàn cảnh về lịch sử xây dựng và
phát triển của vùng đất Võ Nhai. Kết quả nghiên cứu còn góp thêm cơ sở
khoa học cho chính quyền địa phương các cấp trong việc đề ra và thực hiện
những chính sách và biện pháp đúng đắn nhằm nâng cao đời sống vật chất và
văn hoá cũng như nhằm bảo tồn và phát huy những truyền thống tốt đẹp của
người Tày nói riêng và nhân dân các dân tộc trong huyện Võ Nhai nói chung.
Xuất phát từ bối cảnh và lý do trên, chúng tôi quyết định chọn vấn đề
“Làng bản cổ truyền của dân tộc Tày ở huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên”
làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


8
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Do tầm quan trọng và rộng lớn của vấn đề mà đề tài làng xã Việt Nam
nói chung đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học
ở cả trong và ngoài nước trong những giai đoạn gần đây.
Tuy nhiên, trong lịch sử, nhất là thời kỳ phong kiến và trước đó, vấn đề
làng xã rất ít được “đoái hoài” đến. Lịch sử trong giai đoạn đó chỉ là lịch sử
của giai cấp thống trị và của những nhân vật kiệt xuất. các nhà sử học phong
kiến rất ít khi có những ghi chép về nông thôn, làng xã. Chúng ta chỉ có thể
góp nhặt được những ghi chép ít ỏi về làng xã trong một số bộ sử và địa chí
thời phong kiến nước ta như: Đại Việt thông sử, Dư địa chí, Đại Nam thực
lục, Đại Nam nhất thống chí, Đồng khách dư địa chí,… Trong đó, tác phẩm
“Vũ trung tuỳ bút” của Phạm Đình Hổ là có giá trị tư liệu hơn cả.
Từ thế kỷ thứ XVI – XVII trở đi, làng việt là đối tượng điều tra nghiên
cứu của các thương nhân và giáo sĩ phương Tây. Mục đích lớn nhất của họ là
phục vụ cho công cuộc xâm lược và đô hộ Việt Nam. Vì vậy, những nghiên
cứu đó chưa được hệ thống và khách quan. Tất nhiên, đây cũng là nguồn tư
liệu không thể bỏ qua trong quá trình nghiên cứu làng xã cổ truyền.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ I, việc nghiên cứu làng Việt được mở
rộng hơn trước. Một số tác giả người Pháp đã có những tác phẩm chuyên
khảo về làng Việt. Nhưng, cách nhìn nhận và lý giải của họ vẫn không được
khách quan. Lúc này đã có một số tác giả người Việt tham gia nghiên cứu,
tiêu biểu nhất là Phan Kế Bính với Việt Nam phong tục, Nguyễn Văn Huyên
với một số chuyên khảo bằng tiếng Pháp.
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, trong vùng kiểm soát của
thực dân Pháp và sau đó là chính quyền Ngụy Sài Gòn, ở miền Nam có một
số tác phẩm tiêu biểu như: Kinh tế làng xã Việt Nam của Vũ Quốc Thúc (Hà
Nội, 1951). Làng xã Việt Nam của Toan Ánh (Sài Gòn, 1968).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


9
Cuốn sách đầu tiên nghiên cứu làng xã Việt Nam theo quan điểm macxit
là cuốn “Vấn đề dân cày” của Qua Ninh và Vân Đình (tức Trường Chinh và
Võ Nguyên Giáp) do Đức Cường xuất bản năm 1937. Vấn đề làng xã chỉ thực
sự được giới sử học Việt Nam ở miền Bắc đặc biệt quan tâm nghiên cứu kể từ
sau Cải cách ruộng đất và phong trào tập thể hoá ở nông thôn. Trong đó, cuốn
sách nghiên cứu về làng xã Việt được coi là cơ bản và sâu sắc nhất tính đến
trước đổi mới là cuốn “Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc bộ” của
tác giả Trần Từ, (Hà Nội 1984).
Từ khi đổi mới đến nay là thời kỳ nở rộ của những công trình nghiên cứu
về làng xã, điều này được biểu hiện ở:
- Sự ra đời của rất nhiều những đầu sách, những công trình nghiên cứu
về làng xã Việt Nam của những học giả cả trong và ngoài nước.
- Có khá nhiều chuyên gia nghiên cứu chuyên sâu như: Nguyễn Từ Chi,
Nguyễn Hải Kế, Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc,…
- Ngày càng nhiều những học viên, nghiên cứu sinh ở cả trong và ngoài
nước chọn làng xã là đối tượng học tập, nghiên cứu của họ.
Mặc dù có những mục đích và quan niệm không giống nhau nhưng các
nhà nghiên cứu đã cung cấp thêm những tư liệu mới, đưa ra những nhận định
mới, góp phần quan trọng nâng cao nhận thức về làng xã Việt Nam truyền
thống và hiện đại. Tuy nhiên, đó mới chỉ được coi là những thành quả bước đầu.
Nhưng một thực tế mà khi tìm hiểu chúng tôi thấy, đó là chưa hề có
chuyên đề hay những công trình đi sâu nghiên cứu về cơ cấu tổ chức làng bản
của các dân tộc thiểu số ở nước ta, trong khi làng xã cổ truyền của người Việt
ở đồng bằng Bắc bộ lại được rất nhiều các học giả quan tâm. Có thể nói đây là
một mảng tối trong việc nghiên cứu đề tài làng xã cổ truyền.
Đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta là bộ phận không thể tách rời
của dân tộc Việt Nam. Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng vấn


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
đề đại đoàn kết dân tộc. Tất cả những chính sách về dân tộc thiểu số của Đảng
ta đều xoay quanh 3 nguyên tắc: Đoàn kết, Bình đẳng, Tương trợ, nhằm làm
sao từng bước vững chắc nâng cao đời sống vật chất và văn hoá tinh thần của
đồng bào, làm sao cho miền núi tiến kịp miền xuôi. Đồng bào các dân tộc
thiểu số tiến kịp với trình độ phát triển của người Kinh. Vì vậy, việc nghiên
cứu làng bản của người dân tộc thiểu số cũng có ý nghĩa quan trọng không
kém vấn đề làng xã cổ truyền của người Việt.
Những nhà dân tộc học hàng đầu ở nước ta như: Nguyễn Văn Huyên, Bế
Viết Đẳng, Lã Văn Lô, Đặng Nghiêm Vạn, Tấn Quỳnh, Đặng Văn lung,
Hoàng Nam, Phan Hữu Dật, Hoàng Hoa Toàn,… đã dày công nghiên cứu một
cách toàn diện về nhiều dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Những nghiên cứu của
họ thường miêu tả khái quát văn hoá các tộc người. Trong đó, cơ cấu tổ chức
làng bản của các dân tộc chỉ được họ đề cập đến như một khía cạnh, chưa
phải đi sâu nghiên cứu mang tính chất chuyên đề. Những nghiên cứu về dân
tộc Tày cũng vậy.
Đặc biệt, vấn đề “ Làng bản cổ truyền của dân tộc Tày ở huyện Võ Nhai
tỉnh Thái Nguyên” chưa có ai nghiên cứu và công bố. Chính vì vậy, đề tài
nghiên cứu của chúng tôi sẽ tập trung làm rõ vấn đề này. Những công trình
nghiên cứu của các học giả đi trước sẽ là nguồn tài liệu vô cùng quý giá để
chúng tôi tham khảo, học tập cho việc hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình.
3. Mục đích, đối tƣợng, phạm vi và nội dung nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích
Qua việc nghiên cứu và phân tích cơ cấu làng bản cổ truyền của người
Tày ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, đề tài sẽ góp phần vào việc tái hiện
lại một số hiện tượng lịch sử, văn hoá xã hội, quá trình xây dựng và phát triển
của địa phương này, cũng như lịch sử vốn phong phú, đa dạng và phức tạp
của tộc người nói chung.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
Cụ thể hơn, tác giả mong muốn làm phong phú hơn những hiểu biết của
khoa học về bản sắc văn hoá của dân tộc Tày vốn đã có nhiều nét đặc trưng
trong đời sống vật chất, văn hoá tinh thần và tổ chức xã hội.
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần nhận thức rõ hơn một cơ cấu
xã hội truyền thống, lâu đời của miền núi nước ta. Qua đó, tác giả đề tài mong
muốn đóng góp vào quá trình xây dựng nông thôn mới, làng bản văn hoá ở
vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh
Thái Nguyên nói riêng trong cuộc sống xã hội hiện đại.
3.2. Đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu kết cấu làng bản cổ truyền của dân tộc Tày ở
huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Kết cấu tổ chức đó bao gồm các loại hình
tổ chức và các hình thức tập hợp người, các quy chế vận hành của nó. Đề tài
cũng nghiên cứu những ảnh hưởng của kết cấu tổ chức đó lên đời sống vật
chất, tâm lý và truyền thống của người Tày ở nơi đây.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Về mặt thời gian: Đề tài nghiên cứu quá trình ra đời, phát triển và biến
đổi của làng bản người Tày ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên theo diễn tiến
của lịch sử.
Về mặt không gian: Đề tài nghiên cứu làng bản của dân tộc Tày trên địa
giới huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên ngày nay (tập trung vào các xã phía
Bắc, nơi có người Tày cư trú với tỷ lệ cao).
3.4. Nội dung nghiên cứu của đề tài
Khái quát về huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên: Vị trí địa lý, điều kiện tự
nhiên, dân số, các thành phần dân tộc, lịch sử hành chính của huyện…
Kết cấu tổ chức làng bản của dân tộc Tày, ảnh hưởng của kết cấu đó lên
hoạt động kinh tế, đời sống vật chất, tinh thần và những truyền thống trong

đời sống văn hoá của họ; so sánh với làng Việt truyền thống và một số dân tộc khác.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
Nêu lên những nét đặc trưng cổ truyền trong văn hoá làng bản của đồng bào.
4. Nguồn tƣ liệu
Đề tài làng xã cổ truyền nói chung và làng bản cổ truyền của người dân
tộc thiểu số nói riêng hầu như không được bất kỳ một cuốn chính sử của một
vương triều phong kiến nào đề cập đến. Tuy nhiên, khi tham khảo kỹ một số
bộ sử cũ như: Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam thực lục,… chúng tôi cũng đã
tìm được một số thông tin liên quan nhằm phục vụ cho đề tài của mình.
Chúng tôi cũng tiếp cận được với khá nhiều các tác phẩm, tài liệu, kỷ
yếu, đề tài nghiên cứu, các chuyên khảo hoặc có liên quan đến làng xã cổ
truyền và các dân tộc thiểu số Việt Nam, đặc biệt là về dân tộc Tày.
Hệ thống văn bản về chính sách đối với các dân tộc thiểu số của Đảng,
Nhà nước và các cấp chính quyền cũng rất quan trọng với đề tài này.
Đặc biệt quan trọng hơn cả là tư liệu điền dã, khảo sát thực địa. Ngoài ra
một số hương ước, gia phả, tộc phả và địa bạ cũng được chúng tôi lưu tâm tới
trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài luận văn.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng và kết hợp một số
phương pháp sau đây: Điền dã, miêu thuật, hồi cố, thống kê, so sánh, tự sự
lịch sử, liên ngành,… nhằm làm sao những thông tin có được là chính xác
nhất và khách quan nhất, chất lượng đề tài tốt nhất trong khả năng có thể.
6. Đóng góp của đề tài
Đề tài là công trình đầu tiên nghiên cứu về tổ chức làng bản cổ truyền
của người Tày ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
Đề tài sẽ góp phần nâng cao nhận thức của mọi người về dân tộc Tày nói
chung và dân tộc Tày ở địa bàn huyện Võ Nhai nói riêng. Qua đó, kết quả

nghiên cứu của đề tài sẽ góp thêm cơ sở khoa học cho việc thực hiện các
chính sách của chính quyền địa phương các cấp nhằm nâng cao đời sống

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
vật chất cũng như tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số và sự phát triển của
địa phương.
Một đóng góp quan trọng nữa của đề tài là sẽ góp phần tôn tạo, giữ gìn
những giá trị truyền thống trong bản sắc văn hoá của dân tộc Tày ở Võ Nhai,
Thái Nguyên nói riêng và các dân tộc thiểu số trên toàn lãnh thổ Việt Nam nói
chung. Đề tài ở một mức độ nào đó sẽ nâng cao ý thức tự giác của mỗi người
chúng ta trong việc biết trân trọng, giữ gìn và phát huy những giá trị truyền
thống tốt đẹp của người Tày cũng như các dân tộc thiểu số khác.
Cuối cùng, đề tài là một nguồn tài liệu tham khảo cho việc học tập và
nghiên cứu lịch sử địa phương, dân tộc học, văn hoá học…
7. Cấu trúc của đề tài
Đề tài được chia làm 3 phần:
- Phần mở đầu.
- Phần nội dung:
+ Chương 1. Khái quát về huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
+ Chương 2. Làng bản của người Tày ở huyện Võ Nhai.
+ Chương 3. Những biến đổi của người Tày ở Võ Nhai từ Cách mạng
tháng Tám đến nay.
- Phần kết luận.
Ngoài ra, đề tài còn có các mục: Tài liệu tham khảo và phụ lục.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


14


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN

1.1. Lịch sử hành chính huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Do điều kiện không cho phép nên chúng tôi chỉ nghiên cứu làng bản cổ
truyền của dân tộc Tày trên địa bàn thuộc địa giới huyện Võ Nhai ngày nay
nhưng chúng tôi cũng xin phác qua ở đây quá trình hình thành và sự thay đổi
của địa giới hành chính huyện qua các thời kỳ lịch sử.
Theo các tác giả trong Địa chí Thái Nguyên và nhà sử học Nguyễn Xuân
Minh (chủ biên) trong cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Võ Nhai thì thời thuộc
Đường, vùng đất Võ Nhai có tên là huyện Vũ Lễ, thời Lý, Trần có tên gọi là
châu Vạn Nhai. Thời thuộc Minh (đầu thế kỷ XV), châu Vạn Nhai lại đổi tên
thành châu Vũ Lễ. Đầu thời nhà Lê (đời Lê Thuận Thiên), châu Vũ Lễ đổi
thành huyện Võ Nhai, thuộc phủ Phú Bình do phiên thần họ Ma nối đời cai
quản. Đến thời Nguyễn (từ 1802) vẫn theo như thế. Đến năm Minh Mệnh thứ
16 (1836), huyện Võ Nhai có 8 tổng, gồm 29 xã, trại, cai trị theo chế độ lưu
quan. Đời Đồng khánh (1886- 1888), huyện Võ Nhai vẫn gồm 8 tổng và 29
xã, trại. 8 tổng ở Võ Nhai lúc này gồm: Lâu Thượng, Lâu Hạ, Tràng Xá, Bắc
Sơn, Nhất Thể, Quỳnh Sơn, Tân Tri, Vĩnh Yên.
Huyện lỵ thời trước đặt ở xã Lâu Thượng, đến đời Đồng Khánh chuyển
vào xã Tràng Xá [19, tr. 987, 10, tr. 7].
Năm 1894, thực dân Pháp cắt các tổng Bắc Sơn, Nhất Thế, Quỳnh Sơn,
Tân Lưu, Vĩnh Yên ra khỏi huyện Võ Nhai để lập thành châu Bắc Sơn, thuộc

tỉnh Lạng Sơn. Huyện Võ Nhai được đổi thành châu Võ Nhai gồm 6 tổng:
Lâu Thượng, Tràng Xá, Phương Giao, Cúc Đình, Thương Nung, Văn Lãng
với 22 xã, 1phố, 5 trại. Từ đó đến sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 vẫn
giữ nguyên như thế.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

16
Ngày 25/2/1948, Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
ký sắc lệnh số 148/SL bỏ các đơn vị hành chính cấp phủ, châu, quận, tổng.
Châu Võ Nhai đổi thành huyện Võ Nhai gồm 17 xã.
Ngày 22/12/1949, theo Nghi định số 224/ttg của Thủ tướng Chính phủ,
thôn Sảng Mộc, xã Yên Hân, huyện Bạch Thông, Bắc Kạn được sát nhập vào
xã Nghinh Tường, huyên Võ Nhai.
Ngày 1/6/1985, theo Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng, bốn xã: Tân
Long, Hoà Bình, Quang Sơn và Văn Lăng của huyện Võ Nhai được cắt về
huyện Đồng Hỷ.
Ngày 25/10/1990, theo Quyết định số 454/TCCP của Ban Tổ chức Chính
phủ, thị trấn Đình Cả được thành lập [ 19, tr.987].
Ngày nay, huyện Võ Nhai gồm 14 xã, 01 thị trấn với tổng số 170 xóm và
02 tổ dân phố. 14 xã gồm: Nghinh Tường, Sảng Mộc, Vũ Chấn, Thượng
Nung, Thần Sa, Cúc Đường, Lâu Thựơng, La Hiên, Tràng Xá, Liên Minh,
Phương Giao, Dân Tiến và Bình Long. 01 thị trấn Đình Cả.
Như vậy, ta có thể thấy, châu Vạn Nhai, hoặc huyện Võ Nhai trong lịch
sử có địa giới rộng hơn rất nhiều so với ngày nay, bao gồm cả huyện Bắc Sơn,
Lạng Sơn ngày nay và một phần huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
1.2. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
1.2.1. Vị trí địa lý
Sách Đại Nam nhất thống chí có chép: Huyện Võ Nhai cách phủ 82 dặm
về phía bắc, đông- tây cách nhau 124 dặm, nam- bắc cách nhau 152 dặm, phía

đông đến địa giới huyện Hữu Lũng tỉnh Bắc Ninh 35 dặm, phía tây đến địa
giới huyện Cảm Hoá 89 dặm, phía bắc đến địa giới huyện Văn Quảng tỉnh
Lạng Sơn 70 dặm [6, tr. 158].
Võ Nhai là một huyện vùng cao của tỉnh Thái Nguyên thuộc vùng đặc
biệt khó khăn nằm ở phía đông bắc của tỉnh. Huyện nằm dọc theo quốc lộ 1B

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
từ Thái Nguyên đi Lạng Sơn. Võ Nhai có toạ độ địa lý 21
0
36 đến 21
0
56 vĩ độ
Bắc và 105
0
45 đến 106
0
17 kinh độ Đông. Phía bắc huyện Võ Nhai giáp
huyện Na Rì - Bắc Kạn, phía đông bắc giáp huyện Bắc Sơn - Lạng Sơn, phía
nam giáp huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên và Yên Thế - Bắc Giang, phía tây
giáp huyện Đồng Hỷ và Phú Lương - Thái Nguyên. Tổng diện tích tự nhiên
của toàn huyện theo địa giới hành chính là 845.1 km2.
Thị trấn Đình Cả là huyện lỵ, trung tâm kinh tế - xã hội của huyện cách
thành phố Thái Nguyên khoảng 40km về phía đông bắc, cách thị trấn Đồng
Đăng - Lạng Sơn khoảng 80km về phía tây.
Với vị trí như vậy, ta có thể thấy Võ Nhai có một vị trí chiến lược quan
trọng trong những thời kỳ có chiến tranh, là nơi dụng binh hiểm yếu “tiến khả
dĩ công, thoái khả dĩ thủ”. Từ Võ Nhai, người ta có thể dễ dàng qua Thái
Nguyên về Hà Nội, hoặc lên phía bắc qua Lạng Sơn để ra nước ngoài. Ngoài

trục giao thông 1B, ở phía tây và tây nam huyện còn có con đường mòn chay
từ miền rừng núi Bắc Sơn qua Võ Nhai xuống vùng trung du và về xuôi.
1.2.2. Điều kiện tự nhiên
Địa hình đất đai: điểm nổi bật của địa hình Võ Nhai là núi cao, dãy
Ngân Sơn chạy từ Bắc Kạn theo hướng Đông Bắc – Tây Nam và dãy Bắc Sơn
chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Vì vậy, huyện có địa hình phức tạp.
Vùng núi dốc và núi đá vôi chiếm 92% diện tích tự nhiện. Núi đá vôi tập
trung ở phía bắc huyện, còn xuống phía nam, độ cao giảm dần. Phần phía nam
huyện phổ biến là những núi đất thấp, đặc trưng của vùng trung du.
Toàn huyện có độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 100 – 800m,
đất sản xuất nông nghiệp phân bố ở độ cao 100 – 450m, nhìn chung những
vùng đất bằng phẳng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ, tập
trung chủ yếu theo các khe suối, dọc các triền và thung lũng của vùng núi đá

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

18
vôi. Căn cứ vào địa hình, địa mạo và đất đai, huyện được chia làm 3 tiểu vùng
như sau:
Tiểu vùng I: Bao gồm các xã, thị trấn dọc Quốc lộ 1B: Thị trấn Đình Cả,
các xã La Hiên, Lâu Thượng và Phú Thượng. Đây là vùng thấp nhất của
Huyện, có địa hình tương đối bằng phẳng hơn các vùng còn lại, tạo nên bởi
những thung lũng chạy dọc theo quốc lộ 1B, hai bên là hai dãy núi có độ dốc lớn.
Tiểu vụng II: gồm 5 xã phía Nam: Tràng Xá, Liên Minh, Phương Giao,
Dân Tiến và Bình Long. Địa hình đồi núi bát úp, bị chia cắt bởi nhiều khe,
suối, xen kẽ núi đá vôi. Các bãi soi bằng phẳng phù hợp với phát triển cây
công nghiệp, cây lương thực và chăn nuôi đại gia súc.
Tiểu vùng III: Vùng núi cao bao gồm 6 xã: Nghinh Tường, Sảng Mộc,
Thượng Nung, Vũ Chấn, Thần Sa và Cúc Đường. Diện tích vùng phần lớn bị
chiếm bởi những dãy núi đá vôi hùng vĩ, nhiều khe suối, cảnh đẹp tự nhiên.

Vùng này thuận lợi hơn cho việc phát triển chăn nuôi đại gia súc, lâm nghiệp,
du lịch sinh thái và di tích lịch sử văn hoá.
Với diện tích đất tự nhiên là 845,1 km2, Võ Nhai có 561,27 km2 đất lâm
nghiệp, 77,24 km2 đất nông nghiệp, 1,55 km2 đất nuôi trồng thuỷ sản, 22,13
km2 đất phi nông nghiệp và 182,92 km2 đất chưa sử dụng. Có thể thấy dù là
một huyện có diện tích rộng lớn nhất tỉnh Thái Nguyên nhưng tiềm năng đất
đai ở Võ Nhai không lớn, lại bị chia cắt mạnh. Đất dành cho phát triển đô thị
và giao thông trở nên khan hiếm. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân
bố lại dân cư, khu cụm công nghiệp trong tương lai. Đất đai dành cho nông
nghiệp ở Võ Nhai nhìn chung không có độ phì nhiêu lớn và đang bị suy thoái mạnh.
Dù diện tích đất lâm nghiệp lớn nhưng hiện nay tài nguyên rừng ở Võ
Nhai còn lại rất nghèo, phần lớn là rừng non mới phục hồi, mới trồng, trữ
lượng còn thấp. Nhưng với sự hỗ trợ của nhà nước và sự tích cực của người
dân, trong tương lai gần, tài nguyên rừng vẫn sẽ trở thành thế mạnh trong phát

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

19
triển kinh tế của Võ Nhai. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao
đời sống vật chất của đồng bào các dân tộc thiểu số, đặc biệt tại khu vực 6 xã
phía bắc huyện.
Khoáng sản: Võ Nhai nằm trong tỉnh Thái Nguyên thuộc vùng sinh
khoáng Đông Bắc - Việt Nam thuộc vành đai sinh khoáng tây Thái Bình
Dương. Do vậy, huyện có nguồn tài nguyên khá phong phú về chủng loại và
trữ lượng.
Kim loại mầu: chì, kẽm tìm thấy ở Thần Sa, vàng cũng tìm thấy ở Thần
Sa nhưng chủ yếu là vàng sa khoáng với hàm lượng thấp.
Khoáng sản phi kim: Phôtphorit ở La Hiên có trữ lượng được đánh giá
vào loại khá (khoảng 60.000 tấn).
Toàn huyện có những dải núi đá kéo dài, chạy dọc huyện, đây là nguồn

cung cấp vật liệu cho ngành sản xuất vật liệu xây dựng, đá xây dựng, đất
sét,… đặc biệt có sét xi măng ở Cúc Đường có trữ lượng lớn và chất lượng tốt.
Tuy nguồn khoáng sản có trữ lượng lớn nhưng đến nay, việc khai thác
vẫn chưa đáng kể. Tài nguyên khoáng sản vẫn nằm ở dạng tiềm năng là chính.
Nhưng, nguồn tài nguyên này sẽ là một thế mạnh rất lớn của Võ Nhai trong
công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá nếu được khai thác và sử dụng hợp lý.
Khí hậu: Khí hậu Võ Nhai mang đặc điểm chung của khí hậu miền núi
Bắc bộ chia làm 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Võ Nhai nằm trong
vùng lạnh nhất của tỉnh Thái Nguyên. Nhiệt độ trung bình năm trên 22,4 độ
C. Tháng nóng nhất là tháng 7 có nhiệt độ trung bình là 27,8 độ C. Tháng lạnh
nhất là tháng 1 có nhiệt độ trung bình là 14,9 độ C. Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối
là 3 độ C. Biên độ ngày và đêm là 7 độ

C. Chế độ nhiệt và địa hình như trên
tạo cho Võ Nhai lợi thế để phát triển các loại cây trồng nhiệt đới, á nhiệt đới
như: hồng, táo, na, cam, quýt, vải, nhãn,…

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

20
Chịu ảnh hưởng chế độ mưa vùng núi Bắc bộ, mùa mưa Võ Nhai thường
diễn ra từ tháng 4 đến tháng 10; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.
Lượng mưa trung bình hàng năm 1.941,5mm và phân bố không đều, chủ yếu
tập trung vào các tháng mùa mưa, khoảng 1.765mm (chiếm 91% lượng mưa
cả năm). Lượng mưa lớn nhất thường diễn ra vào tháng 8, trung bình khoảng
372,2mm [19, tr. 985].
Mưa lớn và tập trung gây xói mòn đất, lũ lụt ảnh hưởng tới cây trồng, độ
phì nhiêu của đất và các công trình thuỷ lợi, đặc biệt là ở tiểu khu III và I, nơi
có địa hình phức tạp, độ dốc cao và bị chia cắt nhiều.
Bên cạnh đó các tháng mùa khô có lượng mưa không đáng kể, lượng bốc

hơi nước lại rất lớn, gây nên tình trạng khô hạn nghiêm trọng cho cây trồng,
nhất là với cây trồng hàng năm.
Nói chung, tuy có phần khắc nghiệt nhưng khí hậu Võ Nhai vẫn tương
đối thuận lợi cho phát triển, sản xuất nông – lâm nghiệp.
Thuỷ văn: Võ Nhai là huyện miền núi, có địa hình bị chia cắt nhiều bởi
các dãy núi đá nên huyện có nguồn nước khá phong phú. Ngoài nguồn nước
mặt từ những sông suối còn có những nguồn nước khác từ các hang động
trong núi đá vôi hiện đã và đang được sử dụng cho sản xuất và sinh hoạt. Trên
địa bàn Võ Nhai có hai hệ thống sông nhánh trực thuộc hệ thống sông Cầu và
sông Thương được phân bố ở hai vùng là phía bắc và phía nam huyện, cung
cấp hầu hết nước tưới cho diện tích sản xuất nông nghiệp của hai vùng này.
Sông Nghinh Tường là sông lớn nhất, chảy qua phía bắc huyện, là nhánh
của sông Cầu, bắt nguồn từ dãy vòng cung Bắc Sơn, có chiều dài 46km và lần
lượt chảy qua các xã: Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung, Thần Sa và
đổ ra sông Cầu.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

21
Sông Rong chảy qua phía nam huyện là nhánh của sông Thương, bắt
nguồn từ xã Phú Thựơng chảy qua thị trấn Đình Cả, Tràng Xá, Dân Tiến,
Bình Long và chảy vào tỉnh Bắc Giang.
Các nhánh sông suối trên địa bàn phân bố khá đồng đều và có nước
quanh năm rất thuận lợi sử dụng cho sản xuất và sinh hoạt. Ngoài ra, trên địa
bàn huyện có khá nhiều hồ đập lớn nhỏ khác nhau: 11 hồ chứa nhỏ, 50 phai
đập kiên cố, 12 trạm bơm và 122 kênh mương do nhà nước hỗ trợ và nhân
dân đóng góp xây dựng.
Tuy nhiện những năm gần đây do nạn chặt phá rừng gần như không được
kiểm soát làm nguồn tài nguyên nước của huyện đang bị suy thoái, lũ lụt xảy
ra nhanh và nhiều hơn, có cả lũ ống và lũ quét. Đây là điều đáng lo ngại, biện

pháp cấp bách là phải trồng và bảo vệ rừng, nhất là rừng đầu nguồn để nhằm
điều tiết nguồn nước và lưu lượng chảy.
1.3. Khái quát về kinh tế - xã hội của huyện Võ Nhai
Trong thời kỳ diễn ra hai cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, nhân dân
Võ Nhai với truyền thống yêu nước và cần cù lao động đã đạt được những
thành tựu đáng kể trong sản xuất và đóng góp cho cách mạng. Tuy nhiên, nền
kinh tế của huyện chậm chuyển biến, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó
khăn, thiếu thốn.
Bước vào thời kỳ đổi mới, kinh tế Võ Nhai có nhiều chuyển biến tích cực
và nhanh chóng nhưng đến nay trong huyện thành phần kinh tế nông – lâm -
nghiệp vẫn chiếm vị trí chủ đạo trong cơ cấu kinh tế.
Trong nông nghiệp của huyện, nét nổi bật trong những năm gần đây là có
sự chuyển dịch mạnh mẽ về cơ cấu giống, cơ cấu mùa vụ theo hướng phát
triển hàng hoá gắn với thị trường, đa dạng hoá cây trồng. Do vậy, năng suất
và sản lượng đều đạt kết quả cao. Diện tích gieo cấy từ 3981 ha năm 1973
tăng lên 45761 năm 2006. Năng suất từ 20.98 tạ/ha tăng lên 42,79ha năm 2003.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

22
Các loại cây ăn quả và rau màu ngày càng tăng lên về số giống và diện tích.
Cây chè đang ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong ngành nông nghiệp
của huyện.
Ngành chăn nuôi của huyện phát triển tương đối ổn định: đàn trâu tăng từ
11.231 con năm 1975 lên 13.113 con năm 2006. Cùng giai đoạn đó đàn lợn
tăng từ 10.851 con lên 29.124 con.
Với diện tích đất tự nhiên lớn và chủ yếu là đồi núi nên nghề rừng từ lâu
vẫn là một thế mạnh của Võ Nhai. Hiện nay, rừng nguyên sinh trên địa bàn
huyện không còn, các loại gỗ quý và thú rừng quý hiếm cũng còn lại không
đáng kể nhưng việc phát triển trồng mới và bảo vệ rừng được đặc biệt quan tâm.

Năm 2003, diện tích trồng rừng mới là 456,43 ha, tăng 1,4% so với năm 2002.
Các ngành công nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp trên địa bàn
huyện đang rất được quan tâm khuyến khích phát triển. Tuy nhiên, sự phát
triển đó chưa tương xứng với tiềm năng lớn của huyện này.
Nói chung, trong những năm vừa qua, kinh tế Võ Nhai có sự chuyển biến
tích cực. Năm 2002, tỷ trọng công nghiệp – xây dựng chiếm 43,6%, nông
nghiệp còn 38,3%, dịch vụ là 18,1% kinh tế của huyện. Tốc độ tăng trưởng
bình quân hàng năm cao (≈ 12% năm). Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh (năm 2009
còn 25,2%).
Những chuyển biến đó là rất đáng khen ngợi với một huyện vùng cao
như Võ Nhai. Huyện đang từng bước thoát khỏi những khó khăn, tồn tại và
vươn lên công nghiệp hoá - hiện đại hoá theo xu thế chung của cả nước.
Cùng với kinh tế, văn hoá – xã hội huyện Võ Nhai cũng ngày càng có
những bước phát triển đáng kể trong hầu hết các lĩnh vực.
Đến nay, trên địa bàn huyện 100% xã được phủ sóng phát thanh truyền
hình, trên 70% số hộ có máy thu thanh.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

23
Cuộc vận động “ Xây dựng gia đình văn hoá, làng văn hoá, cơ quan văn
hoá” phát triển mạnh. Đến năm 2006, toàn huyện có 7569 gia đình văn hoá,
77 xã, bản văn hoá và 47 cơ quan văn hoá" [19, tr.995].
Sự nghiệp y tế - giáo dục được đặc biệt quan tâm ở huyện vùng cao này.
Hệ thống trường lớp được mở rộng, xây mới, chất lượng giáo dục được nâng
lên. Năm 2003, Huyện có trường tiểu học Phú Thượng được công nhận là
trường đạt chuẩn quốc gia, có 04 xã được công nhận hoàn thành phổ cập
trung học cơ sở và có 08 lớp dạy nghề.
Năm 2006, Võ Nhai có 121 cán bộ y tế, trong đó có 35 bác sỹ hoạt động
trong 18 cơ sở y tế gồm 140 giường bệnh.

Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn được giữ
vững. Mạng lưới an ninh nhân dân, tổ an ninh thôn xóm được kiện toàn, công
tác kiểm tra, trấn áp bọn tội phạm được thực hiện tốt.
Nhân dân các dân tộc trong huyện Võ Nhai có truyền thống yêu nước,
đấu tranh cách mạng kiên cường, bất khuất, cần cù, chịu khó trong lao động
sản xuất. Điều đó cộng với những tiềm năng to lớn về tài nguyên, tự nhiên, về
truyền thống lịch sử văn hoá là những thế mạnh quan trọng, là cơ sở để huyện
phát triển, giầu mạnh đi lên hội nhập cùng xu thế công nghiệp hoá - hiện đại
hoá của tỉnh Thái Nguyên và của cả nước.
1.4. Dân cƣ và các dân tộc trên địa bàn huyện
1.4.1. Dân cƣ
Những phát hiện của khảo cổ học tại di chỉ Thần Sa đã khẳng định địa
bàn Võ Nhai là một trong những cái nôi của người nguyên thuỷ. Những người
nguyên thuỷ sống bằng nghề săn bắt hái lượm. Trải qua một quá trình lâu dài
hàng nghìn năm, dân số tăng lên, nguồn thức ăn cạn dần, họ đi dọc theo các
triền sông, khe suối, mở rộng địa bàn cư trú. Ngược lại, cũng có những bộ
phận khác di cư tới sinh sống, trở thành chủ thể của vùng đất này [19, tr.988].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

24
Càng về sau, dân số Võ Nhai càng tăng dần do những đợt di cư của đồng
bào Tày, Nùng từ phía bắc xuống. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân
Pháp, nhiều hộ gia đình từ các tỉnh miền xuôi tản cư đến sinh sống, cùng tham
gia các hoạt động kháng chiến, sản xuất với nhân dân địa phương và coi đây
là quê hương thứ hai của mình. Vào những năm 60 của thế kỷ XX, theo chủ
trương của Đảng và Chính phủ, huyện Võ Nhai tiếp nhận 11.931 nhân khẩu ở
miền xuôi lên tham gia xây dựng và phát triển kinh tế - văn hoá. Những nơi
có đồng bào Kinh từ miền xuôi di cư đến và sinh sống nhiều nhất là thị trấn
Đình Cả, xã La Hiên, xã Tràng Xá. Dân số toàn huyện Võ Nhai tính đến thời

điểm cuối năm 2009 là 66.376 người thuộc 8 thành phần dân tộc khác nhau:
Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Chay (Cao Lan, Sán Chí), H’Mông, Mường, Hoa.
Mật độ dân số trung bình ở huyện Võ Nhai là thấp nhất tỉnh Thái Nguyên với
76,1 người/km
2
. Nơi có mật độ cao nhất Huyện là Thị trấn Đình Cả và xã La
Hiên, nơi thấp nhất là xã Sảng Mộc chỉ có 21,2người/km
2
.
Đến năm 2007, dân số trong độ tuổi lao động của Võ Nhai là 35.057
người chiếm 54,3%. Trong đó, có 30.452 lao động nông nghiệp, lao động phi
nông nghiệp là 4.605 người (7,14% dân số toàn huyện). Qua đó, ta thấy cơ
cấu giữa lao động nông nghiệp và phi nông nghiệp chênh lệch rất lớn. Chứng
tỏ nền công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn huyện chưa
phát triển. Quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá các ngành nghề và dịch
vụ ở Võ Nhai tiến triển chậm. Hơn 80% số lao động trong toàn huyện là lao
động phổ thông chưa được qua đào tạo. Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2007
chỉ đạt 10,87%. Việc tạo công ăn việc làm còn gặp nhiều khó khăn. Thế mạnh
của huyện là có dân số trẻ, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động lớn, giá nhân
công rẻ. Đây là ưu điểm của huyện khi kêu gọi đầu tư phát triển các ngành
kinh tế trên địa bàn.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

25
Nói chung, dù thuộc nhiều thành phần dân tộc khác nhau, phong tục tập
quán có nhiều nết khác nhau, trình độ phát triển cũng không đồng đều nhưng
do điều kiện tự nhiên ở Võ Nhai có phần khắc nghiệt cũng như do truyền
thống tương trợ nên nhân dân các dân tộc trong huyện luôn đoàn kết giúp đỡ
lẫn nhau trong một cộng đồng thống nhất.

1.4.2. Các dân tộc ở Võ Nhai
Dân số và thành phần dân tộc ở huyện Võ Nhai thể hiện qua bảng sau:

STT Dân tộc Số khẩu Tỷ lệ (%) Ghi chú
01 Kinh 22.993 36,64
02 Tày 13.910 22,16
03 Nùng 12.313 19,62
04 Dao 8.299 13,22
05 H’Mông 2.578 4,1
06 Sán Chay 2.517 4,01
07 Sán Dìu 81 0,13
08 Các dân tộc khác 54 0,12 Hoa, Mường

( Nguồn: số liệu điều tra dân số năm 2004, Phòng Thống kê huyện Võ Nhai).
Dân tộc Kinh: Theo bảng thống kê trên, ta thấy dân tộc Kinh chiếm
36,64%, đông nhất trong các dân tộc ở Võ Nhai. Theo số liệu mới thì đến
tháng 2/2010, tỷ lệ người Kinh ở đây còn chiếm 34.17%. Người Kinh ở Võ
Nhai cư trú ở hầu hết các xã, thị trấn nhưng tập trung đông nhất là ở thị trấn
Đình Cả, xã Phương Giao, Tràng Xá, La Hiên. Người Kinh có mặt ở Võ Nhai
khá muộn. Sau khi đánh chiếm xong Thái Nguyên, thực dân Pháp thiết lập bộ
máy cai trị và ráo riết tiến hành công cuộc khai thác nơi dây. Võ Nhai là vùng
đất khá giàu tài nguyện. Khi tiến hành khai thác những mỏ đồng ở Sảng Mộc,

×