Tải bản đầy đủ (.pdf) (193 trang)

Đặc điểm lịch sử - văn hóa của địa danh huyện việt yên - bắc giang

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.73 MB, 193 trang )

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM







HOÀNG THỊ PHƯỢNG







ĐẶC ĐIỂM LỊCH SỬ - VĂN HÓA CỦA ĐỊA DANH
HUYỆN VIỆT YÊN - BẮC GIANG













LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ













THÁI NGUYÊN 2009

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM








HOÀNG THỊ PHƯỢNG






ĐẶC ĐIỂM LỊCH SỬ - VĂN HÓA CỦA ĐỊA DANH
HUYỆN VIỆT YÊN - BẮC GIANG



Chuyên ngành : Ngôn ngữ
Mã số : 60. 22.01



LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ





CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS-TS NGUYỄN ĐỨC TỒN











THÁI NGUYÊN 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Lời cảm ơn
Em xin bày tỏ lời biết ơn sâu sắc đối với PGS .TS Nguyễn Đức Tồn đã nhiệt
tình, tận tâm và chu đáo hướng dẫn em thực hiện luận văn này.
Em cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, khoa Sau đại học, khoa Ngữ văn
Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, Viện Ngôn ngữ học cùng các thầy cô giáo
đã đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập .
Tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn cơ quan nơi tôi công tác-Trường Trung
học Phổ thông Việt Yên số 2 tỉnh Bắc Giang, bạn bè đồng nghiệp, gia đình và người
thân đã cùng sẻ chia, giúp đỡ, động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn
thành được bản luận văn này.
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2009
Tác giả



Hoàng Thị Phượng










Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC
Mục lục ...............................................................................................................3 Mở
đầu .....................................................................................................................................6
I. Lý do chọn đề tài . ........................................................................................ 6
II . Lịch sử vấn đề ..............................................................................................7
III . Mục đích nghiên cứu .............................................................................. 10
IV. Đối tƣợng nghiên cứu .................................................................................10
V. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................. 10
VI. Phƣơng pháp nghiên cứu .......................................................................... 11
VII. Tƣ liệu và cách xử lý tƣ liệu ................................................................. 11
VIII. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài ................................................ 12
IX Kết cấu luận văn ....................................................................................... 12
Chƣơng 1 :ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN - LỊCH SỬ - VĂN HOÁ - XÃ HỘI
CỦA HUYỆN VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG ...................................14
1.1 Những đặc điểm về địa lí tự nhiên của huyện Việt Yên ........................14
1.1.1. Vị trí địa lý................................................................................................14
1.1.2 . Khí hậu - thời tiết ................................................................................... 15
1.1.3. Giao thông thủy bộ ..................................................................................15
1.2 Những đặc điểm về dân cƣ của huyện Việt Yên .......................................16
1.3 Những đặc điểm về lịch sử của huyện Việt Yên .......................................18
1.4 Những đặc điểm về địa giới hành chính của huyện Việt Yên ................ 25
1.5 Những đặc điểm về văn hóa của huyện Việt Yên ................................... 27
1.6 TIỂU KẾT CHƢƠNG .................................................................................................... 32
Chƣơng 2 :MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHUNG VỀ ĐỊA DANH HỌC
VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA DANH VIỆT YÊN...................................................... 34
2.1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT NGHIÊN CỨU ĐỊA DANH ....................................................... 34
2.1.1. Khái quát chung về định danh ngôn ngữ .............................................34

2.1.2 Một số vấn đề lí thuyết về địa danh ...................................................... 36
2.1.2.1. Định nghĩa về địa danh ......................................................................... 36
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2.1.2.2 Các cách phân loại địa danh ................................................................ 39
2.1.2.3 Các phương diện nghiên cứu địa danh .................................................. 41
2.1.3 Đặc điểm địa danh từ góc độ định danh ngôn ngữ ............................. 42
2.1.3.1 Về nguồn gốc của các định danh ......................................................... 42
2.1.3.2. Về kiểu ngữ nghĩa của các định danh .................................................. 43
2.1.3.3. Cách thức biểu thị của các định danh .................................................. 43
2.1.4. Mô hình cấu tạo của phức thể địa danh ............................................ 46
2.1.4.1 Thành tố chung .................................................................................... 46
2.1.4.2 Địa danh (tên riêng ).............................................................................. 47
2.2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH CỦA ĐỊA DANH VIỆT YÊN........................ 48
2.2.1 Phân loại địa danh Việt Yên theo tiêu chí tự nhiên - không
tự nhiên ............................................................................................................ 48
2.2.2. Đặc điểm định danh của các địa danh thuộc Việt Yên ...................... 49
2.2.2.1 Đặc điểm của các địa danh thuộc Việt Yên xét theo nguồn gốc của
chúng....................................................................................................................49
2.2.2.2. Đặc điểm của các địa danh thuộc Việt Yên xét theo kiểu ngữ nghĩa
của chúng ......................................................................................................... 51
2.2.2.3. Đặc điểm của các địa danh thuộc Việt Yên xét theo cách thức biểu
thị của chúng .................................................................................................... 53
2.2.2.4 Đặc điểm việc chọn đặc trưng làm cơ sở cho việc đặt các địa danh
thuộc Việt Yên ................................................................................................. 56
2.2.3 Đặc điểm cấu tạo của phức thể địa danh Việt Yên............................ 63
2.2.3.1. Mô hình cấu trúc phức thể địa danh Việt Yên ................................... 64
2.2.3.2 Về kiểu cấu tạo của địa danh Việt Yên ............................................. 68
2.2.4 Hiện tƣợng chuyển hoá của địa danh Việt Yên..................................... 72
2.3. TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 ................................................................................................. 74
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Chƣơng 3 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM LỊCH SỬ - VĂN HOÁ CỦA HUYỆN VIỆT
YÊN ĐƢỢC PHẢN ÁNH QUA HỆ THỐNG ĐỊA DANH .......................... 78
3.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT CHUNG VỀ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA ....... 78
3.1.1. Khái niệm “văn hóa” ............................................................................. 78
3.1.2. Mối quan hệ giữa “ngôn ngữ” và “văn hóa” .......................................... 79
3. 2. SỰ PHẢN ÁNH ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA - LỊCH SỬ TRONG ĐỊA DANH
VIỆT YÊN .......................................................................................................................... 80
3.2.1. Đặc trƣng văn hoá đƣợc thể hiện qua các thành tố cấu tạo của
địa danh Việt Yên .......................................................................................... 80
3.2.1.1 Đặc trưng địa - văn hóa được thể hiện qua các thành tố chung trong địa
danh Việt Yên ................................................................................................. 80
3.2.1.2. Tính đa tầng và hội nhập văn hóa được thể hiện qua địa danh Việt
Yên...................................................................................................................... 81
3.2.2.Sự thể hiện các dạng tồn tại của văn hóa trong địa danh Việt
Yên..................................................................................................................... 84
3.2.2.1. Sự thể hiện của văn hóa vật thể ở Việt Yên qua hệ thống địa danh
............................................................................................................................ 84
3.2.2.2 Sự thể hiện của văn hóa phi vật thể ở Việt Yên qua hệ thống địa danh
............................................................................................................................ 85
3.2.3. Sự thể hiện các phƣơng diện văn hóa – lịch sử trong địa danh
Việt Yên ........................................................................................................... 91
3.2.3.1. Sự thể hiện phương diện văn hóa sinh hoạt của cư dân Việt Yên ..........91
3.2.3.2. Sự thể hiện phương diện văn hóa sản xuất của cư dân Việt Yên ........... 94
3.2.3.3 Sự thể hiện phương diện văn hóa lịch sử - quân sự của cư dân Việt Yên qua
địa danh ...................................................................................................... 96
3.3. TIỂU KẾT CHƢƠNG 3 ................................................................................................ 98
KẾT LUẬN ................................................................................................... 101
Tài liệu tham khảo ............................................................................................
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1

ĐẶC ĐIỂM LỊCH SỬ - VĂN HOÁ CỦA ĐỊA DANH
HUYỆN VIỆT YÊN- BẮC GIANG

MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Địa danh là một loại cứ liệu rất có giá trị đối với việc nghiên cứu vốn từ vựng
nói riêng và lịch sử của một ngôn ngữ nói chung. Ngôn ngữ là một thành tố hữu cơ
của văn hoá cho nên địa danh không chỉ góp phần nghiên cứu ngôn ngữ của một
vùng miền, một đất nước mà còn góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa ngôn ngữ
và văn hoá của một dân tộc. " Nghiên cứu địa danh sẽ góp phần nghiên cứu văn hoá
một vùng lãnh thổ - một trong những vấn đề đang được quan tâm hiện nay" [8 ]
Địa danh không chỉ gắn bó chặt chẽ với văn hoá, mà còn có mối quan hệ
khăng khít với địa lý cũng như lịch sử dân cư của một vùng nhất định . Mỗi địa danh
đều gắn với những chủ thể nhất định ở các giai đoạn lịch sử nhất định . Qua địa danh
nào đó ta có thể tìm thấy được quá trình lịch sử - xã hội của một dân tộc, thấy được
đặc trưng văn hoá, cuộc sống sinh hoạt, thậm chí cả năng lực tri nhận, nhận thức
cũng như tâm lý của họ. Trong một vùng đất có nhiều dân tộc khác nhau sinh sống
thì địa danh nơi đó cũng mang dấu tích của nhiều ngôn ngữ khác nhau. Có thể một
vùng đất có nhiều tên gọi , mỗi tên gọi được hình thành trong những điều kiện văn
hoá, lịch sử nhất định mang những dấu ấn nhất định . Nhiều địa danh mang tên con
người, cây cỏ, muông thú, sự vật... đặc trưng của vùng đất mà chúng gọi tên. Những
địa danh ấy đã trở thành “vật hoá thạch " ," như những đài kỉ niệm bằng ngôn ngữ
độc đáo, lưu trữ các thông tin văn hóa" về thời đại mà nó chào đời , còn lưu giữ mãi
về sau .[7] ; [40 ]
Việt Yên thuộc vùng Kinh Bắc xưa. Đây là một vùng đất cổ của người Việt
rất giàu truyền thống văn hóa, văn hiến. Nghiên cứu hệ thống địa danh Việt Yên
chúng ta sẽ hiểu được trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam, Việt Yên đã
năng động tạo nên những truyền thống tốt đẹp của mình trong nhiều lĩnh vực của đời
sống xã hội : kinh tế, văn hóa, khoa cử ..., thấy được các thế hệ cha ông ngày trước
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
đã tạo ra cho mảnh đất này nhiều công trình kiến trúc - điêu khắc độc đáo, nhiều
truyền thuyết dân gian đặc sắc in dấu trong nhiều địa danh - di tích nổi tiếng. Đó là
những di sản vô cùng quý giá cần được giữ gìn và phát huy trong thời đại hiện nay .

II . LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
1. Tình hình nghiên cứu địa danh trên thế giới
Việc nghiên cứu địa danh đã được phát triển từ lâu trên thế giới .Ở Trung
Quốc, ngay từ thời Đông Hán, Ban Cố đã ghi chép hơn 4000 địa danh, trong đó có
một số địa danh đã được giải thích rất rõ về nguồn gốc và ý nghĩa . Đời Bắc Ngụy
(380-535 TCN) trong " Thủy Kinh chú sớ " Lịch Đạo Nguyên đã ghi chép hơn 2 vạn
địa danh, số được giải thích ngữ nguyên là hơn 2300. [ dẫn theo 35 ]
Ở các nước phương tây, bộ môn địa danh học chính thức ra đời vào cuối thế
kỷ XIX. Năm 1872 J.J . Eghi (Thụy Sĩ ) viết cuốn "Địa danh học". Đến cuối thế kỷ
XIX, đầu thế kỷ XX , Ủy ban địa danh của các nước Mỹ, Thụy Điển, Anh lần lượt ra
đời .
Tiên phong trong lĩnh vực xây dựng hệ thống lí luận về lí thuyết địa danh là các
nhà địa danh học Xô Viết. Những năm 60 của thế kỉ XX tại Liên Xô đã có hàng loạt
công trình nghiên cứu về lĩnh vực này ra đời . E.M.Murzaev viết cuốn"Những
khuynh hướng nghiên cứu địa danh học"(1965) và A. V. Superanskaia đã xuất bản
công trình " Địa danh là gì " (1985). Còn A.I .Popov (1964) lại đưa ra những nguyên
tắc cơ bản của công tác nghiên cứu địa danh, trong đó chú trọng hai nguyên tắc chính
là phải dựa vào tư liệu lịch sử của các ngành ngôn ngữ học, địa lý học, sử học và
phải thận trọng khi sử dụng phương pháp thành tố để phân tích ngữ vĩ của địa danh.
Ngoài ra I. A. Kapenco (1964) đã phát biểu những ý kiến bàn về địa danh học đồng
đại. N.V.Podonxkaija đã phân tích, lí giải địa danh mang những thông tin gì. Công
trình của bà đã góp phần làm cho việc nghiên cứu địa danh ngày càng đi sâu vào bản
chất. Nhà nghiên cứu A. V. Superanskaia trong cuốn" Địa danh là gì "(1985) đã đặt
ra những vấn đề vừa mang tính cụ thể vừa mang tính khái quát cao.Trong công trình
nghiên cứu của mình, tác giả đã đi sâu vào những vấn đề thiết thực liên quan đến

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
việc phân tích điạ danh . Ngoài việc trình bày cách hiểu về khái niệm địa danh, bà
còn nêu lên các vấn đề khác như tính liên tục của tên gọi , không gian tên riêng và
các loại địa danh(địa danh kí hiệu, địa danh mô tả, địa danh ước vọng) cũng như tên
gọi các đối tượng địa lí theo địa hình. Có thể nói đây là công trình lớn, có giá trị tổng
kết những kết quả nghiên cứu mới, đặt nền móng vững chắc cho các công trình
nghiên cứu về địa danh học tiếp theo.
Bên cạnh những công trình của các nhà địa danh học Xô Viết, các nhà nghiên
cứu địa danh của các nước khác cũng đã có những đóng góp không nhỏ trong lĩnh
vực này . Ch. Rostaing (1965) trong tác phẩm"Les noms de lieux " đã nêu ra hai
nguyên tắc nghiên cứu địa danh. Đó là phải tìm ra các hình thức cổ của các từ cấu
tạo địa danh và muốn biết từ nguyên của địa danh thì phải dựa trên kiến thức ngữ âm
học địa phương .Chuyên luận này đã bổ sung thêm cho vấn đề mà A.I .Popov đã nêu
ra trước đó…
2 .Tình hình nghiên cứu địa danh ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề địa danh được quan tâm từ rất sớm . Các tài liệu Tiền
Hán thư, Hậu Hán thư, Tấn thư thời Bắc thuộc có đề cập đến địa danh Việt Nam ,
trong đó mục đích chính trị được đặc biệt chú ý . Các tài liệu này đều do người Hán
viết để phục vụ cho công cuộc xâm lược nước ta.
Từ thế kỉ XV việc nghiên cứu địa danh mới được các nhà nghiên cứu Việt Nam
chú ý. Lúc này các địa danh được thu thập, tìm hiểu về nguồn gốc và ý nghĩa . Tiêu
biểu là "Dư địa chí" của Nguyễn Trãi (1435), " Lịch triều hiến chương loại chí" của
Phan Huy Chú ( 1821), " Phương Đình dư địa chí " của Nguyễn Văn Siêu (1900) …
Theo xu hướng phát triển của ngôn ngữ học, đặc biệt là của địa danh học trên
thế giới, vấn đề nghiên cứu địa danh ở Việt Nam có được bước tiến đáng kể từ
những năm 60 cuả thế kỉ XX. Năm 1964, Hoàng Thị Châu với bài viết " Mối quan
hệ về ngôn ngữ cổ đại Đông Nam Á qua một vài tên sông " được xem như người
cắm cột mốc đầu tiên trong nghiên cứu địa danh dưới góc nhìn ngôn ngữ học. Sau
này các công trình nghiên cứu tiếp theo của bà cũng theo khuynh hướng đó nhưng

thiên về hướng nghiên cứu phương ngữ học. Năm 1991, Lê Trung Hoa xuất bản tác
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
phẩm " Địa danh thành phố Hồ Chí Minh ". Ông đã trình bày những vấn đề lí thuyết
làm cơ sở cho sự phân tích các địa danh, đồng thời vận dụng vào tìm hiểu và chỉ ra
đặc điểm về cấu tạo, nguồn gốc và ý nghĩa, sự phản ánh hiện thực và quá trình
chuyển biến của các địa danh thuộc thành phố Hồ Chí Minh. Đến năm 1996, Nguyễn
Kiên Trường trong luận án PTS " Những đặc điểm chính về địa danh Hải Phòng” đã
phát triển bổ sung thêm những vấn đề về lí thuyết địa danh mà Lê Trung Hoa đã nêu
ra trước đó . Luận án này đã khái quát được những đặc điểm về cấu tạo, ý nghĩa,
nguồn gốc và sự biến đổi của địa danh Hải Phòng trong sự đối sánh với địa danh các
vùng khác của Việt Nam. Tiếp sau đó là luận án TS của Từ Thu Mai " Nghiên cứu
địa danh Quảng Trị " (2004) và Phạm Xuân Đạm với " Địa danh Nghệ An "( 2005).
Những công trình này đều có những đóng góp đáng kể trong việc nghiên cứu địa
danh học dưới góc độ ngôn ngữ học .
Trong lĩnh vực nghiên cứu địa danh học, cần phải kể đến hàng loạt bài viết của
Trần Trí Dõi về địa danh theo hướng so sánh - lịch sử. Chẳng hạn, "Về địa danh Cửa
Lò"(2000),"Về một vài địa danh, tên riêng gốc Nam Đảo trong vùng Hà Nội
xưa”(2000)," Không gian ngôn ngữ và tính kế thừa đa chiều của địa danh( qua phân
tích một vài địa danh ở Việt Nam ) "(2001) và " Vấn đề địa danh biên giới Tây Nam:
một vài nhận xét và những kiến nghị "(2001)…
Nếu như các tác giả trên đều nghiên cứu địa danh theo cách tiếp cận ngôn
ngữ học, xuất phát từ chính bản thân đối tượng địa danh, thì Nguyễn Văn Âu (2000)
trong " Một số vấn đề địa danh học Việt Nam" lại nghiên cứu địa danh từ cách tiếp
cận địa lí- lịch sử - văn hóa .
Gần đây nhất, năm 2008, có thêm một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu về địa
danh của một số địa phương cụ thể, chẳng hạn, Hà Thị Hồng với luận văn Khảo sát
địa danh hành chính tỉnh Bắc Kạn [ 17 ], hay Phạm Thị Thu Trang với luận văn
Khảo sát địa danh quận Ba Đình - Hà Nội...
Tuy nhiên, việc nghiên cứu địa danh ở Việt Nam còn chưa tạo được chỗ đứng

vững vàng. Các công trình nghiên cứu ấy mới bước đầu vận dụng các luận điểm lí
thuyết địa danh học của thế giới vào khảo sát các địa danh thuộc từng vùng cụ thể
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
hoặc mới chỉ bao quát về địa danh dưới góc độ văn hóa - lịch sử. Đôi khi cũng có
một vài luận án nghiên cứu địa danh từ góc độ ngôn ngữ học thuần tuý. Cho
đến nay, vẫn còn rất ít công trình nghiên cứu chuyên sâu từ góc độ tâm lí ngôn ngữ
học tộc người . Công trình của chúng tôi thuộc loại thử nghiệm đàu tiên nghiên cứu
địa danh huyện Việt Yên theo hướng khoa học liên ngành này.
3. Vấn đề nghiên cứu địa danh ở huyện Việt Yên – Bắc Giang
Các địa danh của huyện Việt Yên là đối tượng nghiên cứu còn hết sức mới
mẻ. Cho đến nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu hệ thống địa danh này .
Hiện chỉ có một số bài viết nhỏ giải thích về một vài địa danh trong huyện với
những tên đất, tên làng mang màu sắc văn hóa dân gian.
Chính vì vậy chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu cho công trình luận văn của
mình là: "Đặc điểm lịch sử - văn hoá của các địa danh huyện Việt Yên - Bắc
Giang ".
III . MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu hệ thống địa danh Việt Yên – Bắc Giang luận văn nhằm tìm hiểu
đặc điểm lịch sử - văn hóa còn được lưu giữ và phản ánh qua ý nghĩa và hình thái
bên trong của mỗi tên gọi nơi đây, góp phần làm sáng tỏ truyền thống văn hoá - lịch
sử của địa phương nói riêng, của dân tộc ta nói chung. Đồng thời bằng kết quả
nghiên cứu đạt được, luận văn cung cấp thêm tư liệu cho việc nghiên cứu từ vựng
học lịch sử tiếng Việt và góp phần xây dựng bộ môn địa danh học vốn chưa được
phát triển như một bộ môn khoa học thực thụ ở nước ta.
IV. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tất cả các địa danh trên địa bàn huyện Việt
Yên, bao gồm : các địa danh chỉ địa hình tự nhiên, địa danh chỉ các đơn vị dân cư,
và địa danh chỉ các công trình nhân tạo.
V. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Để giải quyết đề tài này, luận văn đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Khảo sát, điều tra điền dã hệ thống địa danh thuộc các loại hình đối tượng địa lý
khác nhau trên địa bàn huyện Việt Yên thuộc tỉnh Bắc Giang;
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
- Thống kê, miêu tả, phân tích cứ liệu, rút ra nhận xét về đặc điểm cấu tạo, đặc điểm
tri nhận và lựa chọn đặc trưng làm cơ sở định danh, ý nghĩa của các yếu tố cấu tạo
thuộc hình thái bên trong của các địa danh huyện Việt Yên và mối quan hệ của
chúng với các yếu tố địa lý, lịch sử, cư dân, văn hóa của huyện Việt Yên .
VI. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
1). Phương pháp điều tra điền dã để thu thập tất cả các địa danh tồn tại trong
dân gian thuộc Việt Yên – Bắc Giang;
2). Phương pháp thống kê : Đây là phương pháp giúp tính được tỉ lệ, mức độ
phổ biến của từng kiểu loại địa danh, của từng đặc trưng được lựa chọn làm cơ sở khi
đặt tên gọi của các địa danh;
3). Phương pháp miêu tả được sử dụng để phản ánh những đặc điểm cấu tạo
và ý nghĩa của các yếu tố cấu tạo trong phức thể địa danh
4.) Phương pháp điều tra bằng phỏng vấn được sử dụng để tìm hiểu ý nghĩa
lịch sử –văn hoá của các địa danh ở Việt Yên qua sự hiểu biết của cư dân nơi đây.
VII. TƢ LIỆU VÀ CÁCH XỬ LÝ TƢ LIỆU
1 . Tƣ liệu nghiên cứu
Tư liệu nghiên cứu của luận văn được thu thập từ các nguồn sau :
- Niên giám thống kê của tỉnh , huyện ;
- Bản đồ các loại của huyện Việt Yên;
- Một số công trình nghiên cứu về lịch sử, kinh tế , văn hóa của Việt Yên và của
tỉnh Bắc Giang;
- Các tài liệu lưu giữ ở chính quyền địa phương.
Đây là những tư liệu quan trọng nhất có tính pháp lý để đảm bảo cho những điều
trình bày trong luận văn.

- Tư liệu thu thập qua điều tra điền dã từ các dòng họ ở các làng và ghi chép lịch sử
của các làng.
2. Cách xử lý tƣ liệu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
Các địa danh thu thập được sẽ được thống kê, phân loại và xử lý dựa trên
những thông tin về các loại đối tượng địa danh theo thứ tự sau : 1. Loại hình địa danh
(danh từ chung chỉ loại đối tượng); 2. Tên riêng cá thể hoá đối tượng được định
danh; 3 . Tên gọi khác của đối tượng (những tên gọi khác có trước hoặc song song
tồn tại với tên gọi hiện nay); 4. Ý nghĩa từng tên gọi (ý nghĩa chiết tự hoặc ý nghĩa
nguồn gốc ); 5 . Nguồn gốc ngôn ngữ của các yếu tố (yếu tố Hán Việt , yếu tố thuần
Việt); 6. Số lượng yếu tố (xem địa danh được cấu tạo từ bao nhiêu yếu tố ); 7. Kiểu
cấu tạo ( cấu tạo đơn hay phức, theo kiểu quan hệ chính phụ hay đẳng lập); 8. Vị trí
hiện nay .
Sau khi xử lí, phân loại theo mẫu, luận văn tiến hành tổng hợp theo sơ đồ, biểu
bảng với số lượng và tỉ lệ tương ứng. Trên cơ sở đó, luận văn rút ra nhận xét từ cụ
thể đến khái quát theo hướng quy nạp ở từng phần, từng chương về đặc điểm văn
hoá - lịch sử còn được lưu giữ, phản ánh qua từng địa danh của vùng đất này .
VIII. Ý NGHĨA LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Qua việc phác hoạ bức tranh toàn cảnh về hệ thống địa danh trên địa bàn huyện
Việt Yên – Bắc Giang với các đặc trưng về cấu tạo, cách thức định danh, những đặc
điểm văn hoá - lịch sử của vùng đất này, luận văn hi vọng cung cấp thêm tư liệu cho
việc nghiên cứu từ vựng học lịch sử tiếng Việt và góp phần xây dựng bộ môn địa
danh học vốn chưa được phát triển ở nước ta. Đồng thời luận văn sẽ giúp hiểu rõ hơn
truyền thống văn hoá - lịch sử của địa phương Việt Yên nói riêng, của dân tộc ta nói
chung, cũng như phục vụ cho việc biên soạn Dư địa chí Việt Yên…
IX. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba
chương :
Chƣơng 1 : Đặc điểm địa lí tự nhiên - văn hoá - xã hội của huyện Việt Yên tỉnh

Bắc Giang
Chương này trình bày những đặc điểm về mọi mặt như tên chương đã chỉ ra
của địa phương có ảnh hưởng đến cách đặt các địa danh thuộc huyện Việt Yên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
Chƣơng 2: Một số Cơ sở lý thuyết chung về địa danh học và đặc điểm địa
danh Việt Yên
Chương này sẽ trình bày những vấn đề lý thuyết chung về định danh, địa danh
học và đặc điểm địa danh Việt Yên, gồm: những đặc điểm về cấu tạo của địa danh;
thành tố chung và tên riêng trong phức thể địa danh; các phương thức định danh
trong mối quan hệ với những đặc điểm về ý nghĩa của các yếu tố cấu tạo nên địa
danh; lý do đặt tên cho các đối tượng địa lý được phản ánh trong địa danh và bộ phận
của các yếu tố cấu tạo….
Chƣơng 3 : Những đặc điểm lịch sử - văn hoá của Việt Yên đƣợc phản ánh qua
hệ thống địa danh
Chương này nghiên cứu những đặc trưng của địa danh Việt Yên từ cách tiếp cận
văn hóa – lịch sử . Nội dung của chương sẽ xem xét các ảnh hưởng của điều kiện địa
lý tự nhiên, dân cư, lịch sử, sự thay đổi các địa giới hành chính và những thành tố
khác của văn hóa được lưu giữ trong từng địa danh của Việt Yên .
















Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Chƣơng 1
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN - LỊCH SỬ - VĂN HOÁ - XÃ HỘI
CỦA HUYỆN VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG
1.1 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN CỦA HUYỆN VIỆT YÊN
1.1.1. Vị trí địa lý
Huyện Việt Yên nằm ở tiểu khu trung du của tỉnh Bắc Giang trên tiếp điểm giữa
đồng bằng châu thổ sông Hồng với rừng núi đông bắc, giữa lưu vực sông Cầu - sông
Thương khoảng 21
0
16' - 21
0
17' vĩ tuyến bắc , 106
0
01' - 106
0
07' kinh đông .
Huyện có diện tích 181.200 km
2
chiếm 4% diện tích cả tỉnh Bắc Giang . Nhìn chung
huyện Việt Yên có địa hình tương đối bằng phẳng so với nhiều huyện khác trong
vùng. Đặc điểm nổi bật của địa hình huyện Việt Yên là sự xen kẽ giữa các khu trũng
với các khu cao cục bộ. Độ cao trung bình của huyện là 46,5m nhưng núi Bài (Vân
Trung) cao tới 196 m.
Về phương diện địa mạo địa hình , Việt Yên chia thành hai khu khác nhau :

- Vùng nước máng tự chảy : Gồm 12 xã nằm ở phía Bắc và phía nam Đa Mai,
diện tích 141 km
2
, 75% đất đai bằng phẳng dốc dần theo hướng đông bắc - tây nam .
- Vùng nước thấp nhờ trời : Gồm 5 xã ở phía đông quốc lộ 1A diện tích 40km,
độ dốc hướng về hai bên .
Khoảng năm trăm năm trước đây, đầm lầy, rừng rậm là cảnh quan chủ yếu
của huyện. Những vạt rừng chạy khắp núi Mỏ Thổ, núi Nhẫm, núi Con Voi, núi Lát
rồi đổ xuống lưu vực sông Cầu. Từ dãy Nham Biền rừng lại tràn qua Vân Cốc, Trung
Đồng. Đến đây rừng bị ngăn lại bởi vùng đầm lầy đầy lau sậy ở Đông Tiến, Quang
Biểu, Hoàng Mai. Sông ngòi mỗi mùa nước lại nhấn chìm cả một vùng rộng lớn lấp
phù sa đầy các cây cỏ, phân giải chúng thành lớp than bùn . Những địa danh như
Rừng Đống, Ninh Động, Đình Chám, Phúc Lâm, Lai ... với các vỉa than đá, than bùn
đã khẳng định điều này. [ 36 ] ; [38] ; [ 5 , tr 6-7].
Nằm ở khu vực vị trí địa lí khá thuận lợi giữa hai thung lũng sông Thương
và sông Cầu, đất đai màu mỡ, lại thuận tiện về giao thông nên từ xa xưa Việt Yên đã
là khu vực quần cư chính của người Việt cổ. Trong "Bắc Giang địa chí " Trịnh Như
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
Tấu viết : " Hai huyện Hiệp Hòa, Việt Yên , thung lũng sông Thương , đồi núi Phất
Lộc và Phượng Nhỡn họp thành một vùng làm môi giới cho miền rừng núi và trung
châu. Vùng này có nhiều đồi, nào thông nào các thứ cây có quả lại có rừng thưa cây.
Cảnh trí thực là thanh nhã ...giữa các dải núi thiên hình vạn trạng có nhiều thung
lũng màu mỡ, đồng ruộng tươi tốt xen với cây cối xanh um, cảnh vật thanh u, dân cư
đông đúc giàu thịnh ... " Cảnh nhộn nhịp trên bến dưới thuyền , chợ búa sầm uất ấy
đã được Lê Quý Đôn ghi lại khi ông có dịp tới Thổ Hà :
Đường thông bãi biển tôm cua rẻ
Đất có lò nung chĩnh vại nhiều
Lên xuống bến đò như mắc cửi
Mưu tìm lợi nhỏ khổ bao nhiêu

1.1.2 . Khí hậu - thời tiết
Việt Yên nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mùa đông lạnh .
Sách " Bắc Ninh tỉnh chí " viết về thời tiết Việt Yên :
" Thời tiết hàng năm trong hạt thì vào mùa xuân, mùa hạ gió hơi nhiều,
mưa cũng lắm còn mùa thu mùa đông mưa gió ít hơn. Duy có về tháng 11 là khí trời
rất lạnh, tháng 6, tháng 7 là những tháng nóng nhất ". Mùa đông Việt Yên khô hanh
kéo dài, thường ngày ấm đêm lạnh. Mùa hè ngoài lượng nắng hết sức phong phú
Việt Yên còn có mưa rào đối lưu, chiếm 50-60% lượng mưa cả năm . Mưa ngâu
thường xảy ra vào tháng 6-8 lượng mưa từ 3 - 400mm. Nhiệt độ trung bình cả năm
của Việt Yên là 23
0
C, lượng mưa bình quân 1504mm, độ ẩm không khí đạt 81,2%.
Nhìn chung các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm lượng mưa... của Việt Yên thích hợp với đời
sống và sản xuất.”
1.1.3.Giao thông thủy bộ
Phía đông Việt Yên giáp với huyện Yên Dũng và thị xã Bắc Giang, phía tây
- tây bắc liền với huyện Hiệp Hòa, phía nam giáp với Yên Phong, thị xã Bắc Ninh và
huyện Quế Võ mà ranh giới là sông Cầu, phía Bắc giáp với Tân Yên. Đây là một vị
trí khá lý tưởng cả về kinh tế và quân sự, thuận lợi giao thông cả về đường thủy lẫn
đường bộ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
Quốc lộ 1A tạo sự thông suốt giữa Việt Yên với các tỉnh biên giới phía bắc ,
với Hà Nội và các tỉnh phía nam, cùng mạng lưới các đường liên xã liên thôn nối
huyện với tất cả các vùng bao quanh.
Thời cổ con đường cái quan - đường thượng kinh cũng chạy qua đây . Sách
“Bắc Ninh tỉnh chí ”chép : "Đường quan báo từ xã Nam Ngạn huyện Việt Yên đi về
phía bắc đến xã Cần Dinh giáp giới phân phủ Lạng Giang dài 49 dặm 28 trượng 3
thước rộng 1 trượng 1 thước. Một đường quan báo từ xã Thần Chúc huyện Việt Yên
đi về phía tây tới xã Lương Phong huyện Hiệp Hòa dài 3 dặm 160 trượng rộng 9

thước . Một con đường từ xã Như Thiết huyện Yên Dũng chạy về phía tây xã Nghĩa
Vũ giáp huyện Yên Thế dài 4 dặm rưỡi rộng 9 thước. Con đường từ Sen Hồ chạy về
phía đông dến Bằng Lương giáp phủ hạt Nam Sách tỉnh Hải Dương dài 32 dặm rộng
5 thước 3 tấc " . [ dẫn theo 39, tr. 112] ; [ 26] .
Sông Cầu có 22 km chạy qua địa phận huyện Việt Yên. Nhờ nó Việt Yên có
thể giao lưu dễ dàng với vùng Thái Nguyên, vùng đồng bằng Hải Dương, Hưng Yên
và miền duyên hải Hải Phòng. Sông Bắc Cầu (còn gọi ngòi Đa Mai, sông Như Thiết)
từ Phương Độ (Thái Nguyên) chảy qua bắc Hiệp Hòa vào Việt Yên tách đại bộ phận
3 xã Thượng Lan, Minh Đức, Nghĩa Trung sang bờ bắc rồi chảy ra sông
Thương."Ngòi Đa Mai sâu nên suốt năm thuyền bè đi lại từ chợ Gánh bên trên cầu
Mỏ Thổ trở về. Ở xế xã Hoàng Mai sông Bắc Cầu chảy 4km song song với sông
Đông Lỗ là một chi lưu của sông Cầu, nếu làm một sông đào sẽ nối liền hai sông.
Thời Nguyễn có cầu gỗ Như Thiết bắc qua con sông này ". [26 ]
1.2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ DÂN CƢ CỦA HUYỆN VIỆT YÊN
Năm 1936 dân số Việt Yên là 44.090 người. Cuối năm 1954 có 57.965
người. Đến 1 tháng 4 năm 1994 toàn huyện Việt Yên có 150.826 người, mật độ
882ng/km2. Việt Yên có 300 điểm quần cư đều là sản phẩm của lịch sử và nền sản
xuất nhỏ để lại. Giữa các vùng có sự phân bố không đồng đều: các xã phía bắc dân
số thưa, mật độ bình quân 600 người / km2 , còn các xã phía nam dân cư đông đúc
hơn, mật độ gần 1500 người/km2. Đặc biệt xã Vân Hà có mật độ lên tới 2936
người/km2.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
Về thành phần dân tộc của Việt Yên : Dân cư trong huyện hoàn toàn là
người Kinh .
Từ xưa tới nay, hạt nhân cơ bản nhất của Việt Yên là làng, có vài ba hàng
phố như Sen Hồ, Phúc Lâm, Bích Động, Nếnh, Chàng, Tam Tầng. Làng là nơi cư
ngụ của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước. Làng chính là xã, thôn, ở thời bắc thuộc
là đại hương, tiểu hương, đại xã, tiểu xã; thời Khúc Hạo là Giáp; thời Trần là xá,
trang, phường, sở . Trong lòng làng xã có những kết cấu nội bộ như dòng họ, xóm

ngõ, giáp, phe phường .
Dòng họ là một biểu hiện của lối cư trú theo huyết thống, là hạt nhân cơ
bản tạo nên cá tính của làng xã. Kết cấu của dòng họ bao gồm họ nội, họ ngoại, các
chi ngành của họ gốc rồi đến họ đàn anh, đàn em .
Trên đất Việt Yên chắc chắn có sự tụ cư của con người từ rất sớm như dấu
vết khảo cổ học đã khẳng định nhưng do nhu cầu sản xuất , do tình trạng chiến tranh
, do hậu quả của thiên tai dịch bệnh , thiếu đói ... diễn ra không ngừng trong lịch sử
nên thành phần cư dân cũng có nhiều thay đổi , xáo trộn. Có dòng họ cư trú ở Việt
Yên từ rất lâu đời , có dòng họ mới đến chừng vài thế kỉ .Theo thống kê của phòng
thống kê huyện Việt Yên và theo tư liệu điền dã thì họ Thân là dòng họ lớn và cư trú
lâu đời nhất trên đất Việt Yên. Dòng họ này đã nổi danh với ba phò mã Thân Thiệu
Thái, Thân Cảnh Nguyên, Thân Cảnh Phúc thời Lý( Giáp Khẩu, Hương Giáp - làng
Kép) với các tiến sĩ, thám hoa Thân Nhân Trung, Thân Nhân Vũ,Thân Nhân Tín,
Thân Cảnh Vân đời Lê ( làng Yên Ninh ).
Họ Nguyễn(Yên Ninh), Ngô( Vân Ninh ) Đỗ, Hoắc, Trần, Nguyễn (Hoàng
Mai), các họ Doãn, Đỗ, Hoàng(Yên Ninh),Vũ (Tiên Lát ), Nguyễn (Quang
Biểu),...đều có mặt sớm trên đất Việt Yên( từ trước thế kỷ XV ). Các dòng họ Chu
(Mật Ninh ), Cáp, Đặng (Thổ Hà ) từ vùng Thanh - Nghệ chuyển cư đến từ sau thế
kỷ XVI. Đầu thế kỷ XX, cư dân ở các vùng Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà
Nam, Thái Bình , Nam Định lên Việt Yên làm tá điền khiến cho các dòng họ ở đây
tăng nhanh đáng kể.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
Cư dân Việt Yên vốn là cư dân nông nghiệp lâu đời . Họ đã trải qua hàng nghìn
năm khai phá rừng, san lấp ổ trũng, đắp đê, nạo vét kênh mương, chống úng, chống
lụt để cày cấy vun trồng, rồi “ trông trời , trông đất , trông mây ....” mong cho mưa
thuận gió hoà, khoai lúa tốt tươi, người yên vật thịnh ... Bản chất của con người nơi
đây là thuần phác, nhân hậu, luôn chăm chút nâng niu sự sống của thiên nhiên và
muôn loài, luôn hướng tới sự sinh sôi nảy nở “ nảy cành xanh ngọn ” ...sống nặng
tình nặng nghĩa ...[ 4 ,tr.76] ;[ 13,tr.16]

Nói về thành phần và tính cách của cư dân Việt Yên, " Bắc Ninh tỉnh chí " viết:
"Trong hạt có các thành phần sĩ, nông, công, thương, nghề nghiệp không giống
nhau... Y phục chất phác không ưa chuộng cái khác. Duy từ núi Nham Biền về phía
Nam là bình nguyên dân ở đó thuần hậu, còn ngược lên phía bắc có núi đất nổi lên
san sát, dân ở đó hơi dũng hãn. " [ 6 , tr.23 ] ; [ 26] ; [ 38]
1.3 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ LỊCH SỬ CỦA HUYỆN VIỆT YÊN
Lịch sử huyện Việt Yên là lịch sử của những năm tháng hào hùng dựng
nứơc và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Khu vực Việt Yên chịu sự ảnh hưởng và
tác động của hai trục kinh tế - thung lũng sông Thương, thung lũng sông Cầu, do đó
các trục giao thông chính, các khu vực quần cư chính, các vùng nông nghiệp, thủ
công và thương mại đều phân bố ven trục này . '' Nhưng cũng có ít nơi nào mà sự
tình có vẻ trái ngược như tên gọi Việt Yên ( miền đất Việt bằng an ) đến thế bởi từ
thuở Hùng Vương dựng nước đến Lý, Trần, Lê, Tây Sơn … thời nào nơi đây cũng là
chiến trường khốc liệt nhất nhưng cũng là nơi giành được nhiều thắng lợi vinh quang
nhất, huy hoàng nhất. Một vùng đất không rộng người không đông mà có ba nơi
được chọn làm huyện lị (Như Thiết, Sen Hồ, Vạn Vân) càng khẳng định vị trí đặc
biệt quan trọng của địa phương trong lịch sử. "[38 , tr.145]
Hơn hai ngàn năm trước, Việt Yên nằm trong bộ Vũ Ninh thuộc nhà nước Văn
Lang. Dã sử và truyền thuyết đã ghi nhận về nhiều cuộc xâm lăng của giặc Mũi Đỏ,
giặc Man, giặc Ân .
Theo nội dung tấm bia Thánh tích bi kí tại thôn Tiên Lát( xã Tiên Sơn )
dựng năm Tự Đức thứ 8(1855) thì sự nghiệp chống ngoại xâm của nhân dân Việt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
Yên mở đầu bằng chiến công của Thạch Tướng quân dưới thời Hùng Vương thứ 16.
Lúc này lũ giặc Man do Lục Đinh cầm đầu kéo vào tàn hại nước Văn Lang, cậu bé
Thạch Linh mới 7 tuổi nghe tin Hùng Tạo Vương sai sứ giả đi cầu người hiền tài đã
vươn dậy cao 10 trượng sức hay cất nổi vạc, nhảy lên voi đá, cầm cờ thiên đế lên
đường đuổi giặc. Giặc tan, Thạch Linh phóng voi lên núi Phượng Sơn rồi hóa. Hùng
Tạo Vương thương nhớ cho lập đền thờ và phong cho Thạch Linh là Thạch tướng

quân. Đình ngự sử sau này còn lưu lại bài thơ :
Giang sơn linh tú hẳn sinh thần
Chuyện cũ hồng hoang ảo lẫn chân
Dấu cũ làng tiên ba mảnh đá
Hồn còn miếu Phượng bốn ngàn xuân
Huyền thoại Thạch Tướng có phần hao hao huyền thoại về Phù Đổng Thiên
Vương. Điều đó chứng tỏ rằng ngay từ xa xưa, nhân dân Việt Yên đã có vinh dự
được gánh vác trọng trách bảo vệ vẹn toàn nhà nước Văn Lang . [ 6, tr. 36 ] ; [38 , tr.
245]
Thời Lý một vùng đất ven sông Cầu đối diện với Như Nguyệt - Thị Cầu - Vạn
Xuân được lập thành huyện Yên Việt thuộc phủ Bình Lỗ lộ Bắc Giang. Yên Việt với
ý nghĩa “giữ yên bình nhà nước Đại Việt” là cái tên ghi lại trang sử hào hùng của
nhân dân trong huyện trong sự nghiệp chống Tống mùa xuân năm 1077. Mùa đông
năm 1776 Tống Thần Tông cử Quách Quỳ, Triệu Tiết đem 10 vạn quân, 20 vạn phu,
1 vạn ngựa cùng nhiều chiến thuyền kéo sang xâm lược Đại Việt. Chúng đóng quân
suốt từ lưu vực sông Thương đến Tam Tầng, Tiên Lát, Mai Đình. Phối hợp với chiến
trường chính, nhân dân Việt Yên dưới sự lãnh đạo của phò mã Thân Cảnh Phúc đã
liên tục tổ chức tập kích vào hậu phương quân Tống khiến chúng luôn bị căng thẳng
và mệt mỏi. Người già, phụ nữ và trẻ con đều chạy vào rừng tránh giặc. Giặc coi đội
dân binh của Thân Cảnh Phúc là cường binh, hoạt động đặc biệt hiệu quả khi chúng
đi lẻ. Ở phía phòng tuyến sông Như Nguyệt, địch nhiều lần định từ Tam Tầng, Tiên
Lát vượt sông đánh sang Thị Cầu, Đại Lâm nhưng đều thất bại . Cuối mùa xuân
1077 hai hoàng tử nhà Lý là Hoàng Châu, Chiêu Văn đem thủy quân từ căn cứ Vạn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
Xuân (Quế Võ ) tấn công trại giặc ở Tam Tầng. Hai bên giao chiến quyết liệt tại cánh
đồng Đông Tiến (Quang Biểu -Việt Yên). Trận Khao Túc ở phía đông nam cánh
đồng Đông Tiến đã khiến cho quân Tống tập trung sự chú ý về phía đông , do đó
doanh trại Tống ở phía tây ( Mai Đình – Hiệp Hoà) do Triệu Tiết chỉ huy bị sơ hở .
Lý Thường Kiệt liền quyết định bất ngờ tập kích doanh trại của Triệu Tiết .Đêm ấy

từ đền thờ Trương Hống ven sông Cầu bài thơ được coi như bản tuyên ngôn độc lập
đầu tiên của nước ta được ngân vang :
Nam quốc sơn hà Nam
Tiệt nhiên định phận tại thiên
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
Nghĩa là : Sông núi nước nam vua nam ở

Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao quân giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời
Truyền thuyết cả vùng hai bên sông Cầu còn ghi lại những diễn biến sinh động
về trận Khao Túc này . Tuy trong trận Khao Túc hai hoàng tử Hoằng Chân và Chiêu
Văn hy sinh, nhà Lý bị tổn thất khá lớn nhưng quân Tống phải rút về thế phòng ngự,
co cụm toàn bộ lực lượng về Tam Tầng. Số lính chết trận và chết vì dịch bệnh của
chúng lên tới 6,7 phần. Biết được tình hình quân địch , Lý Thường Kiệt đã chủ động
kết thúc chiến tranh, bàn hòa để không nhọc tướng sĩ, không hao tổn xương máu mà
vẫn bảo toàn lãnh thổ. Quân Tống hỗn loạn rút lui, dẫm đạp lên nhau mà chạy. Lúc
trở về chúng chỉ còn 23.400 tên cả lính lẫn phu, 3174 con ngựa và tốn phí 5.190.000
lạng vàng. Tống sử đã ghi lại lời than của Quách Quỳ : " Ta không thể đạp đổ được
sào huyệt giặc, bắt được Kiền Đức để báo mệnh triều đình. Tại trời vậy ! Thôi đành
liều một thân ta để cứu hơn 10 vạn nhân mạng. "
Bằng chiến công hào hùng đó, cái tên huyện Yên Việt ra đời .Tên gọi này
được giữ mãi cho đến tận thế kỷ XIX. [16 ,tr. 37 ] ; [38]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
Thời Trần quân dân huyện Yên Việt cũng đã góp không ít công sức vào sự
nghiệp đánh đuổi giặc Nguyên Mông. Năm 1285-1288 quân giặc đã nhiều lần sử
dụng Tam Tầng làm bàn đạp để tấn công vào Thị Cầu - Lãnh Kinh nhưng chúng đều
bị quân dân trong huyện phối hợp với quân triều đình chặn đánh quyết liệt.

Dưới triều Tây Sơn, Việt Yên lại lập được những chiến công vang dội .
Cuối 1788 lợi dụng cơ hội Lê Chiêu Thống cho người sang cầu cứu, vua
Thanh đã phái 3 đạo quân do tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị chỉ huy kéo vào
nước ta. Cùng lúc ấy, các tướng Tây Sơn là Ngô Văn Sở, Phạm Văn Lân đã đem
quân từ Trấn Thành Kinh Bắc ở Thị Cầu đang đêm vượt sông tấn công vào đại bản
doanh quân Mãn Thanh ở Tam Tầng với sự giúp đỡ của nhân dân trong huyện .
Mùa xuân 1789 với chiến thắng Hà Hồi , Ngọc Hồi - Đống Đa, nghĩa quân
Tây Sơn đã quét sạch giặc Thanh ra khỏi Thăng Long. Lũ tàn quân Mãn Thanh bị đô
đốc Lộc, đô đốc Thuyết chặn đánh ở Tam Tầng- Việt Yên. Tôn Sĩ Nghị bỏ cả sắc
thư, kì bào chạy tháo thân. Sau này nhà thơ Trinh Đường khi qua Tam Tầng đã hỏi :
Chỗ nào đây tên tướng giặc run chân
Ấn tín cờ mao rơi chẳng biết
Mắt lấc láo dương đôi tròng đã chết
Nhìn về Thăng Long lạnh giá máu ngông cuồng ...
Công cuộc đấu tranh giai cấp của nhân dân Việt Yên diễn ra dồn dập từ giữa
thế kỷ XVIII, mở đầu là ảnh hưởng của cuộc khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu. Năm
1744 Nguyễn Hữu Cầu đem quân tấn công Kinh Bắc, lập chiến lũy trên bờ sông
Thương từ Quế Nham đến Khê Cầu, bày 400 chiến thuyền dưới sông tạo thành một
căn cứ phòng ngự kiên cố. Trấn thủ Kinh Bắc là Trần Đình Cẩm cùng đốc đồng Kinh
Bắc là Vũ Phương Đề đem quân triều đình tấn công nghĩa quân. Hai bên giao chiến
ác liệt tại chợ Chay - Đình Chám. Quân triều đình bị Nguyễn Hữu Cầu truy kích đến
tận thành Thị Cầu. Trần Đình Cẩm, Vũ Phương Đề bỏ cả ấn tín tháo chạy về Đông
Đô .
Tháng 8 năm 1744 triều đình phái Hoàng Ngũ Phúc, Trương Khuông chia
quân làm 5 đạo, đem theo 10 đại tướng, 64 tướng hiệu và 72000 lính tiến đánh nghĩa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
quân . Trương Khuông Nguyễn Trung Thân, Vũ Tá Liêu, Lê Đệ mang trước 4 đạo
quân ngầm phục sẵn ở Yên Việt, Yên Dũng. Mùa đông 1744, Trương Khuông tấn
công nghĩa quân. Một trận đánh dữ dội diễn ra tại Ngọc Lâm - Như Thiết. Trương

Khuông bị nghĩa quân đánh tơi bời, 4 đạo quân kia không cần đánh mà tự tan rã. Dân
nghèo Yên Việt, Yên Dũng nô nức gia nhập phong trào Nguyễn Hữu Cầu. Tháng 3
năm 1751 phong trào tan rã, Nguyễn Hữu Cầu bị giết.
Dưới thời Nguyễn, có 2 cuộc khởi nghĩa lớn là khởi nghĩa Quận Tường
và Đại Trận .
Cuộc khởi nghĩa Quận Tường nổ ra năm 1866 tại Cao Xá (Yên Thế) . Phạm vi
ảnh hưởng của nó chủ yếu ở Yên Dũng, Việt Yên, Hiệp Hòa. Năm 1874 cuộc khởi
nghĩa bị dập tắt. Cuộc khởi nghĩa Đại Trận nổ ra năm 1870 tại Ngọc Lý (Yên Thế).
Trận mở màn tại Mỏ Thổ (Việt Yên) nghĩa quân đã khiến cho quân triều đình thất
điên bát đảo. Năm 1875 cuộc khởi nghĩa bị tiêu diệt. Có thể nói các cuộc khởi nghĩa
của Nguyễn Hữu Cầu, Quận Tường và Đại Trận đã tô thắm thêm cho truyền thống
anh hùng của nhân dân Việt Yên .
Từ giữa thế kỷ XIX, đất nước ta rơi vào ách đô hộ của thực dân Pháp. Ngày 15
tháng 3 năm 1884 Pháp vượt sông Cầu tiến qua Việt Yên,Yên Dũng đánh Nhã Nam.
Từ đây Việt Yên bị thực dân Pháp chiếm đóng .
Sống dưới chính sách cai trị tàn bạo của thực dân Pháp, thừa kế và phát huy
truyền thống quý báu trong quá trình dựng nước, giữ nước của cha ông nên ngay từ
những ngày đầu thực dân Pháp đặt chân lên quê hương, nhân dân Việt Yên đã ngày
đêm tìm cách tiến hành các hoạt động vũ trang chống lại ách ngoại xâm. Ông Mền
Hoàng Mai - một trí thức địa phương bấy giờ đã nói lên ý chí, nguyện vọng của nhân
dân địa phương trong đôi câu đối :
Tu xác đỗ ba khoa giấy rách lề còn phải giữ gìn lấy nếp nhà một tí
Tuổi sơ ngoài bảy chục, tre già măng mọc , mặc đua đòi trong đám hội ba que
Phong trào đầu tiên chống thực dân Pháp ở Việt Yên là cuộc khởi nghĩa
Nguyễn Cao. Từng là tri huyện hết lòng vì dân nên Nguyễn Cao được nhân gian
truyền tụng : " Tặc úy như thần, dân thân như phụ "( Giặc sợ ông như sợ thần , nhân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
dân gần và yêu quý ông như cha). Năm 1884 địa bàn hoạt động của nghĩa quân lan
rộng từ Việt Yên sang Yên Dũng và thu hút được cả phong trào của Hoắc Công Thỏa

ở Trung Đồng (Vân Trung) do đó đã xây dựng được căn cứ ở Chúc Tay, Vân Cốc,
Trung Đồng (Việt Yên ).
Từ Vân Cốc , Trung Đồng, nghĩa quân của Nguyễn Cao, Hoắc Công Thỏa đã
tập trung đánh vào nơi đóng quân của Pháp ở Đáp Cầu (Bắc Ninh). Ngày 3 tháng 8
năm 1884, chúng đã tập trung 400 quân càn quét nhằm tiêu diệt hai làng Vân Cốc và
Trung Đồng. Song chúng đã vấp phải sự chống trả quyết liệt của nghĩa quân và nhân
dân địa phương. Danh tiếng của các thủ lĩnh trong trận đánh này còn ghi lại trong
bài vè :
Thứ nhất anh cả Trung Đồng
Thứ hai anh Công Kẻ Thượng
Thứ ba anh Tướng Phù Yên
Thứ tư anh Thọ làng Chiền oai phong.
Địa danh căn cứ núi Đồn( Vân Trung) cùng tên tuổi các vị thủ lĩnh ấy sống mãi
trong lòng nhân dân Việt Yên. [ 6, tr.40 - 41]
Cuộc khởi nghĩa của Đội Văn cũng để lại nhiều dấu ấn trên đất Việt Yên. Đội
Văn tham gia đánh Pháp trong đội quân Tam Tỉnh nghĩa đoàn và là một trong những
thủ lĩnh xuất sắc của phong trào Bãi Sậy. Ngày 16 tháng 3 năm 1889 ông trá hàng,
ngày 17 tháng 3 năm 1889 ông bí mật đem toàn bộ lực lượng lên Yên Thế. Lúc này
lực lượng của ông lên tới 500 người, được trang bị hàng trăm súng. Nghĩa quân đã
làm cho thực dân Pháp hoảng sợ, chúng phải tốn nhiều công sức để chặn đánh nghĩa
quân nhưng không được. Khi đến Đèo Lai, nghĩa quân gặp phải quân địch và chống
cự quyết liệt. Sau trận này nghĩa quân lên Yên Thế. Quân Pháp phải huy động 2000
binh lính, có cả bộ binh, pháo binh, kị binh, thám báo, lính cơ hòng tiêu diệt nghĩa
quân. Ngày 7

tháng11 năm 1889 Đội Văn hy sinh.
Bên cạnh đó cuộc khởi nghĩa Yên Thế cũng làm thực dân Pháp kinh sợ. Năm
1884 cuộc khởi nghĩa Yên Thế bùng nổ. Năm 1885 Việt Yên là địa bàn hoạt động
của Đề Thám, Bá Phúc. Ngày 23 tháng 11 năm 1888 nghĩa quân tấn công vào đồn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

19
Pháp ở Lạn Tràng, Hoàng Mai, Yên Liễn, Đa Mai . Từ cuối tháng 7 năm 1889 nghĩa
quân hoạt động rất mạnh ở Việt Yên, phối hợp với nhân dân địa phương chặn đánh
nhiều chuyến tàu. Cuốn "Lịch sử quân sự Đông Dương " của Pháp còn ghi lại : "
Những viên thủ lĩnh thông đồng với các nhà chức trách An Nam phá những cố gắng
của ta ...Khắp nơi đều gặp một đám dân chúng đầy ác cảm ...quân của ta di chuyển
đều bị những toán dân bản xứ trên các mỏm cao do thám. Chúng ta chịu không điều
tra được gì và đôi khi không thu được kết quả " . Tháng 4 năm 1891 nghĩa quân bắn
bị thương chánh vệ Pôlican ở Bích Động. Ngày 21 tháng 6 năm 1891 nghĩa quân tấn
công quân Pháp ở Vân Cốc và làng Bùi .
Ngày 9 tháng 12 năm 1892 với sự chứng kiến của các vị thủ lĩnh và 400 nghĩa
quân, Đề Thám đã tổ chức buổi lế tế cờ long trọng tại đình làng Đông( Bích Sơn-
Việt Yên ) để tuyên thệ nhậm chức tổng chỉ huy. Đây cũng là thời điểm nhân dân
Việt Yên tham gia vào cuộc khởi nghĩa Yên Thế đông đảo nhất. Trong hàng ngũ chỉ
huy có nhiều người ở Việt Yên : Cả Huỳnh (Lê Văn Huỳnh ) người làng My Điền,
Bà Ba Cẩn ( Đặng Thị Nho ) cùng hai em là Cả Can, Hai Cán người Vạn Vân, Cai
Ba Nhái người Bích Động, Hoắc Văn Bắc người Hoàng Mai, Nguyễn Văn Khôi(
Thiết Sơn ), Nguyễn Văn Cầu (Thổ Hà), Dương Văn Màn( Vân Cốc), Thân Văn Tề (
My Điền ) ...
Qua nhiều năm hòa hoãn, mùa xuân 1909 thực dân Pháp bất ngờ tấn công vào
căn cứ Phồn Xương. Tất cả các thủ lĩnh và nghĩa quân người Việt Yên đã anh dũng
chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Cả Huỳnh nhiều lần từ mặt trận Vĩnh - Phúc Yên
mở đường về Yên Thế đưa bộ chỉ huy lên Tam Đảo, bị Pháp bắn trọng thương ở núi
Hàm Sơn. Ngày 6 tháng 4 năm 1909 Cai Tề đảm trách nhiệm vụ đó . Ông bị vây ở
Cầu Ngói - làng Cầu( Thượng Lan ) nhưng nhờ nhân dân giúp đỡ nên thoát sang Bài
Xanh - Vân Cốc. Trong trận cầu Sim, ông đã bắn chết tri huyện Yên Dũng là Nguyễn
Văn Quỳ rồi rút lên cố thủ ở núi Mỏ Thổ tạo nên " một pháo đài thực sự với ba tuyến
ngoại vi gồm các ao sâu, hàng rào tre và những bức tường xây bằng đá tảng" . [32 ,
tr49]

×