Tải bản đầy đủ (.pdf) (102 trang)

Yếu tố kỳ ảo trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.06 MB, 102 trang )

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
----------------




NGUYỄN THỊ NGỌC ANH




YẾU TỐ KỲ ẢO TRONG TIỂU THUYẾT
NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG



Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60.22.34


LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN


Người hướng dẫn khoa học:
TS. LÊ HỒNG MY






Thái nguyên, 2008
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU........................................................................................................................................... 1
Lý do chọn đề tài ..........................................................................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề ..........................................................................................................................................3
3. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................................................................ 12
4. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................................................ 13
5. Mục đích của luận văn ...................................................................................................................... 13
6. Đóng góp của luận văn ..................................................................................................................... 13
7. Cấu trúc của luận văn ........................................................................................................................ 14
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN KỲ ẢO TRONG TIỂU THUYẾT
NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG ................................................................................................................. 15
1.1. Không gian kỳ ảo trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương .................................... 15
1.1.1. Không gian mang màu sắc địa phủ âm giới .................................................. 15
1.1.2. Núi rừng hoang vu chứa đầy sự huyền bí ....................................................... 22
1.1.3. Không gian chập chờn trong cõi vô thức ........................................................ 27
1.2. Thời gian biến ảo ............................................................................................................................. 33
1.2.1. Thời gian hư ảo, phi tuyến tính không xác thực ......................................... 34
1.2.2. Thời gian trong cõi vô thức..................................................................................... 37
CHƯƠNG 2: NHÂN VẬT KỲ ẢO TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN BÌNH
PHƯƠNG ........................................................................................................................ 41
2.1. Nhân vật người điên ...................................................................................................................... 42
2.2. Nhân vật biến hình, hư ảo .......................................................................................................... 47
2.3. Nhân vật chuyển tiếp ..................................................................................................................... 57
2.4. Nhân vật ma quái ............................................................................................................................. 59
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG THỨC TẠO DỰNG CÁC YẾU TỐ KỲ ẢO TRONG
TIỂU THUYẾT NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG ............................................................................ 65
3.1. Xây dựng kết cấu lồng ghép cốt truyện .............................................................................. 65
3.2. Tạo những hình ảnh và môtip trần thuật mang ý nghĩa biểu tượng ................... 69

3.2.1. Những hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng..................................................... 69
3.2.2. Môtip trần thuật ............................................................................................................. 75
3.3. Sử dụng các yếu tố ngôn ngữ giàu khả năng gợi tả sự kỳ ảo................ ............. ...............85
KẾT LUẬN ................................................................................................................................................... 92
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................... 96
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ..............................................100
PHỤ LỤC ........................................................................................................101

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Sử dụng yếu tố kỳ ảo là một trong những thủ pháp nghệ thuật hữu
hiệu giúp các nhà văn thể hiện quan niệm về cuộc sống và con người. Trong
văn học viết Việt Nam, yếu tố kỳ ảo tuy xuất hiện với mức độ đậm nhạt khác
nhau nhưng thời kỳ nào cũng có (tiêu biểu như: Lĩnh Nam chích quái, Truyền
kỳ mạn lục - văn xuôi trung đại; Trại Bồ Tùng Linh, Ai hát giữa rừng khuya,
Yêu ngôn, Hậu thiên đường, Giàn thiêu - văn xuôi hiện đại).
Từ giai đoạn sau 1986, yếu tố kỳ ảo trong văn học có chiều hướng gia
tăng và trở thành “một hiện tượng văn học” trong sáng tác của Hồ Anh Thái,
Nguyễn Thị Việt Hà, Phạm Thị Hoài, Thuận, Châu Diên, Hoàng Diệu, Tạ
Duy Anh, Võ Thị Hoài... Các nhà văn này đồng thời cũng là các cây bút tích
cực đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết về nhiều phương diện: kết cấu, nhân vật,
giọng điệu, ngôn ngữ... Họ đã góp phần làm mới diện mạo tiểu thuyết Việt
Nam trong mấy thập niên vừa qua.
1.2. Chất liệu kỳ ảo đã tạo nên những bước đột phá trong nghệ thuật tự
sự đương đại. Song, trong thực tế, cũng còn một khoảng cách khá xa giữa
việc sử dụng yếu tố kỳ ảo của nhà văn với khả năng tiếp nhận yếu tố kỳ ảo
của độc giả. Ngày nay, sự phát triển siêu tốc của khoa học, kỹ thuật có tác
dụng kích thích khả năng tiếp nhận của độc giả, giúp họ có nhu cầu tìm đến

cái mới, nhanh chóng thích ứng và tiếp nhận cái mới. Văn học kỳ ảo tỏ ra
thích hợp với công chúng độc giả thời hiện đại. Trong công nghệ thông tin,
hàng loạt các trò chơi thế giới ảo đã tạo thành lực tương tác hướng người ta
tìm đến văn học kỳ ảo. Tuy nhiên, việc tiếp nhận cái kỳ ảo trong công nghệ
thông tin với tiếp nhận cái kỳ ảo trong văn học lại là những phương diện khác
nhau. Bởi vì, cái kỳ ảo trong thế giới Game là cái kỳ ảo được lập trình, cài đặt
sẵn để người chơi có thể dễ dàng nhập cuộc; còn kỳ ảo trong văn học là sản
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
phẩm sáng tạo riêng, đòi hỏi độc giả phải đồng sáng tạo cao độ với nhà văn,
giàu kinh nghiệm và vốn sống, cộng với một năng lực đọc hiểu tác phẩm văn
học kỳ ảo nhất định thì mới nhận thấy sự hấp dẫn của chúng... Do vậy, trong
thực tế, không ít người ngại đọc tác phẩm có yếu tố kỳ ảo, hoặc nếu tìm đọc
thì cùng gặp khó khăn khi tiếp nhận.
1.3. Nhưng, không bị trói buộc bởi quán tính tiếp nhận của một số độc
giả, nhiều cây bút văn xuôi của chúng ta những năm gần đây vẫn nỗ lực tìm
kiếm và thể nghiệm sức biểu hiện cuộc sống của “cái kỳ ảo” trong văn học.
Nguyễn Bình Phương là một trong số đó. Với Nguyễn Bình Phương, yếu tố kì
ảo đã trở thành một công cụ đắc dụng trong việc chuyển tải ý tưởng, một yếu
tố "không thể thiếu" trong thế giới nghệ thuật của nhà văn. Yếu tố kì ảo cũng
khiến tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương mang nét khác lạ so với tiểu
thuyết của lớp nhà văn trước.
1.4. Yếu tố kỳ ảo đã thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu phê bình
văn học nước ta. Nhiều hiện tượng văn học kỳ ảo đã được “giải mã” trong các
sách chuyên luận, luận văn khoa học (Cái kỳ ảo trong tác phẩm của Balzac -
Lê Nguyên Cẩn, Đặc sắc thể tài Yêu ngôn của Nguyễn Tuân - Nguyễn Thị
Thanh Vân...) giúp người đọc cảm nhận được cái hay, cái đẹp của những tác
phẩm văn học này. Trên hành trình khám phá miền đất văn học kì ảo nhiều bí
ẩn, một số cây bút nghiên cứu phê bình văn học đã hướng tới một “mảnh đất
mới”: sáng tác của Nguyễn Bình Phương. Yếu tố kỳ ảo trong tiểu thuyết

Nguyễn Bình Phương đã được khai phá nhưng chưa đạt được mức độ toàn
diện, hệ thống.
Tóm lại, sự gia tăng yếu tố kỳ ảo trong văn học những năm gần đây đòi
hỏi sự gia tăng tương ứng các công trình nghiên cứu về cái kỳ ảo. Có như vậy,
nghiên cứu phê bình văn học mới tiếp cận và tác động kịp thời, hữu ích tới
thực tế sáng tác văn học. Khám phá văn học kỳ ảo, đi sâu vào các công trình
nghệ thuật kỳ lạ và hấp dẫn đó, hoạt động nghiên cứu văn học tiếp tục vai trò
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
người đồng hành đáng tin cậy của nhà văn, góp phần thúc đẩy văn học phát
triển. Đặc biệt, cần có một công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện hơn về
yếu tố kỳ ảo trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương nhằm đánh giá đúng
mức sức sáng tạo đóng góp của tác giả đối với tiểu thuyết Việt Nam đương
đại.
Đó chính là những lí do cơ bản khiến chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên
cứu: “Yếu tố kỳ ảo trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương”.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
2.1.Tình hình nghiên cứu chung về Nguyễn Bình Phƣơng
Nhà văn Nguyễn Bình Phương sinh ngày 29 tháng 12 năm 1865 tại
Thái Nguyên. Thời chiến tranh, tác giả cùng gia đình sơ tán về xã Linh Nham
thuộc huyện Đồng Hỷ, đến năm 1979 mới trở lại thành phố Thái Nguyên.
Nguyễn Bình Phương học hết phổ thông trung học năm 1985 rồi vào bộ
đội; năm 1989 vào học trường viết văn Nguyễn Du; ra trường công tác một
năm ở Đoàn kịch nói Quân đội; sau đó là biên tập viên của Nhà xuất bản
Quân đội và hiện nay công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội.
Nguyễn Bình Phương viết văn bằng niềm đam mê, nhạy cảm cộng với
tri thức văn chương của một cây bút được đào tạo qua trường lớp. Tác giả viết
đều tay ở nhiều thể loại: tiểu thuyết, thơ, truyện ngắn, tản văn...
Cho đến nay, Nguyễn Bình Phương đã xuất bản các tập thơ: Khách của
trần gian (1986), Lam chướng (1992), Xa thân (1997) cùng một số tiểu luận,

truyện ngắn; tiêu biểu có truyện ngắn Đi in trên báo Văn nghệ trẻ (số ra ngày
10 tháng 1 năm 1999). Truyện ngắn này đã gây được sự chú ý của dư luận.
Sau cuốn tiểu thuyết đầu tay: Vào cõi (Nxb Thanh niên, 1991), Nguyễn
Bình Phương tập trung vào thể loại tiểu thuyết. Và cũng chính tiểu thuyết đã
làm cho bút danh nhà văn trở nên quen thuộc trong đời sống văn học. Nguyễn
Bình Phương được bạn đọc biết đến nhiều hơn với sự xuất hiện liên tiếp
những cuốn tiểu thuyết có cách viết mới cả về hình thức lẫn nội dung: Bả giời
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
(Nxb Quân đội nhân dân, 2004), Những đứa trẻ chết già, (Nxb Văn học,
1994), Người đi vắng (Nxb Văn học, 1999), Trí nhớ suy tàn (Nxb Thanh niên,
2000), Thoạt kỳ thuỷ (Nxb Hội nhà văn, 2004), Ngồi (Nxb Đà Nẵng, 2006).
Trong khoảng chưa đầy chục năm, không kể các thể loại khác, Nguyễn Bình
Phương đã có tới bảy cuốn tiểu thuyết được xuất bản.
Cũng như các cây bút văn xuôi Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Dương Thu
Hương, Thuận, Nguyễn Việt Hà, Bảo Ninh... Nguyễn Bình Phương đã nỗ lực
"bứt phá" tìm hướng đi mới cho tiểu thuyết. Với quan niệm “Nghệ thuật tiểu
thuyết, ở một chừng mực nào chính đó là nghệ thuật của sự nối kết các điểm
chính với nhau chứ không phải sự nhẫn nại đi theo lộ trình tuần tự, đều đặn
của thời gian và sự kiện” [40;7]. Nguyễn Bình Phương viết trong sự "trôi dạt"
cảm xúc, đào sâu vào miền vô thức. Tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương có
những khác lạ về kết cấu, xây dựng nhân vật, nghệ thuật trần thuật... Chính sự
khác lạ ấy đã thu hút giới nghiên cứu phê bình văn học. Nguyễn Bình Phương
đã được báo chí trong nước cũng như các tạp chí trên mạng giới thiệu qua các
báo: Pháp luật, Văn hoá, Văn nghệ trẻ, Tạp chí Hợp Lưu...; trên các trang
Webside: , ,
...; bên cạnh đó còn có các bài báo cáo khoa học, luận
văn tốt nghiệp đại học, luận văn cao học Ngữ văn... Tập hợp tài liệu nghiên
cứu về Nguyễn Bình Phương, chúng tôi thấy những người đi trước đã quan
tâm tới các phương diện sau:

* Chân dung nhà văn
Phùng Văn Khai đã dựng nên chân dung nhà văn Nguyễn Bình Phương
từ ngoại hình đến tinh thần và sự nghiệp sáng tác văn chương: "Nguyễn Bình
Phương có một khuôn mặt rất buồn. Anh ít nói trong các đám đông hoặc hai
người với nhau. Nhưng anh chăm chú mọi người, chăm chú vào câu chuyện
và rất sắc sảo, độc đáo trong suy nghĩ” [31;52], "Nếu coi văn chương là một
nghề thì cái nghề ấy đã đeo gông đóng số Nguyễn Bình Phương(...). Yêu nghề
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
đến ngơ ngẩn, yêu đến hành xác, tâm linh, sùng tín như anh quả là của hiếm”
[31,17]. Nhà nghiên cứu này đã đánh giá: "Trữ lượng văn xuôi Nguyễn Bình
Phương là một trữ lượng tiềm tàng mà nhà khai thác đang vào độ thuận để
đưa ra những đời sống, những thân phận, những tư tưởng, những thắc mắc,
những lo toan, những dự báo cho chính đời sống này [31,91]. Theo Phùng
Văn Khai: “Chỉ một thời gian không xa nữa, với nội lực sáng tạo của nhà văn,
chúng ta sẽ có một cái gì đó về văn xuôi đương đại, một cái gì đó mà phải nói
thật rằng chúng ta đã chờ đợi từ lâu, không phải để phủ định những thành tựu
văn xuôi trước đó mà là một bước phát triển tiếp nối” [31;98].
* Kết cấu trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phƣơng
Đây là yếu tố đổi mới đầu tiên của Nguyễn Bình Phương được các nhà
phê bình nghiên cứu văn học tập trung khám phá. Thụy Khuê là người sớm
quan tâm tới sáng tác của Nguyễn Bình Phương, đã viết nhiều bài phê bình về
những cuốn tiểu thuyết của nhà văn. Trong bài “Thoạt kỳ thuỷ trong vùng đất
Cậm Cam hoang vu của Nguyễn Bình Phương”, Thụy Khuê nêu cảm nhận về
mặt nội dung của cuốn tiểu thuyết: “Thoạt kỳ thuỷ là một bài thơ đẫm máu và
nước mắt, đẫm tang thương, đầy huyễn hoặc, viết về hành trình của một cộng
đồng, dù đã nửa phần điên loạn, vẫn không biết mình đang đi dần đến toàn
phần điên loạn”; và về hình thức nghệ thuật: “Thoạt kỳ thuỷ là cuốn tiểu
thuyết khác thường, khó đọc bởi lối hành văn và cấu trúc truyện rất lạ... Đây
không phải là trang viết truyền thống vì vậy cần cách đọc không truyền thống.

Những yếu tố vừa kịch, vừa phi kịch, vừa thơ, vừa phi thơ là những mấu chốt
cấu trúc tiểu thuyết” [33]. Thụy Khuê cũng đã chỉ ra một hướng tiếp cận mới
đối với tiểu thuyết Thoạt kỳ thuỷ: cần tập trung khám phá sự giao thoa của các
thể loại kịch, thơ, tiểu thuyết trong tác phẩm này.
Cùng chung với suy nghĩ của Thụy Khuê về sự đan xen của nhiều thể
loại trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, Hoàng Cẩm Giang trong đề tài :
“Cấu trúc thể loại tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI” Luận văn Thạc sỹ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
(Đại học Quốc gia Hà Nội) đã chỉ ra vấn đề cấu trúc tác phẩm và sự phá vỡ
đặc trưng thể loại. Tác giả nhận xét: “xen kẽ giữa các dòng tự sự, người đọc
liên tục bắt gặp những khúc đoạn lạ - mang chức năng “ngoại đề” - vốn không
nằm trong “chính mạch tự sự”... để lại những khoảng trống mênh mang trên
văn bản”.
Nguyễn Thị Ngọc Hân trong www.tienve.org đã tìm ra đặc điểm xoắn
kép nhiều mạch chảy song song trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương:
“Nguyễn Bình Phương và một số cây bút đương đại lại không đi theo lối kết
cấu cũ. Anh đã phá tung mọi đường biên, rào cản để tạo ra sự tự do tối đa cho
tác phẩm. Ở đó, các mạch truyện đan xen, móc nối nhằng nhịt: có những tác
phẩm có hai mạch chảy song song đến cuối tác phẩm đã hoà vào một mạch
chung, có những tác phẩm được xây dựng nên bởi rất nhiều mạch tạo thành
kiểu đa giọng điệu độc đáo”. Hồ Bích Ngọc trong Luận văn Thạc sỹ năm
2006 (Đại học Sư phạm Hà Nội) đã khái quát về cấu trúc tiểu thuyết Nguyễn
Bình Phương trong lĩnh vực khai thác tiềm năng thể loại để hiện đại hoá tiểu
thuyết, chỉ ra sự đổi mới, hiện đại hoá tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương
về kết cấu, về nhân vật và về ngôn ngữ, giọng điệu.
Tác giả Nguyễn Chí Hoan trong www.evan.com.vn với bài viết “Hành
trình qua trống rỗng” quan tâm đến vấn đề kỹ thuật của tiểu thuyết Ngồi ở lối
kết cấu lập thể, kết cấu thời gian đồng nhận, lối hành văn với sự giản yếu của
các câu văn. Tác giả cũng chỉ ra mặt hạn chế của tác phẩm “bị kỹ thuật kết

cấu kéo căng ra quá mức, khiến cho tham vọng luận đề của cuốn sách trở nên
giống như một tham vọng khái quát bằng kỹ thuật dựng truyện hơn là những
hoa trái của một trải nghiệm thực sự”.
Bùi Thị Thu khi nghiên cứu; “Một số đặc điểm đáng chú ý của tiểu
thuyết ngắn ở Việt Nam những năm gần đây” - Khoá luận tốt nghiệp đại học
(Đại học Sư phạm Hà Nội, 2005) đã khảo sát một số tiểu tuyết đương đại
trong đó có tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương. Tác giả đã chỉ ra những đặc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
trưng trong cấu trúc, ngôn ngữ, giọng điệu của các tiểu thuyết nói trên là cấu
trúc phức hợp, cấu trúc hệ thống biểu tượng, sự khiêu khích người đọc của
ngôn ngữ và tính đối thoại của giọng điệu.
Đồng thời Thụy Khuê, Nguyễn Thị Ngọc Hân, Nguyễn Chí Hoan...
cũng đã đi vào phân tích những đổi mới của Nguyễn Bình Phương trong việc
phá vỡ kiểu kết cấu tiểu thuyết truyền thống để thể nghiệm sự cách tân theo
hướng kết cấu xoắn kép nhiều mảnh, kết cấu phân mảnh, cấu trúc liên văn
bản.....
* Nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phƣơng
Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Thị Quỳnh Nga, Bùi Thị Thu, Hoàng Cẩm
Giang tập trung vào tìm hiểu các loại hình nhân vật tiêu biểu và phương thức
xây dựng nhân vật của nhà văn. Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng có bài “Người đi
vắng, ai đọc Nguyễn Bình Phương? Hay nỗi cô đơn của tiểu thuyết cuối thế
kỷ?” đã phát hiện ra “nhân vật của Nguyễn Bình Phương dấu kín những ám
ảnh của mình và sống với nó” [29].
Hoàng Cẩm Giang phát hiện ra kiểu nhân vật ký hiệu – biểu tượng,
nhân vật biến mất trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương ở Luận văn Thạc sỹ
"Cấu trúc thể loại tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI, 2006".
Các tác giả trên đều nhận thấy sự đổi mới của Nguyễn Bình Phương
trong việc chối từ những quan điểm xây dựng nhân vật truyền thống điển hình
để khám phá ra nhiều dạng thức nhân vật mới mang ý nghĩa biểu tượng cao.

* Ngôn ngữ trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phƣơng
Ngôn ngữ tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương cũng bước đầu được giới
nghiên cứu phê bình văn học quan tâm.
Hoàng Thị Quỳnh Nga, trong Báo cáo khoa học năm 2004 đã tìm hiểu
phương diện “Lời câm của nhân vật Tính trong tiểu thuyết Thoạt kỳ thuỷ”.
Nội dung của lời câm biểu hiện những ám ảnh của bạo lực, cái chết, của máu
và của trăng. Hình thức của lời câm là ngôn ngữ chắp dính, sự phá vỡ quan hệ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
lôgic giữa các câu, các câu ngắn, câu đặc biệt, câu bị khuyết thành phần hoặc
bị bẻ gãy không theo một trật tự nào.
Tác giả Hồ Bích Ngọc trong Luận văn Thạc sỹ năm 2006 (Đại học Sư
phạm Hà Nội) “Nguyễn Bình Phương với việc khai thác tiềm năng thể loại để
hiện đại hoá tiểu thuyết” đã phát hiện ra những câu văn ngắn, phi ngữ pháp;
khoảng trắng giữa hai dòng đối thoại và các hình thức nhại ngôn ngữ như sử
dụng ngôn ngữ của lối chép sử biên niên, ngôn ngữ cắt dán – những phiến
đoạn của đời sống.
Các tác giả đã chỉ ra đặc trưng về ngôn ngữ của Nguyễn Bình Phương
thể hiện ở một số phương diện như tạo câu văn ngắn, phi lôgíc; mảng trắng
trong đối thoại; lời của người âm; lời câm của nhân vật...
2.2. Tình hình nghiên cứu về cái kỳ ảo trong tiểu thuyết của
Nguyễn Bình Phƣơng.
* Khái niệm yếu tố kỳ ảo trong văn học
Kỳ ảo vốn là một khái niệm xuất phát từ thời cổ đại. Cách hiểu về nó
cũng thay đổi theo thời gian. Theo từ điển ngôn ngữ Pháp, “kỳ ảo” là tính từ,
bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp“Phantastitos”, tiếng La tinh“Phantasticus” để chỉ
những gì được tạo nên bởi trí tưởng tượng chứ không tồn tại trong thực tế.
Các từ ngữ Hy Lạp và La Tinh trên đều có liên quan với từ “Phantasia”
(tiếng Pháp: “Fantasie”, tiếng Anh: “Fantasy”) có nghĩa là trí tưởng tượng
phóng túng. Trong tiếng Việt, “kỳ ảo” là từ Hán Việt “kỳ” là “lạ lùng”, “ảo”

là không có thật. Cái kỳ ảo là cái lạ lùng, không có thật, không thể bắt gặp
trong thực tế.
Trên thế giới, người đầu tiên đề cập đến thuật ngữ cái kỳ ảo là một học
giả người Anh tên là Joseph Addison (1672-1719). Theo ông, những sáng tác
kỳ ảo “tạo ra một khoái cảm về nỗi sợ hãi trong tâm trí độc giả và làm thoả
mãn trí tưởng tượng của độc giả bởi những cái lạ lùng và tính chất khác
thường của những con người được miêu tả trong đó. Chúng nuôi dưỡng trong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
trí nhớ của chúng ta những câu chuyện ma mà chúng ta nghe từ thuở ấu thơ
và thích thú với những nỗi khiếp sợ bí mật, những nỗi sợ hãi mà trí óc con
người phải lệ thuộc vào nó một cách tự nhiên” [35;43]. Sau đó có rất nhiều ý
kiến khác nhau về khái niệm kỳ ảo như Roger Caillor, Tz.Todorov,
M.Schemider... Các nhà nghiên cứu văn học phương Tây đề cập tới bản chất
của kỳ ảo là sự do dự, gắn liền với sợ hãi, nó được tạo ra từ những giấc mơ,
sự mê tín, hối hận, từ sự kích thích quá độ của trí não hay tâm linh...
Ở Việt Nam, Lê Nguyên Cẩn trong chuyên luận“Cái kỳ ảo trong tác
phẩm Balzac” đã làm rõ nội hàm thuật ngữ kỳ ảo trong văn học: “Cái kỳ ảo là
một phạm trù tư duy nghệ thuật. Nó được tạo ra nhờ trí tưởng tượng và được
biểu hiện bằng các yếu tố siêu nhiên, khác lạ, phi thường, độc đáo. Nó có mặt
trong văn học dân gian và văn học viết qua các thời đại. Nó tồn tại trên trục
thực ảo và tồn tại độc lập, không hoà tan vào các dạng thức khác nhau của
tưởng tượng... Yếu tố kỳ ảo trong văn học tạo nên sự đứt gãy trong chuỗi liên
kết vũ trụ, tạo ra sự do dự, phân vân trong lòng độc giả. Nó là quãng lặng, là
sự ngắt mạch, là sự xâm lấn của cái siêu nhiên trong cuộc sống đời thường, là
sự xâm lấn của cái phi lôgic trong một thế giới lôgic” [19;56].
Tác giả Ngô Tự Lập có ý kiến rằng: “Kỳ ảo, đó chính là mê lộ nghệ
thuật cũng như trong lĩnh vực nghệ thuật khác, nó xuất hiện ở mọi nơi khi trật
tự đã trở nên vừa bó buộc vừa đáng ghét vừa đáng sợ và tính hợp lý của trật tự
ấy bị đặt thành câu hỏi. Tuy nhiên những thiết chế văn minh càng chặt chẽ,

càng ráo riết thì sự xuất hiện của nó càng kịch tính như những gì chúng ta
chứng kiến ở phương Tây” [30;10].
Nhìn chung, những tài liệu nghiên cứu về văn học kỳ ảo đã dần dần làm
sáng rõ quan niệm:
1. Yếu tố kỳ ảo trong văn học thuộc phạm trù tư duy nghệ thuật, là sản
phẩm trí tưởng tượng của người nghệ sĩ. Nó phản ánh trình độ hư cấu nghệ
thuật ở mức độ cao. Yếu tố kỳ ảo có thể xuất hiện ở nhiều phương diện trong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
thế giới nghệ thuật của nhà văn từ chất liệu phản ánh, phương thức phản ánh
đến tầng lớp ý nghĩa, từ đó tạo nên hiệu ứng tiếp nhận ở người đọc.
2. Yếu tố kỳ ảo là phương tiện nghệ thuật để nhà văn bộc lộ quan niệm
về đời sống, về con người.
3. Những biểu hiện chủ yếu của yếu tố kỳ ảo trong văn học là: không
gian, thời gian chứa đựng các yếu tố siêu nhiên; nhân vật kì dị, biến hóa, giấc
mơ...
Quan niệm đó là cơ sở để chúng tôi tìm hiểu quá trình nghiên cứu của
những người đi trước về yếu tố kỳ ảo trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương
và tiếp tục đi sâu hơn vào vấn đề này.
* Tình hình nghiên cứu về cái kỳ ảo trong tiểu thuyết của Nguyễn
Bình Phƣơng:
Trong số những tài liệu nghiên cứu về Nguyễn Bình Phương đã trình bày
có một số bài viết trực tiếp đề cập đến yếu tố kỳ ảo, đó là: Hoàng Thị Quỳnh
Nga với “Dấu ấn của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo trong tiểu thuyết Người đi
vắng của Nguyễn Bình Phương”; Đoàn Minh Tâm với “Những đặc trưng của
bút pháp hiện thực huyền ảo trong Những đứa trẻ chết già của Nguyễn Bình
Phương”; Nguyễn Chí Hoan với bài viết “Cấp độ hiện thực và sự hão huyền
của ý thức trong Thoạt kỳ thuỷ”; Đoàn Cầm Thi với “Sáng tạo văn học: giữa
mơ và điên”...
Tác giả Hoàng Thị Quỳnh Nga đã chỉ ra hiện thực huyền ảo trong tiểu

thuyết Người đi vắng của Nguyễn Bình Phương ở hiện thực lai ghép: thành thị
- nông thôn, yếu tố thực - ảo. Nhân vật của Nguyễn Bình Phương được gọi
tên là “nhân vật tàn khuyết về tâm lý”, bao gồm nhân vật mắc bệnh và nhân
vật chịu ám ảnh. Trong các báo cáo khoa học về “Lời câm của nhân vật Tính
trong Thoạt kỳ thuỷ”,“Dấu ấn của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo trong Người
đi vắng”, tác giả đã chỉ ra những sáng tạo riêng của Nguyễn Bình Phương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
trong việc sáng tạo ra một thế giới nhân vật chịu nhiều ám ảnh; một thứ ngôn
ngữ đặc biệt của giấc mơ, ngôn ngữ lời câm chắp dính, phi lôgic.
Thụy Khuê trong bài viết “Thế tĩnh toạ trong tiểu thuyết Ngồi của
Nguyễn Bình Phương” đã đề cập tới nhận thức bên trong của nhân vật dựa vào
triết học hiện sinh: “trái với quy ước xác định và chỉ định, tiểu thuyết Ngồi dựa
trên sự bất định trong một không gian ảo: đó là không gian suy tưởng của kẻ
ngồi thiền. Bất định và sắc không trở thành yếu tố chính trong tác phẩm... cho
nên tất cả đều có thể thật mà có thể giả, có thể chỉ là một giấc mộng”.
Đoàn Minh Tâm (Văn nghệ Trẻ ngày 14/1/2007) khái quát “Những đặc
trưng của bút pháp huyền ảo trong tiểu thuyết Ngồi” ở ba dạng: bút pháp
huyền ảo phi lý của Kafka, bút pháp huyền ảo siêu nhiên và huyền ảo tâm lý.
Qua đó thấy được những ảnh hưởng của chủ nghĩa siêu thực, chủ nghĩa tự
nhiên, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo đậm nét trong sáng tác của Nguyễn Bình
Phương nói riêng và trong sáng tác văn chương nói chung.
Báo cáo khoa học của Đặng Thị Lan Anh đã trình bày kết quả nghiên
cứu cái vô thức trong phân tâm học và cái vô thức trong tiểu thuyết Thoạt kỳ
thuỷ: “để cái kỳ ảo xuất hiện ồ ạt giữa cõi thực sẽ sa vào vụn vặt, cấu trúc sẽ
mất đi tính mạch lạc”. Nguyễn Chí Hoan trong bài viết “Cấp độ hiện thực và
sự hão huyền của ý thức trong Thoạt kỳ thuỷ” đã khẳng định “Nguyễn Bình
Phương là nhà văn Việt Nam đã đẩy cuộc thăm dò vô thức đi xa nhất” [28].
Đoàn Cầm Thi trong “Sáng tạo văn học: giữa mơ và điên đã đưa ra nhận
định: “Với Thoạt kỳ thuỷ, chúng ta đọc lại Hàn Mặc Tử qua con mắt khác.

Nhưng giá trị của nó còn cao hơn thế: Tôi tin rằng thử nghiệm mới này của
Nguyễn Bình Phương, như mọi tác phẩm nghệ thuật đích thực, sẽ góp phần
biến đổi thẩm mỹ người đọc đương thời. Bằng ngôn ngữ người điên” [46].
Những bài nghiên cứu trên các khía cạnh kỳ ảo tạo nên những điểm
khác lạ trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
Xung quanh những ý kiến về cái kỳ ảo trong tiểu thuyết của Nguyễn
Bình Phương có những mức độ đánh giá, tiếp nhận khác nhau. Lời khẳng
định, khích lệ nhiều; song lời “phê” hàm ý nhắc nhở, thậm chí cả “phủ định
sạch trơn” không phải là không có.
Nguyễn Hoà với bài viết “Một cách lý giải về thực trạng tiểu thuyết
Việt Nam đương đại” cho rằng những cố gắng cách tân của một số tác giả
trong đó có Nguyễn Bình Phương “chưa thật sự tạo nên những đột biến trong
tư duy thể loại... và môtíp nhân vật bị chi phối bởi trạng thái bệnh lý tâm thần,
điên trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương có thể cung cấp một cái nhìn
bất thường về cuộc sống và con người, nhưng sự trở đi trở lại của môtíp này
dường như đang đẩy tác giả tới nguy cơ đơn điệu nhàm chán” [39;209]. Ý
kiến của nhà văn khác theo Phùng Văn Khai ghi lại trong “Tản mạn Nguyễn
Bình Phương”: “Phương thiếu đời sống thực tế nên luôn luôn trốn trong tháp
ngà mờ mờ sương khói do chính mình tạo ra” [31;86]. Những nhận xét đó có
nhưng không nhiều.
Nhìn chung, hầu hết những người nghiên cứu Nguyễn Bình Phương
đều khẳng định đóng góp của nhà văn vào sự đổi mới của tiểu thuyết Việt
Nam đương đại về các phương diện: cấu trúc, nhân vật, ngôn ngữ và sử dụng
yếu tố kỳ ảo... Tuy nhiên, chưa có ai nghiên cứu một cách hệ thống về những
yếu tố kỳ ảo trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương. Vì thế cần có một đề
tài khoa học có tính hệ thống, toàn diện hơn về vấn đề này.
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1.Năm cuốn tiểu thuyết có nhiều yếu tố kỳ ảo của Nguyễn Bình Phương:

- Những đứa trẻ chết già (Nxb Văn học, 1994)
- Người đi vắng (Nxb Văn học, 1999)
- Trí nhớ suy tàn (Nxb Thanh niên, 2000)
- Thoạt kỳ thuỷ (Nxb Hội nhà văn, 2004)
- Ngồi (Nxb Đà Nẵng, 2006)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
3.2. Một số các tác phẩm khác có yếu tố kỳ ảo để so sánh, đối chiếu.
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Phƣơng pháp nghiên cứu thi pháp học:
Vận dụng lí thuyết thi pháp về không gian, thời gian, nghệ thuật và thi pháp
nhân vật để làm sáng tỏ yếu tố kỳ ảo trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương.
4.2. Phƣơng pháp hệ thống:
Nghiên cứu yếu tố kỳ ảo trong mối quan hệ hệ thống với các phương diện
khác trong thế giới nghệ thuật của Nguyễn Bình Phương.
4.3. Phƣơng pháp thống kê, khảo sát:
Nhằm nhận biết những tín hiệu “kỳ ảo” của tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương
làm cơ sở để hệ thống hoá thành những luận điểm khoa học của vấn đề.
4.4. Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, so sánh:
Làm rõ đặc điểm và giá trị nghệ thuật của các yếu tố kỳ ảo trong tiểu
thuyết Nguyễn Bình Phương, đối chiếu so sánh với các đối tượng văn học
khác để thấy được nét mới mẻ, độc đáo của nhà văn.
5. MỤC ĐÍCH CỦA LUẬN VĂN
5.1. Xuất phát từ những vấn đề lý thuyết cơ bản về cái kỳ ảo trong văn
học, luận văn sẽ khảo sát, phân tích và miêu tả các dạng thức biểu hiện của
yếu tố kỳ ảo, khám phá giá trị của yếu tố kỳ ảo trong tiểu thuyết Nguyễn Bình
Phương.
5.2. Tìm ra phương thức tiếp cận những yếu tố kỳ ảo trong tiểu thuyết
Nguyễn Bình Phương nói riêng và trong tiểu thuyết đương đại nói chung.
6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

6.1. Có được những kết luận khoa học về yếu tố kỳ ảo trong tiểu thuyết
Nguyễn Bình Phương, tiếp tục mở rộng con đường đi vào thế giới nghệ thuật
của tác giả.
6.2. Góp phần giải mã các yếu tố kỳ ảo trong văn học và cách tiếp cận văn
học kỳ ảo.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
6.3. Đóng góp một tài liệu học tập, nghiên cứu về Nguyễn Bình Phương
và văn học Việt Nam đương đại...
7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Phần nội dung được triển khai trong 3 chương:
Chương 1: Không gian và thời gian kỳ ảo trong tiểu thuyết Nguyễn Bình
Phương.
Chương 2: Nhân vật kỳ ảo trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương.
Chương 3: Phương thức tạo dựng các yếu tố kỳ ảo trong tiểu thuyết
Nguyễn Bình Phương.



















Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
NỘI DUNG
Chƣơng 1
KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN KỲ ẢO
TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN BÌNH PHƢƠNG

1.1. Không gian kỳ ảo trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phƣơng
Trong sáng tác văn học, không gian nghệ thuật là “một phương thức
chiếm lĩnh thực tại, một hình thức thể hiện cảm xúc và khái quát tư tưởng
thẩm mĩ” [44;72]. Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của hình tượng
nghệ thuật. Hình tượng nghệ thuật nào cũng có không gian nghệ thuật của nó.
Không gian nghệ thuật tồn tại dưới các dạng: hiện thực, siêu thực.
Tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương chứa đựng nhiều yếu tố kỳ ảo tạo
nên không gian của chiều sâu tâm tưởng, không gian của cõi âm, không gian
của núi rừng hoang vu - nơi mà cảm nhận về cuộc sống cứ chập chờn đan cài
giữa âm và dương, hư và thực; và những linh cảm, điềm báo cứ quẩn quanh
bủa vây con người. Không gian kỳ ảo xâm nhập vào mọi ngõ ngách của đời
sống và tâm hồn nhân vật. Đó có thể là không gian ở cõi trần với vô vàn cái
kỳ lạ, không gian cõi âm, không gian trong cõi vô thức, không gian tâm linh
của con người như không gian địa phủ, âm giới trong Những đứa trẻ chết già;
không gian cõi tâm linh, vô thức của những nhân vật trí thức trong Trí nhớ
suy tàn và Ngồi.
1. 1.1. Không gian mang màu sắc địa phủ, âm giới
Đó là những khung cảnh âm u, gợi không khí chết chóc hoang lạnh.
Trong Những đứa trẻ chết già, không gian mang màu sắc âm giới hiện

hình với những âm thanh lạ, với bóng ma, ánh sáng... mang đặc điểm riêng
của cõi âm ti, địa phủ. Không gian của cõi âm có khi ám ảnh cõi trần bởi
những tiếng vọng âm u từ dưới lòng đất. Nơi gốc si vào những đêm trăng “vợ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
ông Bồi què đi ăn giỗ ở nhà họ hàng làng bên cạnh về, qua chỗ cây si bà ta
nghe thấy tiếng người, chính xác hơn là tiếng đàn ông kêu thầm thì ở đó”
[3;199]. Rồi những âm thanh đó lại tự nhiên biến đi “Ngọn Rùng đen thẫm in
trên nền trời. Khói hương bốc ngùn ngụt. Ngay cả tiếng thầm thào ở gốc si
cũng biến mất như kẻ tuân theo một mệnh lệnh nghiêm khắc” [3;59]. Có khi
kỳ lạ hơn là những cái chết từ bao nhiêu năm tự nhiên trôi về. Sau khi cái xác
của ông Trạch – một người làng chết mất xác ở chiến trường bao nhiêu năm
nay tự dưng xuất hiện dưới gốc si thì có hàng loạt những cái xác của dân làng
chết nơi đất khách quê người cũng tự tìm về. “Rồi mọi thứ cũng trở nên
thường tình đến mức thành lệ. Hễ gia đình nhà ai có người chết ở nơi xa, cứ
ra chỗ gốc si thế nào cũng thấy xác” [3;202]. Những hồn ma, xác chết hiện
hình trở về khiến cuộc sống làng Phan trở nên u ám, hoang lạnh như cõi âm.
Trong tác phẩm còn có khung cảnh bãi tha ma với “những vì sao đột nhiên
rùng mình”, “một vì sao mé Tây phình to rồi lao vút xuống”, “đám cỏ úa vàng
cứ run rẩy, dãy dụa” và những ngôi mộ tự nhiên phát sáng, tiếng khóc ai oán
vọng lên, những vết chân thú tự nhiên ứa máu, hình ảnh con Nghê hiện về
trong dáng hình kỳ lạ...
Không gian cõi âm còn hiện lên qua hình ảnh chiếc xe trâu lọc cọc
nặng nề đi trong hoàng hôn rề rà mệt mỏi; không điểm xuất phát, không điểm
dừng lại. Nó cứ đi, đi mãi trong cõi vô tận, chở theo bao nhiêu điều bí ẩn,
rùng rợn: “Không khí ảm đạm và lưu cữu. Hoàng hôn trung du bao giờ cũng
rề rà, mệt mỏi. Những quả đồi chầm chậm lùi lại, chầm chậm xuất hiện. Đôi
chỗ, chè hoang mọc xanh lên tận chóp đồi. Hương chè nhả ra, đặc chát”
[3;18], “người âm dường như đang di chuyển, họ thấy những quả đồi chầm
chậm lùi lại... như thế chết vẫn tiếp tục sống một đời sống không có âm thanh,

hay âm thanh trong cõi trần, người trần không nghe thấy được” [3;40]. Chiếc
xe trâu kỳ lạ đó là cách để trí tưởng tượng của nhà văn “du linh” vào quá khứ
đã tàn để có thể khám phá bí mật của con người từ thời nguyên thuỷ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
Theo quan niệm của người Việt Nam xưa, thế giới của người âm gián
cách trên bàn thờ, trong cây đa, cây đề, trong núi Voi, hang ông Tạ... Cõi địa
phủ ấy, cất giấu linh hồn của tạo vật để tạo ra những “điềm” báo về cõi
dương gian mà theo kinh nghiệm dân gian sẽ biết đó là điềm gở hay điềm
lành. Từ đó, con người có những cách giải điềm, giải hạn khác nhau. Trong
những Những đứa trẻ chết già, cũng có những điềm gở nhân vật nhận biết từ
không gian âm giới.
Trong tiểu thuyết Người đi vắng có không gian của bãi tha ma với
những âm thanh ghê rợn cùng với ánh sáng đom đóm ma quái và những đốm
lân tinh xanh lét. Người ta cảm thấy: “Hình như có những âm thanh lạ vọng ra
từ bãi tha ma, tiếng rì rầm hổn hển lúc dâng lên hạ xuống khi ùa đến gần rồi
lùi xa chập chờn mê hoặc... Đom đóm tự nhiên dạt ra, tán loạn, hốt hoảng”.
Nơi ấy đêm đêm còn có tiếng rì rầm chuyện trò của các hồn ma, kể về cuộc
đời, số phận của mình với bao nỗi niềm oan trái, bao ám ảnh tàn khốc: “Tiếng
thét lại cất lên từ bãi tha ma thê lương, tuyệt vọng giữa cơn mưa thốc tháo”.
Hay khung cảnh ma quái rợn ngợp như trò chơi ú tim đầy bí ẩn: “những tiếng
thều thào cất lên cùng tiếng gõ cành cạch vào cửa kính”.
Nhạc điệu của âm giới là những âm thanh: kình kịch, rì rầm, hổn hển,
chập chờn, sột soạt, thều thào, cành cạnh...; những âm thanh nhỏ, yếu, mơ
hồ, không rõ nét làm nên “tiếng vọng nghe âm u” tự cõi âm vọng về. Âm
thanh xuất hiện mỗi lúc với mỗi âm điệu, sắc nhịp riêng, khi xa khi gần, khi
đau thương ai oán, lúc não nùng man dại...; như lời yêu thương vụng trộm,
như tiếng kêu oan, như lời đe dọa ác độc... tất cả xô bồ hiện về giữa cõi trần
gợi ám ảnh ghê rợn.
Trong những âm thanh ma quái vọng lên từ tiểu thuyết Người đi vắng,

lời người cõi âm xuất hiện nhiều nhất, với những giọng điệu khác nhau: lúc
thì thầm ai oán, khi dậm dọa thách thức, khi oan trái tức tưởi hoặc âu yếm nhẹ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
nhàng... Lời cõi âm vọng lên cả ban ngày lẫn ban đêm, trong không gian ảo –
thực, trong tiềm thức, trong vô thức.
Bảng khảo sát sau cho thấy các dạng biểu hiện của lời người cõi âm đã
biến thành hồn ma trong tác phẩm.
Bảng 1.1. Khảo sát lời người cõi âm trong tiểu thuyết Người đi vắng

Chủ thể
(lời người cõi
âm)
Nội dung
Thời gian
xuất hiện
Giọng điệu
Một thanh niên
Kêu than mình bị oan và mình
không giết người.
Nằm mơ và đã bóp cổ một
người đàn ông trong khi ông ta
bị sốt cao
Đêm
Kể lể, than
vãn, kêu ca
Họa sĩ – đồng
đội của Thắng
Luôn trở về gọi “Thắng ơi”
Chết vì bị Thắng bắn oan vào

trán.
Mơ được vẽ nốt bức chân dung
về 40 khuôn mặt
Đêm, trong
giấc ngủ
của Thắng)
Day dứt,
trăn trở
Nam – học
sinh cấp 3
Kể chuyện lớp học có cô giáo
dạy môn sinh học với giờ thực
hành mổ ếch.
Thuật lại tỉ mỉ cái chết của
mình do tai nạn ô tô ở cổng
trường khi tan học
2h đêm bãi
tha ma Linh
Nham
Buồn, đau
xót và tiếc
nuối
Đứa trẻ mô côi
Ru em ngủ bằng những câu
chuyện kể về mẹ, về ông thiến
lợn (chính là bố chúng)
(Ngôi mả)
Nhẹ nhàng
đầy yêu
thương

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
Tử thi trên
chiếc băng ca
tự tử cắt mạch
máu ở cổ tay
trái (Một thanh
niên có khuôn
mặt dài, mũi
mỏng, cằm
nhọn, lông
mày lưỡi mác)
Kể về mối tình với người con
gái tên Tuyết.
Thảm kịch xảy ra: giết kẻ đã
hãm hiếp Tuyết, sau đó thả
Tuyết xuống dòng sông.

Đau xót

Người đàn bà
bị chồng ruồng
bỏ
Nói về một vụ giết người, thủ
phạm không bị tuyên án. Cuộc
đời bất hạnh của người đàn bà
bị chồng đánh đập, ruồng bỏ
theo nhân tình. Ba năm sau,
chồng trở về, chị ta chết vì bị
chồng lấy búa bổ giữa đỉnh đầu

và chồng chị cũng chết do xô
xát với vợ.

Cay đắng
và oan ức
Cái thai
Tâm sự với Dế rằng nó tự bỏ đi
vì mẹ nó không muốn có nó.

Hờn dỗi,
trách móc
Cô gái trẻ
Thắt cổ tự tử ở cây bàng vì bị
người yêu phụ bạc.

Giãi bày,
chia sẻ
mong được
giải thoát
linh hồn.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
Qua bảng khảo sát trên, ta thấy hiện lên dấu ấn cõi âm đậm đặc. Với lời
người cõi âm, cuộc đời những người đã chết được tiếp nối giúp người ta hiểu
thêm nhiều điều về cuộc sống. Các hồn ma đều chịu chung số phận đau khổ,
khi sống thì oan ức, khi chết thì trở thành những oan hồn không tìm được nơi
hoá giải nỗi oan khổ đã mang theo xuống dưới mồ. Lời người âm đã giúp ta
nhận ra rằng, đâu phải ba thước đất có thể vùi lấp đi tất cả. Còn bao nhiêu
khao khát cần được thực hiện, bao nhiêu ẩn ức cần giải toả, bao nỗi đau cần

xoa dịu... Hãy nghe giọng dỗi hờn rất trẻ con của một cái thai đã chết: “Mình
là một cái thai, mình bỏ đi mặc dù chẳng bao giờ tự ái. Người đàn bà ấy
không thích thì mình đi...”, hoặc tâm sự buồn buồn mà đau xót của đứa trẻ bị
xe ô tô cán chết: “Con vẫn nhớ lời mẹ dặn nhưng không hiểu sao lúc ấy con
quên mất cứ thế chạy thẳng từ cổng ra. Chú lái xe cũng hiền... bánh xe to quá
mẹ ạ... con chẳng đau đớn gì, chỉ tội buồn, rất buồn, tất cả những cái gì đen
đen bên cạnh cũng buồn”... Một bức tranh về cõi sống hiện lên từ cõi chết với
nỗi đau của lòng mẹ, khuôn mặt đầm đìa máu của người đàn bà. Lời cõi âm
vọng về biết bao điều đau đớn mà những đứa trẻ, những người mẹ... đã trải
qua.
Có khi lời cõi âm trong tác phẩm dã dựng lại những vụ án mà người
sống không tìm ra cách phá án. Trong thế giới của cõi âm, mọi tội lỗi, cái xấu
được phơi bày không giấu giếm: “tình cảm vợ chồng dẫn đến một vụ án mạng
về cái chết kỳ bí của người chồng và sự mất tích của người vợ; tình yêu đôi
lứa lại gây ra cái chết oan uổng tức tưởi cho người con gái nông nổi; tình mẫu
tử lại buộc những đứa trẻ chưa kịp thành hình phải lặng lẽ bỏ đi trong oán
giận” [41].... Qua các dạng biểu hiện của lời người cõi âm, ngòi bút tác giả đã
đưa chúng ta đến một nơi bí mật có thể chứng kiến biết bao số phận, cảnh đời
oan trái. Nguyễn Bình Phương mượn lời người đã chết để khám phá về người
còn sống. Hồn ma và lời những bóng ma mang tính kỳ ảo nhưng những yếu tố
của đời sống được phản ánh lại mang tính chân thực.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21
Không gian cõi âm còn xuất hiện qua ánh sáng lạnh lẽo, đầy ám khí:
“Con mèo chụm chân giương đôi mắt xanh lét nhìn ra khu vườn um tùm...
cạnh cửa sổ, ánh sáng lờ mờ soi lên chiếc phản bỏ không”, “trăng sáng lạnh
giữa bãi cỏ mấp mô”... Thứ ánh sáng ma quái đó khi thì thu gọn trong một
chấm nhỏ trong mắt mèo, khi trải dài bàng bạc vô định bao trùm khắp không
gian, có khi tan chảy thành dòng sông mờ ảo, làm toát lên một không khí lạnh
lạnh rợn rợn.

Trong Những đứa trẻ chết già, có không gian mộ nơi diễn ra nhiều biến
hoá kỳ ảo. Không gian mộ của tác phẩm không còn là điểm không gian khép
kín "đào sâu, chôn chặt" mà là sự biến đổi khôn lường gắn liền với định mệnh
về kho báu của một dòng họ. Gần cuối tác phẩm, khi mọi yếu tố được hội tụ
đầy đủ cho hành trình mở cửa kho báu truyền từ ngàn đời của nhà cụ Trường
thì một biến cố xảy ra: Ba ngôi mộ của những người thân đã được gia đình cụ
canh giữ cẩn thận bỗng phát sáng, biến dạng: “Cùng một lúc cả ba ngôi mộ
nhấp nháy phát sáng. Ánh sáng xanh lét, nhoáng nhoàng tạo nên một không
khí ma quái rùng rợn. Rồi có tiếng cười the thé cất lên. Qua ánh chớp mọi
người nhìn thấy một chiếc xe trâu vụt loãng thành làn khói mỏng mảnh tan
vào không khí lấp lánh” [3;299]; cả ba ngôi mộ bay vút lên không trung: “một
cơn gió thốc mạnh kèm theo tiếng nổ kinh hoàng. Cả quả đồi rùng mình bửa
đôi. Ba ngôi mộ bay vút lên thành ba vệt đen thẫm sau đó mất hút vào giữa
khoảng không vô tận. Ở kẽ nứt của quả đồi, khói phun lên dày đặc, trong đó
thấp thoáng hàng đoàn người lả lướt bay, mặt ngoái về phía Bắc” [3;307].
Những ngôi mộ biến mất, cuộc giành giật kho báu cũng kết thúc thảm thương,
ảo tưởng của những kẻ tham lam cũng tan thành mây khói.
Không gian bãi tha ma hiện diện hầu hết trong các tác phẩm của
Nguyễn Bình Phương với những đốm lân tinh màu xanh, vệt sáng hắt lên,
tiếng kêu thì thầm ai oán... Khung cảnh đó thường hiện ra giữa núi rừng Thái
Nguyên vào lúc hoàng hôn bảng lảng, trong những đêm đen hay ngập chìm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
22
trong những cơn mưa: “đom đóm bị trăng át đi chỉ còn là vô vàn đốm sáng
mờ nhạt thoi thóp như đống lá cháy đang tàn. Tiếng chó tru lên lúc gần lúc xa
nghe day dứt” [6;93]. Thụy Khuê đã phát hiện trong Người đi vắng có tính
chất hiện thực linh ảo âm dương. Tiểu thuyết tạo cho người đọc cảm giác bị
lạc vào vùng đất bị ma ám, nơi những linh hồn vẩn vơ đi lại.
Đọc Nguyễn Bình Phương người ta thường đặt câu hỏi vì sao nhà văn
hay viết về không gian mang màu sắc địa phủ, âm giới như vậy? Có thể tìm

lời giải đáp từ quan niệm sáng tác của nhà văn.
Trong một lần trả lời phỏng vấn báo Thể thao, Nguyễn Bình Phương đã
nói: hành trình sống của mỗi con người là một cuộc trôi dạt, với tư cách công
dân, tôi trôi dạt trong các sự kiện xã hội; với tư cách nghệ sĩ, tôi trôi dạt trong
các nhân vật. Nhà văn đã trôi dạt cả vào những vùng địa hạt “cấm” trong cảm
nhận trực giác là cõi âm, cõi tâm linh, vô thức ngàn đời bí hiểm. Đẩy ngòi
bút tiểu thuyết của mình "trôi dạt" trong cõi âm ti, địa phủ đó, Nguyễn Bình
Phương đã mở rộng giới hạn phản ánh hiện thực của tiểu thuyết theo quan
niệm của nhà văn.
Viết về cõi âm, về cuộc sống với những bóng ma, âm thanh, màu sắc,
cả sự hoài thai sinh nở..., Nguyễn Bình Phương đã dùng yếu tố kỳ ảo để vẽ
lên màn sương huyền bí bao phủ không gian cõi âm như một phương tiện để
truyền tải thông điệp về cuộc sống.
1. 1.2. Núi rừng hoang vu chứa đầy sự huyền bí
Ở Thái Nguyên, người ta rất quen với những cái tên Linh Nham, làng
Phan, núi Hột... Nhưng đọc tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, cũng những địa
danh ấy người đọc lại lạc vào một thế giới kỳ bí, hoang sơ thời “Thoạt kỳ
thuỷ”. Khung cảnh núi rừng thâm u với những địa danh làng Phan, núi Rùng,
núi Hột, dòng Linh Nham, sông Cái, xóm Soi... là những không gian có thực
của vùng bán sơn địa Thái Nguyên, cũng là không gian nghệ thuật của nhà
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
23
văn. “Núi Voi”, “Linh Nham” đầy lam chướng ấy chứa nhiều điều huyền bí,
hư ảo mang tính siêu thực.
Trong Những đứa trẻ chết già, không gian núi rừng bí hiểm vây đặc
mọi chốn: “Ngày mùng bảy tháng sáu giờ Dậu, dân làng thấy trong đáy ao
nhà Trường hấp bốc lên cột khí trắng hình con rắn”; “Ngày 9 tháng đó, phía
Tây có đám mây màu đỏ xuất hiện, hình dáng không khác gì người đàn ông
cụt đầu, tay cầm dao quắm”; “Tháng 8 ngày mùng 10, làng bị mưa tơi bời...
Rạng sáng ngày 12, mưa tạnh. Đang trưa, tự dưng doi đất bồi dưới chân cầu

Linh Nham nứt toác, sâu thẳm, không ai dám đến gần. Từ kẽ nứt đó có tiếng
vọng lên ầm ì như sấm ”. Cảnh núi rừng hoang vu với những hình ảnh kỳ bí
về bầu trời, khu rừng, những ngọn đồi, dòng sông và cùng với thứ ánh sáng,
âm thanh ma mị cứ trở đi trở lại trong tác phẩm, tạo cảm giác vừa tò mò vừa
rùng rợn, đồng thời cũng kích thích trí tưởng tượng và khả năng khám phá
hiện thực của người đọc.
Sự huyền bí của không gian trong Những đứa trẻ chết già thể hiện
trong bảng khảo sát sau:
Bảng1.2. Khảo sát sự huyền bí của không gian trong Những đứa trẻ chết già


Yếu tố
không gian
Sự huyền bí
Bầu trời
làng Phan
“Đột ngột nứt toác ra. Từ đỉnh trời, một chiếc cột sắt khổng lồ
vùn vụt xuyên thẳng vệ đường” [3;282]
“Xám ngoét, nặng võng xuống” [3;224]
“Thi thoảng lại rung rinh chao đảo” [3;232]
Khu rừng
Linh Nham
“Như chiếc quan tài đen lập lờ giữa màn sương run rẩy huyền
bí” [3;96]

×