Tải bản đầy đủ (.doc) (39 trang)

Tác động của việc Việt Nam gia nhập wto đến hoạt động thương mại của các doanh nghiệp sản xuất

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (319.7 KB, 39 trang )

Đề án môn học SV: Nguyễn Xuân Lưu
LỜI NÓI ĐẦU
Từ năm 1986, nền kinh tế Việt Nam đi vào giai đoạn đổi mới toàn
diện. Cơ cấu kinh tế đã chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan
liêu, bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nhà nước thi hành chính sách mở cửa, mở rộng giao lưu quốc tế về mọi
mặt, khuyến khích các nhà kinh doanh nước ngoài đầu tư vào Việt Nam,
tăng cường hợp tác song phương và đa phương về kinh tế, văn hóa, khoa
học, kỹ thuật với nhiều nước trên thế giới.
Dưới tác động của các chính sách kinh tế xã hội mới, nhiều biến đổi
to lớn đã diễn ra . Nền kinh tế Việt Nam đã có những bước chuyển biến
quan trọng, liên tục tăng trưởng với nhịp độ cao và ổn định trong nhiều
năm, đời sống của người dân ngày càng ổn định và nâng lên.
Ngày 07/11/2006 Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của
tổ chức thương mại thế giới WTO. Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt
quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam. Bên cạnh đó việc
gia nhập tổ chức thương mại thế giới có những tác động rất lớn đến các
doanh nghiệp sản xuất trong nền kinh tế. Nghiên cứu những tác động để tìm
ra biện pháp thúc đẩy và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh cho các
doanh nghiệp để phù hợp với tình hình mới là một nội dung hết sức quan
trọng và cần thiết.
Vì vậy,em quyết định lựa chọn đề tài: “Tác động của việc Việt Nam gia
nhập wto đến hoạt động thương mại của các doanh nghiệp sản xuất”
Trong đề tài này, em tập trung nghiên cứu những tác động của việc Việt
Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới đến hoạt động thương mại của các
doanh nghiệp sản xuất trong nước nhằm đề ra các biện pháp khắc phục cũng
như phát triển mở rộng hoạt động thương mại cho các doanh nghiệp sản
xuất.
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
1
Đề án môn học SV: Nguyễn Xuân Lưu


CHƯƠNG I: HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI DOANH NGHIỆP SẢN
XUẤT VÀ CÁC CAM KẾT CỦA VIỆT NAM KHI GIA NHẬP WTO
I. Hoạt động thương mại doanh nghiệp
Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương
mại của thương nhân, bao gồm việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ
thương mai và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích thu lợi
nhuận hoặc thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội. Đối với các doanh nghiệp
sản xuất, khi nói đến hoạt động thương mại chính là nói đến các hoạt động
liên quan đến việc mua sắm vật tư kĩ thuật cho sản xuất( thương mại đầu
vào) và quá trình tiêu thụ sản phẩm( thương mại đầu ra).
Trong nền kinh tế thị trường, chức năng thương mại được coi là một
bộ phận hữu cơ quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh ở doanh
nghiệp. Thật vậy, đối với mỗi doanh nghiệp, sản phẩm được sản xuất ra là để
bán cho người tiêu dùng do đó người tiêu dùng chiếm vị trí trung tâm và là
đối tượng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Nói một cách khác sản
phẩm sản xuất ra phảI được tiêu thụ, đó là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp. Tiêu thụ sản phẩm đã trở thành một bộ phận
chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong hoạt động thương mại của doanh
nghiệp.
Nhưng ở các doanh nghiệp sản xuất, chức năng thương mại không
chỉ dừng lại ở tiêu thụ sản phẩm mà còn ở hoạt động đảm bảo các yếu tố đầu
vào cho sản xuất. Đó chính quá trình mua sắm vật tư cho sản xuất của các
doanh nghiệp. Để thực hiện quá trình sản xuất đòi hỏi phảI bảo đảm thường
xuyên, liên tục nguyên, nhiên vật liệu và máy móc thiết bị… Chỉ có bảo đảm
đủ số lượng, đúng mặt hàng và chất lượng cần thiết với thời gian qui định thì
sản xuất mới có thể tiến hành được bình thường và sản xuất kinh doanh mới
có hiệu quả. Mua sắm vật tư cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm là hai bộ phận
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
2
Đề án môn học SV: Nguyễn Xuân Lưu

chủ yếu của hoạt động thương mại ở doanh nghiệp. Nhưng để thực hiện hai
chức năng trên doanh nghiệp phải tham gia vào hệ thống các mối quan hệ
kinh tế phức tạp. Mối quan hệ kinh tế đó phát sinh giữa các doanh nghiệp do
phân công lao động xã hội quyết định và được điều tiết bằng tài chính và
pháp luật.
Sự cần thiết của công tác tài chính trong quá trình thực hiện hoạt
động thương mại là do việc tuân thủ các qui luật vốn có của sản xuất hàng
hóa. Đối với các doanh nghiệp, vật tư kĩ thuật là hàng hóa và được trao đổi
mua bán như những hàng hóa thông thường khác. Vì vậy, công tác tài chính
trong lĩnh vực điều tiết các nghiệp vụ thương mại được coi là một khâu quan
trọng của hoạt động thương mại doanh nghiệp.
Mua sắm vật tư và tiêu thụ sản phẩm bao giờ cũng gắn liền với một
khối lượng lớn công việc vận chuyển và bảo quản hàng hóa. Tất cả những
vật tư kĩ thuật mua sắm cho doanh nghiệp phải được tổ chức vận chuyển,
tiếp nhận và bảo quản tốt. Có như vậy mới bảo đảm được yêu cầu của tiêu
dùng sản xuất. Đối với công tác tiêu thụ sản phẩm cũng vậy, sản phẩm sản
xuất ra phải được tổ chức tiếp nhận, phân loại, bao gói, bảo quản và xuất bán
cho khách hàng nhanh chóng kịp thời.
Như vậy, nội dung chủ yếu của hoạt động thương mại doanh nghiệp
bao gồm tất cả các hoạt động liên quan và phục vụ quá trình mua sắm vật tư
cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm như tài chính, luật pháp, dịch vụ, vận tải,
kho tàng…
Hoạt động thương mại có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất và
thực tế ảnh hưởng đến tất cả các chỉ tiêu kinh tế của dóanh nghiệp. Vai trò
của hoạt động thương mại ngày càng gia tăng, có ý nghĩa quyết định đến sự
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vì vậy, hiện nay ở các doanh nghiệp,
hoạt động thương mại đươc đặc biệt quan tâm từ khâu tổ chức quản lí đến tổ
chức các hoạt động thương mại và phòng kinh doanh đã trở thành bộ phận
trọng yếu trong bộ máy điều hành của doanh nghiệp.
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

3
Đề án môn học SV: Nguyễn Xuân Lưu
II. Các cam kết của chính phủ Việt Nam
Các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam là kết quả rõ ràng nhất sau
hơn 11 năm đàm phán, đồng thời là tâm điểm chú ý của các đối tác đàm
phán, bạn bè quốc tế, các tầng lớp dân cư, các cơ quan lãnh đạo của Đảng,
Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ, đại diện các bộ, ngành và cộng đồng các
doanh nghiệp.
Trước khi trở thành thành viên chính thức của WTO, Việt Nam đã
đưa ra nhiều cam kết về kinh tế, thương mại để mở cửa thị trường, thúc đẩy
cải cách kinh tế trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), trong
các Hiệp định thương mại và đầu tư song phương (đáng chú ý nhất là Hiệp
định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ) và gần đây trong khuôn
khổ ASEAN mở rộng. Bên cạnh đó, Việt Nam còn tham gia nhiều chương
trình hợp tác trong Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
(APEC) và Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM).
Có thể khẳng định rằng, các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam là
những cam kết triệt để nhất, toàn diện nhất, đồng thời là điều kiện tiên quyết
để nước ta tham gia vào tổ chức kinh tế, thương mại lớn nhất hành tinh, vì
vậy, nó có những tác động sâu sắc đến sự phát triển kinh tế - thương mại của
đất nước. Do đó, để đánh giá tác động của việc gia nhập WTO đến tình hình
phát triển kinh tế - thương mại của Việt Nam, trước tiên phải xem xét và
phân tích các cam kết gia nhập của Việt Nam.
Cam kết đa phương
Theo kết quả đàm phán, Việt Nam đồng ý tuân thủ toàn bộ các hiệp
định và quy định mang tính ràng buộc của WTO từ thời điểm gia nhập. Tuy
nhiên do nước ta đang phát triển ở trình độ thấp lại đang trong quá trình
chuyển đổi nên ta yêu cầu và được WTO chấp nhận cho hưởng một thời gian
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
4

Đề án môn học SV: Nguyễn Xuân Lưu
chuyển đổi để thực hiện một số cam kết có liên quan đến thuế tiêu thụ đặc
biệt, trợ cấp phi nông nghiệp, quyền kinh doanh.
Các cam kết chính trong vấn đề đa phương là: Việt Nam chấp nhận bị
coi là nền kinh tế phi thị trường trong 12 năm tức là không muộn hơn
31/12/2018.
Tuy nhiên, trước thời điểm trên, nếu ta chứng minh được với đối tác nào
là kinh tế Việt Nam hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị trường thì đối tác đó
ngừng áp dụng chế độ “phi thị trường” đối với ta. Chế độ “phi thị trường”
chỉ có ý nghĩa trong các vụ kiện chống bán phá giá. Và các thành viên WTO
không có quyền áp dụng cơ chế tự vệ đặc thù đối với hàng xuất khẩu nước ta
dù ta bị coi là nền kinh tế phi thị trường.
Về dệt may, các thành viên WTO sẽ không được áp dụng hạn ngạch dệt
may đối với Việt Nam khi vào WTO (riêng trường hợp ta vi phạm quy định
WTO về trợ cấp bị cấm đối với hàng dệt may thì một số nước có thể có biện
pháp trã đũa nhất định). Ngoài ra thành viên WTO cũng sẽ không được áp
dụng tự vệ đặc biệt đối với hàng dệt may của nước ta.
Về trợ cấp phi nông nghiệp, Việt Nam đồng ý bãi bỏ hoàn toàn các loại
trợ cấp bị cấm theo quy định WTO như trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội địa
hóa. Tuy nhiên với các ưu đãi đầu tư dành cho hàng xuất khẩu đã cấp trước
ngày gia nhập WTO, ta được bảo lưu thời gian quá độ là 5 năm (trừ ngành
dệt may).
Về trợ cấp nông nghiệp, Việt Nam cam kết không áp dụng trợ cấp xuất
khẩu đối với nông sản từ thời điểm gia nhập. Tuy nhiên, ta bảo lưu quyền
được hưởng một số quy định riêng của WTO dành cho nước đang phát triển
trong lĩnh vực này. Đối với loại hỗ trợ mà WTO quy định phải cắt giảm nhìn
chung ta duy trì được ở mức không quá 10% giá trị sản lượng. Ngoài mức
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
5
Đề án môn học SV: Nguyễn Xuân Lưu

này, ta còn bảo lưu thêm một số khoản hỗ trợ nữa vào khoảng 4.000 tỷ đồng
mỗi năm. Các loại trợ cấp mang tính chất khuyến nông hay trợ cấp phục vụ
phát triển nông nghiệp được WTO cho phép nên ta được áp dụng không hạn chế.
Về quyền kinh doanh (quyền xuất nhập khẩu hàng hóa): Việt Nam đồng
ý cho doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài được quyền xuất nhập khẩu hàng
hóa như người Việt Nam kể từ khi gia nhập, trừ các mặt hàng thuộc danh
mục thương mại nhà nước (như xăng dầu, thuốc lá điếu, xì gà, băng đĩa hình,
báo chí) và một số mặt hàng nhạy cảm khác mà ta chỉ cho phép sau một thời
gian chuyển đổi (như gạo và dược phẩm).
Cam kết của Việt Nam đồng ý cho phép doanh nghiệp và cá nhân nước
ngoài không có hiện diện tại Việt Nam được đăng ký quyền xuất nhập khẩu
tại Việt Nam. Quyền xuất nhập khẩu chỉ là quyền đứng tên trên tờ khai hải
quan để làm thủ tục xuất nhập khẩu. Trong mọi trường hợp, DN và cá nhân
nước ngoài sẽ không được tự động tham gia vào hệ thống phân phối trong
nước. Các cam kết về quyền kinh doanh sẽ không ảnh hưởng đến quyền của
ta trong việc đưa ra các quy định để quản lý dịch vụ phân phối, đặc biệt đối
với sản phẩm nhạy cảm như dược phẩm, xăng dầu, báo - tạp chí…
Về thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu và bia, các thành viên WTO đồng
ý cho ta thời gian chuyển đổi không quá 3 năm để điều chỉnh lại thuế tiêu thụ
đặc biệt đối với rượu và bia cho phù hợp với quy định WTO. Hướng sửa đổi
là đối với rượu trên 20 độ cồn hoặc sẽ áp dụng một mức thuế tuyệt đối hoặc
một mức thuế phấn trăm. Đối với bia, sẽ chỉ áp dụng một mức thuế phần
trăm.
Đối với doanh nghiệp nhà nước (DNNN), doanh nghiệp thương mại nhà
nước, cam kết trong lĩnh vực này là nhà nước sẽ không can thiệp trực tiếp
hay gián tiếp vào hoạt động DNNN. Tuy nhiên, nhà nước với tư cách là một
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
6
Đề án môn học SV: Nguyễn Xuân Lưu
cổ đông được can thiệp bình đẳng vào hoạt động của DN như các cổ đông

khác. Ta cũng đồng ý cách hiểu mua sắm của DNNN không phải là mua sắm
Chính phủ.
Về tỷ lệ cổ phần thông qua quyết định tại DN: Điều 52 và 104 của Luật
DN quy định một số vấn đề quan trọng có liên quan đến hoạt động của công
ty TNHH và Công ty cổ phần chỉ được phép thông qua khi có số phiếu đại
diện ít nhất là 65% hoặc 75% vốn góp chấp thuận. Quy định này có thể vô
hiệu hóa quyền của bên góp đa số vốn trong liên doanh. Do vậy, ta đã xử lý
theo hướng cho phép các bên tham gia liên doanh được thỏa thuận vấn đề
này trong điều lệ công ty
Về một số biện pháp hạn chế nhập khẩu, ta đồng ý cho nhập khẩu xe
máy phân phối lớn không muộn hơn ngày 31/5/2007. Với thuốc lá điếu và xì
gà, ta đồng ý bỏ biện pháp cấm nhập khẩu từ thời điểm gia nhập. Tuy nhiên
sẽ chỉ có một DN nhà nước được quyền nhập khẩu toàn bộ thuốc lá điều và
xì gà. Mức thuế nhập khẩu mà ta đàm phán được cho hai mặt hàng này là rất
cao. Với ôtô cũ ta cho phép nhập khẩu các loại xe đã qua sử dụng không quá
5 năm.
Về cam kết thực hiện minh bạch hóa, ngay từ khi gia nhập Việt Nam sẽ
công bố dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Uỷ ban
thường vụ quốc hội và Chính phủ ban hành để lấy ý kiến nhân dân. Thời hạn
dành cho việc góp ý và sửa đổi tối thiểu là 60 ngày. Việt Nam cũng cam kết
sẽ đăng công khai các văn bản pháp luật trên các tạp chí, trang tin điện tử của
bộ, ngành.
Một số cam kết liên quan khác: thuế xuất khẩu, Việt Nam chỉ cam kết sẽ
giảm thuế xuất khẩu đối với phế liệu kim loại đen và màu theo lộ trình,
không cam kết về thuế xuất khẩu của các sản phẩm khác.
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
7
Đề án môn học SV: Nguyễn Xuân Lưu
Về đa phương, Việt Nam còn đàm phán một số vấn dề đa phương khác
như bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là sử dụng phần mềm hợp pháp

trong cơ quan Chính phủ. Định giá tính thuế xuất nhập khẩu, các biện pháp
đầu tư liên quan đến thương mại, các biện pháp hàng rào kỹ thuật trong
thương mại… Với nội dung này, ta cam kết tuân thủ các quy định của WTO
kể từ khi gia nhập.
Cam kết về thuế nhập khẩu
Mức cam kết chung của Việt Nam là đồng ý ràng buộc mức trần cho
toàn bộ biểu thuế (10.600 dòng). Mức thuế bình quân toàn biểu được giảm từ
mức hiện hành 17,4% xuống còn 13,4% thực hiện dần trung bình 5 - 7 năm.
Mức thuế bình quân đối với hàng nông sản giảm từ mức hiện hành 23,5%
xuống còn 20,9% thực hiện trong khoảng 5 năm. Với hàng công nghiệp từ
16,8% xuống còn 12,6% thực hiện chủ yếu trong vòng 5 - 7 năm.
Mức cam kết cụ thể: sẽ có khoảng hơn 1/3 dòng số dòng thuế sẽ phải cắt
giảm, chủ yếu là các dòng có thuế suất trên 20%. Các mặt hàng trọng yếu,
nhạy cảm đối với nền kinh tế như nông sản, xi măng, sắt thép, vật liệu xây
dựng, ôtô - xe máy… vẫn duy trì được mức bảo hộ nhất định.
Những ngành có mức giảm thuế nhiều nhất bao gồm: dệt may, cá và sản
phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy móc và thiết bị điện - điện tử.
Bên cạnh đó, Việt Nam đạt được mức thuế trần cao hơn mức đang áp dụng
đối với nhóm hàng xăng dầu, kim loại, hóa chất là phương tiện vận tải.
Cam kết của Việt Nam sẽ cắt giảm thuế theo một số hiệp định tự do theo
ngành của WTO (giảm thuế xuống 0% hoặc mức thấp). Đây là hiệp định tự
nguyện của WTO nhưng các nước mới gia nhập đều phải tham gia một số
ngành. Ngành mà ta cam kết tham gia là sản phẩm công nghệ thông tin, dệt
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
8
Đề án môn học SV: Nguyễn Xuân Lưu
may và thiết bị y tế. Ta cũng tham gia một phần với thời gian thực hiện từ 3 -
5 năm đối với ngành thiết bị máy bay, hóa chất và thiết bị xây dựng.
Về hạn ngạch thuế quan, ta bảo lưu quyền áp dụng với đường, trứng gia
cầm, lá thuốc lá và muối.

Cam kết về mở của thị trường dịch vụ
Về diện cam kết, trong Hiệp định thương mại song phương (BTA) với
Hoa Kỳ ta đã cam kết 8 ngành dịch vụ (khoảng 65 phân ngành). Trong thỏa
thuận WTO, ta cam kết đủ 11 ngành dịch vụ, tính theo phân ngành khoảng
110 ngành. Về mức độ cam kết, với hầu hết các ngành dịch vụ, trong đó có
những ngành nhạy cảm như bảo hiểm, phân phối, du lịch… ta giữ được mức
độ cam kết gần như trong BTA. Riêng viễn thông, ngân hàng và chứng
khoán, để sớm kết thúc đàm phán, ta đã có một số bước tiến nhưng nhìn
chung không quá xa so với hiện trạng và đều phù hợp với định hướng phát
triển đã được phê duyệt cho các ngành này.
Cam kết chung cho các ngành dịch vụ về cơ bản như BTA. Trước hết,
công ty nước ngoài không được hiện diện tại Việt Nam dưới hình thức chi
nhánh, trừ phi điều đó được ta cho phép trong từng ngành cụ thể. Ngoài ra,
công ty nước ngoài tuy được phép đưa cán bộ quản lý vào làm việc tại Việt
Nam nhưng ít nhất 20% cán bộ quản lý của công ty phải là người Việt Nam.
Cuối cùng, ta cho phép tổ chức và cá nhân nước ngoài được mua cổ phần
trong các doanh nghiệp Việt Nam nhưng tỷ lệ phải phù hợp với mức mở cửa
thị trường ngành đó. Riêng ngân hàng ta chỉ cho phép ngân hàng nước ngoài
mua tối đa 30% cổ phần.
Dịch vụ khai thác hỗ trợ dầu khí: Đồng ý cho phép các DN nước ngoài
được thành lập công ty 100% vốn nước ngoài sau 5 năm kể từ khi gia nhập
để đáp ứng các dịch vụ hỗ trợ khai thác dầu khí. Tuy nhiên, Việt Nam còn
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
9
Đề án môn học SV: Nguyễn Xuân Lưu
giữ nguyên quyền quản lý các hoạt động trên biển, thềm lục địa và quyền chỉ
định các ty thăm dò, khai thác tài nguyên. Bảo lưu được một danh mục các
dịch vụ dành riêng cho các DN Việt Nam như dịch vụ bay, dịch vụ cung cấp
trang thiết bị và vật phẩm cho dàn khoan xa bờ… Tất cả các công ty vào Việt
Nam cung ứng dịch vụ hỗ trợ dầu khí đều phải đăng ký với cơ quan nhà

nước có thẩm quyền.
Dịch vụ viễn thông, Việt Nam có thêm một số nhận nhượng so với
BTA nhưng ở mức độ hợp lý, phù hợp với chiến lược phát triển của ta. Cụ
thể là cho phép thành lập liên doanh đa số vốn nước ngoài để cung cấp dịch
vụ viễn thông không gắn với hạ tầng mạng (phải thuê mạng do DN Việt Nam
nắm quyền kiểm soát) và nới lỏng một chút về việc cung cấp dịch vụ qua
biên giới để đổi lấy giữ lại hạn chế áp dụng cho viễn thông có gắn với hạ
tầng mạng (chỉ các các doanh nghiệp nhà nước nắm đa số vốn mới đầu tư hạ
tầng mạng, nước ngoài chỉ được góp vốn đến 49% và cũng chỉ được liên
doanh với đối tác Việt Nam đã được cấp phép).
Dịch vụ phân phối, về cơ bản giữ được như BTA, tức là khá chặt so với
các nước mới gia nhập. Trước hết, về thời điểm cho phép thành lập DN
100% vốn nước ngoài là như BTA (1/1/2009). Thứ hai, tương tự như BTA,
ta không mở cửa thị trường phân phối xăng dầu, dược phẩm, sách báo, tạp
chí, băng hình, thuốc lá, gạo, đường và kim loại quý cho nước ngoài. Nhiều
sản phẩm nhạy cảm như sắt thép, xi măng, phân bón… ta chỉ mở cửa thị
trường sau 3 năm. DN có vốn đầu tư nước ngoài, mở điểm bán lẻ thứ hai trở
đi phải được ta cho phép theo từng trường hợp cụ thể.
Dịch vụ bảo hiểm, về tổng thể, mức độ cam kết ngang BTA, tuy nhiên,
ta đồng ý cho Hoa Kỳ thành lập chi nhánh bảo hiểm phi nhân thọ sau 5 năm
kể từ ngày gia nhập.
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
10
Đề án môn học SV: Nguyễn Xuân Lưu
Dịch vụ ngân hàng, ta đồng ý cho thành lập ngân hàng con 100% vốn
nước ngoài không muộn hơn ngày 1/4/2007. Ngoài ra ngân hàng nước ngoài
muốn được thành lập chi nhánh tại Việt Nam nhưng chi nhánh đó không
được phép mở chi nhánh phụ và vẫn phi chịu hạn chế về huy động tiền gửi
bằng VND từ thể nhân Việt Nam trong vòng 5 năm kể từ khi ta gia nhập
WTO. Ta vẫn giữ được hạn chế về mua cổ phần trong ngân hàng Việt Nam

(không quá 30%).
Dịch vụ chứng khoán, ta cho phép thành lập công ty chứng khoán 100%
vốn nước ngoài và chi nhánh sau 5 năm kể từ khi gia nhập WTO
Các cam kết khác, với các ngành còn lại như du lịch, giáo dục, pháp lý,
kế toán, xây dựng, vận tải… mức độ cam kết về cơ bản không khác nhiều so
với BTA. Ngoài ra không mở cửa dịch vụ in ấn - xuất bản.
III. Tác động của việc Việt Nam gia nhập WTO đến hoạt động thương
mại của doanh nghiệp sản xuất
1.Cơ hội khi gia nhập WTO
1.1. Mở rộng thị trường và tăng xuất khẩu
Khi gia nhập WTO, theo nguyên tắc tối huệ quốc, nước ta sẽ được
tiếp cận mức độ tự do hóa này mà không phải đàm phán hiệp định thương
mại song phương với từng nước. Hàng hoá của nước ta vì vậy sẽ có cơ hội
lớn hơn và bình đẳng hơn trong việc thâm nhập và mở rộng thị trường quốc
tế.
Do điều kiện tự nhiên và chi phí lao động rẻ, Việt Nam có lợi thế trong một
số ngành, đặc biệt là trong ngành nông nghiệp và dệt may. Đây là hai ngành
được WTO rất quan tâm và đã đề ra nhiều biện pháp để xoá bỏ dần các rào
cản thương mại. Chẳng hạn, theo Hiệp định Dệt may của WTO (ATC), mọi
hạn chế định lượng đối với mặt hàng dệt may được xoá bỏ từ ngày 1/1/2005.
Gia nhập WTO, Việt Nam sẽ được hưởng lợi ích này nếu có mối quan hệ
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
11
Đề án môn học SV: Nguyễn Xuân Lưu
thương mại "như thế nào đó" đối với các nước thành viên WTO. Đối với
thương mại hàng nông sản, các thành viên WTO cũng đã và đang đưa ra
nhiều cam kết về cắt giảm trợ cấp, giảm thuế và loại bỏ hàng rào phi thuế
quan, từ đó mang lại cơ hội mới cho những nước xuất khẩu nông sản như
Việt Nam.
Từ thập kỷ 90 cho đến nay, xuất khẩu của Việt Nam đã có bước phát

triển ngoạn mục. Tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước năm 2000 đạt 16,5
tỷ USD (xuất khẩu hàng hoá đạt 14,3 tỷ USD và xuất khẩu dịch vụ đạt 2,2 tỷ
USD), tăng gấp 6,87 lần so với 1990 (đạt 2,4 tỷ USD). Tốc độ tăng trưởng
xuất khẩu trung bình hàng năm của thời kỳ 1991 – 2000 là 21,5%. Năm 2001
xuất khẩu hàng hoá đạt 15,2 tỷ USD, tăng 6,3% so với năm 2000. Năm 2002,
kim ngạch xuất khẩu đạt 16,706 tỷ USD, tăng 11,2% so với năm 2001 và
năm 2003, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 19870 triệu USD, tăng 7,4% so với
kế hoạch phấn đấu cả năm (18,5 tỷ USD) và tăng 18,9% so với cùng kỳ năm
2002.
Sau thời kỳ bị chững lại năm 1998 và những tháng đầu năm 1999, xuất
khẩu của Việt Nam đã trở lại nhịp độ tăng trưởng cao. Năm 1999 tăng 23,3%
và năm 2000 tăng 24%. Cho tới năm 2003 đã tăng 18,9% so với năm 2002,
đưa xuất khẩu bình quân theo đầu người của Việt Nam vượt xa ngưỡng 170
USD (chỉ sự chậm phát triển về ngoại thương). Bên cạnh đó là sự cải thiện
quan trọng cơ cấu sản phẩm xuất khẩu theo hướng tích cực tăng dần tỷ trọng
và tốc độ tăng trưởng của nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công
nghiệp (tỷ trọng phát triển từ 38,3% năm 2002 lên 43% năm 2003) và giảm
dần tỷ trọng nhóm hàng nguyờn li?u, khoáng sản (từ 31,2% năm 2002 và còn
27,6% năm 2003) và giảm nhẹ tỷ trọng nhóm hàng nông lâm thuỷ sản (từ
30,5% năm 2002 giảm còn 29,4% năm 2003). Ngoài ra, Việt Nam còn chú
trọng xuất khẩu theo hướng tăng tỷ lệ sản phẩm chế biến, giảm xuất khẩu
thô, hàng nông lâm – thuỷ sản đầu thập kỷ 90 từng chiếm tỷ trọng trên dưới
50% trong tổng xuất khẩu của Việt Nam (năm 1990 chiếm tỷ trọng 48%,
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
12
Đề án môn học SV: Nguyễn Xuân Lưu
năm 1991 chiếm 52%, 1992 chiếm 49,5% tổng kim ngạch xuất khẩu) đã từng
bước giảm đáng kể. Thị trường xuất khẩu sản phẩm của Việt Nam cũng
không ngừng được mở rộng và đa dạng hoá. Từ chỗ chỉ xuất khẩu sang các
nước thuộc Liên Xô cũ và Đông Âu, ngày nay sản phẩm của Việt Nam đã có

mặt ở khắp mọi nơi trên thế giới. Hàng Việt Nam đã chiếm được thị phần
nhất định ở những thị trường lớn thế giới như EU, Mỹ, Nhật Bản...
Đảng và Nhà nước Việt Nam đã đề ra chiến lược phát triển xuất khẩu
lâu dài thời kỳ 2001 – 2010 cho các đơn vị kinh tế và định hướng xuất khẩu
năm 2004. Năm 2004, dự kiến xuất khẩu hàng hoá đạt 22,45 tỷ USD, tăng
13% so với năm 2003, trong đó các doanh nghiệp 100% vốn trong nước dự
kiến 10,85 tỷ USD, tăng 9,5% các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
dự kiến 11,6 tỷ USD, tăng 16,4%. Tăng cường xuất khẩu vào các thị trường
Hoa Kỳ, EU, Nhât Bản, Ôxtrâylia, các nước ASEAN, các tiểu vương quốc ả
rập thống nhất, Nam Phi, Mêxico, Canada, Hàn Quốc, Nga
Định hướng xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam thời kỳ 2001 - 2010
Nhóm hàng hoá
Kim ngạch 2010
(triệu USD)
Tỷ trọng
2000 2010
1. Nguyên, nhiên liệu 1.750 20,1 3 – 3,5
2. Nông sản, thuỷ sản 8.000 – 8.600 23,3 16 – 17
3. Chế biến chế tạo 20.000 – 21.000 31,4 40 – 45
4. Công nghệ cao 7.000 5,4 12 – 14
5. Hàng hoá khác 12.500 19,4 23 – 25
Tổng xuất khẩu hàng hoá 48.000 – 50.000 100 100
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
13
Đề án môn học SV: Nguyễn Xuân Lưu
Định hướng thị trường xuất khẩu của Việt Nam tới 2010
(Đơn vị: %)
Thị trường Tỷ trọng 2005 Tỷ trọng 2010
Châu á 57-60 46-50
Nhật Bản 15-16 17-18

ASEAN 23-25 15-16
Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông 16-18 14-16
Châu Âu 26-27 27-30
EU 21-22 25-27
SNG và Đông Âu 1,5-2 3-5
Bắc Mỹ (chủ yếu là Mỹ) 5-6 15-20
Ôxtrâylia và New Zealand 3-5 5-7
Các khu vực khác 2 2-3
1.2. Nâng cao tính hiệu quả và sức cạnh tranh cho nền kinh tế
Giảm thuế, cắt giảm hàng rào phi thuế quan, mở cửa thị trường dịch vụ
sẽ khiến môi trường kinh doanh ở nước ta ngày càng trở nên cạnh tranh hơn.
Trước sức ép cạnh tranh, các doanh nghiệp trong nước bao gồm cả các doanh
nghiệp nhà nước, sẽ phải vươn lên để tự hoàn thiện mình, nâng cao tính hiệu
quả và sức cạnh tranh cho toàn bộ nền kinh tế. Ngoài ra, giảm thuế và loại bỏ
các hàng rào phi thuế quan cũng sẽ giúp các doanh nghiệp tiếp cận các yếu tố
đầu vào với chi phí hợp lý hơn, từ đó có thêm cơ hội để nâng cao sức cạnh
tranh không những ở trong nước mà còn trên thị trường quốc tế.
1.3. Sử dụng được cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO
Môi trường thương mại quốc tế, sau này nhiều nỗ lực của WTO, đã trở
nên thông thoáng hơn. Tuy nhiên, khi tiến ra thị trường quốc tế, các doanh
nghiệp của nước ta vẫn phải đối mặt với nhiều rào cản thương mại, trong đó
có cả những rào cản trá hình núp bóng các công cụ được WTO cho phép như
chống trợ cấp, chống bán phá giá… Tranh thủ thương mại là điều khó khăn
mà phần thua thiệt thường rơi về phía nước ta, bởi nước ta là nước nhỏ. Gia
nhập WTO sẽ giúp ta sử dụng được cơ chế giải quyết tranh chấp của tổ chức
này, qua đó có thêm công cụ để đấu tranh với các nước lớn, đảm bảo sự bình
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
14

×