Tải bản đầy đủ (.doc) (78 trang)

Điều tra cây thuốc của đồng bào dân tộc mường tại xã quang trung, huyện ngọc lặc, tỉnh thanh hóa

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (626.67 KB, 78 trang )

Bộ giáo dục và đào tạo

Trờng đại học vinh
----------------------------

lê đình việt

điều tra cây thuốc của đồng bào
dân tộc mờng tại xà quang trung,
huyện ngọc lặc, tỉnh thanh hoá
Chuyên ngành: thực vật
MÃ số: 60.42.20

Luận văn thạc sĩ sinh học

Ngời hớng dẫn khoa học: ts. Hoàng văn mại


NghƯ An, 2012

LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lịng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS. Hồng
Văn Mại, đã trực tiếp giảng dạy và hướng dẫn khoa học để tác giả hoàn thành
bản luận văn này.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới thầy thuốc Bùi Xn Đương hiện là
phó chủ tịch Hội Đơng Y huyện Ngọc Lặc, hội viên Hội Đông Y Việt Nam đã
hết sức tạo điều kiện, giúp đỡ tác giả trong quá trình điều tra, thu mẫu tại địa
phuơng để thực hiện luận văn.
Tác giả xin chân thành cảm ơn TS Phan Xn Thiệu, cùng các cán bộ
phịng thí nghiệm khoa Sinh Đại Học Vinh đã hướng dẫn và tạo điều kiện
giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu đề tài.


Tác giả xin gửi tới tất cả người thân và bạn bè lịng biết ơn sâu sắc.
Luận văn khơng tránh khỏi những thiếu sót, tác giả mong nhận được các
ý kiến đóng góp của thầy cơ giáo và các bạn.
Xin chân thành cảm ơn!
Vinh - 2012
Tác giả

2


MC LC
Trang
Bộ giáo dục và đào tạo................................................................................1
MC LC...................................................................................................3
M U.....................................................................................................1
CHNG 1.................................................................................................3
LCH SỬ NGHIÊN CỨU CÂY THUỐC....................................................3
1.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở một số nước trên thế
giới...............................................................................................................3
1.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam.....................6
1.3. Tình hình nghiên cứu cây thuốc ở Thanh Hóa....................................13
CHƯƠNG 2...............................................................................................15
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI KHU VỰC .................................15
NGHIÊN CỨU...........................................................................................15
2.1. Điều kiện tự nhiên...............................................................................15
2.1.1. Vị trí địa lý.......................................................................................15
2.1.2. Địa hình, địa chất.............................................................................15
2.1.3. Đặc điểm khí hậu.............................................................................16
2.2. Điều kiện xã hội..................................................................................18
CHƯƠNG 3...............................................................................................19

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ...................................19
NGHIÊN CỨU...........................................................................................19
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.......................................................19
3.2. Dự kiến thời gian nghiên cứu..............................................................19
3.3. Nôi dung nghiên cứu...........................................................................19
3.3.1. Điều tra cây thuốc............................................................................19
3.3.2. Nghiên cứu hóa học.........................................................................20
3.4. Phương pháp nghiên cứu thực vật......................................................20
3.4.1. Phương pháp phỏng vấn, điều tra....................................................20
3


3.4.2. Phương pháp thu hái, xử lý và bảo quản mẫu vật............................20
3.4.3. Phương pháp xác định tên khoa học................................................20
3.4.4. Phương pháp chỉnh lý tên khoa học.................................................21
3.4.5. Phương pháp xây dụng danh lục......................................................21
3.4.6. Phương pháp đánh giá đa dạng thực vật về phân loại......................21
3.5. Phương pháp nghiên cứu thành phần hóa học tinh dầu......................22
3.5.1. Phương pháp lấy mẫu......................................................................22
3.5.2. Phương pháp cất tinh dầu.................................................................22
3.5.3. Phương pháp phân tích....................................................................22
CHƯƠNG 4...............................................................................................24
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU........................................................................24
A. Kết quả nghiên cứu phân loại thực vật..................................................24
4.1. Thống kê các loài cây thuốc của dân tộc Mường tại xã Quang Trung,
huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa..............................................................24
4.2. Phân tích, đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc của dân
tộc Mường..................................................................................................40
4.2.1. Đa dạng về các taxon bậc ngành......................................................40
4.2.2. Đa dạng các taxon bậc lớp trong ngành Ngọc Lan..........................41

4.2.3. Sự phân bố họ, chi, loài của cây thuốc dân tộc Mường...................42
4.2.4. Đa dạng về dạng thân của cây thuốc dân tộc Mường......................44
4.2.5. Đánh giá sự đa dạng bộ phận sử dụng của cây thuốc Mường.........46
4.2.6. Đánh giá sự đa dạng về nơi sống của cây thuốc..............................48
4.2.7. Đánh giá sự đa dạng các loài cây thuốc theo cách sử dụng.............49
4.2.8. Đánh giá sự đa dạng về nhóm bệnh có khả năng chữa trị của cây
thuốc dân tộc Mường.................................................................................49
4.3. Một số bài thuốc thu thập được của đồng bào dân tộc Mường tại xã
Quang Trung, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.......................................51
4.4. Vài nét giới thiệu về cây gừng gió (Zingiber zerumbet (L.) J.E.Smith)
....................................................................................................................51
4


4.5. Kết quả xác định hàm lượng tinh dầu trong các bộ phận (củ, thân, lá)
cây Gừng gió (Zingiber zerumbet (L.) J.E.Smith).....................................53
4.6. Kết quả phân tích thành phần tinh dầu Củ cây Gừng gió (Zingiber
zerumbet (L.) J.E.Smith)............................................................................53
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ...................................................................56
A. KẾT LUẬN...........................................................................................56
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................59

5


MỞ ĐẦU
Cách đây hàng nghìn năm khi nền y học hiện đại chưa phát triển thì con
người đã biết dựa vào cây cỏ thiên nhiên để chữa bệnh và theo thống kê của
tổ chức y học thế giới (WHO) thì đến năm 1985 đã có gần 20.000 lồi thực
vật (trong tổng số 250.000 loài đã biết) được sử dụng làm thuốc hoặc cung

cấp các chế phẩm để chế biến thành thuốc. Trong đó Ấn Độ có khoảng 6000
lồi, Trung Quốc 5000 loài, vùng nhiệt đới Châu Mỹ hơn 1900 loài thực vật
có hoa dùng làm thuốc.
Là một đất nước được thiên nhiên ưu đãi, nằm trong vùng khí hậu nhiệt
đới gió mùa, Việt Nam có một thảm thực vật vơ cùng đa dạng với hơn 12.000
loài thực vật bậc cao khác nhau, chứa đựng nguồn tài nguyên cây thuốc rất
lớn, góp phần tạo nền y học dân tộc cổ truyền đặc sắc.
Có 54 dân tộc anh em sống trải dài trên khắp miền đất nước, với bề dày
lịch sử phát triển hành ngàn năm. Mỗi dân tộc lại phân bố ở những vùng miền
có điều kiện khí hậu, địa lý khác nhau, cùng với tâp qn văn hóa riêng vì thế
cách sử dụng và kết hợp cây thuốc trong chữa bệnh cũng khác, tạo nên sự đa
dạng phong phú của y học cổ truyền. Dân tộc Mường là một thành phần trong
54 dân tộc anh em, với dân số 1.268.963 người, sinh sống ở tất cả
63 tỉnh, thành phố, có một lịch sử hình thành, phát triển lâu dài và mang nhiều
nét văn hóa riêng, cùng kho tàng kinh nghiệm sử dụng cây thuốc đặc sắc.
Trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa người Mường chiếm 10,0% dân số tồn tỉnh
(26,9% tổng số người Mường tại Việt Nam), tập chung chủ yếu ở các huyện
Ngọc Lặc, Quan Hóa, Bá Thước, Cẩm Thủy đến Mường Lát. Tại huyện Ngọc
Lặc người Mường chiếm 68% dân số huyện, trong đó tập trung nhiều nhất ở
xã Quang Trung với 82,6% là người Mường và từ lâu các thầy lang Mường ở
đây đã có tiếng trong nhân dân về kinh nghiệm sử dụng cây thuốc độc đáo,
với những bài thuốc chữa được nhiều bệnh có hiệu quả như: viêm gan, xơ
1


gan, thận, bó gãy xương…. Thuốc nam của người Mường có ý nghĩa về y học
như vậy nên trong thời gian gần đây đã bắt đầu được Viện nghiên cứu dược
liệu TW, trung tâm dược liệu Bắc Trung Bộ, các nhà khoa học quan tâm, sưu
tầm và tiến hành lên kế hoạch bảo tồn, nghiên cứu. Tuy nhiên việc nghiên
cứu, sưu tầm cịn gặp nhiều khó khăn, chưa đầy đủ, thống nhất và còn nhiều

điều chưa được khám phá. Xuất phát từ lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài “Điều tra cây thuốc của đồng bào dân tộc Mường, tại xã Quang
Trung, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa” Qua đó đóng góp một phần nhỏ sự
hiểu biết về cây thuốc cũng như cách sử dụng độc đáo riêng biệt của người
Mường vào công việc sưu tầm và bảo tồn chung.
Mục tiêu của đề tài:
- Điều tra cây thuốc và các bài thuốc chữa bệnh của đồng bào dân tộc
Mường tại xã Quang Trung, huyện Ngọc Lặc tỉnh Thanh Hóa.
- Tiến hành thu mẫu cây thuốc, xác định tên khoa học và xây dựng Danh
lục thực vật làm thuốc tại địa bàn nghiên cứu.
- Đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc tại địa bàn nghiên cứu.
- Nghiên cứu thành phần tinh dầu của cây Gừng gió (Zingiber zerumbet
(L.) J.E. Smith) mọc trên địa bàn xã Quang Trung, huyện Ngọc Lặc, tỉnh
Thanh Hóa.

2


CHƯƠNG 1
LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CÂY THUỐC
1.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở một số nước trên
thế giới
Từ xa xưa để tồn tại con người đã phải sử dụng các cây cỏ phục vụ cho
cuộc sống của mình (tìm nguồn thức ăn, cây làm nhà, chữa bệnh…). Qua
nhiều thế hệ, cây cỏ được sử dụng hàng ngày và kinh ngiệm dùng cây cỏ để
chữa bệnh được đúc kết và phổ biến rộng rãi. Theo thời gian cùng với sự phát
triển của dân tộc đã tạo nên một nền Y học cổ truyền riêng.
Ở nhiều nước trên thế giới, việc dùng cây cỏ làm thuốc cũng xuất hiện từ
nhiều thế kỷ trước. Lịch sử y học Trung Quốc, Ấn độ ghi nhận về việc sử
dụng các cây cỏ làm thuốc có cánh đây 3000-5000 năm [36]. Vào đầu thế kỷ

thứ II ở Trung Quốc, họ đã biết dùng thuốc là các loài cây cỏ để chữa bệnh
như, sử dụng nước chè (Thea sinensis L.) đặc để rửa vết thương và tắm ghẻ,
còn theo Fujiki (Nhật Bản) cùng các nhà khoa học ở Viện hàn lâm Hoàng Gia
Anh thì chè xanh (Thea sinensis L.) cịn ngăn chặn sự phát triển các loại ung
thư gan, dạ dày nhờ chất Gallat epigallocatechine [42]. Hoặc dùng rễ cây Cốt
khí củ (Polygonum cuspidatum Sieb. et Zucc.), vỏ rễ cây táo tàu (Zizyphus
jujuba Miller)… để chữa vết thương, mà ngày nay khoa học đã chứng minh là
chúng có chứa tanin [53]. Từ thời cổ xưa các chiến binh La Mã đã biết dùng
dịch cây Lô hội (Aloe barbadensis Mill.) để rửa vết thương, vết loét, giúp
chóng lành sẹo mà ngày nay khoa học đã chứng minh là dịch cây có tác dụng
liền sẹo thơng qua khả năng kích thích tổ chức hạt và tăng nhanh q trình
biểu mơ hố [30]. Ở các nước như Nga, Đức, Trung Quốc đã dùng cây Mã đề
(Plantago major L.) sắc hoặc giã lá tươi đắp chữa trị vết thương, viêm tiết
niệu, sỏi thận [59], [60]. Từ lâu người dân Haiti đã dùng cây Cỏ lào
3


(Eupatorium odoratum L.) để làm thuốc chữa các vết thương bị nhiễm khuẩn
hay cầm máu, áp xe, nhức răng, vết loét lâu ngày không liền sẹo…[47], [48].
Y học dân tộc Bungari “Đất nước của hoa hồng” đã coi hoa hồng là một
vị thuốc chữa được nhiều bệnh, người ta đã dùng cả hoa, lá rễ, làm thuốc tan
huyết ứ và bệnh phù thũng. Ngày nay người ta đã chứng minh rằng trong cánh
hoa hồng có chức một lượng tanin, glucosid, tinh dầu đáng kể. Tinh dầu này
không chỉ để chế nước hoa mà còn được dùng để chữa nhiều bệnh. Nhân dân
Ấn Độ dùng lá cây Ba chẽ (Desmodium triangulare Retz.Merr.) sao vàng sắc
đặc để chữa kiết lỵ và tiêu chảy. Có những lồi cây mọc hoang mà nơi nào
cũng sẵn như cây Bồ cu vẽ (Breynia fruticosa (L.) Hook.f.) đồng bào dùng vỏ
cây sắc làm thuốc cầm máu, hoặc tán nhỏ thành bột rắc lên mụn nhọt, vết lở
loét làm chúng chóng khỏi [29]. Ở Malaixia cây Húng chanh (Coleus
amboinicus Lour.) dùng lá sắc cho phụ nữ sau khi đẻ uống hoặc lấy lá giã nhỏ

vắt nước cốt cho trẻ uống trị sổ mũi, đau họng, ho gà… Ở Campuchia,
Malaixia, dùng tồn cây Hương nhu tía (Ocimum tenuiflorum L.) rễ trị đau
bụng, sốt rét, nước lá tươi trị họng đờm hoặc lá giã nát đắp trị bệnh ngoài da,
khớp [16], [19]. Ngải cứu (Artemisia vulgaris L.) được dùng trị thổ huyết, trực
tràng xuất huyết, tử cung xuất huyết, đau bụng, bế kinh, phụ nữ bị động thai,
trị chứng xuất huyết thuộc hàn và hư, kiêm tác dụng cường tráng, cây Tỏi
(Allium sativum L.) được dùng để chống bệnh xơ động mạch, huyết áp cao,
ung thư, viêm đường ruột [32], [33].
Cùng với phương thức chữa bệnh theo kinh nghiệm y học cổ truyền các
nhà khoa học trên thế giới còn đi sâu tìm hiểu nghiên cứu các hợp chất hố
học có tác dụng chữa bệnh ở thực vật và đã cơng nhận rằng hầu hết các lồi
thực vật đều chứa chất kháng sinh, đó là một trong các yếu tố miễn dịch tự
nhiên. Tác dụng kháng khuẩn là do các hợp chất tự nhiên hay gặp như:
phenolic, antoxyan, các dẫn chất quinon, alcaloid, heterosid, flavonoid,
saponin… [38]. Theo Anon (1982) trong vịng gần hai năm trở lại đây, ít nhất
4


đã nắm được cấu trúc hoá học của 121 hợp chất tự nhiên, được chiết từ thực
vật với mục đích làm thuốc hoặc từ đó tổng hợp nên các loại thuốc chữa trị có
hiệu quả. Như từ cây (Aloe barbadensis Mill.) theo Gotthall (1950) đã phân
lập được chất Glycosid barbalion có tác dụng với vi khuẩn lao người và tác
dụng với Baccilus subtilic. Lucas và Lewis (1944) đã chiết từ Kim ngân
(Lonicera sp.) một hoạt chất có tác dụng với các loài vi khuẩn gây bệnh tả lị,
mụn nhọt [38], [39]. Người ta cũng đã chiết được Becberin từ cây Hồng liên
(Coptis chinensis Franch.). Theo Gilliver (1946) thì Becberin có tác dụng
chữa bệnh đường ruột và kiềm chế một số vi khuẩn làm hại cây cối. Trong lá và
rễ (Allium odorum L.) có các hợp chất Sulfua, saponin và chất đắng. Năm
1948 Shen-Chi-Shen phân lập được một hoạt chất Odorin, ít độc với động vật
cao cấp, nhưng lại có tác dụng kháng khuẩn [39]. Trong nhiều loài Ba gạc

(Rauwolfia sp.) đã chiết được chất Resecpin, Serpentin làm thuốc hạ huyết áp.
Hợp chất Vinblastin được chiết xuất từ cây Dừa cạn (Catharanthus roseus (L.)
G.Don) có tác dụng hạ huyết áp và làm thuốc chống ung thư máu. Hoặc
Strophantin được chiết xuất từ các loài cây Sừng dê (Strophanthus sp.) dùng
làm thuốc trợ tim đã nhiều thập kỷ nay. Vài chục năm trở lại đây, nhiều loại
thuốc hiện đại có hiệu quả chữa bệnh cao lần lượt ra đời từ việc ứng dụng các
thành tựu nghiên cứu cấu trúc, hoạt tính của các hợp chất hoá học tự nhiên,
bằng con đường tổng hợp hoặc bán tổng hợp hoá học [36], [46].
Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì đến năm 1985 đã có
gần 20.000 lồi thực vật (trong tổng số 250.000 loài đã biết) sử dụng làm
thuốc cung cấp các hoạt chất để biến thuốc. Trong đó ở Ấn Độ có khoảng
6.000 lồi, Trung Quốc 5.000 lồi; vùng nhiệt đới Châu Mỹ hơn 1.900 lồi
thực vật có hoa. Cũng theo số liệu của (WHO) thì mức độ sử dụng thuốc ngày
càng cao, riêng ở Trung Quốc tiêu thụ hàng năm hết 700.000 tấn dược liệu,
sản phẩm thuốc y học dân tộc đạt giá trị hơn 1,7 tỉ USD vào năm 1996, còn
trên thị trường Âu - Mỹ và Nhật Bản vào năm 1985, tổng giá trị về thuốc có
5


nguồn gốc thực vật là hơn 43 tỉ USD. Tại các nước có nền nơng nghiệp phát
triển thì cây thuốc là loại cây kinh tế, nó cung cấp nhiều loại thuốc dân tộc và
thuốc hiện đại trong việc bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ con người (theo tun
ngơn Chiang Mai, 1988).
Trên thế giới có rất nhiều lồi cây thuốc q hiếm nhưng do con người
khai thác bừa bãi nên rất dễ dẫn đến tuyệt chủng. Trên thực tế theo Raven
(1987) và Ole Harmann (1988) trong vòng hơn trăm năm trở lại đây, đã có
khoảng 1000 lồi thực vật đã bị tuyệt chủng, rất nhiều lồi khác có thể gặp rủi
ro hoặc sự tồn tại của chúng là mỏng manh vào giữa thế kỷ tới nếu chiều
hướng đe doạ ngày càng tiếp diễn gay gắt. Mặt khác sự khai thác liên tục của
con người có thể làm triệt cả nguồn gen, dẫn đến tình trạng bị nguy hiểm cho

các lồi thực vật và làm mất cân bằng sinh thái [2], [14], [18]. Vì vậy tại hội
nghị quốc tế về bảo tồn quỹ gen cây thuốc, họp từ ngày 21 đến 27 tháng 3
năm 1983 tại Chieng mai – Thái Lan, hàng loạt các cơng trình nghiên cứu về
tính đa dạng và việc bảo tồn cây thuốc được đặt ra khẩn thiết.
Hướng tới thế kỷ XXI, để phục vụ mục đích sức khoẻ con người, để
chống lại các bênh nan y, thì sự cần thiết là phải kết hợp giữa Đông – Tây Y,
giữa y học hiện đại và cổ truyền.
1.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam
Nền y học cổ truyền của Việt Nam đã có lịch sử hình thành, tồn tại và
phát triển lâu đời, với nhiều cây thuốc, bài thuốc được áp dụng chữa bệnh
hiệu quả. Qua thời gian, kinh nghiệm trong dân gian đã dần được đúc kết, ghi
chép tổng hợp lại thành những cuốn sách có giá trị và lưu truyền rộng rãi.
Thời vua Hùng Vương dựng nước (2900 năm TCN) qua các văn tự Hán
Nơm cịn sót lại (Đại Việt sử ký ngoại ký, Lĩnh Nam Chích Quái liệt
truyện…) và qua các truyền thuyết chứng tỏ tổ tiên ta đã biết dùng cây cỏ làm
thuốc chữa bệnh từ rất sớm [17], [32], [36], [37]. Trong cuốn “Long uy bí thư”
đã chép lại vào đầu thế kỷ II TCN có hàng trăm vị thuốc của đất Giao Chỉ (Việt
6


Nam) như: Ý dĩ (Coix lachryma-jobi L.), Hoắc hương (Pogostemon cablin
(Blanco.) Benth.)…được người Tàu đưa về nước để giới thiệu sử dụng [36].
Cùng với tiến trình lịch sử, nền y học cổ truyền Việt Nam cũng dần phát
triển gắn liền với tên tuổi, sự nghiệp của các danh Y nổi tiếng đương thời. Đời
nhà Lý (1020 – 1224) có nhà sư Nguyễn Minh Cơng tức Nguyễn Chí Thành
đã dùng nhiều cây cỏ chữa bệnh cho nhân dân và nhà Vua, nên được Tấn
phong “Quốc sư” Triều Lý.
Đời nhà Trần (1225 – 1399) có sự kiện, Phạm Ngũ Lão thừa lệnh Hưng
Đạo Vương - Trần Quốc Tuấn xây dựng một vườn thuốc lớn dùng cây thuốc
để chữa bệnh cho quân sỹ trên núi gọi là “Sơn Dược”, hiện vẫn còn di tích để

lại tại một đồi thuộc xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Hưng. Năm
1429 Chu Tiên đã biên soạn cuốn “Bản thảo cương mục toàn yến” là cuốn
sách thuốc đầu tiên xuất bản. Có hai danh y nổi tiếng cùng thời đó là Phạm
Cơng Bân (thế kỷ XIII) và người thầy thuốc nổi tiếng Tuệ Tĩnh. Tuệ Tĩnh tên
thực là Nguyễn Bá Tĩnh (thế kỷ XIV), ông là người đã biên soạn ra bộ “Nam
dược Thần hiệu” gồm 11 quyển với 496 vị thuốc nam, trong đó có 241 vị
thuốc có nguồn gốc thực vật và 3932 phương thuốc đơn giản để trị 184 chứng
bệnh của 10 khoa lâm sàng. Ơng cịn viết cuốn “Hồng nghĩa giác tư y thư”,
tóm tắt cơng dụng của 130 lồi cây thuốc cùng 13 đơn thuốc và cách trị cho
37 chứng sốt khác nhau. Trong “Nam dược thần hiệu” có ghi: Tơ mộc
(Caesalpinia sappan L.), vị mặn, tính bình khơng độc, trừ huyết xấu, trị đau
bụng thương phong, sưng lở; Sử quân tử (Quisqualis indica L.) có vị ngọt,
tính ơn, khơng độc vào hai kinh tỳ vị, chữa 5 chứng cam ở trẻ em, tiểu tiện,
sát khuẩn, chữa tả lị; Sầu đâu rừng (Brucea javanica (L.) Merr.) có vị đắng,
tính hàn, có độc, sát trùng, trị đau ruột non, nhiệt trong bàng quang, điên
cuồng và ghẻ lở; cây Lá móng (Lawsonia inermis L.) chữa hắc lào, lở loét
ngoài da, tê mỏi, viêm đường hô hấp, gan…; Bạc Hà (Mentha arvensis L.)
chữa sốt, nhức đầu [60]. Tuệ Tĩnh được coi là một bậc Danh y kỳ tài trong
7


lịch sử y học nước ta, là “Vị thánh thuốc nam”. Ông chủ trương lấy “Nam
dược trị nam nhân” trong bộ sách quý của ông về sau bị quân Minh thu gần
hết nay chỉ còn lại:
- “Nam dược thần hiệu”
- “Tuệ tĩnh y thư”
- “Phương tam gia giảm”
- “Thương hàn tam thập thất trùng pháp”
Sau Tuệ Tĩnh một thời gian dài không thấy xuất hiện tác giả nào, mãi
đến thời Lê Dụ Tơng xuất hiện Hải Thượng Lãn Ơng – tên thực là Lê Hữu

Trác (1721-1792). Ông là người am hiểu nhiều về y học, sinh lý học, học
nhiều sách thuốc. Trong 10 năm khổ cơng tìm tịi nghiên cứu, ông đã viết bộ
“Y tôn tâm lĩnh” gồm 66 quyển đề cập tới nhiều vấn đề y dược như: “Y huấn
cách ngơn”, “Y lý thân nhân”, “Lý ngơn phụ chính”, “Y nghiệp thần chương”
xuất bản năm 1772. Trong bộ sách này ngoài sự kế thừa “Nam dược thần
hiệu” của Tuệ Tĩnh ơng cịn bổ sung thêm 329 vị thuốc mới. Trong quyển
“Lĩnh nam bản thoản”. Ông đã tổng hợp được 2854 bài thuốc chữa bệnh bằng
kinh nghiệm dân gian. Mặt khác ông mở trường đào tạo y sinh, truyền bá tư
tưởng và hiểu biết của mình về y học. Do vậy Lãn Ơng được mệnh danh là
ơng tổ sáng lập ra nghề thuốc Viêt Nam [55].
Cùng thời với Hải Thượng Lãn Ơng cịn có hai trạng ngun là Nguyễn
Nho và Ngô Văn Tĩnh đã biên soạn bộ “Vạn phương tập nghiêm” gồm 8
quyển xuất bản năm 1763 [34].
Vào thời kỳ Tây Sơn và nhà Nguyễn (1788 - 1883) có tập “Nam dược”,
“Nam dược chỉ danh truyền”, “La Khê phương dược”… của Nguyễn Quang
Tuân, ghi chép 500 vị thuốc nam trong dân gian dùng để chữa bệnh [36], hoặc
quyển “Nam dược tập nghiệm quốc âm” của Nguyễn Quang Lượng viết về
các bài thuốc nam đơn giản thường dùng [32], hay trong “Ngư tiều vấn đáp y
thuật” của Nguyễn Đình Chiểu [32], “Nam Thiên Đức Bảo toàn thư” của Lê
8


Đức Huệ gồm 511 vị thuốc nam và bệnh học [32]. Đến 1858 Trần Nguyên
Tây Phương đã kể tên và mơ tả cơng dụng của trên 100 lồi cây thuốc trong
cuốn “Nam bang thảo mộc” [34].
Trong thời kỳ 1884 – 1945, thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân,
loại y học dân tộc nước ta ra khỏi chính sách bảo hộ, việc nghiên cứu cây
thuốc gặp nhiều khó khăn, tuy nhiên có một số nhà thực vật học, dược học
người Pháp nghiên cứu nhưng với mục đích chính là khai thác tài nguyên.
Điển hình là các nhà dược học nổi tiếng của Paris như: Charles Crevost, Ch

Lemarie và A Petelot đã xuất bản bộ “Catalogue des produits de l’lndochine”
(1928 – 1935) trong đó ở tập V “Produits médicinaux” (1928) đã mơ tả 368
cây thuốc là các lồi thực vật có hoa. Đến năm 1952 A Petelot bổ sung và xây
dựng thành bộ “Les Plantes médicinales du Cambodge, du Laos et du Viet
Nam” gồm 4 tập đã thống kê 1482 vị thuốc thảo mộc của 3 nước Đông Dương.
Trong quá trình tìm ra các lồi cây thì xuất hiện một số vấn đề về cách
bào chế, tính kỵ thuốc, kiêng các chất trong khi dùng thuốc cần được giải
quyết. Cuốn “Bắc nam dược tính” (1937) của Vũ Như Lâm đã đề cập tới dược
tính, cơng dụng cách bào chế, sự kiêng kỵ của một số vị thuốc Bắc, Nam.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, với phương châm của
Đảng đề ra là “tự lực cánh sinh, tự cung tự cấp”, ngành y tế đã đưa thuốc nam
vào điều trị và phát huy được vai trị to lớn của nó, xây dựng nên “Toa căn
bản”, nêu cao các phương pháp chữa bệnh bằng 10 vị thuốc thông thường
[11], [12], [16], [21].
Từ ngày hồ bình lập lại ở Miền Bắc và giải phóng Miền Nam, thống
nhất đất nước Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực, quan tâm đến công tác
điều tra nghiên cứu nguồn cây thuốc ở Việt Nam, phục vụ cho vấn đề sức
khoẻ toàn dân. Ngày 27 tháng 2 năm 1955, trong thư của Chủ Tịch Hồ Chí
Minh gửi Hội Nghị ngành Y tế, Người đã đề ra đường lối xây dựng nền y học
Việt Nam khoa học, dân tộc và đại chúng, dựa trên sự kết hợp giữa y học cổ
9


truyền của dân tộc với y học hiện đại. Bộ y tế cũng tạo điều kiện cho Đông y
phát triển, nên việc nghiên cứu thuốc Nam được xúc tiến mạnh mẽ, trong đó
GS – TS Đỗ Tất Lợi là người đã dày công nghiên cứu trong nhiều năm, xuất
bản được nhiều tài liệu về việc sử dụng cây, con, dùng làm thuốc của đồng
bào dân tộc. Đáng chú ý nhất là năm 1957 đã biên soạn bộ “Dược liệu học và
các vị thuốc Việt Nam” gồm 3 tập. Năm 1961 tái bản in thành 2 tập, trong đó
tác giả đã mô tả và nêu công dụng của hơn 100 cây thuốc nam [50].

Từ 1962 - 1965 GS Đỗ Tất Lợi lại cho xuất bản bộ “Những cây thuốc và
vị thuốc Việt Nam” gồm 6 tập, đến năm 1969 tái bản thành hai tập trong đó
có 500 vị thuốc có nguồn gốc thảo mộc, động vật và khống vật. Ơng đã kiên
trì nghiên cứu, liên tục bổ sung về cây thuốc trong các cơng trình được tái bản
nhiều lần vào các năm 1970, 1977, 1981, 1986, 1995, 2000. Lần tái bản thứ 7
(1995) số cây thuốc ông đã nghiên cứu được lên tới 792 lồi. Trong đó ơng
mơ tả tỉ mỉ tên khoa học, vị trí phân bố, thành phần hóa học và cơng dụng
chữa trị các nhóm bệnh khác nhau của từng cây thuốc [50], đây là một bộ
sách có giá trị lớn về khoa học và thực tiễn, kết hợp giữa kinh nghiệm dân
gian với khoa học hiện đại.
Năm 1978 Đảng và nhà nước đã có nhiều chủ trương phát triển Y học
dân tộc với phương châm: “Thừa kế, phát huy, phát triển y học dân tộc cổ
truyền và kết hợp Đông y với y học hiện đại để xây dựng nền y học Việt
Nam”. Với phương châm ấy có nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu và cho ra
đời nhiều bộ sách quý như: Vũ Văn Kính (1979) cho xuất bản cuốn sổ tay y
học “500 bài thuốc gia truyền” và tái bản lần thứ 3 vào năm 1997 [47], năm
(1980) Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương đã giới thiệu cuốn sách “Sổ tay cây
thuốc Việt nam” với 519 lồi cây thuốc, trong đó có 150 lồi mới phát hiện
[11]. Liên quan đến vấn đề cây thuốc, năm (1978, 1983) Bộ y tế đã xuất bản
cuốn “Dược liệu Việt Nam” tập I, II trong đó tổng kết các cơng trình nghiên
cứu về cây thuốc trong những năm qua [17], [18]. Bên cạnh đó Viện dược
10


liệu (Bộ y tế) đã tiến hành nghiên cứu, điều tra dược liệu tại 2795 xã, phường,
thuộc 351 huyện, thị xã của 47 tỉnh, thành phố trong cả nước, qua đó thu thập,
sưu tầm được nhiều nguồn tài nguyên cây thuốc, cùng với kinh nghiệm sử
dụng trong Y học cổ truyền dân gian, được đúc kết trong “Danh mục cây
thuốc miền Bắc Việt Nam” và “Danh mục cây thuốc Việt Nam”. Qua các kết
quả thu được ở trên đã thống kê và công bố một danh sách về cây thuốc ở

Miền Bắc (1961 – 1972) là 1114 loại, ở Miền Nam (1979 - 1985) là 1119 loài.
Tổng hợp trong cả nước đến năm (1985) là 1863 loài và dưới loài, phân bố
trong 1033 chi, 136 họ, 101 bộ, 17 lớp, 11 ngành được sắp xếp theo hệ thống
của Takhtajan mỗi lồi đều giới thiệu cơng dụng cùng với cách dùng cụ thể
[8], [11], [40].
Về vấn đề cây thuốc Việt Nam thì Võ Văn Chi là người từ lâu có nhiều
tâm huyết. Năm 1976, trong luận văn PTS khoa học của mình ơng đã thống
kê có 1360 lồi cây thuốc thuộc 192 họ trong ngành hạt kín ở Miền Bắc. Đến
năm 1991 trong một báo cáo tham gia hội thảo quốc gia về cây thuốc lần thứ
II, tổ chức ở thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã giới thiệu danh sách các loài
cây thuốc Việt Nam, với 2280 loài cây thuốc là thực vật bậc cao có mạnh,
thuộc 254 họ trong 8 ngành. Có thể nói cơng bố này đã giới thiệu một số
lượng cây thuốc lớn nhất. Xét về thành phần các cây thuốc đã biết hiện nay ở
Việt Nam, theo Viện dược liệu trong tổng số trên 2.000 lồi cây thuốc, có tới
gần 90% cây mọc tự nhiên, chúng chủ yếu tập trung trong các quần thể rừng
với trữ lượng lớn, cịn khoảng trên 10% là cây trồng.
Ngồi ra cũng có nhiểu cơng trình về cây thuốc Việt Nam thuộc các địa
phương hoặc theo các phạm vi nhỏ cũng đã được cơng bố. Đỗ Huy Bích, Bùi
Xn Chương và một số người khác đã cho ra cuốn “Sổ tay cây thuốc Việt
Nam” (1980) và “Tài nguyên cây thuốc Việt Nam” (1993) với hàng năm có
khoảng 300 lồi cây thuốc được khai thác và sử dụng ở mức độ khác nhau
trong toàn quốc [11], Võ Văn Chi “Cây thuốc An Giang” (1991) [23].
11


Trần Đình Lý (1995) và cộng sự cho xuất bản cuốn “1900 lồi cây có
ích” [51]. Trong số các lồi cây thực vật bậc cao đã biết ở Việt Nam, có 76
lồi cho nhựa thơm, 160 có tinh dầu, 260 lồi có dầu béo, 600 lồi chứa tanin,
50 lồi cây gỗ có giá trị cao, 40 lồi tre nứa, 40 loài song mây.
Vương Thừa Ân cho ra đời cuốn “Thuốc quý quanh ta” vào năm 1995

[1]. Cho đến chương trình tạo nguồn nguyên liệu làm thuốc của Viện dược
liệu KV.02 cho ra đời quyển “Tài nguyên cây thuốc Việt Nam”…[8].
Năm 1996 Võ Văn Chi xuất bản quyển “Từ điển cây thuốc Việt Nam” đã
mô tả kỹ 3200 cây thuốc củaViệt Nam [24]. Đây là một cơng trình có ý nghĩa
khoa học và thực tiễn rất lớn phục vụ cho ngành dược và các nhà thực vật
học. Ngồi ra cịn rất nhiều bài báo đăng trên các tạp chí trung ương, địa
phương giới thiệu về cây thuốc, bài thuốc và tác dụng làm thuốc của cây cỏ
quanh ta, như vậy nguồn cây cỏ được sử dụng làm thuốc rất phong phú. Theo
Đỗ Huy Bích, Nguyễn Tập, Lê Tùng Châu… hàng năm nước ta đã khai thác
và sử dụng tới 300 loài cây thuốc ở mức độ khác nhau [12]. Rất khó thống kê
được một cách đầy đủ khối lượng dược liệu tự nhiên được khai thác, bởi lẽ
hàng năm ngoài các cơ sở tư nhân, thì cịn có các ơng Lang, bà Mế và người
dân từng địa phương tự thu hái về chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian.
Theo Nguyễn Khang và Vũ Văn Chương thì trong vài chục năm gần đây nước
ta đã xuất khẩu một lượng dược liệu khá lớn khoảng 20 triệu USD và lượng
tinh dầu là 20 – 30 triệu USD chưa kể giá trị xuất khẩu tiểu ngạch và buôn lậu
qua biên giới của tư thương [43].
Đặc biệt, năm 1994, trong cơng trình nghiên cứu thuốc tại Lâm Sơn –
Lương Sơn – Hà Sơn Bình, Nguyễn Nghĩa Thìn đã giới thiệu 112 lồi cây
thuốc thuộc 50 họ.
Bên cạnh ý nghĩa sử dụng cây thuốc trong y học dân tộc, theo kết quả
nghiên cứu của: Nguyễn Văn Đàn, Nguyễn Việt Tựu (1986) Trịnh Gia Ân,
12


Phạm Đình Sửu (1971, 1979) Lê Tùng Châu (1991)… nguồn cây thuốc ở Việt
Nam đã và sẽ có nhiều triển vọng là nguyên liệu dùng để chiết xuất các hợp
chất tự nhiên làm thuốc của ngành công nghiệp dược. Chỉ tính trong vịng hơn
một năm lại đây đã có 701 lồi cây thuốc điều tra có tính kháng khuẩn và một
số lồi cây thuốc chính thức được đưa vào sản xuất thuốc đại trà như: Thanh

hao hoa vàng (Artemisia annua L.) Vằng đắng (Coscinium fenestratum
(Gaertn.) Colebr), Sừng dê (Strophanthus divergens Graham.), Ba gạc
(Rauvolfia verticillata (Lour.) Baill.)… Ngoài ra vấn đề tìm kiếm các thuốc
mới từ nguồn gốc cây cỏ ở Việt Nam cũng đầy triển vọng. Theo công bố của
Trần Ngọc Ninh (1994), Lê Trần Đức (1995) các nhà khoa học Việt Nam
bước đầu đã biết được hợp chất Taxol từ các lồi Thơng đỏ (Taxus Spp.) có
tác dụng chống ung thư. Việc ứng dụng những kinh nghiệm dân gian và
nghiên cứu cây thuốc ở Việt Nam nói chung, các dân tộc ít người nói riêng là
rất cần thiết, nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên cây thuốc, bảo tồn nguồn gen,
cùng những kinh nghiệm sử dụng cây thuốc chữa bệnh phong phú trong y học
cổ truyền.
1.3. Tình hình nghiên cứu cây thuốc ở Thanh Hóa
Thanh Hóa là một tỉnh lớn, đứng thứ 5 về diện tích, thứ 3 về số dân trong
số các đơn vị hành chính trực thuộc trung ương và có 7 dân tộc anh em cùng
sinh sống, đó là: Kinh, Mường, Thái, H'mơng, Dao, Thổ, Hoa. Các dân tộc ít
người sống chủ yếu ở các huyện vùng núi cao và biên giới, việc chữa bệnh
cho nhân dân xưa nay là do các ơng Lang, bà Mế vì vậy kinh nghiệm sử dụng
cây thuốc và các bài thuốc dân gian của người dân tộc rất đa dạng, phong phú.
Tuy nhiên cho tới nay chưa có một cơng trình nào nghiên cứu toàn diện về
cây thuốc, bài thuốc của các dân tộc miền núi Thanh Hóa. Chỉ có một số cơng
trình nghiên cứu thực hiện đơn lẻ được cơng bố rải rác trên các tài liệu như:
sách của các tác giả Đỗ Tất Lợi, Đỗ Huy Bích, Vũ Văn Chuyên, trên các tạp
chí và website của Viện Dược Liệu Bắc Trung Bộ như: “Nghiên cứu và thuần
13


hóa thành cơng cây Hy thiêm từ hoang dại trở thành cây thuốc sản xuất theo
GAP, đáp ứng nhu cầu dược liệu tại tỉnh Thanh Hóa” và “Nghiên cứu thuần
hóa thành công cây Sâm báo từ lưu giữ bảo tồn trong nông hộ trở thành cây
thuốc được sản xuất hàng hóa theo GAP” [66]. Trong thời gian gần đây có

một số đề tài, luận văn thạc sĩ của các trường đại học cũng bắt đầu quan tâm
nghiên cứu về cây thuốc ở Thanh Hóa như:
Phạm Hồng Ban, Phạm Thị Huệ, Nguyễn Đình Hải, Đỗ Ngọc Đài
(2009), “Đánh giá tính đa dạng cây thuốc dân tộc Thái vùng đệm khu bảo tồn
thiên nhiên Xn Liên, Thanh Hóa”, tạp chí nơng nghiệp và phát triển nông
thôn, (số 11/2009, tr 103 - 106) [3].
Phạm Hồng Ban, Trần Văn Kỳ, Lê Thị Hương, Đỗ Ngọc Đài “Một số
dẫn liệu về hệ thực vật bậc cao có mạch ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên,
Thanh Hóa”, Tuyển tập báo cáo Hội nghị Sinh thái và Tài nguyên sinh vật lần
thứ 3, 22/10/2009 - Viên ST&TNSV - Viện KH&CN Việt Nam, đã xác định
được có 75 lồi cây có giá trị làm thuốc [4].
Luận văn thạc sĩ của Phạm Thị Huệ (2009) ĐHV, “Điều tra thành phần
loài cây làm thuốc của đồng bào dân tộc Thái, xã Bát Mọt, khu bảo tồn thiên
nhiên Xuân Liên, Thanh Hóa”, đã thống kê được 178 lồi của 75 họ thuộc 5
ngành thực vật bậc cao, phát hiện được 6 lồi q hiếm trong đó có 3 lồi
thuộc danh lục đỏ cây thuốc và bổ sung cho từ điển cây thuốc VN của Võ
Văn Chi 57 loài thuộc 34 họ [41].
Nói tóm lại việc điều tra cây thuốc của đồng bào các dân tộc miền núi
Thanh Hóa đã và đang được tiến hành nhưng còn đơn lẻ, rời rạc. Vì vậy cần
phải tiến hành điều tra, nghiên cứu một cách tồn diện và có hệ thống trên qui
mơ tồn tỉnh để thu thập cây thuốc, bài thuốc có giá trị để bảo tồn, không bị
mai một.

14


CHƯƠNG 2
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI KHU VỰC
NGHIÊN CỨU
2.1. Điều kiện tự nhiên

2.1.1. Vị trí địa lý
Ngọc Lặc là huyện miền núi, nằm ở cửa ngõ phía Tây của tỉnh Thanh
Hóa và có tọa độ địa lý như sau:
- Từ 19055’ đến 20055’ vĩ độ Bắc
- Từ 105031’ đến 104055’ kinh độ Đơng. Trung tâm vùng hành chính của
huyện nằm ở 20004’08” vĩ độ Bắc, 105022’39” kinh độ Đơng.
Ranh giới hành chính của huyện được xác định như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Cẩm Thuỷ và huyện Bá Thước, núi Bù Trèm là
đường ranh giới tự nhiên giữa huyện Ngọc Lặc với huyện Bá Thước và huyện
Cẩm Thuỷ.
- Phía Nam giáp huyện Thường Xuân.
- Phía Tây giáp huyện Lang Chánh bởi các dãy núi và sự phân dòng
nước của các con suối.
- Phía Đơng giáp huyện Thọ Xn và huyện n Định.
Trên bản đồ tỉnh Thanh Hố thì Ngọc Lặc nằm ở trung tâm của tỉnh, từ
thị trấn Ngọc Lặc đến bờ biển khoảng trên 90km, từ thị trấn Ngọc Lặc đến
huyện Mường Lát khoảng 150km.
2.1.2. Địa hình, địa chất
- Địa hình: Địa hình phức tạp, đồi núi ở phía Tây (chiếm 40,1% diện
tích), đỉnh Lam Sơn (472 m), đồng bằng phía Đơng xen nhiều đồi gị. Sơng
ngịi ở Ngọc Lặc thuộc hệ thống sông Mã (hệ thống sông lớn nhất trong tỉnh,
bắt nguồn từ Điện Biên, Lai Châu dài 512km, chảy qua Thanh Hóa dài
242km). Sơng Mã có nhiều nhánh chính, chảy qua Ngọc Lặc là sơng Cầu
15


Chày, dài 87,5km, diện tích lưu vực 551km2, độ dốc nhỏ, dịng chảy kém
phong phú. Ngồi ra Ngọc Lặc cịn có sơng Âm, sơng Hép chảy qua.
- Địa chất: Theo kết quả điều tra của phịng tài ngun và mơi trường
tỉnh Thanh Hóa năm 2010 thì, huyện Ngọc Lặc có tổng diện tích tự nhiên là:

495,53km2 (49.553,04ha) chiếm 4,41% diện tích tự nhiên tồn tỉnh. Chủ yếu
là đất nâu đỏ trên macma bazơ, khu vục giáp Thọ Xuân là đất nâu vàng trên
phù sa cổ. Một phần nhỏ diện tích là đất vàng nhật trên đất cát, đất đỏ vàng
biến đổi do trồng lúa và xói mịn nhưng khơng nhiều. Trong tổng diện tích đất
tự nhiên của huyện có 37.411,33 ha đất sản xuất nông, lâm nghiệp; 8.308,11
ha đất phi nơng nghiệp và cịn 3.883,6 ha đất chưa sử dụng, thuận tiện cho
việc trồng các loại cây công nghiệp và trồng rừng kết hợp với kinh tế trang
trại tổng hợp.
2.1.3. Đặc điểm khí hậu
Huyện Ngọc Lặc có khí hậu cận nhiệt đới với bốn mùa rõ rệt, thuộc khí
hậu đồi núi cao ở Thanh Hóa. Nằm sâu trong nội chí tuyến, trên một vĩ độ hơi
lệch về phía Bắc, thuộc rìa Đơng Nam của đại lục Âu - Á, thuộc hồn lưu gió
mùa của Đơng Nam Á. Trong mùa Đơng thịnh hành là gió Bắc, Đơng Bắc
kèm theo giá rét, khơ hanh từng đợt, có sương giá, sương muối. Trong mùa hè
thịnh hành là gió Đơng và Đơng Nam, xen lẫn gió Tây Nam khơ nóng, là mùa
nhiều mưa, bão, lũ lụt và các hiện tượng thời tiết cực đoan như dơng tố, lốc,
mưa đá… Có độ cao mặt trời lớn, thời gian chiếu sáng đồng đều quanh năm,
lượng bức xạ phong phú, cán cân bức xạ luôn cân trong cả 12 tháng.
- Nhiệt độ: Chế độ nhiệt của nhiệt đới, nhiệt độ cao, trung bình năm
24 - 25oC, biên độ lớn, mùa đông đến muộn, kết thúc sớm nhưng rất lạnh.
Mùa hè đến sớm, kết thúc muộn, do điều kiện địa lý mà chủ yếu là vĩ độ và độ
cao tạo nên sự biến động lớn của nhiệt độ. Biên độ nhiệt ngày- đêm, mùa
đông- mùa hè rất lớn, đây là đặc điểm riêng biệt ở khu vực Thanh Hóa nói
chung và ở Ngọc Lạc nói riêng.
16


- Mưa: Lượng mưa phong phú nhưng có biến động lớn về thời gian,
cường độ và lượng mưa giữa các mùa, các tháng và các năm. Mùa mưa từ
tháng 4, kết thúc vào tháng 10, trùng với mùa gió Tây khơ nóng, bão, áp thấp

nhiệt đới, dải hội tụ nhiệt đới, dông tố, lốc, lũ quét, sạt lở đất, tạo nên những
đợt mưa lớn kéo dài nhiều ngày gây lũ lụt nghiêm trọng. Trong mùa mưa có
những đợt gió Tây khơ nóng kéo dài, gây nên tình trạng nắng nóng gay gắt và
khô hạn trong các tháng 5, 6, 7.
Sự biến động về mưa thể hiện qua cường độ mưa sau từng thời đoạn của
từng tháng, từng mùa. Tháng nhiều mưa (5,10) có thể gấp 30 - 40 lần tháng ít
mưa (4, 11)… Năm nhiều mưa có thể trên 2000 mm, năm ít mưa có thể dưới
1000 mm. Cường độ sau mưa một ngày đêm có thể từ 200 – 300 mm trong
mùa mưa, nhưng trong mùa khô cường độ sau mưa một ngày đêm đạt dưới
1,0 mm, thậm chí cả tháng liên tục không mưa, đặc điểm này chủ yếu do độ
cao và đặc điểm địa hình tạo nên.
Bảng 2.1. Nhiệt độ, độ ẩm và lượng mưa năm 2011 tại Ngọc Lặc
Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12

Nhiệt độ (0C)
13,9
17,6
17,3

22,9
26,5
27,6
28,4
28,0
26,6
24,0
22,8
17,1

Độ ẩm (%)
76
85
86
85
83
84
79
86
87
85
84
81

Lượng mưa (mm)
9,8
14,8
86,4
24,3
80,6

369,5
301,0
275,5
412,7
198,6
53,6
17,9

(Nguồn: Trung tâm khí tượng – thủy văn tỉnh Thanh Hóa)

17


Với đặc điểm khí hậu, thủy văn và thổ nhưỡng như trên đã tạo điều kiện
thuận lợi cho các loài thực vật phát triển, vì vậy Ngọc Lặc rất phong phú về
các lồi thực vật, trong đó có nhiều lồi có tác dụng làm thuốc chữa bệnh.
2.2. Điều kiện xã hội
Tồn huyện có 22 đơn vị hành chính, gồm 1 thị trấn (Ngọc Lặc - huyện
lị) và 21 xã (Mỹ Tân, Thúy Sơn, Thạch Lập, Vân Âm, Cao Ngọc, Ngọc Khê,
Quang Trung, Đồng Thịnh, Ngọc Liên, Ngọc Sơn, Lộc Thịnh, Cao Thịnh,
Ngọc Trung, Phùng Giáo, Phùng Minh, Phúc Thịnh, Nguyệt Ấn, Kiên Thọ,
Minh Tiến, Minh Sơn, Lam Sơn).
Dân số toàn huyện tính đến năm (2010) là 146.272 người, bình qn
295.2 người/km2, trong đó dân tộc Mường chiếm 68% dân số. Tồn huyện có
4 dân tộc sinh sống xen cư hịa thuận bên nhau là: Mường, Kinh, Dao, Thái
tạo thành một nền văn hóa đa sắc tộc cho Ngọc Lặc.
Huyện có giao thông tương đối thuận lợi, với quốc lộ 15A (từ phố Lê
Duẩn trung tâm Ngọc Lặc tới giáp huyện Lang Chánh), tỉnh lộ 519 (chỉ còn
đoạn gần 2km qua Phố 1) và đường Hồ Chí Minh chạy qua.
Trên địa bàn huyện Ngọc Lặc có một bệnh viện đa khoa khu vực, một

trung tâm y tế, được đầu tư trang thiết rất cơ bản, hiện đại để phục vụ cho
nhân dân trong tồn huyện và các huyện núi phía tây tỉnh Thanh Hóa. 22/ 22
xã, thị trấn đều có các trạm y tế và mạng lưới cộng tác viên cơ sở đáp ứng nhu
cầu chữa bệnh và chăm só sức khỏe cho người dân. Huyện có 3 trường THPT,
1 Trung tâm giáo dục thường xuyên, 25 Trường THCS và 36 trường tiểu học.
Tất cả các trường đều được đầu tư các trang thiết bị dạy học hiện đại.
Do là một huyện miền núi nên cơ sơ vật chất và hạ tầng còn thiếu, việc ứng
dụng các tiến bộ khoa học vào việc kinh doanh và sản xuất của nhân dân chưa
phổ biến, diện tích đất canh tác khơng nhiều nên cơ bản Ngọc Lặc vẫn là một
huyện nghèo với thu nhập bình quân con thấp gần 4 triệu đồng /người /năm.
18


CHƯƠNG 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những cây thuốc được đồng bào dân tộc Mường
tại xã Quang Trung, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa dùng để chữa bệnh.
- Phạm vi nghiên cứu: Những người dân và thầy lang dân tộc Mường tại
xã Quang Trung huyện Ngọc Lặc tỉnh Thanh Hóa.
3.2. Dự kiến thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành từ tháng 9/2011 đến tháng 10/ 2012 cụ thể là:
- Từ 9/2011 đến 10/2011: Sưu tầm tài liệu và lập đề cương
- Từ 10/2011 đến 12/2011 bắt đầu tiến hành thu mẫu
- Từ 1/2012 đến 6/2012 tiếp tục thu mẫu, phân tích số liệu, nghiên cứu
hóa học cây thuốc
- Từ 7/2012 đến 10/2012 hoàn thành số liệu và hồn thành luận văn
3.3. Nơi dung nghiên cứu
3.3.1. Điều tra cây thuốc

- Lập danh mục thành phần các lồi cây được người Mường sử dụng làm
thuốc.
- Phân tích đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc được sử
dụng về:
+ Đa dạng về bậc phân loại
+ Đa dạng về dạng cây
+ Đa dạng về nơi sống
+ Đa dạng về bộ phận sử dụng
+ Đa dạng về cách sử dụng
+ Đa dạng về nhóm bệnh có khả năng chữa trị
19


- Thu thập các bài thuốc của người Mường tại địa bàn nghiên cứu
3.3.2. Nghiên cứu hóa học
Tiến hành nghiên cứu thành phần tinh dầu của cây Gừng gió (Zingiber
zerumbet (L.) J.E. Smith) thu tại xã Quang Trung, huyện Ngọc Lặc, tỉnh
Thanh Hóa.
3.4. Phương pháp nghiên cứu thực vật
3.4.1. Phương pháp phỏng vấn, điều tra
Điều tra, phỏng vấn rộng rãi bà con và các thầy lang dân tộc Mường tại
địa bàn nghiên cứu để thu thập các cây thuốc và sưu tầm bài thuốc.
3.4.2. Phương pháp thu hái, xử lý và bảo quản mẫu vật
Mẫu vật được thu hái và sử lý theo phương pháp của Nguyễn Nghĩa
Thìn, 1997 [58].
- Mẫu cây được đánh số hiệu và đặt trong một tờ báo, cho vào túi nilon
lớn khoảng 20 – 30 mẫu, sau đó đổ cồn vào để bảo quản (xử lý sơ bộ tại địa
bàn thu mẫu). Khi đưa về tiếp tục xử lý và cho vào cặp mắt cáo để phơi khô
dươi ánh nắng hoặc ánh điện. Mẫu được bảo quản và lưu trữ tại phòng lưu trữ
mẫu thực vật Khoa Sinh học - Đại học Vinh.

3.4.3. Phương pháp xác định tên khoa học
Chúng tôi sử dụng phương pháp hình thái so sánh, được tiến hành theo
các bước sau:
- Phân chia mẫu theo họ và chi
Sau khi thu mẫu, phân loại sơ bộ ngay tại hiện trường dựa vào các bảng
chỉ dẫn nhận nhanh các họ trong “Cẩm nang nghiên cứu đa dạng thực vật”
của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [58] và “Cẩm nang tra cứu và nhận nhanh
các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam” của Nguyễn Tiến Bân (1997) [5].
- Xác định tên khoa học dựa vào “Khóa định loại” của Phạm Hồng Hộ,
(1991 - 1993) [40] và “Thực vật chí Việt Nam” [6], [49], [52], [56], [57].
20


×