Tải bản đầy đủ (.doc) (19 trang)

(Sáng kiến kinh nghiệm) một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 4 trường tiểu học hoàng lâu

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (117.73 KB, 19 trang )

BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 . Lời giới thiệu
Cùng với xu thế phát triển của thời đại, giáo dục đã và đang được đổi mới
mạnh mẽ theo bốn trụ cột của giáo dục thế kỉ XXI, mà thực chất là cách tiếp cận kỹ
năng sống, đó là: Học để biết, học để làm, học để tự khẳng định mình và học để cùng
chung sống.
Xuất phát từ đặc điểm của xã hội hiện nay, việc hình thành và phát triển kỹ
năng sống trở thành một yêu cầu quan trọng trong quá trình giáo dục nhân cách con
người hiện đại.
Giáo dục kỹ năng sống là thực hiện quan điểm hướng vào người học, một mặt
đáp ứng những thách thức của cuộc sống và nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi
cá nhân. Là những trải nghiệm có hiệu quả nhất, giúp giải quyết hoặc đáp ứng các nhu
cầu cụ thể, trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của con người. Bao gồm cả hành
vi vận động của cơ thể và tư duy của con người, hình thành một cách tự nhiên, thông
qua giáo dục hoặc rèn luyện của các em.
Hiện nay, đa số học sinh sống trong hai mơi trường có hồn cảnh khác nhau:
một là các em được sự quan tâm chăm sóc quá sức chu đáo của phụ huynh vì sống
trong gia đình ít con, hoàn cảnh kinh tế ổn định; hai là những em sống trong gia đình
với nhiều lo toan cho cuộc mưu sinh, phụ huynh bỏ mặc con cái.
Ngồi những khó khăn lứa tuổi, các em là con em thành phố hoặc nơng thơn,
trong đó có nhiều em nơng thơn có nhiều hồn cảnh khác nhau, có nhiều thói quen
trong sinh hoạt còn chưa văn minh, thiếu kỹ năng thực hành, kỹ năng giao tiếp, kỹ
năng giải quyết vấn đề, kỹ năng đối phó với những khó khăn trong cuộc sống và khả
năng tự phục vụ bản thân… Hơn thế nữa trong nền kinh tế thị trường, cuộc sống hiện
đại vận động hết sức khẩn trương và chứa đựng nhiều yếu tố khơn lường địi hỏi thế
hệ trẻ khơng làm chủ tri thức, rút ngắn khoảng cách chênh lệch về tri thức giữa các
vùng nơng thơn và thành thị mà cịn phải thực sự tự tin; phải nắm bắt kịp thời các cơ
hội cũng như phải có một số kỹ năng: sống khỏe, sống tốt, sống lành mạnh, cập nhật
thông tin nhanh nhạy và hội nhập với thế giới, góp phần tích cực cho cuộc sống cá
nhân và cộng đồng tốt đẹp hơn, nhằm thích ứng với mọi biến động của hoàn cảnh.


Đảng ta xác định con người vừa là mục tiêu vừa là động lực cho sự phát triển
xã hội, để thực hiện thành cơng sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cần
phải có những con người lao động mới phát triển toàn diện. Nếu đơn thuần chỉ thiên
về đào tạo tri thức (dạy chữ), sẽ tạo nên thế hệ học sinh khơng tồn diện. Khó ứng phó
với thực tế của cuộc sống. Nền kinh tế xã hội nước ta đang phát triển với một tốc độ
nhanh, kéo theo đó là sự xuất hiện nhiều vấn đề mà địi hỏi mỗi con người cần có
những kĩ năng sống nhất định để có thể giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra.
Nhà trường phổ thơng có mục đích quan trọng nhất là dạy chữ cho các em,
truyền đạt những tri thức khoa học để các em chuẩn bị đầy đủ hành trang tri thức
bước vào đời. Các em học sinh khi đến trường ngoài tiếp xúc với môi trường giáo dục
1


các em còn tiếp xúc với xã hội mà ở đó nhiều vấn đề của cuộc sống địi hỏi các em
phải có kĩ năng giải quyết hợp lí mới đem lại hiệu quả tích cực. Lí thuyết đã chỉ ra
rằng con người là tổng hòa của các quan hệ xã hội. Mỗi con người đều bị chi phối bởi
các quan hệ đa phương, đa chiều. Cuộc sống là một bức tranh đa dạng, sinh động
nhưng cũng đầy thách thức, phức tạp. Để tồn tại và phát triển trong thế giới ngày nay
và đương đầu một cách có hiệu quả với hàng loạt những vấn đề gặp phải, mỗi người
cần phải có bản lĩnh, có những kĩ năng riêng để xử lí với những địi hỏi và thử thách
hàng ngày. Bởi vậy, chúng ta chỉ quan tâm đến việc dạy nội dung kiến thức nói riêng
sẽ rất khó tạo ra thế hệ học sinh có đầy đủ phẩm chất trong cơng cuộc đổi mới hiện
nay.
Thực tế hiện nay học sinh rất thiếu các kĩ năng cơ bản cần trong cuộc sống hiện
đại như kĩ năng giao tiếp, kĩ năng sinh hoạt tập thể, kĩ năng hóa giải căng thẳng… Để
cùng học tập sinh sống và làm việc trong xã hội hiện đại, những kĩ năng trên là không
thể thiếu. Nhiều ý kiến của các chuyên gia giáo dục và xã hội cho rằng việc rất nhiều
học sinh ở nước ta hiện nay thiếu các kĩ năng để có thể đương đầu và giải quyết các
vấn đề trong cuộc sống. Trong nhà trường phổ thơng nói chung và trong trường tiểu
học nói riêng, trong suốt thời gian dài chúng ta chỉ quan tâm đến giáo dục trí dục,

nhiều trường, nhiều địa phương lấy tỉ lệ học sinh đạt điểm cao là thước đo chất lượng
giáo dục mà ít quan tâm đến sự chăm ngoan, chuyên cần, phát triển nhân cách của học
sinh.
Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh là một trong những nội dung được Bộ
GD&ĐT triển khai khi thực hiện phong trào thi đua xây dựng “Trường học thân thiện,
học sinh tích cực” đối với các trường trung học phổ thơng nói chung và bậc Tiểu học
nói riêng.
Là giáo viên được phân công giảng dạy và chủ nhiệm lớp 4 bản thân tôi nhận
thấy giáo dục kĩ năng sống cho học sinh là một việc làm đòi hỏi sự tâm huyết rất lớn
của giáo viên. Bởi nó cần cả một quá trình và cần sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà
trường, gia đình và xã hội. Và qua mấy năm thực hiện, bản thân tôi đã đúc rút ra một
số kinh nghiệm để cùng đồng nghiệp trao đổi, chia sẻ, giúp đỡ nhau nhằm nâng cao
hiệu quả giáo dục. Chính vì vậy tơi đã mạnh dạn đưa ra đề tài: “Một số biện pháp
giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 4 trường Tiểu học Hoàng Lâu”.
2. Tên sáng kiến
Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 4 trường Tiểu học
Hoàng Lâu.
3. Tác giả (Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến)
- Họ và tên: Lê Thị Hà
- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường Tiểu học Hoàng Lâu, huyện Tam Dương,
tỉnh Vĩnh Phúc.
- Số điện thoại: 0383 589 732. Email:
2


4. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 4.
5. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu
Tháng 9/2018
6. Mô tả bản chất của sáng kiến

6.1. Nội dung sáng kiến
6.1.1. Nghiên cứu lý luận để nâng cao nhận thức của giáo viên
Thực hiện quyết định của Bộ GD&ĐT, các Sở GD&ĐT trong cả nước đã chỉ
đạo các cơ sở giáo dục, các trường học tăng cường rèn luyện kỹ năng sống cho học
sinh, tăng cường nguồn lực trong và ngoài nhà trường cho giáo dục đạo đức, hình
thành các chuẩn đạo đức, chú ý giáo dục giá trị gia đình, văn hóa gia đình bên cạnh
giáo dục lòng yêu nước và truyền thống văn hóa dân tộc. Tập trung rèn luyện cho học
sinh ý thức kỷ luật, tác phong nhanh nhẹn, gọn gàng, ngăn nắp, tăng cường giáo dục
kỹ năng tự phục vụ, thói quen vệ sinh tốt, kỹ năng tự bảo vệ an toàn bản thân, mạnh
dạn trong giao tiếp, thân thiện với bạn bè, lễ phép với người lớn… Việc giáo dục kỹ
năng sống cho HS được thể hiện qua các cách thức hoạt động như:
- Tích hợp vào nội dung các bài học ở các môn học trên lớp.
- Thực hiện thơng qua các hoạt động giáo dục ngồi giờ lên lớp.
Vậy kỹ năng sống là gì?
+ Kĩ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử
phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các
tình huống của cuộc sống.
+ Kĩ năng sống là những kĩ năng tâm lý – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn
tại và thích ứng trong cuộc sống, giúp cho cá nhân vững vàng trước cuộc sống có
nhiều thách thức nhưng cũng nhiều cơ hội trong thực tại... Kĩ năng sống đơn giản là
tất cả điều cần thiết mà chúng ta phải biết để có được khả năng thích ứng với những
thay đổi diễn ra hằng ngày trong cuộc sống.
Phân loại kỹ năng sống:
Kỹ năng sống được chia thành 2 loại: Kỹ năng cơ bản và kỹ năng nâng cao.
- Kỹ năng cơ bản gồm: Kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, múa, hát, đi, đứng, chạy,
nhảy…
- Kỹ năng nâng cao là sự kế thừa và phát triển các kỹ năng cơ bản dưới một
dạng thức mới hơn. Nó bao gồm: Các kỹ năng tư duy logic, sáng tạo, suy nghĩ nhiều
chiều, phân tích, tổng hợp, so sánh, nêu khái niệm, đặt câu hỏi…
3



Ở tiểu học, đối với các lớp đầu cấp, kỹ năng cơ bản được xem trọng, còn các
lớp cuối cấp nâng dần cho các em về kỹ năng nâng cao. Đối với học sinh lớp 4, các
em đã dần hoàn thiện kĩ năng cơ bản và đang hướng đến những kĩ năng nâng cao.
Để có biện pháp, phương pháp dạy tốt nhất, chúng ta phải dựa vào tình hình
thực tế để đánh giá thực trạng năm học.
* Tình hình của lớp 4A
- Tổng số học sinh: 35 em, là nữ 17 em.
* Thuận lợi
Hiện nay được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo Bộ - Sở - Phòng giáo dục và
đào tạo Tam Dương và đặc biệt là sự quan tâm trực tiếp của Ban giám hiệu nhà trường
về đổi mới phương pháp dạy học, đẩy mạnh công nghệ thông tin, tăng cường giáo dục
và rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh. Chính vì vậy, đó là động lực thúc đẩy tôi càng
quyết tâm bồi dưỡng, rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh.
Khi bắt tay vào nghiên cứu tôi thấy được một số thuận lợi sau:
- Một số hoạt động giáo dục kĩ năng sống đã được nhà trường chú ý thực hiện
trong khuôn khổ và yêu cầu của Phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học
sinh tích cực” do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động.
- Giáo dục KNS từ nhà trường cũng như qua các phương tiện thông tin đại
chúng đã thu hút được sự chú ý và hưởng ứng của xã hội, của phụ huynh học sinh.
- 100% số học sinh học đúng độ tuổi.
- 100% số học sinh đăng kí ở bán trú.
- Hầu hết gia đình các em ở gần trường.
- Khả năng nhận thức của các em tương đối đồng đều.
- Lứa tuổi học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 4 nói riêng là thời điểm
vàng để giáo dục kĩ năng sống.
* Khó khăn, hạn chế
+ Về phía giáo viên:
- Ý nghĩa, tầm quan trọng của giáo dục kĩ năng sống chưa được nhận thức một

cách đúng mức trong một bộ phận giáo viên trong trường.

4


- Khi thực hiện giáo dục kĩ năng sống, giáo viên cịn gặp nhiều khó khăn, lúng
túng (chưa có nhiều tài liệu cho giáo viên và học sinh, tiêu chí đánh giá chưa cụ thể,
…). Tổ chức giáo dục kĩ năng sống có những đặc thù riêng khác với các hoạt động
giáo dục khác, nội dung giáo dục không chỉ diễn ra trong mơn học mà cịn thơng qua
một số hoạt động khác (hoạt động ngoài giờ lên lớp, câu lạc bộ,...) cho nên phải tính
đến cơ sở vật chất, kinh phí để thực hiện.
- Giáo viên quen với việc tập trung cung cấp kiến thức mà khơng hoặc ít quan
tâm giáo dục kĩ năng sống cho học sinh.
+ Về phía học sinh:
- Một bộ phận học sinh học tập thụ động, chủ yếu chỉ nghe và làm theo thầy cơ
giáo, ít sáng tạo, tính tự giác chưa cao, lười hoạt động.
- Học sinh chỉ chú trọng học kiến thức, khả năng ứng phó với các tình huống
trong cuộc sống kém, tính tự tin ít, tự ti nhiều, thường nóng nảy, gây gổ lẫn nhau.
- Kỹ năng giao tiếp hạn chế, vẫn cịn hiện tượng nói tục, chửi bậy ở một số học
sinh.
- Học sinh lớp 4 là lứa tuổi còn nhỏ nên các em vẫn chưa ý thức được việc học
và rèn luyện. Nhiều em được gia đình bao bọc q cẩn thận hoặc khơng được gia đình
quan tâm nên khơng biết làm việc gì, dù là việc nhỏ nhất.
+ Về phía gia đình học sinh:
- Ngun nhân khiến một số học sinh khó tiếp cận được các hoạt động kỹ năng
thực hành xã hội là do phụ huynh không cho phép. Một số phụ huynh cho rằng con
em mình chỉ cần học giỏi kiến thức. Có phụ huynh nóng vội trong việc dạy con; họ
chỉ chú trọng đến việc dạy con mình biết kiến thức mà khơng cần quan tâm đến việc
con học được kĩ năng sống nào khi đến trường.
- Phụ huynh học sinh chỉ khuyến khích các con tìm tịi kiến thức mà qn

hướng cho con em mình làm tốt hoạt động đồn thể, hoạt động xã hội và cách ứng xử
trong gia đình.
- Một bộ phận phụ huynh giao tiếp trong gia đình vẫn cịn hạn chế, xưng hô
chưa chuẩn mực nên các em bắt chước xưng hơ chưa đúng.
- Có những phụ huynh chiều chuộng con cái khiến trẻ khơng có kĩ năng tự phục
vụ, phụ huynh chỉ chú ý đến khâu chăm con ăn uống mà khơng chú ý đến dạy con
mình cần ăn, uống như thế nào, sử dụng những đồ dùng, vật dụng trong ăn uống thế
5


nào cho đúng? Và vì sao chúng ta cần những đồ dùng, vật dụng đó? Những đồ dùng
đó để làm gì?....
6.1.2. Các giải pháp
6.1.2.1. Giáo viên nhận thức sâu sắc về sự cần thiết của việc giáo dục kĩ năng
sống cho học sinh
Lứa tuổi học sinh nói chung và học sinh lớp 4 nói riêng là lứa tuổi đang hình
thành những giá trị nhân cách, giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tịi, khám phá,
song cịn thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lơi kéo, kích
động…nếu khơng được học kĩ năng sống, các em dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu
cực, bạo lực, và lối sống ích kỉ, lai căng, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân
cách. Do đó việc rèn kĩ năng sống cho học sinh ở lứa tuổi này là vơ cùng cần thiết. Nó
cần được chú trọng ngang với việc dạy kiến thức.
Hiện nay, do áp lực công việc của giáo viên quá nhiều, nào là hồ sơ giáo án,
nào là dự giờ kiểm tra, nào là các phong trào thi đua… chiếm nhiều thời gian, cơng
việc q lớn. Nhưng chúng ta khơng vì áp lực công việc mà không quan tâm giáo dục
chuẩn mực đạo đức hay những kĩ năng cần thiết cho học sinh, vì điều đó sẽ ảnh hưởng
khơng nhỏ đến các em… Nhận thức được điều đó bản thân tơi khơng chỉ lo dạy kiến
thức mà cịn rất quan tâm đến việc giáo dục kỹ năng sống cho các em.
6.1.2.2. Bồi dưỡng kỹ năng sống cho giáo viên
Trong tư tưởng của một số giáo viên, phụ huynh chỉ chú trọng đến việc dạy

kiến thức, việc rèn kĩ năng sống cho học sinh còn chiếu lệ, giáo viên chưa nhận thức
được tầm quan trọng của việc rèn kĩ năng sống cho học sinh lớp mình đang dạy chỉ
ln chú trọng đến việc đọc tốt, làm Toán tốt, làm Tiếng Việt tốt…
Tuy nhiên nếu nói rằng thầy cơ giáo khơng quan tâm đến việc dạy rèn kĩ năng
sống là không đúng, nhưng việc rèn kĩ năng sống ở đây là rất hạn chế nhất là việc
lồng ghép vào tất cả các môn học cũng như lồng ghép vào các hoạt động ngoại khóa
giáo viên cịn mơ hồ về việc rèn kĩ năng sống cho học sinh.
Trong thực tế bản thân giáo viên cũng khơng có đủ kỹ năng giảng dạy, kỹ năng
sống để thay đổi nhận thức, hành vi của học sinh theo hướng tích cực.
Do đó, được trang bị kiến thức về kỹ năng sống là điều rất cần thiết đối với các
giáo viên để giáo viên trực tiếp truyền tải đến học sinh nhằm giúp các em có những
hành động tích cực thay vì giải quyết vấn đề trong cuộc sống hằng ngày.
Bồi dưỡng giáo viên nhằm giúp giáo viên phân tích được một số nội dung kỹ
năng sống cho học sinh tiểu học; giải thích được các nguyên tắc dạy học tích cực
trong giảng dạy kỹ năng sống; bước đầu hình thành được các kỹ năng cơ bản để tiến
hành giờ dạy kỹ năng sống cho học sinh như kỹ năng tổ chức trò chơi, kỹ năng tạo
động lực, điều khiển nhóm, kỹ năng giao tiếp, thuyết trình, kỹ năng đánh giá và khích
6


lệ học sinh… Người giáo viên cần có kĩ năng tự học, tự nghiên cứu, kĩ năng sử dụng
công nghệ thông tin, kĩ năng hợp tác trong dạy học,…
Việc bồi dưỡng được xem là một nhu cầu tự thân của mỗi giáo viên, được diễn
ra thường xuyên liên tục trong suốt cả q trình cơng tác của mỗi người.
Tham gia các buổi bồi dưỡng cho giáo viên qua các chuyên đề, sinh hoạt tổ
nhóm và trong những buổi ngoại khóa tổ chức cho học sinh ngoài giờ trên lớp để
nâng cao trình độ chun mơn, nâng cao nghiệp vụ sư phạm cũng chính là nâng cao
kỹ năng sống của giáo viên.
Hơn nữa, thầy cô giáo phải luôn là tấm gương về cách ứng xử văn hóa, chuẩn
mực trong lời nói và việc làm. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh sẽ khơng thành

cơng nếu như chính thầy cơ khơng phải là một tấm gương sáng cho học sinh noi theo.
6.1.2.3. Giáo viên nắm vững các nguyên tắc giáo dục và các kỹ năng cơ bản
cần rèn luyện cho học sinh
+) Để việc giáo dục kĩ năng sống đạt hiệu quả, tôi đã nghiên cứu kĩ các nguyên
tắc sau:
- Nguyên tắc Tương tác
Kĩ năng sống khơng thể được hình thành chỉ qua việc nghe giảng và tự đọc tài
liệu mà phải thông qua các hoạt động tương tác với người khác. Việc nghe giảng và tự
đọc tài liệu chỉ giúp học sinh thay đổi nhận thức về một vấn đề nào đó. Nhiều kĩ năng
sống được hình thành trong q trình học sinh tương tác với bạn cùng học và những
người xung quanh (kĩ năng thương lượng, kĩ năng giải quyết vấn đề...), thông qua
hoạt động xã hội trong nhà trường. Trong khi tham gia các hoạt động có tính tương
tác, học sinh có dịp thể hiện các ý tưởng của mình, xem xét ý tưởng của người khác,
được đánh giá và xem xét lại những kinh nghiệm sống của mình trước đây theo một
cách nhìn nhận khác. Vì vậy, việc tổ chức các hoạt động có tính tương tác cao trong
nhà trường tạo cơ hội quan trọng để giáo dục kĩ năng sống hiệu quả.
- Nguyên tắc Trải nghiệm
Kĩ năng sống chỉ được hình thành khi người học được trải nghiệm qua các tình
huống thực tế. Học sinh chỉ có các kĩ năng khi các em tự làm việc đó, chứ khơng chỉ
nói về việc đó. Kinh nghiệm có được khi học sinh được hành động trong các tình

7


huống đa dạng giúp các em dễ dàng sử dụng và điều chỉnh các kĩ năng phù hợp với
điều kiện thực tế.
Giáo viên cần thiết kế và tổ chức thực hiện các hoạt động trong và ngoài giờ
học sao cho học sinh có cơ hội thể hiện ý tưởng cá nhân, tự trải nghiệm và biết phân
tích kinh nghiệm sống của chính mình và người khác.
- Ngun tắc Tiến trình

Giáo dục kĩ năng sống khơng thể hình thành trong "ngày một, ngày hai" mà địi
hỏi phải có cả q trình: nhận thức – hình thành thái độ - thay đổi hành vi. Đây là một
quá trình mà mỗi yếu tố có thể là khởi đầu của một chu trình mới. Do đó nhà giáo dục
có thể tác động lên bất kỳ mắt xích nào trong chu trình trên: thay đổi thái độ dẫn đến
mong muốn thay đổi nhận thức và hành vi hoặc hành vi thay đổi tạo nên sự thay đổi
nhận thức và thái độ.
- Nguyên tắc Thay đổi hành vi
Mục đích của giáo dục kĩ năng sống là giúp người học thay đổi hành vi theo
hướng tích cực, có kĩ năng hành động, thể hiện thái độ và lựa chọn giá trị của cá nhân
qua các hành động. Giáo dục kĩ năng sống thúc đẩy người học thay đổi hay định
hướng lại các giá trị, thái độ và hành động của mình. Thay đổi hành vi thái độ và giá
trị ở từng con người là một quá trình khó khăn. Có thời điểm người học lại quay trở
lại những thái độ, hành vi hoặc giá trị trước. Do đó, giáo viên cần kiên trì chờ đợi và
tổ chức các hoạt động liên tục để học sinh duy trì hành vi mới và hình thành thói quen
mới; tạo động lực cho học sinh điều chỉnh hoặc thay đổi giá trị, thái độ và những hành
vi trước đây, thích nghi hoặc chấp nhận các giá trị, thái độ và hành vi mới.
- Nguyên tắc Thời gian – môi trường giáo dục
Giáo dục kĩ năng sống cần thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc và thực hiện càng sớm
càng tốt. Môi trường giáo dục cần được tổ chức nhằm tạo cơ hội cho học sinh áp dụng
kiến thức và kĩ năng vào các tình huống "thực" trong cuộc sống.
Giáo dục được thực hiện trong gia đình, trong nhà trường và cộng đồng. Người
tổ chức giáo dục kĩ năng sống có thể là bố mẹ, là thầy cô giáo, là bạn cùng học hay
các thành viên trong cộng đồng. Trong nhà trường phổ thông, giáo dục kĩ năng sống
được thực hiện trong các giờ học, trong các hoạt động lao động, hoạt động đoàn thể xã hội, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và các hoạt động giáo dục khác.
8


+) Các kĩ năng cần rèn luyện cho học sinh:
* Kỹ năng tự phục vụ
Giáo dục cho các em từ những việc nhỏ nhất như: Biết làm một số công việc

nhỏ phù hợp với độ tuổi của các em như vệ sinh cá nhân, đánh răng, rửa mặt, tắm rửa
hàng ngày, vệ sinh xong phải rửa tay, trước khi ăn cơm phải rửa tay. Ngoài ra các em
biết quét nhà, quét lớp, rửa ấm chén, như mắc màn trước khi đi ngủ, gấp chăn màn
gọn gàng vào buổi sáng, mỗi ngày, chăm sóc cây xanh, thân thiện với mơi trường,
hay vui chơi giải trí giảm căng thẳng.
* Kỹ năng giao tiếp
Kỹ năng giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình thức
nói, viết hoặc sử dụng ngơn ngữ có thể một cách phù hợp với hồn cảnh và văn hóa,
đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất đồng quan
điểm. Bày tỏ ý kiến bao gồm bày tỏ về suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu, mong muốn và
cảm xúc, đồng thời giáo dục cho các em biết đánh giá tình huống giao tiếp và điều
chỉnh cách giao tiếp một cách phù hợp, hiệu quả; cởi mở bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc
nhưng không làm hại hay gây tổn thương cho người khác, giúp các em có mối quan
hệ tích cực với người khác, bao gồm biết gìn giữ mối quan hệ tích cực với các thành
viên trong trong lớp, khác lớp nơi sinh sống là nguồn hỗ trợ quan trọng cho các em;
đồng thời biết cách xây dựng mối quan hệ với bạn là yếu tố rất quan trọng đối với
niềm vui trong cuộc sống.
* Kỹ năng quản lý thời gian
Giúp các em quản lý thời gian là khả năng các em biết sắp xếp các công việc
theo thời khoá biểu, biết tập trung vào giải quyết công việc trọng tâm trong một thời
gian nhất định. Giờ ăn, giờ học, giờ làm, giờ chơi một cách hợp lí. Kỹ năng này rất
cần thiết cho việc giải quyết vấn đề, lập kế hoạch, đặt mục tiêu và đạt được mục tiêu
đó; đồng thời giúp các em tránh được căng thẳng do áp lực trong việc học và việc
làm.
Quản lý thời gian là một trong những kỹ năng quan trọng làm chủ bản thân, góp
phần rất quan trọng vào sự thành công của cá nhân.
* Kỹ năng thể hiện sự tự tin
Các em biết tự tin vào bản thân, hài lịng với bản thân; tin rằng mình có thể trở
thành một người có ích và tích cực, có niềm tin về tương lai, cảm thấy có nghị lực để
hồn thành các nhiệm vụ. Sự tự tin giúp các em giao tiếp hiệu quả hơn, mạnh dạn bày

tỏ suy nghĩ và ý kiến của mình, quyết đốn trong việc ra quyết định và giải quyết vấn
đề, thể hiện sự kiên định, đồng thời cũng giúp các em có suy nghĩ tích cực và lạc quan
trong cuộc sống, là yếu tố cần thiết trong giao tiếp.
* Kỹ năng giải quyết vấn đề
Kỹ năng giải quyết vấn đề là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn
phương án tối ưu và hành động theo phương án đã chọn, để giải quyết vấn đề hoặc
tình huống gặp phải trong tập và trong cuộc sống. Để giải quyết vấn đề có hiệu quả,
9


các em cần nhiều kỹ năng sống khác: Giao tiếp, xác định giá trị, tư duy phê phán, tư
duy sáng tạo, tìm kiếm sự hỗ trợ.
Nỗ lực phát huy năng lực, sở trường của bản thân để hoàn thành tốt nhiệm vụ đã
được phân cơng.
Có trách nhiệm về những thành cơng hay thất bại, về những sản phẩm do mình
tạo ra.
* Kỹ năng hợp tác
Hợp tác là cùng chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong học tập,
trong cơng việc, một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung, các em biết chia sẻ trách
nhiệm, biết cam kết và cùng làm việc có hiệu quả với những thành viên trong lớp,
trong giờ học nhóm, hoặc những nơi khác. Sự hợp tác trong học tập hay trong công
việc các em điều biết giúp đỡ cho nhau hỗ trợ cho nhau, bổ sung cho nhau, tạo nên
sức mạnh trí tuệ, tinh thần và thể chất, vượt qua khó khăn, đem lại chất lượng và hiệu
quả cao hơn trong học tập, trong công việc chung.
Biết bày tỏ ý kiến, tham gia xây dựng kế hoạch hoạt động của bản thân. Đồng
thời biết lắng nghe, tôn trọng, xem xét các ý kiến, quan điểm của mọi người.
Đồng thời biết hỗ trợ, giúp đỡ mọi người khác trong quá trình hoạt động.
Biết cùng chia sẻ đồng cam cộng khổ vượt qua những khó khăn, vướng mắc để
hồn thành mục đích, mục tiêu hoạt động chung.
* Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ

Trong cuộc sống, nhiều khi các em gặp những vấn đề, tình huống phải cần đến
sự hỗ trợ, giúp đỡ của những người khác mà nếu các em khơng tự tìm kiếm sự hỗ trợ
thì người khác khó có thể biết để giúp đỡ, chia sẻ các em có thể nhận được những lời
khuyên, sự can thiệp cần thiết để tháo gỡ, giải quyết những vấn đề, tình huống của
mình; đồng thời là cơ hội để các em chia sẻ, giải bày khó khăn, giảm bớt được căng
thẳng tâm lý do bị dồn nén cảm xúc. Biết tìm kiếm sự giúp đỡ kịp thời sẽ giúp các em
không cảm thấy đơn độc, bi quan. Trong nhiều trường hợp, giúp các em có cách nhìn
mới và hướng đi mới.
6.1.2.4. Làm tốt cơng tác chủ nhiệm lớp
Là một giáo viên chủ nhiệm lại trực tiếp đứng lớp nên ngay từ đầu năm học tôi
đã thành lập đội tự quản của lớp, cùng với học sinh xây dựng nội quy lớp học. Trong
năm học, các em được luân phiên nhau là lớp trưởng, tổ trưởng. Tôi thường xuyên
nhắc nhở để đội tự quản phát huy vai trị của mình.
Xây dựng các nhóm bạn cùng tiến: nhóm bạn giúp nhau học tập, nhóm bạn An
tồn giao thơng,... trong qua trình hoạt động của các nhóm, học sinh được rèn kỹ năng
hợp tác, chia sẻ, biết đối xử, ứng xử với bạn hài hoà phù hợp,...
Rèn kỹ năng cho học sinh kết hợp với rèn học sinh thực hiện các nề nếp hàng
ngày: Ví dụ: Yêu cầu đi học đúng giờ, đi học đầy đủ: buộc học sinh phải có thói quen
dậy sớm, có tác phong nhanh nhẹn, đi học đầy đủ dù là trời mưa hay trời nắng nếu
như chưa có sự cho phép của người lớn (rèn kỹ năng khắc phục khó khăn để đạt mục
10


tiêu); Yêu cầu xếp hàng ra vào lớp thẳng hàng, ngay ngắn, không xô đẩy nhau trong
hàng (rèn cho học sinh kỹ năng kiềm chế bản thân, kỹ năng vận động, gây ảnh
hưởng); Yêu cầu học sinh đến lớp phải có đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập (rèn cho
học sinh kỹ năng tự kiểm tra, xây dựng kế hoạch).
Tôi thường xuyên trao đổi về kết quả rèn luyện của học sinh với cha mẹ học
sinh. Phối kết hợp với gia đình học sinh, Hội cha mẹ học sinh: liên lạc trao đổi thông
tin về sự tiến bộ của học sinh, có thể được tư vấn thêm về cách rèn luyện, giáo dục

trẻ, tạo sự thống nhất giữa gia đình - nhà trường trong cách giáo dục trẻ.
Mặc dù tôi không phụ trách việc bán trú, không trực tiếp quản việc ăn ngủ của
học sinh nhưng tôi vẫn thường xuyên phối hợp với giáo viên phụ trách bán trú của lớp
để rèn luyện một số kĩ năng cho học sinh như: Ăn, ngủ đúng giờ giấc; Vệ sinh lớp học
sạch sẽ sau khi ăn; Gấp chăn, xếp gối gọn gàng sau khi ngủ dậy; Chấp hành những
quy định trong khi ăn và khi ngủ;…
6.1.2.5. Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh rất cần sự chung tay, chung sức
của tất cả gia đình phụ huynh, nhà trường và các tổ chức xã hội.
- Ban giám hiệu nhà trường đã chỉ đạo giáo viên luôn đổi mới phương pháp dạy
học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh. Sử dụng các phương pháp và kĩ
thuật dạy học tích cực để tạo điều kiện, cơ hội cho học sinh được thực hành, trải
nghiệm kỹ năng sống trong quá trình học tập. Thực hiện lồng ghép, tích hợp giáo dục
đạo đức, giáo dục ngoài giờ lên lớp, giáo dục hướng nghiệp, giáo dục giá trị sống,
giáo dục kỹ năng sống trong các môn học và các hoạt động giáo dục.
- Giáo viên chủ nhiệm luôn quan tâm gần gũi đối với các em học sinh là người
cha, người mẹ thứ hai của các em để hiểu được tâm tư nguyện vọng của các em, phối
hợp chặt chẽ với gia đình học sinh, làm cho họ nhận thức được tầm quan trọng và
cùng với nhà trường giáo dục và rèn luyện cho con em về kỹ năng sống.
- Nhà trường phối kết hợp các tổ chức, đoàn thể để thực hiện rèn kỹ năng sống
cho học sinh. Cơng đồn tham gia trong tổ tư vấn của nhà trường giúp trẻ biết tháo gỡ
vướng mắc, xử lý một số tình huống mà trẻ khó tự mình giải quyết đúng đắn. Đồn
thanh niên thường xuyên tổ chức các hoạt động tập thể vui chơi lành mạnh, bổ ích để
trẻ được thực hành rèn kỹ năng sống. Các giáo viên thường xuyên lồng ghép rèn kỹ
năng sống cho học sinh trong các giờ học. Các đồn thể của xã, thơn cũng phải tìm
hiểu và tham gia tư vấn cho các gia đình về kiến thức pháp luật, kiến thức khoa học,
kinh nghiệm thực tế “nuôi con khoẻ, dạy con ngoan”, tạo cho trẻ một mơi trường lành
mạnh, an tồn; cách dạy cho trẻ một số kiến thức để trẻ biết tự bảo vệ mình (Ví dụ:
cách từ chối, tránh xa các tệ nạn xã hội,...)
- Đối với tổ chức Đội: Gắn việc rèn luyện kỹ năng sống với những nội dung cụ
thể của Phong trào thi đua xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực như:

trang trí phịng học, chăm sóc cây xanh,...Tổ chức các hội thi văn nghệ nhân các ngày
lễ lớn trong năm như: Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, ngày Thành lập Đoàn 26/3,...
11


6.1.2.6. Thực hiện dạy tích hợp các nội dung kĩ năng sống trong khi dạy các
môn học (Tiếng Việt, Đạo đức, Tự nhiên và xã hội,...)
Để có hiệu quả cao, tôi thực hiện tốt các biện pháp sau đây:
- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính độc lập, sáng tạo của
học sinh gắn với thực tiễn, có tài liệu bổ trợ phong phú, sử dụng thiết bị dạy học và
ứng dụng trong dạy học, luôn tạo cho các em tính chủ động, tích cực, hứng thú trong
học tập; phát huy tính sáng tạo, tạo được bầu khơng khí cởi mở thân thiện của lớp.
Trong giờ học, tơi tạo cơ hội cho các em được nói, được trình bày trước nhóm bạn,
trước tập thể, nhất là các em còn hay rụt rè, khả năng giao tiếp kém qua đó góp phần
tích lũy kỹ năng sống cho các em.
- Nghiên cứu kĩ và áp dụng những kĩ thuật dạy học tích cực một cách phù hợp
để đạt hiệu quả cao. Các kĩ thuật tôi thường áp dụng như: kĩ thuật chia nhóm, kĩ thuật
giao nhiệm vụ, kĩ thuật đặt câu hỏi, kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật sơ đồ tư duy,...
- Thông qua môn Đạo đức, kiến thức được hình thành trên cơ sở từ việc quan
sát tranh, từ một truyện kể, một việc làm, một hành vi, chuẩn mực nào đó, sau đó rút
ra bài học. Từ bài học đó các em liên hệ thực tế xung quanh, bản thân, gia đình và xã
hội và mơi trường tự nhiên. Chỉ khác hơn là giáo viên cố gắng trong phạm vi có thể
khi soạn và giảng từng phần của bài học phải tạo một điểm nhấn cụ thể, rõ ràng, nhằm
khắc sâu những kĩ năng sống đã có sẵn trong từng bài học và những kĩ năng sống
chúng ta lồng ghép trong quá trình soạn – giảng.
6.1.2.7. Tổ chức các buổi trải nhiệm sáng tạo, hoạt động ngoài giờ lên lớp.
- Nhà trường tổ chức tốt các buổi chào cờ đầu tuần. Theo đó mục tiêu buổi chào
cờ không chỉ là đánh giá xếp loại nền nếp, học tập, các hoạt động giáo dục trong tuần
qua của giáo viên trực, triển khai kế hoạch tuần tới của Ban giám hiệu nhà trường đã
thay đổi hình thức buổi lễ chào cờ một cách sáng tạo, rèn luyện các kỹ năng cho học

sinh. Chẳng hạn như để các em được thay mặt lớp trực đánh giá, nhận xét thêm phần
giao lưu với toàn trường qua các tiết mục văn nghệ, kể chuyện, câu đố, trị chơi… do
chính các em đứng ra tổ chức dưới sự giúp đỡ và hướng dẫn của giáo viên chủ nhiệm.
Nhà trường đã tổ chức các hoạt động như diễn đàn “Văn hóa ứng xử trong học
đường”, “Phòng, chống bạo lực học đường”, “Một số kỹ năng cần thiết”... Vào kỳ
nghỉ hè, nhà trường và tổ chức Đội kết hợp với địa phương tổ chức các em sinh hoạt
hè, tổ chức hoạt động cung cấp kiến thức và kỹ năng giữ môi trường xanh – sạch –
đẹp, thân thiện với thiên nhiên, với môi trường xung quanh, quét dọn đường làng ngõ
xóm, các khu di tích để tử đó các em hình thành được thói quen biết bảo vệ môi
trường sống của trái đất của con người. Qua đó, học sinh khơng chỉ có kiến thức văn
hóa từ sách vở mà cịn có kỹ năng sống, thiết thực phục vụ trong cuộc sống hàng
ngày.
- Tổ chức cho học sinh các hoạt động lao động vừa sức với học sinh: vệ sinh sân
trường, lớp học, trồng chăm sóc cây trên sân trường, bồn hoa, vườn trường; học sinh
12


được rèn một số kỹ năng như: cầm chổi quét, hót rác, tưới cây, tỉa lá,...; thơng qua đó
học sinh biết sử dụng có hiệu quả đồ dùng lao động.
- Tổ chức tốt hoạt động ngoại khóa ở phạm vi khối lớp của mình. Mỗi năm học
sẽ có một số chủ đề rèn luyện kỹ năng sống được triển khai. Trong đó nhà trường cần
phát huy vai trị của tổ chức Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh và Sao nhi đồng
theo các chủ điểm hàng tháng. Tổ chức các trò chơi dân gian, hát dân ca và các loại
hình sinh hoạt văn hóa dân gian vào trường học, qua đó mà rèn luyện kỹ năng sống
cho học sinh.
- Trong số các hoạt động thực tiễn, không thể không đề cập đến các hoạt động
trải nghiệm sáng tạo. Qua những hoạt động này, các kĩ năng dần được hình thành một
cách tự nhiên. Mỗi tháng giáo viên cùng với nhà trường tổ chức hoạt động cho các em
theo chủ đề.
- Ở lớp 4, các em được tham gia cuộc thi vẽ tranh theo chủ đề “Nét đẹp quê

em”. Qua đây giáo dục các em thêm yêu quê hương đất nước.
- Các chủ đề khác như: Tôi rất tuyệt (khám phá khả năng của bản thân); Em
thực hiện thời gian biểu; Ngơi trường mến u của em; Tìm hiểu món ăn truyền thống
của Việt Nam và các nước; Giúp mẹ việc nhà; Tiết kiệm chi tiêu; …
6.1.2.8. Trang trí “Lớp học thân thiện”
Trong những năm qua Bộ GD&ĐT đã phát động phong trào thi đua “Xây dựng
trường học thân thiện - học sinh tích cực” rộng khắp trên cả nước. Ở trong mơi trường
đó các em được học tập và sinh hoạt trong một bầu khơng khí thân thiện, gần gũi như
gia đình, điều đó góp phần giúp các em hứng thú trong học tập và đem lại hiệu quả
cao trong giáo dục. Nơi đó trường học, lớp học được các em coi như ngôi nhà chung,
ngôi nhà thứ hai của mình và các em thấy được mỗi ngày đến trường, đến lớp là một
ngày vui, bản thân các em thêm u trường, u lớp, gắn bó với ngơi nhà chung đó.
Lớp học thân thiện gắn bó chặt chẽ với việc phát huy tính tích cực của học sinh, tăng
cường giáo dục các kĩ năng sống cho các em. Trong mơi trường phát triển tồn diện
đó, học sinh hứng thú học tập, biết rèn luyện kĩ năng và phương pháp học tập, trong
đó đặc biệt là phát huy khả năng tự tìm hiểu, khám phá, tư duy sáng tạo… Chính vì
vậy để giáo dục, rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh thành công tôi luôn quan tâm
đến việc trang trí “Lớp học thân thiện”. Đưa cây xanh vào lớp học. Theo tơi, lớp học
thân thiện phải có cây xanh, bởi lẻ một lớp học xanh mát, ngập tràn sắc màu thiên
nhiên, sẽ giúp các em có một tâm trạng vui tươi nhẹ nhàng với mỗi ngày đến lớp.
Nhìn ở phương diện khoa học: cây cỏ lá hoa được ví như lá phổi thanh lọc những khí
chất độc hại cho cơ thể. Ở góc độ đời sống tinh thần, màu xanh thiên nhiên có tác
dụng giúp tâm hồn thư giản, sảng khối. Qua đó giáo dục các em tinh thần bảo vệ mơi
trường sống quanh mình.
6.1.2.9. Tổ chức tiết sinh hoạt lớp hiệu quả.

13


Trước kia các tiết sinh hoạt lớp của giáo viên chúng ta rất nhàm chán, chúng ta

thường biến tiết sinh hoạt lớp thành một màn tra tấn, mà ở đó giáo viên chúng ta vì áp
lực thi đua mà biến tiết sinh hoạt lớp thành một buổi luận tội học sinh, từ đó đưa ra
các hình phạt để học sinh khơng tái phạm, theo tơi đó là một sai lầm.
Hãy biến tiết sinh hoạt lớp thành một diễn đàn mà ở đó là nơi chia sẻ những
yêu thương, những buồn vui, và hỗ trợ nhau giải quyết những khó khăn của học sinh.
Giáo viên chủ nhiệm phải biết lắng nghe những phản biện của học sinh, phải để
cho các em quyền dân chủ, được nói lên tiếng nói của mình, khơng áp đặt các khn
mẫu của mình rồi bắt học sinh làm theo vì như vậy sẽ làm cho các em mất dần khả
năng sáng tạo, thiếu tự tin trong công việc sau này.
Công bằng với mọi học sinh trong lớp, thực tế tâm lý một số giáo viên thường
cảm tính vì những lý do nào đó mà ta ưu ái một số học sinh nào đó mà vơ tình làm tổn
thương các em học sinh khác trong lớp, điều đó vơ tình đã hằn sâu vào trong kí ức các
em sự thiếu công bằng trong xã hội, sự thiếu tự tin, mặc cảm dẫn đến các em thường
tự ti và sống khép kín, điều đó có tác hại lớn về hình thành nhân cách của các em sau
này.
* Tóm lại:
Giáo dục kỹ năng sống là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, xây
dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ
sở giúp học sinh có thái độ, kiến thức, kỹ năng, giá trị cá nhân thích hợp với thực tế
xã hội. Mục tiêu cơ bản của giáo dục kỹ năng sống là làm thay đổi hành vi của học
sinh, chuyển từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, dẫn đến hậu quả tiêu cực thành
những hành vi mang tính xây dựng tích cực và có hiệu quả để nâng cao chất lượng
cuộc sống cá nhân và góp phần phát triển xã hội bền vững.
Giáo dục kỹ năng sống còn mang ý nghĩa tạo nền tảng tinh thần để học sinh đối
mặt với các vấn đề từ hồn cảnh, mơi trường sống cũng như phương pháp hiệu quả để
giải quyết các vấn đề đó.
Khi tham gia vào bất kì hoạt động nghề nghiệp nào phục vụ cho cuộc sống đều
đòi hỏi các em phải thoả mãn những kỹ năng tương ứng.
Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh là giúp các em rèn luyện kỹ năng ứng xử
thân thiện trong mọi tình huống; có thói quen và kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ

năng hoạt động xã hội; Giáo dục cho học sinh thói quen rèn luyện sức khoẻ, ý thức
bảo vệ bản thân, phòng ngừa tai nạn giao thông, đuối nước và các tệ nạn xã hội.
Đối với học sinh tiểu học việc hình thành các kỹ năng cơ bản trong học tập và
sinh hoạt là vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển
nhân cách sau này. Kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, múa, hát, đi, đứng, chạy, nhảy… kỹ
năng tư duy logic, sáng tạo, suy nghĩ nhiều chiều, phân tích, tổng hợp, so sánh, nêu
khái niệm, đặt câu hỏi…
Trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị thái độ và kỹ năng phù hợp, trên
cơ sở đó hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực, loại
14


bỏ những hành vi thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt
động hàng ngày.
Tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và phát
triển tồn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức.
Để việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh đạt hiệu quả, cần phải thay đổi tư
duy, tiếp đó là tiến hành nhiều giải pháp đồng bộ. Giáo dục kỹ năng sống, theo cách
hiểu hiện này là giáo dục những cách ứng phó với những thử thách như: Tai nạn, điện
giật, bị ngộ độc, động vật cắn, bị xâm hại tình dục, phòng chống các tệ nạn xã hội…
đây mới chỉ là mục đích trước mắt. Mục đích quan trọng nhất, lâu dài đó là hình thành
nhân cách cho học sinh, trong đó quan trọng nhất là giáo dục tình thân ái và các ứng
xử văn hoá.
6.2. Khả năng áp dụng của sáng kiến
Sáng kiến bước đầu được áp dụng ở 4A trường Tiểu học Hồng Lâu mà tơi
đang trực tiếp giảng dạy và đã thu được kết quả rất tốt:
Theo đó, bằng trách nhiệm, bằng kinh nghiệm và vốn sống của mình, tơi cần
từng bước một giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua từng bài dạy, thông qua
các hoạt động ở trường, ở lớp.
Qua giáo dục hàng ngày trên lớp hoặc thông qua các tiết dạy tôi thấy các em đã

biết và làm quen được một số kỹ năng làm việc theo nhóm: biết cách phân cơng công
việc, lắng nghe ý kiến người khác, tranh luận, biết chấp nhận đúng sai, thống nhất ý
kiến, thực hiện đúng ý kiến đã thống nhất. Các em biết làm việc trong tập thể. Ở môn
thủ công, các em biết làm một số việc như: bọc vở, gấp cắt dán một số con vật, đồ
chơi, cắt và trang trí các chữ đơn giản, đan một số đồ chơi đơn giản. Ngoài ra, các em
còn biết thêm một số việc khác nữa như: nấu cơm, rửa chén bát, li cốc, luộc rau, quét
nhà, quét lớp, chăm sóc cây và biết tránh những việc làm xấu như nói khơng với thuốc
lá, ma túy, rượu… dứt khốt với những lời dụ dỗ, lơi kéo vào những thói hư tật xấu. Ở
mơn đạo đức, qua các bài học tôi đã lồng ghép thêm giáo dục các em biết chào hỏi lễ
phép, kính trọng ơng bà, cha mẹ, anh chị em, thầy cô giáo, biết chia sẻ yêu thương,
giúp đỡ hàng xóm láng giềng, giúp đỡ người già, em nhỏ, bạn bè, và những người có
cơng lao to lớn, huy sinh gian khổ bảo vệ quê hương đất nước như các anh hùng
thương binh - liệt sĩ, những người lao động nghèo khổ. Các em còn biết tơn trọng
khách nước ngồi, tơn trọng thư từ và tài sản của người khác, các em biết cần tôn
trọng đám tang vì như thế là thể hiện nếp sống văn hoá. Hầu hết các em đã biết tiết
kiệm và bảo vệ nguồn nước, biết chăm sóc cây trồng và vật ni. Đặc biệt hơn là các
em cịn biết tự giác làm lấy các cơng việc của mình mà khơng ỷ lại vào người khác.
Bằng những hành vi, thái độ, việc làm nho nhỏ hằng ngày, biết xác định các
giá trị hành vi đạo đức. Ở môn tự nhiên xã hội, các em đã biết yêu thiên nhiên, gần
gũi với thiên nhiên, động vật, thực vật để từ đó các em biết giá trị của sống quan trọng
như thế nào để từ đó các em cảm nhận được bảo vệ môi trường là hết sức quan trọng
đối với cuộc sống của con người.
15


Trong sinh hoạt hằng ngày các em biết sử dụng đúng các quy tắc: ứng xử giao
tiếp với mọi người, biết thông cảm chia sẻ với mọi niềm vui, nỗi buồn với mọi người
xung quanh. Luôn luôn là một người mẫu mực, trung thực là niềm tự hào của cha mẹ.
Đối với trường: Tạo được uy tín cao hơn đối với lãnh đạo địa phương cũng như
đối với Cha mẹ học sinh, với các trường bạn trong huyện.

Phát huy được chủ trương xã hội hóa giáo dục: Các đồn thể, cha mẹ học sinh
đã hỗ trợ tích cực cùng chăm lo sự nghiệp giáo dục.
Với kết quả như vậy, sáng kiến này có thể triển khai rộng rãi tới tất cả các
trường Tiểu học trong tồn huyện.
7. Những thơng tin cần được bảo mật (nếu có): Khơng
8. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến
Để có thể áp dụng tốt sáng kiến này cần các điều kiện sau:
+ Cơ sở vật chất để tổ chức các hoạt động ngoại khoá.
+ Sự quan tâm, giúp đỡ và tạo điều kiện của Ban giám hiệu nhà trường, sự động
viên giúp đỡ của các giáo viên trong tổ và sự phối hợp chặt chẽ của gia đình học sinh.
9. Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả và
theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu
9.1. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến
theo ý kiến của tôi như sau:
Từ những cố gắng nghiên cứu tài liệu, kinh nghiệm của bản thân, sự đồng thuận
hợp tác của các bạn đồng nghiệp, sự ủng hộ tích cực của các bậc cha mẹ đã giúp tơi
đã áp dụng sáng kiến vào học sinh khối 4 cụ thể là lớp 4A và đạt được kết quả trong
việc dạy các kĩ năng sống cơ bản thể hiện ở các kết quả sau:
Kết quả cho thấy học sinh ngoan hơn, tự giác hơn, chủ động, mạnh dạn hơn tự
tin, ứng xử khá phù hợp trong mọi tình huống.
* Khảo sát lớp 4A, 4B năm học 2018-2019:
+ Nội dung khảo sát: Kĩ năng mạnh dạn tự tin
Khảo sát qua quan sát các hoạt động chào mừng Ngày Nhà giáo Việt Nam:

Lớp

Tổng số
HS

4B

4A

31
35

Mạnh dạn
tự tin
TS
%
11 35,4
32 91,4

Nhút nhát
dụt dè
TS
%
20
64,6
3
8,6

Ghi chú
Chưa áp dụng SKKN
Đã áp dụng SKKN

Qua so sánh một kĩ năng sống của học sinh 2 lớp cho thấy các biện pháp nêu
trên được áp dụng ở lớp 4A đã mang lại hiệu quả rõ rệt, số học sinh có kĩ năng mạnh
16



dạn tự tin nhiều hơn hẳn so với lớp 4B chưa áp dụng biện pháp trên.
+ Nội dung khảo sát: Kĩ năng hợp tác qua việc thảo luận nhóm.
Khảo sát qua quan sát học sinh thực hành thảo luận nhóm trong một số tiết Đạo đức.

Lớp TSHS

4B
4A

31
35

Thực hành thảo luận nhóm
Chưa biết cách lắng
Biết cách lắng nghe,
nghe, chưa biết hợp
hợp tác
Ghi chú
tác
TS
%
TS
%
17
54,8
14
45,2
Chưa áp dụng SKKN
30
85,7

5
14,3
Đã áp dụng SKKN

Qua so sánh kĩ năng hợp tác của học sinh 2 lớp cho thấy các biện pháp nêu trên
được áp dụng ở lớp 4A đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Số học sinh có kĩ năng hợp tác ở
lớp 4A nhiều hơn so với lớp 4B.
+ Khảo sát kĩ năng tự phục vụ:
Khảo sát qua quan sát học sinh trong các hoạt động hằng ngày và hoạt động trong giờ
ở bán trú:
Kĩ năng kĩ năng tự phục vụ
Biết cách ứng xử phù
Chưa biết cách
Lớp TSHS
hợp
ứng xử phù hợp
Ghi chú
TS
%
TS
%
4B
31
14
45,1
17
54,9
Chưa áp dụng SKKN
4A
35

32
91,4
3
8,6
Đã áp dụng SKKN
Số lượng HS biết tự làm các công việc phục vụ bản thân ở lớp 4A nhiều hơn hẳn
ở lớp 4B.
9.2. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến
theo ý kiến của tổ chuyên môn 4+5, cha mẹ học sinh:
Tổ chun mơn 4+5 của chúng tơi gồm có 11 đồng chí, trong đó có 8 đồng chí là
giáo viên văn hố trực tiếp làm cơng tác chủ nhiệm, 3 đồng chí dạy các mơn Tiếng
Anh, Âm nhạc và Mĩ thuật (trong đó có 1 đồng chí dạy Mĩ thuật, đồng thời phụ trách
công tác bán trú của lớp tôi).
Trong buổi sinh hoạt chuyên môn tuần 24 vừa rồi, tôi tiến hành lấy ý kiến đánh
giá của các đồng chí giáo viên trong tổ về kết quả q trình rèn luyện của học sinh lớp
tơi. Các đồng chí giáo viên lớp khác trong tổ đều cho rằng học sinh lớp tơi có sự tiến
bộ rõ rệt về các mặt so với đầu năm.
17


Cụ thể: Các em đều ngoan ngoãn hơn, biết chào hỏi lễ phép khi gặp thầy cô, biết
tự giác vệ sinh trong và ngoài lớp sạch sẽ, sắp xếp đồ dùng gọn gàng ngăn nắp hơn.
Mọi nề nếp được nhà trường quy định các em đều thực hiện tốt.
Còn các đồng chí giáo viên chuyên ngành trực tiếp giảng dạy ở lớp tôi đều nhận
xét các em tự giác hơn trong công việc, chăm học hơn. Đặc biệt là các em đều tự tin
hơn, biết giúp đỡ nhau nhiều hơn.
Khi được hỏi, cha mẹ các em đều cho rằng con mình biết nghe lời hơn, biết lắng
nghe, chia sẻ nhiều hơn; tích cực làm việc nhà giúp cha mẹ hơn….
Tơi nghĩ để đạt được những kết quả đáng mừng như vậy không chỉ nhờ vào nỗ
lực của bản thân mà còn nhờ vào sự giúp đỡ rất lớn của ban giám hiệu nhà trường, các

đoàn thể trong nhà trường, cha mẹ học sinh…
10. Danh sách những tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần
đầu
TT
Tên cá nhân
Địa chỉ
Phạm vi áp dụng
1

Lê Thị Hà

Trường Tiểu học Hoàng Lâu

Hoàng Lâu, ngày 04 tháng 3 năm 2019

Học sinh lớp 4A

Hoàng Lâu, ngày 05 tháng 3 năm 2019

Thủ trưởng đơn vị

Tác giả sáng kiến

Cù Thị Hạnh

Lê Thị Hà

18



TT

NỘI DUNG

TRANG

1

Lời giới thiệu

1

2

Tên sáng kiến

2

3

Tác giả sáng kiến - Chủ đầu tư sáng kiến

2

4

Lĩnh vực áp dụng sáng kiến

3


5

Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử

3

6

Mô tả bản chất sáng kiến

3

7

Những thông tin cần bảo mật

16

8

Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến

16

9

Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được
do áp dụng sáng kiến

16


10

Danh sách những tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng
thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu

18

19



×