Tải bản đầy đủ (.doc) (35 trang)

Tài liệu Đề tài " TÌM HIỂU LỐI VIẾT CÂU CỦA HỌC SINH LỚP 4 ĐỀ XUẤT CÁCH CHỮA MỘT SỐ LỖI VIẾT CÂU " doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (266.74 KB, 35 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
========***========

BÀI TẬP NGHIÊN CỨU NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM

Tên đề tài:

TÌM HIỂU LỐI VIẾT CÂU CỦA HỌC SINH LỚP 4
ĐỀ XUẤT CÁCH CHỮA MỘT SỐ LỖI VIẾT CÂU

Người

hướng dẫn

Người thực hiện
Lớp
Khoa

Dương Thu Hương
Giảng viên khoa GD tiểu học
: Trần Thị Thanh Hòa
:K
: Giáo dục tiểu học

Hà Nội năm 2008


MỤC LỤC

2




Phần mở đầu
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1. Mục tiêu giáo dục của nhà trường Việt Nam.
Là đào tạo những con người vừa có phẩm chất đạo đức tốt, vừa giỏi
về chun mơn. Chính vì vậy mà việc dạy và học là vấn đề vô cùng quan
trọng của nền giáo dục nước ta. Trong các môn học, môn Tiếng Việt là một
môn học bắt buộc chiếm dung lượng thời gian khá lớn trong chương trình
dạy học ở nhà trường Phổ Thơng. Bởi Tiếng Việt là phương tiện giao tiếp
chính thức của nước ta trong các lĩnh vực hoạt động giao tiếp về chính trị,
kinh tế, khoa học... Trường Phổ thơng là nơi đầu tiên đào tạo giáo dục
những công dân của nước Việt Nam mới nên có vai trị to lớn trong việc
giữ gìn và phát huy tiếng nói dân tộc. Vì vậy, trong nhà trường Phổ thơng,
mơn Tiếng Việt đảm nhận một nhiệm vụ quan trọng trong việc rèn luyện và
phát triển ngôn ngữ cũng như năng lực tư duy cho học sinh. Người làm
công tác giảng dạy bộ mơn này có nhiệm vụ giúp học sinh dần có ý thức,
có trình độ, có kỹ năng nói và viết đúng hướng, hướng tới nói và viết hay
Tiếng Việt.
2. Trong ba cấp phổ thông, cấp tiểu học là cấp học mang tính chất
nền tảng. Mơn Tiếng Việt dạy ở cấp này nhằm mục tiêu bước đầu dạy cho
học sinh những tri thức sơ giản cần thiết và trên cơ sở đó rèn luyện kỹ năng
ngơn ngữ: Nghe, nói, đọc, viết nhằm giúp học sinh sử dụng Tiếng Việt có
hiệu quả trong giao tiếp và suy nghĩ. Dạy học Tiếng Việt cịn nhằm phát
triển các năng lực trí tuệ và các năng lực hoạt động của học sinh, giúp các
em cảm nhận được cái hay, cái đẹp của ngôn từ Tiếng Việt và phần nào
cuộc sống xung quanh. Từ đó, các em vận dụng kiến thức tạo lập văn bản.
Để viết được một bài văn, học sinh phải sử dụng năng lực ngơn ngữ và
năng lực tư duy của mình. Năng lực đó có thể hiện trước hết ở việc các em


3


diễn đạt suy nghĩ của mình bằng các câu, hay liên kết các câu đó để bày tỏ
những điều mà mình suy nghĩ.
3. Về sách giáo khoa, chúng tơi nhận thấy các cách hiểu về câu được
đưa ra ở cấp lớp tiểu học tuy đã nói được một số điểm cơ bản của câu
nhưng vẫn chưa làm cho học sinh hiểu được đầy đủ những tiêu chuẩn cần
có của một câu. Hơn nữa, sách giáo khoa chỉ hướng tới việc rèn luyện kỹ
năng viết câu cho học sinh tiểu học bằng một con đường là tạo những cái
đúng mà chưa chú ý tới việc hướng dẫn các em phát hiện và sửa lỗi trong
câu. Vì vậy, việc dạy câu cho học sinh tiểu học chưa đạt kết quả như mong
muối. Số học sinh viết các câu sai còn rất nhiều.
Từ thực tiễn của việc dạy và học Tiếng Việt ở bậc tiểu học, từ mục
tiêu của việc dạy đối với cấp học này, là một giáo viên trực tiếp giảng dạy,
tơi đã có những suy nghĩ trăn trở làm sao để khắc phục tình trạng mắc lỗi
câu trong bài làm của học sinh tiểu học, đặc biệt là học sinh lớp 2, 3. Vì
vậy tơi mạnh dạn thực hiện đề tài: “Tìm hiểu lỗi viết câu của học sinh lớp
2, 3 - Đề xuất cách chữa một số lỗi viết câu”. Với đề tài này, tơi mong
muốn góp một phần nhỏ bé của mình cùng giáo viên và học sinh khắc phục
lỗi viết câu sai, từ đó giúp học sinh rèn được năng lực viết câu văn đúng và
tiến tới viết hay.
II. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU

1. Thực hiện đề tài này là một việc làm không đơn giản bởi thực tế
viết câu của học sinh tiểu học là một hiện tượng vô cùng đa dạng. Việc
thống kê, phân loại cho đầy đủ các dạng lỗi viết câu của học sinh, sau đó đề
xuất cách chữa cho phù hợp cho mỗi loại lỗi là một việc đòi hỏi rất nhiều
thhời gian và cơng sức. Do đó, mục đích nghiên cứu trước tiên của tôi chỉ

là nêu lên một số ý kiến chủ quan của mình để bạn bè đồng nghiệp tham
khảo, đóng góp ý kiến từ đó hồn thiện hơn về phương pháp giảng dạy cho
bản thân.
4


2. Từ việc chỉ ra những dạng câu sai và cách sửa chữa phổ biến đối
với từng loại lỗi, đề tài sẽ góp phần nhỏ bé giúp cho giáo viên trong q
trình giảng dạy và chấm chữa bài, có cách nhìn khoa học về các lỗi và gợi ý
cho học sinh chữa lỗi dễ dàng hơn, từ đó rèn luyện năng lực cho các em
viết câu đúng, tiến tới câu hay.
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.

1. Đối tượng nghiên cứu.
Học sinh lớp 4 trường Tiểu học Kim Liên - quận Đống Đa - Thành
phố Hà Nội.
2. Phạm vi nghiên cứu.
Chương trình sách giáo khoa lớp 4 mới mơn Tiếng Việt.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

Để thực hiện đề tài này, tôi đã tiến hành các phương pháp sau:
1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
Để nhận biết, phân loại được các câu sai trong những bài làm của
học sinh, tôi nghĩ phải dựa trên cơ sở lý thuyết. Vì thế tơi đã phải tìm tịi,
tham khảo rất nhiều tài liệu về câu và các loại lỗi câu. Từ các nghiên cứu
về câu của các tác giả để định ra căn cứ xác định câu sai , câu đúng và lấy
câu đúng để làm đích chữa câu sai.
2. Phương pháp khảo sát thực tế.
Phương pháp này được sử dụng trong quá trình tìm hiểu các câu sai
trong bài làm của học sinh tiểu học. Tôi đã tiến hành khảo sát từng bài của

học sinh, từ đó tìm ra các câu sai để phân loại. Đồng thời cũng tham khảo ý
kiến trực tiếp của một số đồng nghiệp có kinh nghiệm về vấn đề lỗi của câu
- cách chữa.
3. Phương pháp thực nghiệm.
5


Phương pháp này để kiểm tra khả năng thực thi của các biện pháp
trên. Cụ thể là phát bài kiểm tra cho học sinh làm trước và sau khi giảng lý
thuyết. Sau khi đánh giá, cho điểm thống kê lại tơi sẽ có đầy đủ cứ liệu để
nhận xét về hiệu quả của biện pháp sửa lỗi theo đề xuất trên.

Phần nội dung
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÂU
I. CÁC ĐỊNH NGHĨA VỀ CÂU.

Từ trước đến nay đã có rất nhiều định nghĩa về câu. Điều đó cho
chúng ta thấy, câu là một trong những đối tượng được ngữ pháp học đặc
biệt quan tâm. Trong số những định nghĩa đã được cơng bố, có thể kể đến
những cách định nghĩa cơ bản sau:
1. Định nghĩa học phái ngữ pháp Alexandra (khoảng thế kỷ 2 - 3
trước Công nguyên): Câu là sự tổng hợp của các từ biểu thị một tư tưởng
trọn vẹn (Dẫn theo Diệp Quang Ban - Ngữ pháp Tiếng Việt - Nhà xuất bản
Giáo dục 1998).
Định nghĩa này đơn giản, dễ hiểu và khá hồn chỉnh. Nó đã gián tiếp
nêu lên các yếu tố cần thiết cho việc xác định câu. Đó là mặt hình thức cấu
tạo, mặt nội dung và chức năng của câu.
2. Định nghĩa của L.B Lumphin (Nhà ngôn ngữ học Mỹ) cho rằng:
Mỗi câu là một hình thái ngơn ngữ độc lập, khơng bị bao hàm vào bất cứ
một hình thái ngơn ngữ phức tạp hơn bởi một kiến trúc ngữ pháp này hay

một kiến trúc ngữ pháp nọ.
Ở đây tác giả không hề chú ý về nội dung và chức năng của câu mà
chỉ chú ý tới dấu hiệu hình thức. Tác giả chỉ xét câu riêng lẻ, độc lập mà
không hề đặt câu trong văn bản,

6


3. Định nghĩa của V.V. Vinogradov - 1954: Câu là đơn vị hồn chỉnh
của lời nói được hình thành về mặt ngữ pháp theo các quy luật của ngôn
ngữ nhất định, làm công cụ quan trọng nhất để tạo câu biểu hiện và truyền
đạt tư tưởng. Trong câu không chỉ có sự truyền đạt về hiện thực mà cịn có
cả mối quan hệ của người nói với hiện thực.
4. Định nghĩa của Diệp Quang Ban - Ngữ pháp Tiếng Việt tập II Nhà xuất bản Giáo dục 1997: Câu là đơn vị nghiên cứu ngơn ngữ có cấu
tạo ngữ pháp độc lập và có ngữ điệu kết thúc, mang ý nghĩa tương đối trọn
vẹn hay thấy rõ sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện
truyền đạt tư tưởng tình cảm. Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất
của ngôn ngữ.
Định nghĩa này đã bao hàm đầy đủ cả dấu hiệu hình thức, đặc điểm
nội dung và đặc điểm chức năng của câu. Với định nghĩa này, chúng ta thấy
câu có thể xem xét qua hai mặt: Một mặt câu do các đơn vị và các kết cấu
ngữ pháp tạo thành thuộc hệ thống kết cấu của ngôn ngữ. Mặt khác, câu
thực hiện chức năng giao tiếp của ngôn ngữ.
5. Định nghĩa của Nguyễn Tài Cẩn - Ngữ pháp Tiếng Việt - Nhà xuất
bản Khoa học Xã hội 1975: Câu là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất mang một
thơng báo tương đối hồn chỉnh.
Định nghĩa này có ưu điểm ngắn gọn, lại nêu được đầy đủ những
quan điểm cơ bản của câu: Nhỏ nhất và mang một thơng báo tương đối
hồn chỉnh.
6. Dịnh nghĩa về câu (Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 chương trình

165 tuần): Câu do từ hoặc ngữ tạo thành và diễn đạt được một ý trọn vẹn.
Định nghĩa này đơn giản dễ hiểu đối với học sinh nhưng theo tôi
định nghĩa này lại chưa nêu được đầy đủ các đặc điểm của câu. Bởi vì
nhiều câu cạnh nhau thể hiện cùng một chủ đề hay một tiểu chủ đề (văn
bản hay đoạn văn) cũng diễn đạt một ý trọn vẹn. Theo tôi bên cạnh đặc
7


điểm nội dung là “Diễn đạt một ý trọn vẹn”, ta còn phải chỉ ra đặc điểm về
dung lượng là “nhỏ nhất” thì học sinh mới hiểu một cách đầy đủ các đặc
điểm của câu.
II. VẤN ĐỀ PHÂN LOẠI CÂU DỰA VÀO CẤU TẠO.

Việc phân loại theo cấu tạo ngữ pháp có thể dựa trên các cấu trúc cơ
bản khác nhau.
- Lấy cấu trúc nghĩa - ngữ pháp (cấu trúc vị từ - tham thể) làm cấu
trúc cơ sở.
- Lấy cấu trúc thông báo (cấu trúc chủ đề - thuyết) làm cấu trúc cơ
sở.
- Lấy cấu trúc chủ - vị làm cơ sở phân loại.
Việc phân loại theo cấu tạo ở mỗi cấp học phổ thơng có sự khác
nhau nhất định về tiêu chí phân loại. Trong chương trình tiểu học, tiêu chí
để phân loại câu theo cấu trúc tạo là cụm chủ vị nòng cốt (cụm C - V khơng
bị bao hàm). Dựa vào tiêu chí này, Sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học chia
câu thành hai loại cơ bản: Câu đơn (một kết cấu C - V) và câu ghép (hai kết
cấu C - V trở lên). Kết quả phân loại câu theo cấu tạo ở cấp tiểu học thể
trình bày bằng sơ đồ (xem sơ đồ trang bên).
III. VẤN ĐỀ CÂU TRONG HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP.

- Trong hệ thống ngôn ngữ, câu tồn tại như những mô hình khái qt

trong đầu óc của người bản ngữ. Nhưng để thực hiện được chức năng là
công cụ của tư duy và là phương tiện giao tiếp thì các mơ hình câu phải
được hiện thực hóa một cách cụ thể trong lời nói. Hơn nữa câu chưa phải là
đơn vị tột cùng mà trên câu lại có cấu tạo ngơn ngữ lớn hơn, bời vậy chúng
ta thấy:
- Trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, không mấy khi người ta
chỉ dùng một câu và cũng không dùng các câu riêng lẻ bên cạnh nhau (câu

8


không liên kết) mà trong đại đa số các trường hợp phải dùng một tập hợp
nhiều câu có liên kết với nhau để diễn đạt một ý tưởng nào đó.
- Câu chỉ thực sự có đời sống, có hoạt động khi nằm trong lời nói,
trong những sản phẩm ngơn ngữ hình thành giao tiếp. Có những câu để rời
thì được coi là một câu đúng nhưng đưa vào văn bản cụ thể lại khơng chấp
nhận được, ngược lại có những câu đứng riêng lẻ có thể bị coi là câu sai
hoặc không hiểu được nhưng chúng lại tồn tại một cách vững vàng bên
cạnh những câu khác trong một văn bản cụ thể.

9


CHÚNG TA CÓ THỂ TÓM LƯỢC SỰ PHÂN LOẠI CỦA CÂU
THEO ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO NHƯ SAU:
Câu

Dựa vào việc có đầy đủ hai bộ
phận chính hay khơng, hoặc dựa
vào việc có xác định được thành

phần hay khơng

Dựa vào sự có hay khơng có từ
chỉ quan hệ

Câu ghép có từ chỉ
quan hệ

Câu
đơn
bình
thườn
g

Câu
đơn
rút
gọn

Câu ghép

Dựa vào số lượng nịng cốt

Câu đơn

Câu
đơn
đặc
biệt


Câu
ghép có
từ chỉ
quan hệ

Câu
ghép có
cặp từ
chỉ quan
hệ

Dựa vào quan hệ giữa các
nịng cốt câu

Câu ghép khơng có
từ chỉ quan hệ


quan
hệ từ

Câu ghép đẳng lập


dấu
câu

Câu ghép chính phụ

Chỉ

ngun
nhân
kết quả

Chỉ ý Chỉ mục
nhượng đích
bộ

Chỉ
điều
kiện
kết
quả

10


- Mối quan hệ giữa câu và cấu tạo ngôn gnữ lớn hơn câu đòi hỏi việc
nghiên cứu ngữ pháp phải chú ý tới các lĩnh vực trên câu. Như vậy xem xét
câu chúng ta cần phải xem xét nó trong hoạt động và trong mối quan hệ với
những đơn vị ngôn ngữ lớn hơn chứ không chỉ nghiên cứu cấu trong thế cơ
lập. Bởi vì câu đi vào trong lời nói tuy vẫn giữ được bản chất của câu
nhưng nó cịn mang một số đặc trưng về cả ý và lời mà chúng ta chỉ thấy
khi đặt nó trong mối quan hệ câu khác trong văn bản.
Ý của câu
Mỗi câu là một đơn vị nhỏ để diễn đạt một ý trong lời nói, đồng thời
nó cũng phải truyền đạt một ý nhất định trong hệ thống nói chugn của
chỉnh thể lời nói. Nói một cách cụ thể: Muốn xây dựng ý của một câu ta
cần đặt nó vào một chỉnh thể chung và xem xét trong mối quan hệ với các
câu khác.

Trong khi nói và viết, ngồi việc dùng câu để thông báo một hiện
thực khách quan người ta còn lồng vào trong câu sự đánh giá, thái độ, tình
cảm.
Cho nên trong một câu cụ thể phải thống nhất, phản ánh khuynh
hướng của tồn bộ lời nói, tồn bộ văn cảnh, ý gắn liền với lời, muốn nêu
được ý phải chọn lời thích hợp.
Lời của câu.
Chọn lời tức là chọn mơ hình cần thiết để làm sao ý nào lời đó. Lời
cịn phụ thuộc vào vai trị, vị trí câu cần trong văn bản. Mỗi câu là một kết
cấu hồn chỉnh, mỗi câu có một vai trị nhất định trong việc thể hiện tính
hồn chỉnh của nó.

11


CHƯƠNG II: TÌM HIỂU LỖI VIẾT CÂU CỦA HỌC SINH LỚP 4.
A. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÂU SAI VÀ NGUYÊN TẮC CHỮA CÂU SAI.

I. Câu sai - câu mơ hồ
Để phát hiện các lỗi câu, trước hết chúng ta phải hiểu câu sai là như
thế nào, câu mơ hồ là như thế nào?
1. Câu sai:
Là những câu dùng không đúng với những chuẩn mực đã quy ước về
câu. Sự quy ước này có thể được chế định hóa như các quy định về chính
tả, nhưng cũng có thể chỉ là sự ngầm quy ước của xã hội.
Ví dụ: Ở một góc sân trường, cây bằng lăng.
Câu trên là câu sai vì thiếu bộ phận vị ngữ trong nịng cốt câu. Câu
đó thiếu một phần thơng báo: Người ta khơng hiểu “Cây bằng lăng” như
thế nào.... Câu sai có thể là:
- Câu sai cấu tạo, tức là cấu tạo không đúng chuẩn (thừa, thiếu thành

phần....).
- Câu sai ý nghĩa (không lơgic, khơng có tin mới....)
- Câu khơng có sự tương hợp giữa ý thức và hình thức.
- Câu khơng phù hợp với các câu khác trong văn bản.
2. Câu mơ hồ.
Trong khi giao tiếp, một yêu cầu rất quan trọng là nói và viết phải rõ
ràng, chính xác. Nếu khơng chú ý sẽ tạo nên câu sai, câu tối nghĩa, câu mâu
thuẫn hoặc những câu hiểu thế nào cũng được. Loại câu này được gọi là
câu mơ hồ.
Câu mơ hồ là một câu trong khi có một biểu hiện duy nhất ở cấp độ
ngơn ngữ này lại có ít nhất hai cách biểu hiện ở cấp độ ngôn ngữ khác.
12


Ví dụ: Tơi thích phỏng vấn
Với câu trên, người đọc (người nghe) sẽ hiểu theo hai cách.
- Người nói thích được người khác phỏng vấn mình.
- Người nói muốn mình là chủ thể để đi phỏng vấn người khác.
Điều này làm cho người nghe cảm thấy rất mơ hồ, khó xác định định
nghĩa một cách chính xác.
II. Nguyên tắc chữa câu sai.
Khi chữa câu sai cho học sinh thì phải đảm bảo những yêu cầu sau:
1. Câu mới phải đúng về cấu tạo ngữ pháp, hợp lý về logic và chưa
thơng tin mới.
Ví dụ: Mua một con gà về để ni
Câu trên là câu sai vì thiếu chủ ngữ.
Cách chữa: Thêm chủ ngữ cho câu: Mẹ mua một con gà để ni.
Ví dụ 2: Những cành cây khẳng khiu và hiên ngang chống trả từng
đợt gió lạnh thấu xương.
Câu trên sai do sử dụng quan hệ từ sai “và” dẫn tới sai nghĩa.

Cách chữa tốt nhất là thay quan hệ từ “vẫn” cho phù hợp: Những
cành cây khẳng khiu vẫn hiên ngang chống trả từng đợt gió lạnh thấu
xương.
2. Đảm bảo mối quan hệ giữa các câu trong văn bản.
Câu là một đơn vị thông báo nhỏ nhất của ngôn ngữ cho nên nó cịn
bị chi phối bởi hai quan hệ: Quan hệ hướng nội, quan hệ hướng ngoại. Tức
là một mặt câu mới chữa phải đảm bảo các yêu cầu mà một câu đúng cần
có (như đã nêu ở phần 1). Mặt khác, nó phải liên kết với các câu hữu quan
để thể hiện một chủ đề chung.
13


Trong bài văn tả con gà trống, một học sinh lớp tôi đã viết câu như
sau: “Em mong muốn con gà mái sẽ là người bạn yêu quý của mọi người vì
gà đã làm được rất nhiều điều có ích giúp cho mọi người”.
Cách chữa: Câu trên cần chữa “gà mái” thành “gà trống” để phù hợp
logic và liên kết chặt chẽ với các câu khác trong việc thể hiện chủ đề tả con
gà trống.
3. Khi chữa cố gắng giữ nguyên ý của người viết.
Để hiểu được ý định của người viết cần phân tích câu sai trong q
trình tạo câu. Trước tiên chúng ta phải chỉ ra sơ đồ cấu trúc của câu sai. Sau
đó, chúng ta tìm các sơ đồ cấu trúc để diễn đạt lại nội dung, ý định của
người viết. Đối chiếu sơ đồ cấu trúc câu sai với các sơ đồ cấu trúc sẽ chỉ ra
chỗ lệch chuẩn của câu sai và từ đó chỉ ra cách sửa phù hợp. Câu mới chữa
có cấu trúc và ý nghĩa gần với câu cũ là tốt nhất.
Ví dụ: Trong nhà em nuôi con gà trống lông tơ rất đẹp.
Câu trên có mơ hình: TN, (TN) - VN
Cách chữa: Biến trạng ngữ thành vị ngữ bằng cách bỏ “trong”.
Nhà em nuôi một con gà trống lông tơ rất đẹp.
Câu mới chữa vẫn giữ nguyên ý của người viết và có cách cấu tạo

gần với câu cũ.
III. Các bước phát hiện, phân tích và chữa sai câu.
Bước 1: Phát hiện và nhận diện lỗi.
+ Xác định chức năng của câu trong mối quan hệ với văn bản, ngữ
cảnh và xét câu trong trạng thái độc lập.
+ Tìm các sơ đồ cấu trúc tương ứng để diễn đạt ý định của người
viết.
+ Đối chiếu câu sai để phát hiện được loại sai.
14


Bước 2: Phân tích nguyên nhân của câu sai.
+ Phân tích các biểu hiện của câu sai để từ đó phát hiện lỗi sai.
+ Phân tích nguyên nhân dẫn đến trường hợp sai.
Bước 3: Sửa câu sai và thay câu sai bằng câu đúng.
+ Đối chiếu với yêu cầu đã xác định ở bước 1 để xây dựng câu đúng.
+ Lựa chọn câu đúng để thay thế kiểm tra lại.
B. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ DẠNG CÂU SAI, GIÚP HỌC SINH NHẬN BIẾT
VÀ SỬA CÂU SAI.

Trong đề tài này, tôi chỉ phân tích một số lỗi có tần số xuất hiện cao
trong bài làm của học sinh và bước đầu đề xuất cách chữa các loại lỗi đó.
I. Lỗi trong câu
Lỗi trong câu là các lỗi xét theo quan hệ hướng nội bao gồm các lỗi
về cấu tạo ngữ pháp, lỗi về nghĩa, lỗi về dấu câu.
1. Lỗi về cấu tạo ngữ pháp.
Lỗi về cấu tạo ngữ pháp của câu là những lỗi về cấu trúc câu như
thiếu hoặc thừa thành phần câu, không phân biệt các thành phần câu hoặc
sắp xếp sai trật tự các thành phần câu.
1.1. Câu thiếu thành phần.

Lỗi này là loại câu thiếu một trong hai thành phần chính hoặc thiếu
cả hai thành phần chính.
a. Câu thiếu chủ ngữ.
Câu thiếu chủ ngữ xuất hiện nhiều bởi học sinh nhiều khi nhầm đối
tượng chỉ mới trong tư duy chưa được hiện thực hóa ở câu với chủ ngữ.
Trong tư duy đối tượng cần nói đến hiện rất rõ các em chỉ quan tâm đến
việc diễn tả những hoạt động, tính chất, trạng thái của đối tượng. Do vậy
15


các em viết câu khơng có thành phần chủ ngữ và nghĩ rằng câu đã chọn
nghĩa của câu không trọn vẹn, làm cho người đọc khó hiểu.
Ví dụ: Dưới bàn chân chú thấy một đệm thịt để khi bắt chuột không
gây tiếng động.
Cấu trúc trên là : Tr (CN) - VN
Nguyên nhân.
Câu này do người viết không biết cách cấu tạo chủ ngữ, muốn “Bàn
chân chú” làm chủ ngữ nhưng lại để cụm danh từ này đứng sau “dưới”
khiến bộ phận này bị lệ thuộc vào mặt ngữ pháp, gắn với chức năng trạng
ngữ và không thể làm chủ ngữ được. Vậy câu trên thiếu chủ ngữ.
Cách chữa:
+ Cách 1: Thêm chủ ngữ cho câu:
Dưới bàn chân chú, em thấy một cái đệm thịt để khi bắt chuột không
gây tiếng động.
+ Cách 2:
Thay động từ trong câu và bỏ “dưới” để “bàn chân chú” làm chủ
ngữ.
Bàn chân chú có một đệm thịt để bắt chuột khơng gây têíng động.
+ Cách 3:
Trường hợp này có thể cho “chú” (định ngữ của danh từ) làm chủ

ngữ và thay động từ “thấy” bằng động từ “có”.
Dưới bàn chân chú có một cái đệm thịt để khi bắt chuột khơng gây
tiếng động.
Ví dụ 2: (Nó được làm bằng vải da). Vẫn cịn thơm mùi vải mới.
Mơ hình câu trên (CN) - VN.
16


Cách chữa:
Cách 1: Sửa cho câu trên về mơ hình CN - VN thì ta chữa lại bằng
cách thêm chủ ngữ cho câu và thay chủ ngữ để tránh lặp lại.
Chiếc cặp làm bằng vải giả da. Nó vẫn cịn thơm mùi vải mới.
Cách 2: Nhập câu sai vào câu trước nó.
b. Thiếu vị ngữ.
Câu thiếu thành phần vị ngữ là những câu chỉ có một ngữ danh từ.
Ví dụ: Đôi mắt hiền hậu với đôi lông mày cong cong.
Học sinh đã nhầm tưởng câu trên đã có giá trị thơng báo, trong khi
đó nó mới chỉ nêu đối tượng thơng báo, chưa có nội dung thơng báo.
Cách chữa.
Cách 1: Thêm vị ngữ cho câu.
Đôi mắt hiền hậu với đôi lông mày cong cong/ trông rất đẹp.
Cách 2: Chuyển định ngữ thành vị ngữ.
Đôi mắt cố thật hiền hậu dưới cặp lơng mày cong cong.
Ví dụ 2: Thêm vị ngữ cho câu.
Chú mèo này, một chú mèo Tam Thể có bộ lông rất đẹp.
CN

P

VN


c. Câu thiếu cả chủ ngữ và vị ngữ.
Những câu thiếu cả hai thành phần chính thường là những câu chỉ có
bộ phận trạng ngữ và cũng không nối tiếp được với câu tiếp sau để trở
thành một câu mới có trạng ngữ. Hoặc cũng có thể do người viết phát triển
thành phần phụ quá dài mà quên mất cụm C - V nòng cốt hoặc tưởng đã có
nịng cốt C - V.

17


Ví dụ: Khi mùa hè đến (Hoa phượng nở rộ khắp sân trường).
Câu trên chỉ có một trạng ngữ nên còn thiếu nòng cốt câu.
Cách chữa:
Cách 1: Bỏ quan hệ từ “Khi”. Câu mới sẽ là:
Mùa hè đến.
Cách 2: Thêm chủ ngữ và vị ngữ để tạo câu mới.
Khi mùa hè đến, ve kêu râm ran suốt ngày.
Cách 3: Kết hợp với câu đang xét với câu sau để tạo thành câu mới.
Khi mùa hè đến, hoa phượng nở rộ khắp sân trường.
1.2. Câu thừa thành phần.
Là loại lỗi do câu thành phần câu lặp lại một cách không cần thiết.
Nguyên nhân của loại lỗi này do các em viết thư nói nên câu văn khơng
rành mạch.
Ví dụ: Câu chuyện ấy tác giả muốn khuyên chúng ta phải có tấm lòng
nhân hậu.
Học sinh đã viết thừa từ “tác giả” hoặc cụm từ “câu chuyện ấy”.
Nguyên nâhn: học sinh nghĩ sao viết vậy (viết như nói). Nhưng như
vậy câu văn sẽ trở nên sai vì thừa thành phần. Cả hai thành phần cùng có
thể làm chủ ngữ của “khuyên chúng ta phải có tấm lịng nhân hậu” nhưng

lại khơng tương hợp với nhau về ý nghĩa.
Cách chữa:
Cách 1: Bỏ từ “tác giả”
Câu chuyện ấy muốn khuyên chúng ta phải có tấm lòng nhân hậu.
Cách 2: Bỏ cụm danh từ “câu chuyện ấy”.

18


Tác giả muốn khun chúng ta phải có tấm lịng nhân hậu.
Cách 3: Biến “câu chuyện ấy” thành trạng ngữ bằng cách thêm từ
“qua”.
Qua câu chuyện ấy, tác giả muốn khun chúng ta phải có tấm lịng
nhân hậu.
Cách 4: Biến “tác giả” thành định ngữ của “câu chuyện ấy”.
Câu chuyện ấy của tác giả muốn khuyên chúng ta phải có tấm lịng
nhân hậu.
1.3. Câu khơng phân định rõ thành phần.
Đây là những câu về cấu tạo, chúng ta khó xác định được các bộ
phận câu kết hợp với nhau theo quan hệ ngữ pháp nào, từ đó rất khó xác
định các thành phần câu. Về ý nghĩa, mỗi quan hệ ý nghĩa giữa các bộ phận
câu cũng không rõ ràng, chính xác.
Nguyên nhân của loại lỗi này là do học sinh khơng chuẩn bị một nộ
dung cần nói nên khơng phân cắt được trong tư duy một cách rành mạch.
Các em nhớ từ nào, cụm từ nào là viết ngay vào bài, khơng tìm cách tổ
chức sắp xếp, liên kết các từ, các cụm từ một cách hợp lý để diễn đạt một
cách rõ ràng nội dung mà mình cần diễn đạt.
Ví dụ 1: Kỷ niệm về chú gấu bơng bố đã tặng sinh nhật.
Chúng ta không thể xác định được các thành phần chủ ngữ, vị ngữ
của câu trên.

Nguyên nhân: Do học sinh phân cắt không rõ ràng từng ý trong q
trình chuyển tư duy thành ngơn ngữ.
Cách chữa: Thay đổi vị trí từ, cụm từ và thêm động từ “là”.
Chú gấu bơng là món q kỷ niệm bố em đã tặng nhân dịp sinh nhật
Ví dụ 2: Cây bàng hàng ngày em thường ngồi ôm bài.
19


Câu trên sai do học sinh sắp xếp các thành phần chủ ngữ, vị ngữ,
trạng ngữ không hợp lý. Điều này làm cho câu khó hiểu, vơ nghĩa và khơng
rõ các thành phần ngữ pháp.
Nguyên nhân do học sinh nắm không vững trật tự các thành phần
trong câu.
Cách chữa: Sắp xếp lại các thành phần.
Hàng ngày, em thường ngồi ôn bài dưới gốc cây bàng này.
2. Lỗi về nghĩa.
Lỗi về nghĩa được chia ra thành lỗi câu thiếu thông tin mới, lỗi câu
có ý nghĩa khơng phù hợp lơgic, lỗi câu có ý nghĩa chưa trọn vẹn, lỗi câu
khơng có sự tương hợp về nghĩa giữa các thành phần câu, giữa các vế câu.
2.1. Câu có nghĩa chưa chọn vẹn.
Đó là những câu đúng về quan hệ giữa nghĩa nhưng thật ra còn thiếu
các thành phần phụ nưh: Bổ ngữ, vị ngữ cần thiết phải có để phục vụ cho
động từ, tính từ nào đó trong câu nên nghĩa của câu không được thể hệin
đầy đủ gây ra sự hụt hẫng cho người đọc.
Ví dụ: Em rất sung sướng làm người bạn thân.
Đây là một câu trong bài văn một em học sinh tả con chó, cụ thể là
con có Mic. Câu trên đã khơng rõ nghĩa vì thiếu định ngữ bổ nghĩa cho
“bạn thân”.
Nguyên nhân: Có thể do học sinh q, cũng có thể do mải theo dịng
suy nghĩ về con chó nên đã khơng chú ý đến sự thiếu hụt thơng tin. Và các

em khơng biết rằng có những động từ bắt buộc phải có bổ ngữ, có những
danh từ bắt buộc phải có định ngữ.
Cách chữa: Em rất sung sướng làm người bạn thân của Mic.
2.2. Câu có ý nghĩa khơng phù hợp lơgic.
20


Là những câu có chứa nội dung khơng phù hợp với hiện thực khách
quan, phản ánh sai lệch hiện thực.
Ví dụ 1: Chiếc đi của nó dài nửa mét
Ở câu trên học sinh tả về đuôi con mèo nhưng lại phải ánh sai hiện
thực vì khơng có con mèo nào có đi dài đến nửa mét.
Ngun nhân: Học sinh thiếu kiến thức thực tế, khả năng ước lượng
kém.
Cách chữa: Giáo viên giúp học sinh ước lượng lại.
Chiếc đi của nó dài khoảng hai gang tay của em.
Ví dụ 2: Mỗi tháng nó đẻ từ năm con trở lên
Đây là một câu trong bài học sinh tả về một con gà mái. Câu trên học
sinh đã phải ánh sai thực tế vì gà mái khơng đẻ ra con mà đẻ trứng rồi mới
ấp nở thành con.
Cách chữa: Trong trường hợp này, chúng ta chỉ cần phân tích cho
học sinh hiểu gà mái không thể đẻ con được. Câu văn phải bị loại bỏ khỏi
văn bản.
2.3. Câu khơng có sự tương hợp giữa các thành phần, giữa các vế
câu.
Loại nỗi này rất đa dạng như câu có chủ ngữ, vị ngữ khơng tương
hợp, câu có trạng ngữ khơng tương hợp với nịng cốt câu, câu có danh từ,
định ngữ khơng tương hợp, câu ghép có các vế câu khơng tương hợp, câu
có thành phần đồng chức khơng tương hợp.
a. Câu có chủ - vị ngữ khơng tương hợp

Ví dụ 1: Mặt mẹ ướt sũng mồ hôi

21


Câu này khơng có sự tương hợp giữa C - V bởi khơng nói “Khn
mặt ướt sũng” vì “ướt sũng” chỉ nói tới cái ướt của những vật có thấm nước
như quần áo, chăn...
Nguyên nhân: Học sinh không nắm vững nghĩa từ và khả năng kết
hợp của chúng.
Cách chữa: Giáo viên giúp học sinh hiểu nghĩa từ “ướt sũng”, cách
sử dụng từ cho phù hợp. Từ đó học sinh sẽ thay vị ngữ bằng từ khác cho
phù hợp. (Ví dụ: Lấm tấm, rịng rịng).
Mặt mẹ lấm tấm mồ hơi
Ví dụ 2: Khuôn mặt bà thật là bầu bĩnh.
Câu trên không có sự tương hợp giữa chủ và vị vì khơng ai nói
khn mặt bà bầu bĩnh. “Bầu bĩnh” chỉ dùng chỉ vẻ đẹp hơi đầy, trịn trình
của trẻ em chứ thường không dùng để chỉ vẻ đẹp của người nhiều tuổi.
Cách chữa: Giúp học sinh nắm rõ ý nghĩa và cách sử dụng từ “bầu
bĩnh” sao cho phù hợp với đối tượng như phúc hậu, đẹp lão....
Khuôn mặt bà em thật là phúc hậu
b. Câu có trạng ngữ nịng cốt câu khơng tương hợp:
Ví dụ 1: Mỗi bữa em cho nó ăn sáng, ăn trưa, chiều (lúc nào em cũng
cho nó ăn nhiều thức ăn ngon).
Câu trên chúng ta thấy trạng ngữ và vế câu khơng tương hợp nhau,
có sự mâu thuẫn giữa “mỗi bữa” với “sáng, trưa, chiều”.
Nguyên nhân: Học sinh không hiểu từ và không biết cách kết hợp từ
cho phù hợp.
Cách chữa:
Cách 1: Sửa trạng ngữ:


22


Mỗi ngày, em cho nó ăn ba bữa: sáng, trưa, tối.
Cách 2: Kết hợp câu sau nó để tạo thành câu phù hợp.
Mỗi bữa sáng, trưa, chiều em đều cho nó ăn nhiều thức ăn ngon.
Ví dụ 2: Bầu trời mát lạnh làm em rất thích.
Học sinh đã sai trong việc sử dụng từ “mát lạnh” làm định ngữ bổ
nghĩa cho danh từ “bầu trời”.
Nguyên nhân: Do học sinh không hiểu nghĩa của từ và không biết kết
hợp từ cho phù hợp.
Cách chữa:
Cách 1: Thay danh từ: Khi trời mát lạnh làm em rất thích.
Cách 2: Thay đổi định ngữ: Bầu trời xanh mát làm em rất thích.
c. Câu có động từ, tính từ và bổ ngữ khơng tương hợp.
Ví dụ: Mới sớm tinh mơ, chú gà trống đã nhảy tót lên đống rơm vỗ
cánh phần phật rồi gáy vang cả xóm.
Ở câu này học sinh đã lấy “phần phật” làm bổ ngữ cho động từ “vỗ”
là không hợp lý.
Cách chữa: Thay bổ ngữ cho động từ “vỗ”.
Mới sớm tinh mơ, chú gà trống đã nhảy tót lên đống rơm vỗ cánh
phành phạch rồi gáy vang cả xóm.
d. Câu có các vế khơng tương hợp về nghĩa.
Ví dụ: Chú mèo rất hiền nhưng chú rất láu lỉnh
Câu trên sai vì khơng có sự tương hợp giữa hai vế câu. Hai vế câu ở
đây mâu thuẫn nhau. Bởi vế thứ nhất diễn tả “Chú mèo rất hiền”, nhưng vế
thứ hai “chú rất láu lỉnh”.

23



Ngun nhân: Có thể học sinh muốn diễn tả tính của chú mèo vừa
ngoan, vừa ngộ nghĩnh. Nhưng do không biết diễn đạt nên đã làm câu trở
nên sai.
Cách chữa:
Cách 1: Thay từ cho phù hợp.
Chú mèo rất ngoan ngoãn và ngộ nghĩnh.
Cách 2: Thay quan hệ từ và thay đổi một số cụm từ.
Mặc dù chú mèo rất hiền nhưng đơi khi chú cũng rất láu lỉnh
c. Câu có động từ, tính từ và bổ ngữ khơng tương hợp.
Ví dụ: Bông hoa như một nàng công chúa xinh đẹp, em rất thích.
Cách chữa:
Cách 1: Thêm động từ “làm” để tạo quan hệ giữa hai vế câu.
Bông hoa như một nàng cơng chúa xinh đẹp làm em rất thích.
Cách 2: Tách câu này thành hai câu và thêm kết từ.
Em rất thích bơng hoa này. Bởi vì nó như một nàng công chúa xinh
đẹp.
3. Lỗi về dấu câu.
Lỗi về dấu câu là loại lỗi câu do học sinh không dùng dấu câu hoặc
dùng dấu câu điều đó làm cho cấu tạo của câu không rõ ràng và ý nghĩa của
câu khó hiểu cho người đọc.
3.1. Lỗi khơng dùng dấu câu.
Thuộc loại lỗi này là những câu sai do học sinh không dùng dấu câu
ở những chỗ cần thiết.

24


Ví dụ 1: Cái mồm nó có 6 chiếc răng nhọn gia đình em đặt tên cho nó

là Tiểu Hổ chiếc đi có nó dài hai mươi centimét chú chuột nào nghe tiếng
Tiểu Hổ cũng sợ.
Ở câu này, học sinh đã không sử dụng dấu chấm khi hết câu làm cho
người đọc khó nắm bắt được nội dung mà các em muốn truyền đạt.
Nguyên nhân: Học sinh đã không nắm vững nguyên tắc sử dụng dấu
câu và đã vi phạm quy tắc chính tả. Khi kết thúc một ý phải đặt dấu chấm
ngắt câu.
Cách chữa: Dùng dấu chấm câu tách các bộ phận có ý nghĩa trọn
vẹn, thành các câu (Có kết hợp với các chữ cái viết hoa ở đầu mỗi câu).
Cái mồm nó có sáu chiếc răng nhọn để bắt chuột. Chiếc đi của nó
dài hai mươi centimét. Gia đình em đặt tên cho nó là Tiểu Hổ.
Ví dụ 2: Mẹ bảo em muốn cắt hoa thì con phải học cắt mới được.
Học sinh đã không sử dụng dấu câu cần thiết như dấu “:”, “dấu
ngoặc kép”.
Cách chữa: Thêm các dấu cần thiết vào.
Mẹ bảo: “Con muốn cắt được hoa thì con phải học cắt mới được”
3.2. Dùng dấu không đúng.
Là loại sử dụng dấu câu khi không cần thiết hoặc đáng lẽ phải dùng
dấu câu này lại dùng dấu câu khác.
Ví dụ: Nhân dịp em lên 4. Bố mua tặng em một chiếc cặp rất xinh
Cách chữa: Thay dấu chấm bằng dấu phẩy.
Nhân dịp em lên 4, Bố mua tặng em một chiếc cặp rất xinh
II. LỖI NGOÀI CÂU

25


×