Tải bản đầy đủ (.docx) (102 trang)

Luận văn các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng đối với người dưới 18 tuổi trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (580.69 KB, 102 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐỖ THÚY HÀ

CÁC BIỆN PHÁP GIÁM SÁT, GIÁO DỤC ÁP DỤNG
•'••
ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI TRONG TRƯỜNG HỢP ĐƯỢC
MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2021


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐỖ THÚY HÀ

CÁC BIỆN PHÁP GIÁM SÁT, GIÁO DỤC ÁP DỤNG
•'••
ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI TRONG TRƯỜNG HỢP ĐƯỢC
MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chun ngành: Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự




•o





Mã số: 8380101.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THỊ LAN


Hà Nội - 2021


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn là cơng trình nghiên cứu khoa học của
riêng tơi. Các số liệu sử dụng trong luận văn là trung thực, các tham khảo có nguồn
trích dẫn rõ ràng. Những kết luận khoa học của luận văn vừa mang tính kế thừa các
cơng trình khoa học trước đây nhưng chưa từng được cơng bố trong các cơng trình
khoa học khác.
Tơi xin hồn tồn chịu trách nhiệm và chịu mọi hình thức kỷ luật theo quy
định cho lời cam đoan của tôi./.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

ĐỖ THÚY HÀ

4


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN

1.2.1....................................................................................................................
1.1.

Cơ sở của việc quy định các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng đối

với người dưới 18 tuổi trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự theo
luật hình
sự Việt Nam. ......................................................................................................... 20
1.3.1. Cơ sở chính trị ............................................................................................. 20
1.3.2..................................................................................................................
1.3.3........................................................................................................................
1.3.4. Chương 2 CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH Sự VIỆT NAM NĂM
2015 VỀ CÁC BIỆN PHÁP GIÁM SÁT, GIÁO DỤC ÁP DỤNG ĐỐI VỚI
NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI TRONG TRƯỜNG HỢP ĐƯỢC MIỄN TRÁCH
1.3.5.............................................................................................................................
3.1.1..................................................................................................................
1.2. Một số khó khăn, vướng mắc trong q trình áp dụng các biện pháp
giám sát, giáo dục đối với người dưới 18 tuổi trong trường hợp được miễn
trách nhiệm hình
1.3.6........................................................................................................................
1.3.7.............................................................................................................................


1.3.8. DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1.3.9. LHS

1.3.10.

: Luật Hình sự


1.3.11.BLHS
1.3.13.BLTTH
S
1.3.15.CP

1.3.12.
1.3.14.

: Bộ Luật Hình sự
: Bộ Luật Tổ tụng Hình

1.3.17.CƯQTE
1.3.19.NĐ

sự
1.3.16. : Chính phủ
1.3.18. : Cơng ước Quốc tế về
Quyền trẻ em
1.3.20. : Nghị định

1.3.21.HĐTP

1.3.22.

: Hội đồng Thẩm phán

1.3.23.TNHS

1.3.24.


: Trách nhiệm hình sự

1.3.25.TAND

1.3.26.

: Tòa án nhân dân

1.3.27.QH

1.3.28.

: Quốc hội

1.3.29.UBND

1.3.30.

: Ủy ban Nhân dân

1.3.31.VPHC
1.3.33.QLXPV
PHC
1.3.35.TDTHP
L

1.3.32.
1.3.34.
hành chính

1.3.36.
luật

: Vi phạm hành chính
: Quản lý xử lý vi phạm
: Theo dõi thi hành pháp


1.3.37.DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
1.3.38...........................................................................................................................
1.3.39...........................................................................................................................


1.3.40.DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
1.3.41...........................................................................................................................
1.3.42...........................................................................................................................


1.3.43.MỞ ĐẦU
1.3.44.
1.3.45.1
1.3.46.

ĩ

r

y

. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu


1.3.47.

Người dưới 18 tuổi (người chưa thành niên) là đối tượng ln

được Đảng, Nhà nước Việt Nam quan tâm và có những chính sách riêng nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các em, phù hợp với quy định của pháp luật Việt
Nam và pháp luật quốc tế. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18
tuổi trong các quan hệ hình sự, Bộ luật Hình sự Việt Nam (BLHS) năm 2015 đã xây
dựng một chương riêng quy định chính sách hình sự nhằm xử lý chuyển hướng đối
với người dưới 18 tuổi phạm tội. Chính sách này dựa trên sự phân tích tâm sinh lý
của người dưới 18 tuổi, họ còn hạn chế về trình độ nhận thức, ít kinh nghiệm sống,
dễ bị lơi kéo, dụ dỗ bởi nhóm người xấu và các hoạt động phiêu lưu, mạo hiểm, chưa
có khả năng phân tích vấn đề và chưa có khả năng tự lập, từ đó Đảng, Nhà nước đã
pháp điển hóa nhiều nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, trong đó
có việc miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và áp dụng các
biện pháp giám sát, giáo dục hoặc các biện pháp tư pháp. Với tinh thần đó, BLHS
năm 2015 đã xây dựng hoàn thiện các nội dung về xử lý chuyển hướng đối với người
dưới 18 tuổi phạm tội, trong đó có các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng đối với
người dưới 18 tuổi trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự (TNHS) được
quy định tại Mục 2 Chương XII, từ Điều 93 đến Điều 95, bao gồm các biện pháp:
Khiển trách; Hòa giải tại cộng đồng; Giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Bên cạnh đó,
để tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục, ngày 10
tháng 3 năm 2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 37/2018/NĐ-CP về Quy
định chi tiết thi hành các biện pháp giám sát, giáo dục người dưới 18 tuổi phạm tội
được miễn trách nhiệm hình sự. Những hướng dẫn cụ thể của pháp luật đã tạo điều
kiện thuận lợi cho việc áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục trên thực tế, góp
phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi.
1.3.48.


Thời gian qua, việc áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục trong

trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo
BLHS Việt Nam đã thu được những kết quả rất đáng khích lệ, góp phần xử lý chuyển
9


hướng và đạt được mục đích giáo dục, răn đe đối với người dưới 18 tuổi phạm tội,
nhằm giúp họ tu dưỡng, rèn luyện, sửa chữa những sai phạm trở thành người có ích
cho xã hội; bảo đảm tốt quyền con người, quyền của trẻ em theo đúng chủ trương,
đường lối của Đảng và các công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia;
góp phần giảm gánh nặng cho các cơ sở giam giữ, cải tạo xã hội.. .Tuy nhiên, bên
cạnh những kết quả đạt được việc áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục trong
trường hợp được miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo luật hình sự
thời gian qua cịn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc do những hạn chế của pháp luật,
hiệu quả áp dụng các biện pháp chưa cao, đối tượng bị áp dụng và gia đình người bị
áp dụng cũng như địa phương nơi người phạm tội dưới 18 tuổi sinh sống còn chưa
chấp hành tốt, xuất hiện nhiều khe hở để các băng nhóm tội phạm chun nghiệp lợi
dụng chính sách pháp luật hình sự của nhà nước để thuê, tuyển lựa người dưới 18
tuổi phạm tội.Xuất phát từ những lý do trên, việc nghiên cứu có hệ thống các vấn đề
lý luận và thực tiễn liên quan đến việc áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục
trong trường hợp được miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi theo quy định của
BLHS năm 2015 là cần thiết nhằm đánh giá đúng thực trạng áp dụng các biện pháp
trên, từ đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất để góp phần nâng cao hiệu quả việc thực
hiện biện pháp này theo quy định pháp luật hình sự. Do đó, việc tác giả chọn đề tài:
“Các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng đối với người dưới 18 tuổi trong
trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam” làm Luận
văn thạc sĩ luật học là cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.3.49.


Nghiên cứu về các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng đối với

người dưới 18 tuổi trong trường hợp được miễn TNHS theo LHS Việt Nam là một
trong những vấn đề nghiên cứu thu hút sự quan tâm của học giả, các nhà nghiên cứu,
nhà hoạt động thực tiễn pháp luật ở tất cả các quốc gia trên thế giới và nhiều tổ chức
quốc tế. Hiện có một số cơng trình nghiên cứu sau:
1.3.50.

Đề tài khoa học cấp trường “Những vấn đề lý luận và thực tiễn

về tư pháp hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội”, của các tác giả Đỗ Thị
Phượng, Bùi Đức Lợi - Trường Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2005;

10


1.3.51.

Sách chun khảo “Áp dụng chính sách hình sự đối với người

dưới 18 tuổi phạm tội” của tác giả Trịnh Đình Thể, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006;
1.3.52.

Sách chuyên khảo “Đấu tranh phòng, chống tội phạm là người

chưa thành niên thực hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội”, của tác giả Trịnh Quốc
Toản, do Nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản năm 2007.
1.3.53.


Sách chuyên khảo “Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự 2015,

sửa đổi, bổ sung năm 2017” do GS.TS Trần Ngọc Hòa chủ biên, xuất bản năm 2017.
1.3.54.

Sách chuyên khảo “Những nguyên nhân chủ yếu của tình trạng

trẻ em phạm tội” của tác giả Nguyễn Ngọc Minh, Nxb Tư pháp, 1992.
1.3.55.

Sách “Thanh, thiếu niên làm trái pháp luật - Thực trạng và giải

pháp” của tác giả Trần Đức Châm, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội (2002)
1.3.56.

- Dưới góc độ luận văn, luận án luật học có các cơng trình tiêu

biểu như:
1.3.57.

Vũ Thị Thu Qun (2011), Pháp luật về quyền của người chưa

thành niên phạm tội ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh.
1.3.58.

Đinh Thanh Sơn (2011), Cơng tác phịng ngừa tội phạm do

người chưa thành niên gây ra trên địa bàn tỉnh Điện Biên, Luận văn thạc sĩ luật học,
Học viện Cảnh sát nhân dân.

1.3.59.

Đỗ Xuân Hồng (2014), Xét xử vụ án có bị cáo là người chưa

thành niên theo luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, khoa luật
Đại học quốc gia Hà Nội.
1.3.60.

Trần Thị Ngọc Thu (2017), Hình phạt đối với người chưa thành

niên phạm tội theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hà Nội, Luận
văn thạc sĩ luật học, Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
1.3.61.

Trần Thị Hồng Nhung (2017), Biện pháp giám sát, giáo dục và

biện pháp tư pháp đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, Luận văn thạc sĩ Luật học,
Đại học Quốc gia Hà Nội.

11


1.3.62.

Đỗ Thị Bảo Ngọc (2019), Các biện pháp tư pháp đối với người

dưới 18 tuổi phạm tội theo pháp luật Hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Trị,
Luận văn Thạc sĩ luật học, Viện khoa học xã hội Việt Nam.
1.3.63.


Ngồi ra cịn nhiều bài viết đăng trên các tạp chí khoa học trong

và ngồi nước như: “Tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên; Những khía
cạnh pháp lý hính sự, tố tụng hình sự, tội phạm học và so sánh luật học (Phần thứ I,
những khía cạnh pháp lý hình sự)” của GS.TSKH Lê Văn Cảm và TS. Đỗ Thị
Phượng đăng trên Tạp chí Tịa án nhân dân, số 20-10/2004; “Thay đổi chính sách
hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội” của Trung tướng, GS.TS Nguyễn Ngọc
Anh đăng trên báo điện tử Công an nhân dân (2017),...
1.3.64.

Các cơng trình nêu trên đã tiếp cận nghiên cứu việc áp dụng các

biện pháp xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trên nhiều khía cạnh khác nhau,
tuy nhiên, chưa có cơng trình nào nghiên cứu chuyên sâu về các biện pháp giám sát,
giáo dục đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (do đây là các quy định mới của Bộ
luật hình sự năm 2015). Chính vì vậy, việc nghiên cứu biện pháp giám sát, giáo dục
áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong trường hợp được miễn TNHS là
một vấn đề mới, cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1.

Mục đích nghiên cứu

1.3.65.

Làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về áp dụng các biện

pháp giám sát, giáo dục đối với người dưới 18 tuổi trong trường hợp được miễn
TNHS theo quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) trong thời
gian qua. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện các

biện pháp này trong thời gian tới.
3.2.

Nhiệm vụ nghiên cứu

1.3.66.

- Nghiên cứu làm rõ các quy định của BLHS năm 2015 và các

quy định khác về các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng đối với người dưới 18
tuổi trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự.

12


1.3.67.

- Nghiên cứu và đánh giá thực tiễn áp dụng các biện pháp giám

sát, giáo dục đối với người dưới 18 trong trường hợp được miễn TNHS theo LHS
Việt Nam từ năm 2015 đến nay.
1.3.68.

- Chỉ ra một số nguyên nhân của vướng mắc, hạn chế trong áp

dụng pháp luật trên thực tế. Từ đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất để nâng cao hiệu
quả áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng đối với người dưới 18 tuổi
trong trường hợp được miễn TNHS thời gian tới.
3.3.


Đối tượng nghiên cứu

1.3.69.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật về

các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng đối với người dưới 18 tuổi trong trường
hợp được miễn TNHS theo LHS Việt Nam; thực tiễn thi hành pháp luật tại Việt Nam;
các quy định pháp luật tương tự của pháp luật hình sự một số nước trên thế giới và
thực tiễn áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục đối với người dưới 18 tuổi trong
trường hợp được miễn TNHS ở Việt Nam trong thời gian áp dụng bộ luật hình sự
năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đến nay.
3.4.

Phạm vi nghiên cứu

1.3.70.

- Về nội dung: Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về

các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng đối với người dưới 18 trong trường hợp
được miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam.
1.3.71.

- Về khơng gian: trên địa bàn thành phố Hà Nội.

1.3.72.

- Về thời gian: Nghiên cứu từ năm 2015 đến năm 2019.


4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
1.3.73.

Đề tài được tiến hành nghiên cứu dựa trên phương pháp luận

duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh về chính sách hình sự kết hợp với phương pháp luận của Khoa học luật hình sự
có liên quan tới nội dung nghiên cứu của luận văn. Ngoài ra đề tài sử dụng một số
phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp phân tích - tổng hợp; phương
pháp tổng kết thực tiễn; phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh; phương pháp
nghiên cứu điển hình, và một số phương pháp khác.

13


5. Những đóng góp của luận văn
1.3.74.

Luận văn là cơng trình nghiên cứu chuyên sâu về mặt lý luận và

thực tiễn về các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng đối với người dưới 18 tuổi
trong trường hợp được miễn TNHS theo quy định của BLHS năm 2015. Sau khi bảo
vệ thành công, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo có ích trong nghiên cứu về áp dụng
các biện pháp giám sát, giáo dục đối với người dưới 18 tuổi trong trong trường hợp
được miễn TNHS, đồng thời đóng góp giúp các nhà tham mưu nghiên cứu trong đấu
tranh, phòng ngừa tội phạm là người dưới 18 tuổi.
6. Cấu trúc của luận văn
1.3.75.

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,


luận văn được kết cấu thành 03 chương:
1.3.76.

Chương 1: Một số vấn đề chung về các biện pháp giám sát,

giáo dục áp dụng đối với người dưới 18 trong trường hợp được miễn trách nhiệm
hình sự theo luật hình sự Việt Nam
1.3.77.

Chương 2: Các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về các

biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng đối với người dưới 18 tuổi trong trường hợp
được miễn trách nhiệm hình sự.
1.3.78.
Chương
3:
Thực
trạng
ápmột
dụng
các
biện
pháp
giám sự
trong
sát,
trường
giáo
hợp

dục
được
áp
dụng
miễn
đốivà
trách
với
nhiệm
người
dưới
sự
18
theo
tuổi
luật
hình
Việt
Nam,
nguyên
nhân
sốhình
kiến
nghị.

14


1.3.79.Chương 1
1.3.80.MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC BIỆN PHÁP GIÁM SÁT, GIÁO

DỤC
7
1.3.81. • • • ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI TRONG
TRƯỜNG HỢP ĐƯỢC
1.3.82.MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1.

Khái quát về người dưới 18 tuổi phạm tội

1.1.1.

Khái niệm

1.3.83.

Để hiểu rõ các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng đối với

người dưới 18 tuổi phạm tội trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự, cần
làm rõ các khái niệm có liên quan:
1.3.84.

- Thứ nhất về khái niệm người dưới 18 tuổi:

1.3.85.

Tuổi được định nghĩa là: “Năm, dùng làm đơn vị đo thời gian

sống của người, là khoảng thời gian từ khi sinh ra đến thời điểm xác định nào
đó”[30]. Như vậy, “tuổi của một người được tính theo đơn vị năm, phù hợp với quy
luật tự nhiên một vòng quay trái đất quanh mặt trời, cách tính tuổi của một người sẽ

dựa vào thời gian khi người đó được sinh ra đến thời điểm xác định nào đó”[62].
1.3.86.

Thơng thường, tuổi được hiểu theo cách thống nhất là khoảng

thời gian từ khi sinh ra đến thời điểm xác định nào đó, tuy nhiên cách tính tuổi trên
thực tế lại khơng được thống nhất như vậy. Cách tính tuổi thực tế ở các nước trên thế
giới vốn không đồng nhất như nhau và khơng phải lúc nào cũng tính theo tuổi trịn và
tính theo năm. Phong tục tập quán người Việt tính theo tuổi mụ là một ví dụ chứng
minh cho sự khơng đồng nhất này. Một người nếu tính theo thơng lệ quốc tế - tính
tuổi trịn và theo năm - thì anh ta mới 29 tuổi. Tuy nhiên, khi làm những việc hệ
trọng trong cuộc đời như kết hôn, cưới hỏi, làm nhà, ma chay,...thì anh ta ln được
coi là 30 tuổi để tính tốn ngày lành tháng tốt mà tổ chức sự kiện. Ở Hàn Quốc, cách
tính tuổi truyền thống cũng được tính thời gian bào thai trong bụng mẹ và được làm
tròn thành một năm. Nghĩa là một đứa trẻ vừa chào đời đã đạt một tuổi. Thêm vào
đó, cứ bước sang năm dương lịch mới thì mỗi người lại được cộng thêm một tuổi chứ
không phải cứ đủ 12 tháng mới trịn một năm tuổi. Cách tính này dẫn đến một nghịch


lý là đứa trẻ vừa chào đời chưa đầy một tuần tuổi đã được người Hàn Quốc tính là 02
tuổi. Ví dụ đứa trẻ A sinh ngày 29/12/2018, ngày bé chào đời là bé đã được 01 tuổi
(do cách tính tuổi thai, tuổi mụ), chỉ ba ngày sau bước sang năm mới, bắt đầu từ ngày
01/01/2019 bé A đã thêm tuổi mới và được tính là 02 tuổi. Chuyện tính tuổi của Hàn
Quốc ngày càng trở nên phức tạp khi Nhà nước thừa nhận song thai tại quốc gia này
rất coi trọng phong tục truyền thống. Việc tính tuổi theo cách cổ truyền được sử dụng
rất phổ biến và rộng rãi trong cách lĩnh vực của đời sống. Điều này dẫn đến những
phiền toái trong các giao dịch của người Hàn Quốc vì họ ln phải giải thích tuổi
đang được sử dụng là “tuổi Hàn Quốc” hay “tuổi quốc tế”[62].
1.3.87.


Dù có những cách tính tuổi khác nhau theo phong tục, tập quán

của từng quốc gia và vùng lãnh thổ song về cơ bản xét trên phương diện pháp lý,
cách tính tuổi được pháp luật các nước trên thế giới quy định đều thống nhất theo
tuổi trịn và được tính theo năm. Trên cơ sở cách tiếp cận này thì “người dưới 18
tuổi” theo tác giả sẽ được hiểu là “người đã lọt lòng mẹ mà kể từ khi sinh ra tính đến
thời điểm hiện tại vẫn chưa trịn 18 năm”.
1.3.88.

- Thứ hai, khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội:

1.3.89.

Tại điều 8 BLHS Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm

2017) nước ta quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định
trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân
thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống
nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn
hóa, quốc phịng, an ninh, trật tự, an tồn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ
chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của cơng dân, xâm phạm
những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ
luật này phải bị xử lý hình sự”[35, tr.11]. Như vậy, theo quan điểm của BLHS năm
2015, tội phạm được quy định rõ về hành vi hoặc nhóm hành vi, chủ thể thực hiện,
về năng lực chịu trách nhiệm hình sự, về lỗi, về các lĩnh vực phạm tội cụ thể. Đối với
tội phạm khi xảy ra, cơ quan tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) phải
thực hiện nhiều biện pháp tố tụng và nghiệp vụ cụ thể nhằm điều tra làm rõ tội phạm
và xử lý theo quy định. Tuy nhiên, khi tội phạm đã hoàn thành thì hậu quả mang lại



cho xã hội là khó khắc phục. Do đó, quan trọng nhất là các chủ thể cần làm tốt công
tác phòng ngừa tội phạm.
1.3.90.

Tội phạm do người dưới 18 tuổi gây ra cũng có đầy đủ 4 dấu

hiệu của cấu thành tội phạm nhưng nó có đặc điểm khác biệt cơ bản với tội phạm nói
chung là chủ thể thực hiện tội phạm có phạm vi hẹp hơn bao gồm những người từ đủ
14 tuổi đến dưới 18 tuổi. Điều 12, BLHS năm 2015 quy định tuổi chịu trách nhiệm
hình sự: người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm và
người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất
nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Việc phân định 2 mức độ tuổi trên cho
thấy độ tuổi từ 16 đến dưới 18 tuổi tâm sinh lý phát triển hơn, thể chất và tinh thần
hoàn thiện hơn độ tuổi dưới 16 tuổi.
1.3.91.

Khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội hiện còn nhiều quan

điểm khác nhau. Theo GS.TSKH Lê Cảm và TS. Đỗ Thị Phượng đưa ra khái niệm
người chưa thành niên phạm tội: “Người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14
đến dưới 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm Hình sự chưa đầy đủ, do hạn chế bởi các
đặc điểm về tâm sinh lý và đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm ” [8, tr.9].
1.3.92.

Theo tác giả Đỗ Thị Bảo Ngọc (2019) đưa ra khái niệm: “Người

dưới 18 tuổi phạm tội là người từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm
hình sự, có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định là
tội phạm trong BLHS” [27, tr.12]. Người phạm tội theo quy định của luật hình sự các

nước cũng được thừa nhận chung trong khoa học pháp lý hình sự phải là người có
năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Theo đó người này
phải thỏa mãn ba điều kiện sau: một là người có khả năng nhận thức và điều khiển
hành vi; hai là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật
hình sự; ba là người này đã thực hiện một hành vi bị luật hình sự quy định là tội
phạm.
1.3.93.

Điều 12 BLHS Việt Nam năm 2015 quy định tuổi chịu TNHS:

“1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ
những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác./2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên


nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp
dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội
cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, về tội phạm rất nghiệm trọng, tội
phạm đặc biệt nghiệm trọng...”[35]. Như vậy, theo pháp luật hình sự Việt Nam hiện
hành, người phạm tội chỉ có thể là người từ đủ 14 tuổi trở lên, có khả năng nhận thức
và điều khiển hành vi, đã thực hiện một tội phạm do BLHS quy định.
1.3.94.

Từ những phân tích trên, tác giả định nghĩa người dưới 18 tuổi

phạm tội theo pháp luật hình sự Việt Nam như sau: “Người dưới 18 tuổi là người có
khả năng nhận thức và điều khiển hành vi mà kể từ khi sinh ra tính đến thời điểm
thực hiện tội phạm do BLHS quy định đã tròn 14 năm nhưng chưa đủ 18 năm”.
1.1.2.


Đặc điểm

1.3.95.

Xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý của những người dưới 18

tuổi, đây là giai đoạn trẻ đang phát triển mọi mặt, là giai đoạn chuyển từ trẻ em sang
người lớn, chưa có nhiều kinh nghiệm sống cũng như trình độ nhận thức cịn hạn
chế. Vì vậy, tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện mang những đặc điểm sau:
1.3.96.

Một là, đa số người dưới 18 tuổi phạm tội đều là người có trình

độ nhận thức thấp, ít hiểu biết về pháp luật, thường có quan niệm sai lệch về quyền
và nghĩa vụ công dân.
1.3.97.

Người dưới 18 tuổi đang trong quá trình phát triển cả về tâm

sinh lý và ý thức. Đây là giai đoạn cơ thể có nhiều thay đổi đột ngột, còn chưa nhận
thức đầy đủ về thế giới xung quanh, chưa có kỹ năng sống và hiểu biết pháp luật nên
tự xem mình là “cái rốn của vũ trụ”, là nhân vật có tầm quan trọng nhất, đề cao cái
“tơi”, dễ tự ái khi bị nói nặng lời, đôi khi dẫn đến hành động nông nổi dẫn đến các
hành vi phạm tội. Một phần không nhỏ người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi phạm
tội chỉ để thỏa mãn nhu cầu, hứng thú không đúng đắn của cá nhân, gây nên hậu quả
và dư luận xã hội; chỉ khi được giải thích, phân tích thì các em mới hiểu được hành
vi của mình là phạm tội.
1.3.98.

Hai là, người dưới 18 tuổi thường có nhu cầu độc lập và hành


động bồng bột theo bản năng.


1.3.99.

Nhu cầu độc lập có thể hiểu là việc cá nhân tự hành động và tự

đưa ra quyết định theo ý riêng mà không muốn bị ảnh hưởng hay phụ thuộc vào
người khác. Nhu cầu độc lập khơng chỉ có mặt tích cực mà cịn có mặt tiêu cực nếu
nó phát triển theo hướng thái quá. Người dưới 18 tuổi mặc đang sống phụ thuộc vào
gia đình, tuy nhiên, họ thường muốn tách khỏi gia đình, muốn tự mình trưởng thành
và học hỏi mà khơng muốn kiểm sốt từ phía cha mẹ. Đôi khi nhu cầu độc lập thái
quá thường biểu hiện ra bên ngoài dưới dạng các hành vi ương bướng, cố chấp, dễ tự
ái, phô trương, gây gổ... Bên cạnh đó, người dưới 18 tuổi ln có nhu cầu khám phá
cái mới, tò mò với thế giới xung quanh, ham thích tìm hiểu cái mới lạ do đó sự tác
động trở lại của thế giới khách quan là tất yếu, tác động trực tiếp đến nhận thức và sự
phát triển của trẻ. Đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của người
duới 18 tuổi.
1.3.100.

Ba là, trong xác định TNHS người dưới 18 tuổi cũng được phân

chia thành các độ tuổi khác nhau và từ sự phân chia này có thể xác định được tư
cách tham gia tố tụng tại Tòa án, xác định được tội danh, xác định được có phải
chịu TNHS hay khơng.
1.3.101.

Người dưới 18 tuổi chỉ được coi là chủ thể của tội phạm khi có


đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi sai trái của mình. Do vậy
năng lực trách nhiệm hình sự phải đạt đến độ tuổi nhất định được quy định trong
BLHS. Điều 12 BLHS năm 2015 quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự: “1. Người
từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà
Bộ luật này có quy định khác/2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách
nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiệm trong, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng theo
quy định của BLHS”[35, tr.14].
1.3.102.

Việc xác định độ tuổi đối với người dưới 18 tuổi khi tham gia tố

tụng rất quan trọng. Trong một số trường hợp độ tuổi của bị can, bị cáo quyết định họ
có phải chịu TNHS hay không; độ tuổi của người bị hại cũng có thể quyết định đó là
tội gì, khung hình phạt nào. Khi chưa có đầy đủ chứng cứ về độ tuổi thì cơ quan truy
tố cũng như Tịa án phải yêu cầu cơ quan điều tra làm rõ (chẳng hạn chứng cứ về
giấy khai sinh khác nhau về ngày tháng năm sinh). Chỉ trong trường hợp không thể


xác định được tuổi, ngày, tháng sinh thì mới phải xác định theo hướng có lợi cho bị
cáo.
1.3.103.

Bốn là, những tội phạm do người dưới 18 tuổi gây ra thường có

những đặc điểm riêng biệt; động cơ, mục đích phạm tội thường bột phát, nhất thời
và không rõ ràng.
1.3.104.

Về hành vi phạm tội: Người dưới 18 tuổi nếu thực hiện hành vi


kiếm lợi bất chính thì cách thức, thủ đoạn tiến hành thường được chuẩn bị trước, có
khi rất tinh vi, phức tạp và quyết tâm hoàn thành hành vi dù có trở ngại khách quan.
Trái lại, đối với người dưới 18 tuổi có hồn cảnh đặc biệt như mồ côi, bỏ nhà sống
lang thang, là nạn nhân của bạo lực gia đình, nạn nhân của tệ nạn xã hội hoặc có thói
quen đua địi mua sắm, tiêu xài hoang phí...thì cách thức, hành vi phạm tội đơn giản
hơn nhiều. Các em thường bị lệ thuộc về vật chất nên dễ bị người lớn sai khiến hoặc
tự mình thực hiện những việc làm trái pháp luật như mua bán ma túy, trộm cắp, cướp
tài sail,.. .Khi thực hiện hành vi phạm tội thường đơn giản, nhanh lẹ, vội vã và ít có
quyết tâm thực hiện đến cùng nếu bị ngăn trở.
1.3.105.

Về địa bàn gây án: theo các nghiên cứu người dưới 18 tuổi

thường thực hiện hành vi phạm tội ở thành phố, trung tâm thương mại, thị trấn, thị xã
thì mang tính chất táo bạo, phức tạp, các tội phạm điển hình như: cố ý gây thương
tích, cướp giật, lừa đảo, giết người, gây rối trật tự cơng cộng,.Cịn nếu như ở nông
thôn, tội phạm chủ yếu là cướp giật, trộm cắp tài sản và thường thực hiện ở nơi vắng
vẻ, ít người.
1.3.106.

Đối tượng xâm hại: Thường tập trung vào những đồ vật gọn nhẹ

có giá trị cao như tiền bạc, điện thoại,...sau đó mới là sức khỏe, danh dự, nhân phẩm
và các quan hệ khác.Thiệt hại của tội phạm do người dưới 18 tuổi gây ra thường
không đáng kể nhưng ảnh hưởng đến xã hội thì khơng lường hết được.
1.3.107.

Nguyên nhân dẫn tới phạm tội: Đa phần người dưới 18 tuổi

phạm tội thường là những trẻ có hồn cảnh đặc biệt, cha mẹ ly hơn hoặc thiếu sự

chăm sóc, giáo dục từ gia đình; trẻ em bỏ học, lang thang; trẻ em nghiện ma túy,
nhiễm HIV, trẻ em có lối sống lệch lạc trong nhận thức dẫn đến hành vi trái với
chuẩn mực chung của xã hội. Có thể tổng hợp một số ngun nhân sau:
1.3.108.

Từ phía gia đình: Đây là nguyên nhân chủ yếu, ảnh hưởng trực


tiếp đến nhận thức và quá trình phát triển nhân cách của người dưới 18 tuổi. Vai trò
giáo dục của gia đình đặc biệt là cha mẹ là hết sức quan trọng. Thực tế cho thấy, gia
đình tạo dựng được nề nếp, kỷ cương tốt thì con cái có lối sống lành mạnh. Ngược lại
gia đình nào có mơi trường giáo dục không tốt sẽ là nguyên nhân dẫn đến hành vi
phạm tội của người dưới 18 tuổi. Những thiếu sót, sai lầm từ phía gia đình có thể là
do lựa chọn phương pháp giáo dục không đúng như: đáp ứng đầy đủ yêu cầu vật chất
của con cái khi các u cầu này khơng chính đáng, khơng phù hợp với lứa tuổi và
điều kiện kinh tế gia đình. Sự nuông chiều thái quá, không bắt làm lụng, coi nhẹ hoặc
bỏ qua lỗi lầm từ đó tạo ra thói quen, tâm lý địi hỏi, hưởng thụ, sống ích kỷ, ỷ lại.
Ngược lại, có gia đình bố mẹ thiếu hiểu biết, trình độ thấp khi con mắc lỗi khơng
khun răn, dạy bảo con mà lại đánh đập, hành hạ. Đây là một trong những nguyên
nhân dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật của người dưới 18 tuổi [48, tr.168]. Bên
cạnh đó, một số gia đình thiếu trách nhiệm, khơng quan tâm đến sự phát triển của trẻ
như: bố mẹ làm ăn, phải đi công tác xa thường xuyên hay bố mẹ đau ốm khơng quan
tâm giáo dục con cái. Có trường hợp con cái bỏ học hàng tháng mà bố mẹ không hay
biết, chỉ đến khi nhận được thông báo của cơ quan cơng an hoặc hàng xóm, bạn bè
mách bảo thì mọi việc đã muộn. Một số gia đình có hồn cảnh đặc biệt như bố mẹ ly
hơn; bố (mẹ) đang chấp hành án phạt tù; bố mẹ đã chết, con cái sống với dì ghẻ hoặc
bố dượng hoặc sống một mình, lang thang. Những trẻ em rơi vào hoàn cảnh này
thường bị tổn thương về tâm lý, tự ti, mặc cảm, thiếu điều kiện học tập, vui chơi,
thiếu sự quan tâm dẫn đến mất phương hướng nên dễ bị lôi kéo bởi bạn bè xấu và
thực hiện các hành vi lệch chuẩn.

1.3.109.

Từ phía nhà trường: Hầu hết các trường học trên cả nước đều tổ

chức cho học sinh tham gia ký kết không vi phạm pháp luật, nhưng thực tế đây cũng
chỉ là hình thức. Trong khi đó, nhiều trường lại khơng có phương pháp giáo dục các
học sinh chưa ngoan, học sinh cá biệt. Thông thường khi phát hiện các học sinh vi
phạm pháp luật nhà trường chủ yếu áp dụng hình thức kỷ luật là đuổi học. Hình thức
này vơ tình lại tạo ra khoảng trống, sự thiếu trách nhiệm giữa nhà trường với gia đình
học sinh. Bên cạnh đó, sự phối hợp, trao đổi thơng tin từ phía nhà trường với phụ
huynh học sinh cịn còn chưa được quan tâm nên việc các em nghỉ học đi chơi điện


tử, xem phim ảnh bạo lực, khiêu dâm mà nhà trường cũng như gia đình khơng hay
biết, tạo điều kiện cho kẻ xấu lôi kéo, rủ rê các em vào con đường vi phạm pháp luật.
1.3.110.

Từ phía xã hội: Đầu tiên phải nói đến các tệ nạn xã hội ảnh

hưởng đến người dưới 18 tuổi như: sách báo, băng đĩa văn hóa phẩm đồi trụy, phim
ảnh bạo lực,...gây sự tị mò, bắt chước của các em. Hơn nữa, ngày nay mạng internet
được phổ biến rộng rãi và sự quản lí của cơ quan chức năng thiếu chặt chẽ đối với
nguồn tin trên internet tạo kẽ hở cho người dưới 18 tuổi khai thác thông tin, ảnh
hưởng tiêu cực tới sự phát triển của trẻ. Mặt khác, vai trò của các đoàn thể xã hội,
đặc biệt là Đoàn Thanh niên trong cơng tác giáo dục và phịng ngừa vi phạm pháp
luật của người dưới 18 tuổi chưa được làm tốt cũng là nguyên nhân làm phát sinh tội
phạm. Sự mờ nhạt của các tổ chức đoàn cùng với việc thiếu quan tâm của gia đình
dẫn đến nhiều thanh niên sau khi trở về từ trường giáo dưỡng lại tiếp tục đi vào con
đường tái phạm.
1.3.111.


Nguyên nhân từ chính bản thân người phạm tội: Do bản thân

người dưới 18 tuổi có những đặc thù riêng chưa được hoàn thiện về thể chất và tinh
thần nên ở độ tuổi này, họ luôn hướng tới sự ham thích cái mới lạ, hiếu động, muốn
thể hiện bản thân mà đơi khi chỉ vì cái nhìn thiếu thiện cảm hay một lời nói khơng ưa
mà các em thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng như
cố ý gây thương tích, giết người. Đặc biệt có một số em lại có suy nghĩ pháp luật của
Việt Nam có chính sách xử lí khoan hồng người dưới 18 tuổi phạm tội nên việc mình
thực hiện hành vi vi phạm pháp luật ln được xử lí nhẹ hơn người trên 18 tuổi khác
nên cố ý phạm tội.
1.2.

Khái niệm, đặc điểm các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng đối

với người dưới 18 tuổi trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự
theo luật hình sự Việt Nam
1.2.1.

Khái niệm

1.3.112.

Về khái niệm giáo dục, theo nghĩa chung, từ “giáo dục” dịch ra

tiếng Anh là “Education”. Từ “giáo dục” trong tiếng Việt gồm từ “giáo” nghĩa là dạy
dỗ, từ “dục” nghĩa là nuôi dưỡng. Vậy từ “giáo dục” có nghĩa là dạy dỗ, ni dưỡng
bao gồm trí - dục, thể - dục, đức - dục.
1.3.113.


Theo TS Nguyễn Văn Tuấn “Giáo dục là một quá trình đào tạo


con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho họ tham gia vào đời sống xã
hội, lao động sản xuất, bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm
lịch sử xã hội của loài người [48]. Theo nghĩa hẹp, giáo dục có thể hiểu là một q
trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch của một người (hay một nhóm
người) - gọi là giáo viên - nhằm tác động vào hệ thống nhận thức của người đó, để
làm phát triển trí thông minh, phát triển khả năng nhận thức phù hợp với thế giới
khách quan, và làm phát triển nhận thức của người đó lên; qua đó tạo ra một con
người mới, có những phẩm chất phù hợp với yêu cầu được đặt ra.
1.3.114.

Theo Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng

nhân dân năm 2015 định nghĩa: “Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét,
đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân
theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý
theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý” [39]. Giám
sát là một hình thức hoạt động quan trọng, đồng thời là quyền của cơ quan nhà nước
thể hiện ở việc xem xét đối với hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát trong
việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật nhằm bảo đảm pháp chế hoặc sự chấp hành
những quy tắc chung nào đó.
1.3.115.

Theo cuốn Thuật ngữ tư pháp người dưới 18 tuổi của Bộ Tư

pháp phối hợp cùng tổ chức UNICEF thì khơng chính thức có khái niệm biện pháp
giám sát, giáo dục nhưng lại có thuật ngữ “biện pháp khơng chính thức”. Theo đó,
biện pháp khơng chính thức (Informal Measures) là biện pháp xử lý vi phạm pháp

luật không áp dụng các thủ tục tố tụng hình sự hoặc thủ tục xử lý vi phạm hành chính
mà dựa vào cộng đồng để giáo dục, răn đe người có hành vi vi phạm. Ở Việt Nam có
những biện pháp xử lý khơng chính thức như hịa giải, giám sát, phê bình, kiểm
điểm, nhắc nhở, giáo dục tại dòng họ, kỷ luật tại nhà trường,...Ở nhiều nước trên thế
giới, những biện pháp xử lý không chính thức đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
thường được gọi là “biện pháp xử lý chuyển hướng” vì người dưới 18 tuổi được đưa
ra khỏi hệ thống tố tụng chính thức để xử lý tại cộng đồng [54].
1.3.116.

Theo Nghị định số 37/2018/NĐ-CP ngày 10 tháng 3 năm 2018

về Quy định chi tiết thị hành các biện pháp giám sát, giáo dục người dưới 18 tuổi


phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự nêu rõ: “Biện pháp giám sát, giáo dục
người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự (sau đây gọi là biện
pháp giám sát, giáo dục) là các biện pháp được quy định tại Mục 2 Chương XII của
Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, đã được sửa đổi, bổ sung một số Điều theo Luật
số 12/2017/QH14 (sau đây gọi chung là Bộ luật Hình sự năm 2015), bao gồm: khiển
trách, hòa giải tại cộng đồng và giáo dục tại xã, phường, thị trấn” [3, tr.1].
1.3.117.

Ngoài ra, nghị định cũng nêu rõ, người được giám sát, giáo dục

là người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện
pháp giám sát, giáo dục theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của BLHS năm 2015.
Người trực tiếp giám sát, giáo dục là người có tư cách đạo đức tốt, có kiến thức, kỹ
năng về cơng tác xã hội, công tác trẻ em hoặc kiến thức cần thiết về tâm sinh lý trẻ
em hoặc được đào tạo, tập huấn về tư pháp đối với người chưa thành niên, được Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định giao nhiệm vụ trực tiếp thực hiện việc giám

sát, giáo dục.
1.3.118.

Từ những khái niệm trên, theo tác giả: “Giám sát, giáo dục

người dưới 18 tuổi phạm tội là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành các
hoạt động đào tạo, theo dõi, xem xét, đánh giá người dưới 18 tuổi phạm tội trong
trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự nhằm giúp người dưới 18 tuổi thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật và phòng ngừa tái
phạm”.
1.2.2.

Đặc điểm

1.3.119.

Thứ nhất, các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng đối với

người dưới 18 tuổi trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự là một dạng của
biện pháp cưỡng chế hình sự.
1.3.120.

Việc quy định các biện pháp giám sát, giáo dục đối với người

dưới 18 tuổi phạm tội trong trường hợp được miễn TNHS tại Mục 2 Chương XII của
BLHS bao gồm: khiển trách, hòa giải tại cộng đồng và giáo dục tại xã, phường, thị
trấn cho thấy đây là các biện pháp xử lý chuyển hướng với mục đích giảm thiểu việc
áp dụng các hình phạt về hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, tạo điều kiện
cho họ được áp dụng các biện pháp xử lý mang tính nhân văn hơn, phù hợp hơn với



quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế. Tuy nhiên, về bản chất các
biện pháp giám sát, giáo dục cũng mang hình thức của dạng biện pháp cưỡng chế
hình sự. Theo đó, các biện pháp trên được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm
tội trong trường hợp được miễn TNHS thể hiện nội dung là hậu quả pháp lý bất lợi từ
việc thực hiện hành vi phạm tội; người bị áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục
sẽ buộc phải thi hành các quyết định của cơ quan có thẩm quyền về áp dụng thực
hiện các biện pháp khiển trách, hòa giải, giáo dục tại xã, phường, thị trấn; buộc phải
thực hiện các nghĩa vụ của người bị giám sát giáo dục theo quy định tại Điều 25
Nghị định số 37/2018/NĐ-CP ngày 10 tháng 3 năm 2018 về Quy định chi tiết thị
hành các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng người dưới 18 tuổi trong trường hợp
được miễn TNHS của Chính Phủ; chịu sự giám sát, đánh giá của cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền được giao nhiệm vụ giám sát, giáo dục; trường hợp người dưới
18 tuổi được áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục nhưng cố tình khơng thực hiện
hoặc thực hiện khơng đúng u cầu sẽ bị đánh giá, phân loại để áp dụng các chế tài
xử lý hành chính hoặc hình sự khác theo quy định của pháp luật.
1.3.121.

Thứ hai, chủ thể có thẩm quyền áp dụng các biện pháp giám

sát, giáo dục đối với người dưới 18 tuổi trong trường hợp được miễn trách nhiệm
hình sự là cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa
án và áp dụng theo thủ tục luật định.
1.3.122.

Theo quy định tại Điều 426 Bộ luật TTHS năm 2015 quy định

về thẩm quyền áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục quy định rõ: Cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát, Tịa án có thẩm quyền quyết định áp dụng một trong các biện
pháp giám sát, giáo dục đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn TNHS bao

gồm: khiển trách, hòa giải tại cộng đồng, giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Theo đó
chủ thể có thẩm quyền quyết định việc áp dụng các biện pháp giám sát giáo dục là
Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tịa án.
1.3.123.

Ngồi ra tại Điều 6, Nghị định 37/2018/NĐ-CP ngày 10 tháng 3

năm 2018 cũng quy định rõ về các chủ thể có trách nhiệm trong việc thi hành các
biện pháp giám sát, giáo dục bao gồm: (i) Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thi hành
các biện pháp giám sát, giáo dục. Căn cứ vào tình hình vi phạm pháp luật của người
chưa thành niên, năng lực cán bộ và các điều kiện khác ở địa phương, Chủ tịch Ủy


×