Tải bản đầy đủ (.pdf) (9 trang)

Bài thu hoạch Diễn án Hồ sơ dân sự 09 Trần Thị Thu

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (639.23 KB, 9 trang )

HỌC VIỆN TƯ PHÁP
CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
Môn: Kỹ năng cơ bản của Luật Sư khi tham gia giải quyết các vụ án dân sự.
Số hồ sơ: 09
Ngày diễn án: 07/09/2021
Giáo viên hướng dẫn: HOÀNG HỮU THANH

Họ và tên: HOÀNG PHƯƠNG TRINH – Vai diễn: THƯ KÝ PHIÊN TOÀ
Lớp: Luật sư 23.1A
Số báo danh: 84
Ngày tháng năm sinh: 06/05/1996

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng 09 năm 2021
1


PHẦN I: CHUẨN BỊ TẠI NHÀ
1. TÓM TẮT NỘI DUNG
- Bà Trần Thị Thu (sau đây gọi tắt là “bà Thu”) bắt đầu làm việc tại công ty
trách nhiệm hữu hạn YD Việt Nam (sau đây gọi tắt là “công ty YD”) vào ngày
17/07/2006 theo hợp đồng lao động có thời hạn 01 năm, sau đó gia hạn thêm
01 năm. Ngày 17/10/2008, bà Thu ký hợp đồng lao động số YC-S008/VTH2008 (sau đây gọi tắt là “hợp đồng”) không xác định thời hạn với chức danh
kế tốn trưởng, trình độ chun mơn kế tốn, mức lương cơ bản
230USD/tháng (tương đương 21.733.600 đồng/tháng) cùng các chế độ khác
theo quy định của pháp luật Việt Nam.
- Bà Thu nghỉ thai sản theo chế độ, hết thời hạn nghỉ thai sản bà Thu quay trở
lại làm việc vào ngày 09/12/2015 tuy nhiên đến cổng công ty bà bị bảo vệ
chặn lại và nhận được thông báo số 05/2015/TB ngày 05/12/2015 (sau đây gọi


tắt là “thông báo”) với nội dung mời bà Thu đến cơng ty để làm rõ sai phạm
kế tốn vào lúc 9h sáng ngày 15/12/2015.
- Theo như thông báo bà Thu đã đến công ty đúng thời gian để tham gia buổi
làm việc. Buổi làm việc có mặt đại diện cơng ty YD gồm: ông Shuhei (Tổng
Giám đốc), ông Takasugi (Quản lý), 02 người phiên dịch, 02 người được giới
thiệu là nhân viên bên cơng ty kiểm tốn cùng 02 luật sư của công ty. Nội
dung buổi làm việc đại diện công ty YD yêu cầu bà Thu khai nhận những sai
phạm của bà Thu mà không đưa ra được bất kỳ bằng chứng cũng như cụ thể
sai phạm, công ty YD còn yêu cầu bà Thu cung cấp lại hồ sơ cá nhân. Kết
thúc buổi làm việc công ty YD u cầu bà Thu ra về mà khơng bố trí công
việc lại cho bà Thu.
- Ngày 20/12/2015 bà Thu nhận được thông báo số 07/2015/TB (sau đây gọi
tắt là “thông báo 06”) có chữ ký của Tổng Giám đốc và con dấu công ty với
nội dung thông báo cho bà Thu đến công ty tham gia cuộc họp kỷ luật lao
động đối với bà Thu vào 09h ngày 25/12/2015. Đúng ngày giờ như thông báo,
đại diện công ty YD tham dự trễ 1 tiếng 30 phút so với thông báo trước đó.
Buổi họp đã diễn ra với những ý kiện buộc tội bà Thu vô căn cứ bởi Đại diện
tổ chức cơng đồn, phía cơng ty YD tiếp tục khơng đưa ra được bất kỳ chứng
cứ nào liên quan. Cuộc họp được lập thành biên bản với nội dung cụ thể như
sau: “Khi nào chị Thu mang hồ sơ cá nhân tới nộp thì Tổng Giám
- Bà Thu nhận được Quyết định số S008-14/QĐ ngày 20/12/2015 với nội dung
mời bà Thu quay lại làm việc với cơng việc kế tốn phụ trách kho rác từ ngày
05/01/2016, bà Thu không đồng ý với Quyết định này vì điều kiện sức khoẻ
vì thế yêu cầu được làm việc với Tổng Giám đốc công ty YD cũng như gửi
văn bản đến công ty YD nhưng không được giải quyết.

2


- Ngày 14/05/2016 Ban quản lý khu kinh tế và cơng đồn khu kinh tế Hải Phịng

làm việc với bà Thu và ban hành biên bản xử lý kỷ luật lao động với hình thức
sa thải đề ngày 20/03/2016. Bà Thu nhiều lần yêu cầu công ty YD trả lời về
những sai phạm của bà Thu chậm nhất ngày 25/05/2016 tuy nhiên phía cơng
YD vẫn khơng có bất kỳ phản hồi nào để giải quyết vấn đề này cho bà Thu.
- Ngày 06/07/2016, bà Thu nộp đơn khởi kiện công ty YD ra Toà án nhân dân
huyện AD thành phố Hải Phòng.
2. YÊU CẦU KHỞI KIỆN CỦA NGUYÊN ĐƠN
- Yêu cầu Toà án tuyên huỷ biên bản xử lý kỷ luật với hình thức kỷ luật sa thải
đối với bà Thu;
- u cầu cơng ty YD tốn tồn bộ tiền lương kể từ ngày 09/12/2015 đến hết
ngày 09/07/2016 với mức lương 20.393.000 đồng/tháng;
- u cầu cơng ty YD thanh tốn tiền trợ cấp thôi việc từ 17/07/2006 đến ngày
31/12/2008 với mức lương 20.393.000 đồng/tháng;
- Yêu cầu công ty YD tiến hành chốt sổ bảo hiểm xã hội cho đến thời điểm hiện
tại ngay lập tức cho bà Thu.
3. TƯ CÁCH ĐƯƠNG SỰ
3.1. NGUYÊN ĐƠN: bà Trần Thị Thu – sinh năm 1985, địa chỉ: Số 600,
phố Đ, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hồng Bàng, Tp. Hải Phịng
3.2. BỊ ĐƠN: Cơng ty TNHH YD Việt Nam – địa chỉ: Lô 1200, Khu cơng
nghiệp NM, thành phố Hải Phịng – người đại diện theo uỷ quyền bà
Trần Thị Huyền sinh năm 1991, địa chỉ: Số 200 Trung Hành 5, phường
Đằng Lâm, quận Hải An, TP Hải Phòng.
3.3. NGƯỜI LÀM CHỨNG: Bà Nguyễn Thị Phương – Phó Chủ tịch Cơng
đồn của Cơng ty YD Việt Nam, sinh năm: 1982; địa chỉ: 33/1 Ô 6,
Khu 3, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
4. QUAN HỆ PHÁP LUẬT TRANH CHẤP
- Đây là tranh chấp lao động cụ thể là về việc sa thải trái pháp luật giữa người
sử dụng lao động và người lao động theo điểm 1 khoản 1 Điều 32 BLTTDS
2015.
5. THẨM QUYỀN CỦA TOÀ ÁN

- Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35 và điểm
a khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015 đây là vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án
nhân dân cấp huyện nơi bị đơn có trụ sở tức là Tồ án nhân dân huyện AD.
Như vậy Toà án nhân dân huyệ AD thụ lý là đúng thẩm quyền.

3


6. THỜI HIỆU KHỞI KIỆN
- Theo quy định tại khoản 2 Điều 202 BLLĐ 2012 về thời hiệu yêu cầu giải
quyết tranh chấp lao động cá nhân thì thời hiệu khởi kiện là 01 năm kể từ ngày
phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp
pháp của mình bị vi phạm. Như vậy, thời điểm quyền và lợi ích của bà Thu bị
xâm phạm kể từ ngày 09/12/2015 – là ngày công ty không cho chị làm việc
kéo theo các hành vi xâm phạm quyền lợi khác từ phía cơng ty YD. Thời điểm
bà Thu khởi kiện ra Toà án là 06/07/2016 như vậy thời hiệu vẫn còn, việc bà
Thu khởi kiện là đúng quy định của pháp luật.
7.
-

CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT ĐƯỢC ÁP DỤNG
Bộ Luật lao động 2012;
Bộ luật dân sự 2015;
Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

8. KẾ HOẠCH HỎI TẠI TOÀ
8.1. HỎI BỊ ĐƠN
- Bà Thu nghỉ thai sản vào ngày nào và quay lại làm việc vào ngày nào?
- Công việc mà công ty YD đã sắp xếp, bố trí cho bà Thu là cơng việc gì? Cụ
thể?

- Cơng ty YD có biết việc bà Thu đang ni con nhỏ dưới 12 tháng tuổi?
- Vì sao cơng ty YD lại sắp xếp cơng việc có mơi trường làm việc ô nhiễm,
không phù hợp với điều kiện và tình trạng ni con dưới 12 tháng của bà Thu
như vậy?
- Cơng ty YD vui lịng liệt kê cụ thể các sai phạm mà công ty cho rằng bà Thu
đã vi phạm nghiệp vụ kế tốn trong q trình làm việc ở cơng ty.
- Cơng ty YD có những chứng cứ chứng minh nào về những sai phạm đó?
- Bà Thu khơng đến cơng ty từ thời gian nào? Vì sao đến ngày 20/03/2016 mới
có cuộc họp xử lý vấn đề này?
- Công ty YD lập biên bản xử lý kỷ luật lao động ngày 20/03/2016 nhưng vì
sao đến ngày 14/08/2016 lại tiếp tục ra quyết định sa thải đối với bà Thu?
- Vì sao cơng ty YD lại ra quyết định xử lý kỷ luật với hình thức sa thải đối với
người nuôi con dưới 12 tháng tuổi là bà Thu?
- Vì sao cơng ty YD khơng ra bất cứ phản hồi, phương án giải quyết đối với
khiếu nại của bà Thu?

4


-

8.2. HỎI NGUYÊN ĐƠN
Bà Thu cho biết bà làm việc ở công ty YD từ thời gian nào đến thời gian nào?
Giữa bà và cơng ty YD có tồn tại hợp đồng lao động khơng? Nếu có là loại
hợp đồng nào với nội dung cụ thể về chức vụ, mức lương ra sao?
Chức vụ, vị trí cơng việc của bà trước khi nghỉ thai sản là gì?
Sau khi hết thời gian nghỉ thai sản, bà có quay lại làm việc đúng thời gian quy
định khơng? Cơng ty có bố trị công việc như cũ không?
Bà Thu cho biết nội dung cuộc họp ngày 15/12/2015 là gì?
Những điều có trong nội dung cuộc họp trên bà Thu có được biết gì về những

vấn đề đó khơng?
Cơng ty YD bố trí cơng việc mới cho bà vào thời gian nào? Vị trí cơng việc
là gì?
Sau khi nhận được quyết định bố trí cơng việc mới bà có phản hồi gì và phản
hồi như thế nào, với ai, có ai trả lời phản hồi khơng?
Bà có nhu cầu quay trở lại cơng ty làm việc với vị trí kế tốn trưởng như cũ
khơng?

9. BÀI LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA
NGUYÊN ĐƠN
Kính thưa Hội đồng xét xử, đại diện Viện kiểm sát, các vị luật sư đồng
nghiệp cùng toàn thể q vị có mặt trong phiên tồn ngày hơm nay. Tơi là
Luật sư Hồng Phương Trinh văn phịng luật sư ABC, thuộc đồn Luật sư TP
Hồ Chí Minh. Hơm nay tơi tham gia phiên tồ với tư cách là người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn – bà Trần Thị Thu trong vụ án
“tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải” tại Toà án nhân
dân huyện AD, bị đơn là cơng ty TNHH YD Việt Nam.
Qua q trình nghiên cứu hồ sơ vụ án và thủ tục xét hỏi tại phiên tồ,
tơi xin trình bày một số ý kiến, quan điểm của mình để bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp cho thân chủ tôi như sau:
Thứ nhất, công ty YD vi phạm quy định của pháp luật khi
không bố trí cơng việc cũ cho bà Thu sau khi bà Thu quay lại làm
việc từ kì nghỉ thai sản. Trước tiên, việc điều chuyển lao động này đã
vi phạm quy định tại Điều 31 BLLĐ 2012 về “chuyển người lao động
làm công việc khác so với hợp đồng lao động:
1. Khi gặp khó khăn đột xuất do thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, áp
dụng biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp, sự cố điện, nước hoặc do nhu cầu sản xuất, kinh
doanh, người sử dụng lao động được quyền tạm thời chuyển
người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động,

5


nhưng không được quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong một năm,
trừ trường hợp có sự đồng ý của người lao động.
2. Khi tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với
hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải báo cho người
lao động biết trước ít nhất 03 ngày làm việc, thơng báo rõ thời hạn
làm tạm thời và bố trí cơng việc phù hợp với sức khoẻ, giới tính
của người lao động.
3. Người lao động làm công việc theo quy định tại khoản 1 Điều này
được trả lương theo công việc mới; nếu tiền lương của công việc
mới thấp hơn tiền lương cong việc cũ thì được giữ nguyên mức
tiền lương cũ trong thời hạn 30 ngày làm việc. Tiền lương theo
công việc mới ít nhất phải bằng 85% mức tiền lương cơng việc cũ
nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ
quy định.”
Việc cơng ty YD ln chuyển bà Thu làm cơng việc nhân viên
kế tốn kho rác với môi trường làm việc ô nhiễm là không phù hợp
với sức khoẻ của lao động nữ sau sinh trong thời kỳ nuôi con dưới
12 tháng, việc luân chuyển dựa vào lý do bà Thu có sai phạm là trái
với quy định tại khoản 1 Điều này. Thêm vào đó, cơng ty YD luân
chuyển người lao động với công việc khác mà khơng báo trước,
khơng có thời hạn tạm thời cho công việc là cũng trái với quy định
tại khoản 1 Điều này. Hơn nữa, việc bố trí cơng việc khác, không
bảo đảm công việc cũ cho lao động nữ được đảm bảo việc làm cũ
khi trở lại làm việc sau khi hết thời gian nghỉ thai sản là vi phạm quy
định tại Điều 158 BLLĐ 2012, cụ thể: “Lao động nữ được đảm
bảo việc làm cũ khi trở lại làm việc sau khi hết thời gian theo quy
định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 157 của Bộ luật này; trường

hợp việc làm cũ khơng cịn thì người sử dụng lao động phải bố trí
việc làm khác cho họ với mức lương không thấp hơn mức lương
trước khi nghỉ thai sản.”
Thứ hai, công ty YD vi phạm quy định của pháp luật lao động
khi tiến hành sa thải bà Thu. Theo bút lục số 27 về biên bản xử lý
vi phạm kỷ luật lao động ngày 20/03/2016 công ty tiến hành giao
việc mới cho bà Thu sau thời gian nghỉ thai sản và bà Thu không
đồng ý, theo nội quy công ty người lao động tự ý nghỉ việc quá 05
ngày khơng đến cơng ty mà khơng có lý do chính đáng thì ra quyết
định kỷ luật lao động sa thải, cụ thể công ty ra quyết định sa thải bà
Thu, bà Thu vắng mặt tại cuộc họp dù công ty báo 03 lần. Tuy nhiên
việc công ty YD tự ý luân chuyển công việc với lý do bà Thu sai
phạm mà không báo trước là vi phạm pháp luật lao động. Thêm vào
6


đó điều kiện, mơi trường làm việc khơng phù hợp với tình trạng sức
khoẻ của bà Thu nên việc bà Thu khơng chấp nhận làm việc là hồn
tồn chính đáng, công ty viện dẫn lý do bà Thu vắng mặt q 05
ngày, mời khơng đến để sa thải là hồn tồn khơng có căn cứ. Thêm
vào đó, cơng ty YD cũng không hỗ trợ, tạo điều kiện cho bà Thu tiếp
nhận công việc sau khi nghỉ thai sản, cụ thể: công ty không thông
báo trước về việc điều chuyển công việc, đến tận ngày bà Thu trở
lại làm việc mới được bảo vệ chặn lại gửi thông báo; công ty YD
không tham dự cuộc họp đúng thời gian định sẵn,… bà Thu dù đã
rất cố gắng để được tiếp tục làm việc tại cơng ty YD. Ngồi ra, cơng
ty YD cũng vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 155 BLLĐ 2012
“quy định bảo vệ thai sản đối với lao động nữ: trong thời gian
mang thai, nghỉ hưởng chế độ khi sinh con theo quy định của
pháp luật về bảo hiểm xã hội, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, lao

động nữ không bị xử lý kỷ luật lao động.” và quy định tại điểm d
khoản 4 Điều 123 “ không được xử lý kỷ luật lao động đối với
người lao động đang trong thời gian sau đây: lao động nữ có thai,
nghỉ thai sản; người lao động ni con nhỏ dưới 12 tháng tuổi”.
Thực tế, bà Thu nghỉ thai sản từ tháng 6/2015 đến 9/12/2015 bà Thu
trở lại làm việc, là lao động nữ nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi thuộc
trường hợp không được xử lý kỷ luật. Việc công ty YD tiến hành xử
lý kỷ luật sa thải hoặc bất kì hình thức xử lý kỷ luật nào khác là vi
phạm nghiêm trọng pháp luật lao động.
Thứ ba, việc bà Thu yêu cầu được bồi thường khi công ty đơn
phương chấm dứt hợp đồng, thanh toán tiền trợ cấp thơi việc là
hồn tồn hợp lý. Cơng ty YD sa thải bà Thu theo khoản 3 Điều
125 BLLĐ 2012 nên theo khoản 8 Điều 36 BLLĐ 2012 là trường
hợp chấm dứt hợp đồng lao động “người lao động bị xử lý kỷ luật
sa thải theo quy định tại khoản 3 Điều 125 của Bộ luật này”, như
đã phân tích ở trên đây là hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng
lao động trái pháp luật theo quy định tại Điều 41 BLLĐ 2012 “đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là các trường hợp
chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định tại các Điều 37,
38 và 39 của Bộ luật này” vì thế cơng ty YD phải thực hiện nghĩa
vụ của mình theo quy định tại Điều 42 BLLĐ 2012 quy định về
“người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động trái pháp luật:
1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao
động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo

7


hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm

việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao
động.
2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì
ngồi khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này
người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định
tại Điều 48 của Bộ luật này.
3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại
người lao động và người lao động đồng ý, thì ngồi khoản tiền
bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc
theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận
khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng
tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao
động.
4. Trường hợp khơng cịn vị trí, cơng việc đã giao kết trong hợp
đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngồi
khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên
thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.
5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải
bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với
tiền lương của người lao động trong những ngày khơng báo
trước.”
Ngồi những nghĩa vụ nói trên, cơng ty YD cịn phải bồi
thường thêm cho bà Thu khoản tiền khác như tiền trợ cấp thôi
việc theo quy định tại Điều 48 BLLĐ 2012.
Như vậy, vì bà Thu khơng có nhu cầu quay trở lại công ty
làm việc cùng với những căn cứ nêu trên, tơi đề nghị Hội đồng
xét xử chấp nhận tồn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
(i)

Buộc bị đơn huỷ Biên bản xử lý kỷ luật lao động với hình

thức sa thải đối với nguyên đơn bà Thu;

(ii)

Buộc bị đơn thanh tốn tồn bộ tiền lương và bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế trong thời gian bà Thu khơng được làm
việc kể từ ngày 09/12/2015 tạm tính đến ngày 09/05/2017
theo mức lương hàng tháng mà hai bên thống nhất là
20.393.000 đồng, tổng số là 20.393.000 đồng x 17 tháng =
346.681.000 đồng;

8


(iii)

Buộc bị đơn bồi thường 02 thán tiền lương theo Hợp đồng
lao động và theo khoản 1 Điều 42 BLLĐ 2012, cụ thể:
20.393.000 đồng x 02 tháng = 40.786.000 đồng;

(iv)

Buộc bị đơn bồi thường thêm 02 tháng tiền lương khi bà
Thu không đồng ý trở lại làm việc: 20.393.000 đồng x 2 =
40.786.000 đồng;

(v)

Buộc bị đơn thanh toán tiền trợ cấp thôi việc bắt đầu từ
ngày nguyên đơn làm việc tại công ty cho đến thời điểm

hiện tại theo quy định tại Điều 48 BLLĐ 2012. Nguyên
đơn được tính trợ cấp thôi việc từ 17/07/2006 đến
31/12/2008 tạm tinh là 2,5 năm. Tiền lương trung bình một
tháng của 06 tháng liền kề trước khi nguyên đơn nghỉ việc
là 20.393.000 đồng, tức: 20.393.000 đồng x 2,5 năm x ½
= 25.491.250 đồng;

(vi)

Buộc bị đơn tiến hành chốt sổ bảo hiểm cho nguyên đơn
kể từ ngày 09/12/2015 cho đến khi có quyết định của Tồ
án.
Trên đây là tồn bộ quan điểm của tơi để bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn. Kính mong Hội đồng
xét xử cân nhắc, xem xét và đưa ra phán quyết một cách
công bằng nhất. Tôi xin chân thành cảm ơn HĐXX, đại
diện VKS và các vị luật sư đồng nghiệp đã lắng nghe.

LUẬT SƯ HOÀNG PHƯƠNG TRINH

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ ABC

9



×