Tải bản đầy đủ (.doc) (30 trang)

MỘT số vấn đề về xử lý VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG LĨNH vực ĐĂNG ký và QUẢN lý hộ TỊCH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (258.13 KB, 30 trang )

ĐỀ TÀI
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT
TRONG LĨNH VỰC ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ HỘ TỊCH

A. THÔNG TIN VỀ ĐỀ TÀI
Cấp đề tài

: Đề tài cấp cơ sở

Chủ nhiệm đề tài

: ThS.Lê Hải Yến - Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp

Cơ quan chủ quản

: Bộ Tư pháp

Cơ quan chủ trì

: Viện Khoa học pháp lý

Năm bảo vệ

: 2003

B. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
Quản lý và đăng ký hộ tịch là một nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên của cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền. Thông qua hoạt động đăng ký hộ tịch, Nhà nước xác nhận các
sự kiện hộ tịch phát sinh và có trách nhiệm bảo hộ quyền nhân thân của cá nhân gắn liền
với các sự kiện đó. Mặt khác, những thông tin thu được từ việc quản lý hộ tịch là căn cứ
quan trọng để các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thống kê và phân tích dân cư,


nghiên cứu khoa học, hoạch định các chính sách về an ninh quốc phịng, dân số - kế
hoạch hố gia đình, các chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Chính vì vậy, đăng ký hộ
tịch khơng chỉ là quyền mà đồng thời là nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức.
Thực tiễn quản lý Nhà nước về hộ tịch trong thời gian qua cho thấy: Mặc dù pháp luật
đã quy định khá cụ thể trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước và công dân trong việc
đăng ký và quản lý hộ tịch và các cơ quan Nhà nước từ trung ương đến địa phương cũng
có khơng ít những biện pháp nỗ lực nhằm tăng cường hiệu quả của hoạt động đăng ký và
quản lý hộ tịch, nhưng hoạt động này trên thực tế vẫn cịn có rất nhiều khó khăn tồn tại.
Số lượng các trường hợp khơng đăng ký hộ tịch cịn tồn đọng khá nhiều. Tình trạng vi
phạm pháp luật trong đăng ký hộ tịch (mà đặc biệt là những vi phạm chưa đến mức truy
cứu trách nhiệm hình sự) vẫn xảy ra khá thường xuyên, nhất là trong một số lĩnh vực cụ
thể như đăng ký khai sinh, khai tử; đăng ký kết hôn, đăng ký nhận ni con ni … Nhìn
chung, đối tượng vi phạm rất đa dạng, từ cá nhân, tổ chức có trách nhiệm đi đăng ký cho
đến cán bộ thực hiện việc đăng ký hộ tịch. Có rất nhiều nguyên nhân để lý giải cho tình
trạng này. Bên cạnh những khó khăn khách quan của cơ chế thi hành pháp luật về hộ tịch
như trình độ dân trí của một bộ phận dân cư còn thấp, tổ chức bộ máy thi hành hoạt động
đăng ký cịn bất cập, số lượng và trình độ cán bộ làm công tác đăng ký và quản lý hộ tịch
cịn hạn chế thì ngun nhân từ những bất cập, hạn chế xử lý các vi phạm pháp luật
trong lĩnh vực và quản lý hộ tịch cũng là một trong những nguyên nhân đáng kể.
Mặc dù trong một số văn bản pháp luật chủ đạo về quản lý hộ tịch hay một số văn bản
khác có liên quan đều ít nhiều có đề cập đến trách nhiệm pháp lý cần thiết đối với cá
nhân, tổ chức, trách nhiệm của người thi hành công vụ khi vi phạm pháp luật về đăng ký
và quản lý hộ tịch, nhưng các quy định trên vẫn thể hiện một số bất cập như: Thiếu các
văn bản quy phạm pháp luật quy định riêng về xử lý vi phạm hành chính và cả vi phạm kỷ
luật trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch; việc xác định trách nhiệm pháp lý hành
chính đối với các hành vi vi phạm pháp luật chưa được đề cập đến một cách rõ ràng, cụ


thể; các chế tài cần thiết để xử lý hành chính trên tất cả các lĩnh vực đăng ký chưa được
dự liệu, quy định một cách đầy đủ, …

Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài khoa học: “Một số vấn đề xử lý vi phạm pháp luật trong
lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch” là hoàn toàn cần thiết, với mục tiêu chính của đề tài
là góp phần xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đổi mới, hoàn thiện cơ chế xử lý vi
phạm pháp luật trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch. Đồng thời đề tài cũng nhằm mục
đích góp một phần vào q trình đổi mới và hồn thiện hệ thống các văn bản quy phạm
pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch; đáp ứng những đòi hỏi của nhu cầu xã hội trong
thời kỳ mới, trong điều kiện cải cách hành chính, cải cách tư pháp, hướng tới một Nhà
nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trong phạm vi của đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, dưới giác độ pháp lý hành
chính, và cũng trong khn khổ của một đề tài Nhóm nghiên cứu khơng có điều kiện đề
cập một cách tồn diện đến toàn bộ cơ chế xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đăng
ký và quản lý hộ tịch (bao gồm cả cơ chế xử lý hình sự đối với các tội phạm hình sự trên
lĩnh vực này), mà chỉ tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu một số vấn đề cơ bản về xử
lý vi phạm hành chính và vi phạm kỷ luật về đăng ký và quản lý hộ tịch (như phân tích
đánh giá thực trạng các chế định pháp lý hiện hành về xử lý vi phạm hành chính, vi phạm
kỷ luật; phân tích, đánh giá thực trạng vi phạm pháp luật trên một số quan hệ đăng ký hộ
tịch phổ biến như khai sinh, khai tử, đăng ký kết hôn, đăng ký nuôi con ni…), từ đó đưa
ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế này.
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ HỘ TỊCH VÀ XỬ LÝ VI
PHẠM PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ HỘ TỊCH
1. Một số vấn đề lý luận về đăng ký và quản lý hộ tịch
1.1. Khái niệm hộ tịch, đăng ký hộ tịch, quản lý hộ tịch.
1.1.1. Khái niệm hộ tịch
Từ trước đến nay, vẫn tồn tại khá nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm “Hộ tịch”.
Có quan niệm cho rằng: Hộ tịch là sổ biên chép các việc liên hệ đến các người trong nhà.
Hộ tịch gồm ba sổ để ghi chép các sự khai giá thú, khai sinh, khai tử1. Quan niệm thứ hai
lại cho rằng, việc ghi chép vào sổ sách không phải là hộ tịch mà bản thân các sự kiện liên
quan đến tình trạng nhân thân của con người mới là hộ tịch. Có thể xem cách hiểu thứ
hai là cách hiểu khá thấu đáo và tồn diện, được khoa học cơng nhận và được quy định
khá rõ ràng trong văn bản quy phạm pháp luật. Theo quy định tại Điều 1 Nghị định số

83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch thì: Hộ tịch là những
sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết.
Có thể xem những sự kiện về hộ tịch rất đa dạng. Nếu theo quan niệm cũ trước đây, hộ
tịch chủ yếu bao gồm các sự kiện về sinh, tử, kết hơn thì theo quy định hiện nay của
pháp luật, hộ tịch bao gồm 9 sự kiện cơ bản như: sinh; tử; kết hôn; nuôi con nuôi;
giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi họ, tên, chữ đệm; cải chính họ, tên, chữ đệm, ngày,
tháng, năm sinh; xác định lại dân tộc2. Các sự kiện hộ tịch được xem là các sự kiện cơ
bản, bởi các sự kiện này có thể làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và
1
2

Vũ Văn Mẫu, Lê Đình Chân - Danh từ tài liệu dân Luật và Hiến Luật, Tủ sách đại học Sài gòn, 1968.
Điều 1 Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ


nghĩa vụ pháp lý của cá nhân.
1.1.2. Khái niệm đăng ký hộ tịch
a. Định nghĩa “Đăng ký hộ tịch”:
Đăng ký hộ tịch được định nghĩa tại Luật Dân sự Việt Nam 3 là: Việc cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền xác nhận sự kiện sinh tử, kết hôn, ly hôn, giám hộ, nuôi con nuôi, thay đổi
họ tên, quốc tịch, xác định lại dân tộc, cải chính hộ tịch và các sự kiện khác theo quy định
của pháp luật.
Việc đăng ký hộ tịch là quyền, nghĩa vụ của mỗi người và được thực hiện theo trình tự và
thủ tục do pháp luật về hộ tịch quy định.
Dưới góc độ quản lý Nhà nước, pháp luật hộ tịch đã phân định hành vi đăng ký hộ tịch
thành hai loại hành vi cơ bản sau: 4 Hành vi xác nhận các sự kiện hộ tịch và hành vi ghi vào
sổ đăng ký hộ tịch các thay đổi về hộ tịch.
Xác nhận là việc cơ quan đăng ký hộ tịch ghi các sự kiện hộ tịch (sinh, tử, kết hôn ...)
vào Sổ đăng ký hộ tịch gốc (Sổ đăng ký khai sinh, Sổ đăng ký kết hôn, Sổ khai tử ...) và
cấp cho đương sự Giấy chứng nhận về các sự kiện đó. Còn hành vi ghi là việc cơ quan

đăng ký hộ tịch ghi chú vào Sổ đăng ký hộ tịch các thay đổi về hộ tịch như ly hôn, xác
định cha, mẹ, con, thay đổi quốc tịch, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế
năng lực hành vi dân sự, huỷ hôn nhân trái pháp luật, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với
con chưa thành niên... Khác với hành vi xác nhận, để thực hiện hành vi ghi chú này, cơ
quan có thẩm quyền đăng ký hộ tịch phải căn cứ vào các quyết định đã có hiệu lực pháp
luật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Ví dụ như Bản án xử ly hơn hay Quyết định
của Chủ tịch nước cho thôi quốc tịch... ). Bản thân hành vi ghi chú không làm phát sinh
hiệu lực pháp lý bởi vì các quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã đem lại
hiệu lực pháp lý cho các thay đổi về hộ tịch đó. Đây chính là điểm khác biệt giữa hai hành
vi đăng ký hộ tịch.
b. Phạm vi đăng ký hộ tịch:
Pháp luật về quản lý hộ tịch của nước ta quy định phạm vi đăng ký hộ tịch bao gồm: đăng
ký khai sinh; đăng ký khai tử; đăng ký kết hôn; đăng ký nuôi con nuôi; đăng ký việc giám
hộ; đăng ký việc nhận cha, mẹ, con; đăng ký các việc thay đổi, cải chính hộ tịch, ghi vào sổ
các thay đổi hộ tịch khác.
Bất kỳ một sự kiện hộ tịch nào kể trên cũng đều phải được đăng ký tại cơ quan có thẩm
quyền. Đối với một số sự kiện, nếu đã đăng ký nhưng có yêu cầu thay đổi, cải chính thì
cá nhân vẫn phải thực hiện thủ tục đăng ký việc thay đổi, cải chính đó. Việc đăng ký thay
đổi, cải chính hộ tịch được áp dụng đối với việc thay đổi họ, tên, chữ đệm; cải chính họ,
tên, chữ đệm, ngày tháng năm sinh; xác định lại dân tộc. Đối với những thay đổi hộ tịch
trên cơ sở quyết định đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, thì
khơng phải thực hiện việc đăng ký mà cơ quan có thẩm quyền đăng ký hộ tịch sẽ thực
hiện việc ghi vào sổ nội dung các thay đổi hộ tịch. Các thay đổi hộ tịch thường bao gồm
các việc về ly hôn; xác định cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; mất tích; mất năng lực hành
vi dân sự; hủy hôn nhân trái pháp luật; hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành
3
4

Điều 54 Bộ Luật Dân sự.
Theo Điều 1 Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998



niên. Đối với các việc sinh, tử chưa đăng ký trong trong thời hạn luật định, thì pháp luật
cũng bắt buộc cá nhân, tổ chức phải thực hiện việc đăng ký theo thủ tục đăng ký quá hạn,
bất kể thời gian quá hạn kéo dài bao lâu. Đối với các việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con
nuôi đã được đăng ký, nhưng bản chính và sổ gốc đã bị mất hoặc hư hỏng, thì cá nhân,
tổ chức có thể thực hiện thủ tục đăng ký lại.
Việc đăng ký hộ tịch không chỉ được thực hiện đối với công dân Việt Nam ở trong nước
mà còn được thực hiện đối với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài,...khi họ tham gia các quan hệ hộ tịch thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật Việt
Nam.
c. Khái niệm một số quan hệ đăng ký hộ tịch chủ yếu:
Khai sinh. Để bảo đảm việc đăng ký khai sinh cho trẻ được kịp thời và đầy đủ, pháp
luật hộ tịch quy định: trong thời hạn luật đã định, cha, mẹ, hoặc người thân thích, người
có trách nhiệm phải đi đăng ký khai sinh cho trẻ em 5. Nếu quá thời hạn quy định, thì cũng
phải đăng ký khai sinh theo thủ tục đăng ký khai sinh quá hạn.
Khai tử được hiểu là hành vi khai báo của người thân của người mới chết hoặc những
người có trách nhiệm khác trước cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương theo trình tự
và thủ tục do luật định. Thời hạn đăng ký khai tử đã được quy định khá cụ thể tại Điều 28
Nghị định 83. Cũng giống như thủ tục đăng ký khai sinh, pháp luật cho phép đăng ký khai
tử quá hạn nếu như việc đăng ký chưa được tiến hành trong thời gian đã được quy định.
Đăng ký kết hôn được hiểu là việc một người nam và một người nữ thực hiện việc khai
báo trước cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được xác nhận quan hệ vợ chồng của họ
theo các yêu cầu về điều kiện, trình tự, thủ tục, nghi thức do luật định.
Đăng ký nuôi con nuôi được hiểu là hành vi của những người không phải là cha mẹ
ruột của đứa trẻ, thực hiện việc khai báo trước cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm
thiết lập quan hệ cha mẹ ni con ni với đứa trẻ đó theo trình tự, thủ tục do luật định.
1.1.3. Khái niệm quản lý hộ tịch:
Quản lý hộ tịch là sự tác động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tới các sự kiện
nhân thân của cá nhân nhằm thực hiện chức năng kiểm soát dân cư và phục vụ cho các

hoạt động quản lý trong các lĩnh vực khác như an ninh, quốc phòng, dân số, kế hoạch
hố gia đình,... Hoạt động quản lý hộ tịch hướng đến đối tượng quản lý là các sự kiện xác
định tình trạng nhân thân của con người từ khi sinh ra đến khi chết. Những sự kiện này
mang đặc điểm là khó thay đổi, có tính ổn định cao. Nếu có thay đổi thì sự thay đổi đó phải
được sự xác nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và phải được tiến hành theo một
trình tự thủ tục rất chặt chẽ. Phạm vi của quản lý hộ tịch bao gồm cả đối tượng là công dân
Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngồi có những quan hệ
hộ tịch thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật Việt Nam.
Rất khó có thể tách rời hai khái niệm “Đăng ký hộ tịch” và “Quản lý hộ tịch”. Bởi lẽ, đăng
ký hộ tịch cũng là một yếu tố, một “động tác” cơ bản của hoạt động quản lý hộ tịch. Tuy
nhiên, bên cạnh việc đăng ký hộ tịch, để phục vụ cho hoạt động quản lý, cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền còn thực hiện rất nhiều nhiệm vụ khác như: xây dựng pháp luật về
Người có trách nhiệm ở đây có thể hiểu là người đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ, hoặc người phụ trách cơ sở
nuôi dưỡng trẻ ... mà khơng biết cha, mẹ, hoặc người thân thích của trẻ là ai.
5


hộ tịch; hướng dẫn chỉ đạo nghiệp vụ chuyên môn về hộ tịch; ban hành và quản lý các
loại sổ sách, biểu mẫu hộ tịch; thống kê hộ tịch; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại tố
cáo về hộ tịch...
1.2. Vị trí, vai trị và ý nghĩa của hoạt động đăng ký và quản lý hộ tịch
Đối với cá nhân, đăng ký hộ tịch là cơ sở pháp lý để phân biệt cá nhân này với cá nhân
khác thông qua các yếu tố về nhân thân của họ. Đăng ký hộ tịch cũng là căn cứ pháp lý
để mỗi cá nhân hưởng các quyền và thực hiện nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước.
Thơng qua việc đăng ký hộ tịch, thể hiện sự xác nhận của Nhà nước đối với các sự kiện
hộ tịch và Nhà nước có trách nhiệm bảo hộ các quan hệ phát sinh từ các sự kiện đó. Mọi
hành vi xâm phạm đến các quan hệ này sẽ bị Nhà nước áp dụng các biện pháp xử lý
thích hợp. Tuy nhiên, để được hưởng quyền bảo hộ thì cá nhân cũng đồng thời phải có
nghĩa vụ thực hiện việc đăng ký đó. Phần lớn các quyền và nghĩa vụ trong lĩnh vực này
cũng là những quyền, nghĩa vụ làm phát sinh các quyền nghĩa vụ pháp lý khác.

Đăng ký hộ tịch cũng có ý nghĩa đặc biệt đối với công tác quản lý Nhà nước. Nếu không
nắm được những sự kiện về biến động dân cư, về hộ tịch của cộng đồng dân cư nói
chung và của từng cá nhân nói riêng thì Nhà nước không thể đưa ra được các biện pháp
đúng đắn và phù hợp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân cũng như để
quản lý Nhà nước và xã hội. Các số liệu thống kê về hộ tịch là một trong những căn cứ
chủ yếu để Nhà nước thống kê và phân tích dân cư, nghiên cứu khoa học, hoạch định
các chính sách về an ninh quốc phịng, dân số - kế hoạch hố gia đình, các chính sách
phát triển kinh tế - xã hội. Do vậy, đăng ký và quản lý hộ tịch là một nhiệm vụ quan trọng
và thường xuyên của cơ quan Nhà nước.
1.3. Thẩm quyền và thủ tục đăng ký hộ tịch
1.3.1. Thẩm quyền đăng ký
Dựa trên cơ sở các yếu tố về thẩm quyền lãnh thổ và đối tượng đăng ký hộ tịch, thẩm
quyền đăng ký của ba cơ quan được phân định như sau:
* Uỷ ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền đăng ký mọi sự kiện hộ tịch khơng có yếu tố
nước ngồi xảy ra trên địa bàn xã, cụ thể là:
i) Đăng ký khai sinh; kết hôn; khai tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; đăng
ký khai sinh, khai tử quá hạn; đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi;
ii) Căn cứ vào quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, ghi vào sổ đăng ký hộ
tịch các việc về ly hôn, xác định cha, mẹ, con, thay đổi quốc tịch, mất tích, mất năng lực
hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự, huỷ hôn nhân trái pháp luật, hạn chế
quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên và những sự kiện hộ tịch khác do pháp
luật quy định;
iii) Cấp bản sao các giấy tờ hộ tịch từ sổ gốc;
* Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền:
i) Đăng ký các sự kiện hộ tịch có yếu tố nước ngồi xảy ra trên địa bàn tỉnh cho người
nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài;
ii) Cho phép thay đổi họ, tên, chữ đệm; cải chính họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm


sinh; xác định lại dân tộc;

iii) Đăng ký quá hạn các sự kiện hộ tịch thuộc thẩm quyền đăng ký của Uỷ ban nhân
dân cấp tỉnh;
iv) Đăng ký lại các sự kiện hộ tịch do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đã đăng ký;
v) Cấp bản sao giấy tờ hộ tịch từ sổ gốc.
* Cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự của Việt Nam có thẩm quyền đăng ký các sự
kiện hộ tịch cho công dân Việt Nam ở nước ngoài, cụ thể là:
i) Đăng ký khai sinh; kết hôn; khai tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; đăng ký
khai sinh, khai tử quá hạn; đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi (đối với
những sự kiện hộ tịch mà trước đây các cơ quan này đã đăng ký) cho công dân Việt Nam ở
nước ngoài;
ii) Căn cứ vào quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, ghi vào sổ đăng ký hộ
tịch các việc về ly hôn, xác định cha, mẹ, con, thay đổi quốc tịch, mất tích, mất năng lực
hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự, huỷ hôn nhân trái pháp luật, hạn chế
quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên và những sự kiện hộ tịch khác do pháp
luật quy định;
iii) Đăng ký lại các sự kiện hộ tịch xảy ra ở nước ngồi đã được cơ quan có thẩm quyền
của nước sở tại đăng ký cho công dân Việt Nam khi đương sự có yêu cầu
iv) Cấp bản sao các giấy tờ hộ tịch từ sổ gốc;
Sự phân định thẩm quyền đăng ký hộ tịch như trên nhằm mục đích tạo ra cơ chế cần
thiết bảo đảm mọi sự kiện hộ tịch của công dân Việt Nam xảy ra ở trong nước hay nước
ngoài đều được đăng ký kịp thời. Theo quy định tại Nghị định 83, đối với các sự kiện hộ
tịch xảy ra ở trong nước, trừ các việc hộ tịch có yếu tố nước ngồi hoặc một số loại việc
có tính chất phức tạp như việc thay đổi họ tên, chữ đệm, cải chính ngày tháng năm sinh..
được giao cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thì thẩm quyền đăng ký hộ tịch chủ yếu thuộc
về chính quyền cấp cơ sở. Tuy nhiên, hiện nay, Nghị định 68/2003/NĐ-CP ra đời cũng đã
phân cấp thẩm quyền đăng ký một số loại việc hộ tịch có yếu tố nước ngồi như đăng ký
kết hơn, đăng ký nhận cha, mẹ, con, đăng ký nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam cư
trú ở khu vực biện giới với người nước ngoài cư trú ở khu vực biên giới cho Uỷ ban nhân
dân cấp xã. Đây được coi là điểm mới về phân cấp quản lý Nhà nước trong công tác hộ
tịch. Có thể nhận định rằng, trong hệ thống tổ chức bộ máy quản lý hộ tịch hiện nay thì Uỷ

ban nhân dân cấp cơ sở (cấp xã) giữ vai trò rất quan trọng. Uỷ ban nhân dân cấp xã là
nơi thực hiện chính các hoạt động đăng ký hộ tịch. Do vậy, hiệu quả hoạt động đăng ký
và quản lý hộ tịch của Uỷ ban nhân dân cấp xã có tính chất quyết định hiệu quả hoạt
động của toàn bộ hệ thống quản lý hộ tịch.
Trong cơ cấu tổ chức của Uỷ ban nhân dân cấp xã, Ban Tư pháp là Ban chun mơn có
nhiệm vụ giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện các hoạt động về đăng ký và quản lý hộ
tịch, theo đó, hoạt động nghiệp vụ đăng ký chủ yếu được thực hiện bởi cán bộ hộ tịch tư
pháp6. Cán bộ hộ tịch tư pháp là chức danh chuyên môn thuộc Ban Tư pháp, là người
thực hiện thường xuyên các hoạt động đăng ký hộ tịch, có các nhiệm vụ, quyền hạn sau:
6

Khoản 2 Điều 11 Nghị định 83


i) Thụ lý hồ sơ, xác minh kiểm tra và đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét,
quyết định việc đăng ký hộ tịch theo quy định của Nghị định này và những quy định khác của
pháp luật về hộ tịch. Khi đăng ký phải ghi đầy đủ, chính xác các nội dung đã được quy định
trong sổ sách, biểu mẫu hộ tịch;
ii) Thường xuyên kiểm tra và đăng ký kịp thời các sự kiện hộ tịch phát sinh trong địa
phương mình. Đối với những khu vực người dân còn bị chi phối bởi những phong tục, tập
quán, điều kiện đi lại quá khó khăn, cán bộ hộ tịch tư pháp phải có lịch định kỳ đến tận
nhà dân để đăng ký những sự kiện hộ tịch đã phát sinh;
Ngoài ra cán bộ hộ tịch tư pháp cịn phải thực hiện một số cơng việc có tính chất thuần
tuý quản lý như phối hợp báo cáo thống kê chính xác các số liệu hộ tịch, sử dụng các
biểu mẫu hộ tịch, lưu trữ sổ sách, hồ sơ hộ tịch...
1.3.2. Trình tự, thủ tục đăng ký hộ tịch
Có thể hiểu một cách khái qt, trình tự, thủ tục đăng ký hộ tịch là cách thức, trình tự
Luật định mà cơ quan có thẩm quyền cũng như các cá nhân, tổ chức phải tuân thủ khi
thực hiện việc đăng ký một sự kiện hộ tịch. Trình tự, thủ tục đăng ký hộ tịch được quy
định trong các văn bản pháp luật hiện hành về hộ tịch như Nghị định 83, Nghị định 68,

Nghị định 77..... Có thể phân loại thủ tục đăng ký hộ tịch theo các tiêu chí khác nhau.
i) Căn cứ vào nội dung đăng ký, có thể phân thành thủ tục đăng ký khai sinh, thủ tục
đăng ký khai tử, thủ tục đăng ký kết hơn...;
ii) Căn cứ vào đối tượng đăng ký, có thể phân thành thủ tục đăng ký hộ tịch thông
thường, thủ tục đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngồi, thủ tục đăng ký áp dụng cho đồng
bào dân tộc thiểu số;
iii) Căn cứ thời hạn đăng ký, có thể phân thành thủ tục đăng ký đúng hạn và thủ tục
đăng ký quá hạn;
iv) Căn cứ vào tính chất đăng ký, có thể phân thành thủ tục đăng ký lần đầu và thủ tục
đăng ký lại...
Tuy nhiên, dù căn cứ vào loại tiêu chí nào thì trình tự, thủ tục đăng ký một sự kiện hộ tịch
nào đều phải xác định đầy đủ các yếu tố sau: thẩm quyền của cơ quan đăng ký, thời hạn
đăng ký, thủ tục đăng ký.
Để có thể đăng ký một sự kiện hộ tịch, người đi đăng ký (đương sự) cần phải nộp hoặc
xuất trình đầy đủ các giấy tờ cần thiết (hồ sơ) trước cơ quan có thẩm quyền. Hồ sơ đăng
ký được xem như là điều kiện để đăng ký hộ tịch, vừa là căn cứ để chứng minh tính xác
thực của sự kiện hộ tịch, vừa là căn cứ để cơ quan đăng ký có cơ sở để kiểm tra việc
đăng ký có vi phạm các điều kiện đã được pháp luật quy định khơng (Ví dụ: Vi phạm điều
kiện kết hôn, điều kiện nuôi con nuôi...). Tuỳ thuộc vào từng nội dung đăng ký khác nhau,
các đối tượng đăng ký khác nhau mà pháp luật quy định hồ sơ đăng ký bao gồm các loại
giấy tờ khác nhau. Nhưng thông thường, hồ sơ đăng ký hộ tịch bao gồm bốn loại giấy tờ
chính như sau: Giấy tờ xác nhận có sự kiện hộ tịch xảy ra. Ví dụ: Giấy chứng sinh, giấy
báo tử, tờ khai đăng ký kết hôn ...); Giấy tờ làm căn cứ xác nhận thẩm quyền đăng ký hộ
tịch. Ví dụ: Sổ hộ khẩu gia đình, giấy đăng ký tạm trú...; Giấy tờ xác nhận không vi phạm
các điều kiện cấm mà pháp luật đã quy định. Ví dụ: xuất trình giấy khai sinh, giấy khám


sức khoẻ khi đăng ký kết hôn; giấy thoả thuận về việc đồng ý cho trẻ làm con nuôi khi
đăng ký nhận nuôi con nuôi...; Giấy tờ xác nhận nhân thân của người đi đăng ký. Ví dụ:
Chứng minh thư nhân dân ...

Trường hợp khơng có đầy đủ các giấy tờ cần thiết thì có thể có giấy tờ hợp lệ thay thế.
Đối với những trường hợp như đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngồi, hay đăng ký cho
một số đối tượng đặc thù như trẻ sơ sinh bị bỏ rơi (trong đăng ký khai sinh), người chết
không rõ tung tích (trong đăng ký khai tử)... thì tùy từng trường hợp cụ thể mà hồ sơ đăng
ký phải bổ sung thêm một số giấy tờ cần thiết khác.
2. Một số vấn đề lý luận về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đăng ký và
quản lý hộ tịch
Các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch khá đa dạng.
Theo quy định tại Điều 93 và 94 Nghị định 83/1998/NĐ-CP thì :
i) Người có thẩm quyền trong việc đăng ký và quản lý hộ tịch mà do thiếu tinh thần trách
nhiệm hoặc cố ý làm trái với các quy định của Nghị định này và các văn bản về hộ tịch thì
tuỳ theo mức độ vi phạm có thể bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu
gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật;
ii) Cá nhân, tổ chức có trách nhiệm phải đi đăng ký hộ tịch mà không thực hiện đúng theo
các quy định của Nghị định này, hoặc có hành vi gian dối khi đăng ký hộ tịch thì tuỳ theo
mức độ vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy
định của pháp luật.
Do hành vi vi phạm đa dạng nên việc xử lý vi phạm trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ
tịch cũng bao gồm nhiều loại chế tài khác nhau. Cũng như đối với các lĩnh vực khác, tuỳ
thuộc vào đối tượng vi phạm, tính chất và mức độ vi phạm mà các cá nhân hoặc tổ chức
vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch có thể bị áp dụng một (hoặc
cả hai) loại chế tài cơ bản là: Chế tài hình sự và chế tài hành chính.
Chế tài hình sự được áp dụng với chủ thể là cá nhân thực hiện hành vi vi phạm pháp
luật trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch ở mức độ tội phạm (như giả mạo sử dụng
các giấy tờ hộ tịch, cố tình làm sai lệch, sửa chữa các giấy tờ hộ tịch trái với quy định của
Nhà nước, lợi dụng chức vụ quyền hạn nhận hối lộ, đưa hối lộ, môi giới hối lộ nhằm thực
hiện các hành vi sai trái trong việc đăng ký và quản lý hộ tịch....). Việc xác định tính chất
của hành vi thế nào là nghiêm trọng, ít nghiêm trọng, xác định các yếu tố cấu thành của
tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, hình phạt v.v... đã được quy định cụ thể trong
Bộ luật hình sự năm 1999. Việc áp dụng chế tài hình sự đối với các tội phạm này sẽ phải

tuân thủ nghiêm ngặt quy trình tố tụng hình sự đã được quy định trong Bộ luật tố tụng hình
sự.
Chế tài hành chính được áp dụng đối với cả cá nhân lẫn tổ chức khi có những hành vi
vi phạm pháp luật về quản lý và đăng ký hộ tịch nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách
nhiệm hình sự. Trong đó, căn cứ vào chủ thể của vi phạm, chế tài hành chính được chia
ra làm hai loại: Chế tài xử lý vi phạm hành chính và chế tài kỷ luật. Riêng chế tài kỷ luật
chỉ được áp dụng đối với chủ thể là công chức thi hành nhiệm vụ về đăng ký và quản lý
hộ tịch (như cán bộ tư pháp hộ tịch; cán bộ cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở
nước ngồi,...) có hành vi vi phạm quy định về đăng ký và quản lý hộ tịch, vi phạm chế độ


công vụ.
2.1. Một số đặc điểm của vi phạm hành chính trên lĩnh vực đăng ký hộ tịch:
2.1.1. Về hình thức của hành vi vi phạm: Trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch,
hành vi vi phạm thường thể hiện dưới hai hình thức sau:
i) Hành vi khơng hành động: Pháp luật quy định phải tiến hành thủ tục đăng ký hộ tịch
nhưng không thực hiện (không đăng ký khai sinh, khai tử, không đăng ký kết hôn, không
đăng ký nuôi con nuôi...)
ii) Hành vi hành động: Chủ thể hành vi vẫn thực hiện hành vi đăng ký hộ tịch nhưng khai
báo gian dối, giả mạo giấy tờ hoặc cung cấp thông tin làm sai lệch giữa các giấy tờ hộ
tịch và hồ sơ cá nhân...
2.1.2. Mặt chủ quan của vi phạm
Mặt chủ quan của vi phạm hành chính thể hiện tập trung, cơ bản nhất ở yếu tố lỗi của
người vi phạm. Trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch thì yếu tố lỗi thường biểu hiện ở
cả hình thức lỗi vơ ý và cố ý. Lỗi vô ý thể hiện ở chỗ người vi phạm do chưa nắm vững
các quy định của pháp luật về hộ tịch nên không thực hiện đúng các thủ tục đăng ký cần
thiết. Lỗi cố ý thể hiện ở hai trường hợp: Người vi phạm biết rõ nghĩa vụ của mình là phải
thực hiện các đăng ký về hộ tịch nhưng cho rằng không quan trọng, không cần thiết đối
với mình nên khơng thực hiện các nghĩa vụ luật định. Hoặc người vi phạm biết rõ hành vi
của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện với mục đích, động cơ lẩn tránh

pháp luật hoặc vụ lợi cá nhân như các hành vi giả mạo giấy tờ về hộ tịch...
2.1.3. Chủ thể của hành vi vi phạm
Trong lĩnh vực đăng ký hộ tịch, chủ thể của các hành vi vi phạm pháp luật chưa đến mức
độ phạm tội hình sự có thể bị áp dụng chế tài xử phạt hành chính gồm hai loại: Cá nhân và
tổ chức. Trong đó cá nhân là chủ thể tương đối phổ biến của vi phạm hành chính về đăng
ký hộ tịch. Tổ chức cũng có thể là chủ thể vi phạm hành chính về đăng ký hộ tịch (ví dụ:
tổ chức nuôi dưỡng đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi, tổ chức từ thiện đăng ký cử
người giám hộ, trại giam đăng ký khai tử cho phạm nhân chết trong trại...). Tuy nhiên đây
là loại chủ thể không phổ biến của vi phạm trên lĩnh vực này.
Về nguyên tắc thì cá nhân là chủ thể của vi phạm hành chính là những người từ đủ 14
tuổi trở lên7 có năng lực trách nhiệm hành chính. Tuy nhiên, trong lĩnh vực đăng ký và quản
lý hộ tịch thì chủ thể của vi phạm hành chính đều là những người đã thành niên.
2.2. Vấn đề áp dụng các nguyên tắc, hình thức và biện pháp xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch
2.2.1. Áp dụng nguyên tắc xử lý vi phạm :
Cũng như khi xử lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực khác, việc xử lý các vi phạm
hành chính trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch phải tuân thủ những nguyên tắc
chung đã được quy định trong pháp luật (Điều 3 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính
2002). Tuy nhiên trong xử lý vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch
thì bên cạnh các nguyên tắc khác, nguyên tắc thứ năm (Khi xử phạt cần cân nhắc tính
chất, mức độ vi phạm, nhân thân của người vi phạm và những tình tiết tăng nặng, giảm
7

khoản 1 Điều 6 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002


nhẹ để quyết định hình thức, biện pháp xử lý thích hợp) là nguyên tắc cần được đặc biệt
lưu ý. Vì, trong nhiều trường hợp, các vi phạm hành chính trong lĩnh vực đăng ký và quản
lý hộ tịch là những vi phạm không cố ý và cũng do nhiều lý do khách quan khác nhau. Ví
dụ : cá nhân vì khơng thấy hết ý nghĩa của việc đăng ký hộ tịch mà không đi đăng ký hộ

tịch (như đăng ký nuôi con nuôi, đăng ký kết hôn ...).
2.2.2. Các hình thức và biện pháp xử lý
a. Các hình thức xử phạt hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả.
Trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch, đã có một số hành vi vi phạm được pháp luật
quy định khá cụ thể về hình thức và mức phạt như:
* Hành vi sửa chữa, làm sai lệch nội dung hoặc giả mạo giấy tờ để đăng ký kết hơn mà
chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, cố ý khai gian dối hoặc có hành vi lừa dối
khác khi đăng ký kết hôn;
* Hành vi sửa chữa, làm sai lệch nội dung hoặc giả mạo giấy tờ để đăng ký nuôi con nuôi
mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, cố ý kê khai gian dối hoặc có hành vi lừa
dối khác khi đăng ký nuôi con nuôi 8;
Căn cứ vào quy định tại Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, cũng giống như các vi phạm
hành chính khác, đối với mỗi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch
thì cá nhân, tổ chức (gọi chung là người vi phạm) đều có thể bị áp dụng một trong các hình
thức phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền.
- Cảnh cáo: là hình thức xử phạt hành chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức gây
ra vi phạm hành chính nhỏ, lần đầu, có tình tiết giảm nhẹ, hoặc đối với mọi hành vi vi phạm
hành chính do người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện và được
quyết định bằng văn bản.
Nhóm nghiên cứu cho rằng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 8 Pháp lệnh
chính là một trong những căn cứ chủ yếu để áp dụng hình phạt cảnh cáo. Đối với các vi
phạm trong đăng ký hộ tịch, cần chú ý tới các tình tiết như: Vi phạm lần đầu, vi phạm do
trình độ lạc hậu, vi phạm do bị ép buộc,.... để áp dụng hình phạt này.
- Phạt tiền: là một biện pháp xử phạt hành chính được áp dụng phổ biến đối với các loại
vi phạm hành chính. Đây là hình thức xử phạt thể hiện mức độ nghiêm khắc hơn so với
cảnh cáo, được áp dụng cho các hành vi vi phạm có mức độ nguy hiểm cho xã hội cao
hơn. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính bị
áp dụng hình thức phạt tiền có thể bị phạt từ 5.000 đồng đến 500.000.000 đồng tuỳ theo
tính chất, mức độ và lĩnh vực vi phạm, trong đó mức phạt tối đa trong lĩnh vực tư pháp là
20.000.000 đồng.9 Tuy nhiên, xuất phát từ đặc thù của hoạt động đăng ký hộ tịch chủ yếu

được thực hiện ở chính quyền cơ sở, các vi phạm hành chính trong lĩnh vực này thường
khơng lớn, tính chất và mức độ thường ít nghiêm trọng hơn so với các lĩnh vực khác. Do
vậy mức phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hộ tịch thường là đến 500.000 đồng và
thuộc thẩm quyền xử lý của Uỷ ban nhân dân cấp xã. Đối với một số hành vi vi phạm
đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngồi, vi phạm việc thay đổi, cải chính hộ tịch thì thuộc
Điều 9, điều 14 Nghị định số 87/2001/NĐ-CP của Chính phủ ngày 21/11/2001 về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực hơn nhân và gia đình.
9 Điều 14 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính
8


thẩm quyền xử lý của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, mức xử phạt có thể tối đa là 20.000.000
đồng.
Do khung xử phạt dao động có mức tối đa và tối thiểu như trên, nên khi xử phạt cơ
quan xử phạt (Chủ tịch UBND cấp xã, tỉnh...) cần phải tính tốn một cách đầy đủ tất cả
các tình tiết của vụ việc vi phạm, nhân thân người vi phạm, xem xét, đánh giá một cách
khách quan đối với vụ việc để từ đó có thể ấn định mức phạt hợp lý.
Cũng do xuất phát từ tính đặc thù của đăng ký hộ tịch là những sự kiện liên quan trực
tiếp đến nhân thân của mỗi cá nhân nên trong số các hình thức xử phạt bổ xung và biện
pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra được quy định trong Pháp lệnh xử
lý vi phạm hành chính, thì chỉ có thể áp dụng được hình phạt bổ sung là: tịch thu tang vật,
phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính (như: tịch thu các giấy tờ hộ tịch đã bị
sửa chữa làm sai lệch nội dung hoặc các giấy tờ hộ tịch giả mạo...), hoặc áp dụng biện
pháp khắc phục hậu quả là: khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm gây
ra. Cịn các hình thức xử phạt bổ sung khác (như tước quyền sử dụng giấy phép, chứng
chỉ hành nghề) và nhiều biện pháp khắc phục hậu quả (như: buộc tháo dỡ cơng trình xây
dựng trái phép; buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hoá, vật
phẩm, phương tiện; buộc tiêu huỷ vật phẩm gây hại cho sức khoẻ con người, vật ni và
cây trồng, văn hố phẩm độc hại) thường khơng áp dụng đối với các vi phạm hành chính
trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch.

b. Các biện pháp xử lý hành chính khác.
Bên cạnh các hình thức xử phạt hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả pháp luật
hành chính nước ta cịn quy định các biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào
cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính. Các biện pháp này chủ
yếu áp dụng đối với trẻ em vi phạm hành chính có tính chất nghiêm trọng hoặc những
người vi phạm hành chính nhiều lần, có tính chất thường xun... Do vậy, trong lĩnh vực
đăng ký và quản lý hộ tịch các vi phạm với tính chất như trên rất ít xẩy ra nên các biện
pháp này cũng không cần thiết được áp dụng.
2.2.3. Thẩm quyền xử lý vi phạm
Trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch, thẩm quyền xử lý các vi phạm được quy định
chung như sau:
- Uỷ ban nhân dân cấp xã xử lý các vi phạm về đăng ký và quản lý hộ tịch theo thẩm
quyền;
- Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xử lý các vi phạm về đăng ký và quản lý hộ tịch theo thẩm
quyền.
- Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài xử lý các vi
phạm về đăng ký và quản lý hộ tịch theo thẩm quyền10.
3. Xử lý vi phạm kỷ luật
Trong lĩnh vực quản lý và đăng ký hộ tịch, cán bộ, công chức Nhà nước (hoặc những
người có trách nhiệm theo luật định) tham gia trực tiếp vào các quan hệ đăng ký hộ tịch
(như cán bộ hộ tịch - tư pháp xã; cán bộ Phòng hộ tịch của Sở Tư pháp; nhân viên làm
10

Điểm n khoản 1 Điều 9, điểm h khoản 1 điều 11 và khoản 8 Điều 16 - Nghị định 83/1998/NĐ-CP


công tác hộ tịch của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước
ngoài,..) có những hành vi vi phạm pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch (chưa đến
mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự), ví dụ như: Đăng ký hộ tịch cho đương sự trái
pháp luật hoặc gây cản trở, không cấp giấy tờ đăng ký hộ tịch cho đương sự,... thì tuỳ

thuộc vào tính chất và mức độ vi phạm mà có thể bị áp dụng biện pháp kỷ luật hành chính
như sau: Khiển trách; Cảnh cáo; Hạ bậc lương; Hạ ngạch; Cách chức; Buộc thôi việc11.
Theo quy định chung của pháp luật, chỉ xử lý một lần đối với mỗi hành vi vi phạm. Khi
xét thấy hành vi vi phạm có dấu hiệu của tội phạm thì phải đình chỉ thi hành kỷ luật và
chuyển hồ sơ tới cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để xem xét truy cứu trách nhiệm hình
sự.
Việc thi hành quyết định kỷ luật được tiến hành thông qua Hội đồng kỷ luật, trình tự, thủ
tục thi hành quyết định kỷ luật được thực hiện theo quy định của Pháp lệnh cán bộ, công
chức và các văn bản hướng dẫn thi hành.
II. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ VÀ
QUẢN LÝ HỘ TỊCH
1. Đánh giá thực trạng pháp luật về xử lý các vi phạm trong lĩnh vực đăng ký và
quản lý hộ tịch
1.1. Phân loại các quy phạm pháp luật về xử lý vi phạm:
Bên cạnh các quy định có tính chất ngun tắc chung tại những văn bản gốc về xử lý
các vi phạm pháp luật chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự như pháp lệnh
xử lý vi phạm hành chính; pháp lệnh cán bộ cơng chức, các quy phạm về xử lý vi phạm
pháp luật trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch được quy định rải rác trong các văn
bản pháp luật về quản lý hộ tịch. Các quy phạm này được chia làm hai loại: i) loại quy
phạm có tính ngun tắc chung về xử lý vi phạm; ii) loại quy phạm có quy định chế tài xử
phạt cụ thể.
a) Loại quy phạm có tính chất nguyên tắc chung về xử lý vi phạm pháp luật về quản lý
hộ tịch (chưa phải là tội phạm) được quy định chủ yếu trong Nghị định 83/1998/NĐ-CP (là
văn bản gốc về quản lý hộ tịch hiện nay), trong Nghị định 68/2002/NĐ-CP ngày 10-7-2002
và trong Nghị định 87/2001/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hơn
nhân và gia đình.
Các nguyên tắc chung về xử lý vi phạm pháp luật về quản lý hộ tịch lại được chia tiếp
thành: Các nguyên tắc chung về xử lý đối với cá nhân, tổ chức vi phạm và các nguyên tắc
xử lý đối với cán bộ, công chức thi hành công vụ liên quan đến hoạt động quản lý hộ tịch.
b) Loại quy phạm có chứa chế tài xử phạt hành chính cụ thể được quy định trong các

văn bản: Nghị định 87/2001/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực hơn nhân và gia đình (Điều 9, Điều 14); Nghị định số 49/cp của Chính phủ ngày
15-8-1996 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự (Điều 9, Điều 10).
1.2. Đặc điểm và những hạn chế, bất cập của các quy định của pháp luật về xử lý
vi phạm hành chính, vi phạm kỷ luật trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch
a) Thiếu một văn bản quy phạm pháp luật quy định riêng về xử lý vi phạm pháp luật
11

Xem Pháp lệnh cán bộ, công chức 1998 (được sửa đổi, bổ sung năm 2000 và 2002)


trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch
Các quy định về nguyên tắc xử lý vi phạm trong lĩnh vực quản lý hộ tịch nằm rải rác
trong các văn bản về đăng ký và quản lý hộ tịch lẫn các văn bản khác có liên quan đến
quản lý hộ tịch (lĩnh vực hơn nhân gia đình), cịn các quy phạm có chứa các chế tài cụ thể
để xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý hộ tịch thì được “gửi nhờ” trong các
văn bản thuộc lĩnh vực khác là lĩnh vực hơn nhân gia đình (Nghị định 87) và lĩnh vực quản
lý an ninh, trật tự xã hội (Nghị định 49), là một bộ phận cấu thành của các văn bản đó.
Việc các quy định rải rác như vậy khiến cho công dân, tổ chức có liên quan và cả cán bộ
làm cơng tác đăng ký và quản lý hộ tịch rất khó nắm bắt được một cách đầy đủ các quy
định của pháp luật về xử lý vi phạm trên lĩnh vực này, dễ dẫn đến tình trạng khơng hiểu
hết được hậu quả pháp lý của hành vi vi phạm, xem thường pháp luật và cũng dẫn đến
những khó khăn nhất định cho cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong việc áp dụng các
chế tài xử lý vi phạm. Ngay cả việc phân định đâu là hành vi vi phạm pháp luật về đăng ký
và quản lý hộ tịch và đâu là hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình (bị xử lý
hành chính) cũng khơng phải dễ dàng khi các chế tài về xử lý vi phạm hành chính về
đăng ký và quản lý hộ tịch bị “gửi nhờ” như hiện nay. Ví dụ như trong Nghị định 87/2001/
NĐ-CP: trong cùng một điều khoản (hành vi vi phạm quy định về ni con ni) nhưng chỉ
có hành vi vi phạm khoản 1 của Điều 14 mới là hành vi vi phạm pháp luật về đăng ký và
quản lý hộ tịch, còn các khoản khác trong điều này tuy bị áp dụng các chế tài xử lý hành

chính, nhưng không phải là hành vi vi phạm pháp luật về đăng ký quản lý hộ tịch mà là
các vi phạm thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước khác. Còn Điều 13 của Nghị định này thì có
tên là “ hành vi vi phạm quy định về giám hộ” nhưng lại là chế tài xử lý hành chính đối với
quan hệ dân sự - hơn nhân gia đình chứ khơng phải là điều khoản xử lý các vi phạm về
đăng ký giám hộ - thuộc lĩnh vực pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch. Hoặc như trong
số các quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực kết hơn thì chỉ có nội dung quy định
tại Điều 9 (hành vi vi phạm quy định về đăng ký kết hôn) là điều chỉnh hành vi vi phạm
trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch, còn nội dung các Điều 6 (hành vi tảo hôn, tổ
chức tảo hôn), Điều 7 (hành vi cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự
nguyện tiến bộ), Điều 8 (hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn
nhân một vợ, một chồng) lại quy định chế tài xử phạt các vi phạm pháp luật về hơn nhân
và gia đình (về điều kiện kết hôn, về nguyên tắc kết hôn tự nguyện).
b) Một số quy định của pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực quản lý hộ tịch mới
dừng lại ở các quy định mang tính nguyên tắc chung, thiếu cụ thể nên khó thi hành
Cụ thể như sau:
Các vi phạm về đăng ký kết hôn, nuôi con nuôi (cả trong nước và có yếu tố nước
ngồi), lĩnh vực khai sinh và khai tử có thể áp dụng một số quy định cụ thể tại Nghị định
87/2001/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hơn nhân
và gia đình; Nghị định số 49/CP của Chính phủ ngày 15- 8-1996 về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự và để xử lý (Điều 9, Điều 14 của Nghị định 87; Điều 9,
Điều 10 của Nghị định 49,...). Nhưng vi phạm các quy định về quản lý hộ tịch khác như về
đăng ký giám hộ; đăng ký nhận cha, mẹ, con; đăng ký khai sinh, khai tử q hạn thì rất
khó áp dụng các quy phạm pháp luật hiện hành để xử lý nếu có vi phạm xảy ra. Cụ thể:


i) Mặc dù pháp luật cho phép thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn (mục
9 của Nghị định 83)12 nhưng pháp luật cũng quy định trường hợp đăng ký q hạn mà
khơng có được lý do chính đáng thì vẫn bị xem là hành vi vi phạm pháp luật và phải bị xử
phạt hành chính theo quy định của pháp luật (khoản 2, Điều 59, Nghị định 83). Tuy nhiên
luật khơng có quy định một cách rõ ràng các trường hợp được xem là “ có lý do chính

đáng” (khơng bị xử phạt) để phân biệt với những trường hợp “ khơng có lý do chính đáng”
(sẽ bị xử phạt). Hạn chế này của pháp luật được xem là một trong những nguyên nhân
dẫn đến việc một phần nội dung của các quy phạm về xử lý vi phạm quy định về đăng ký
khai sinh khai tử chỉ là hình thức, khơng áp dụng được vào thực tiễn, hoặc nếu áp dụng
(theo quy định Điều 9 của Nghị định 49 ) 13 thì cũng dễ tạo khả năng cho người có thẩm
quyền lợi dụng kẽ hở của pháp luật để vận dụng tuỳ tiện các trường hợp xử phạt, vi phạm
đến lợi ích của cá nhân, tổ chức.
ii) Về đăng ký giám hộ; đăng ký nhận cha, mẹ, con (đối với quan hệ đăng ký hộ tịch
khơng có yếu tố nước ngồi)
Tuy các quan hệ về quản lý hộ tịch trên hai lĩnh vực này không phải là các quan hệ phổ
biến như khai sinh, khai tử, đăng ký kết hôn và nuôi con nuôi, nhưng nếu trên thực tế xảy
ra các hành vi vi phạm những quy định về quản lý hộ tịch từ hai loại sự kiện hộ tịch này
(ví dụ như giả mạo giấy tờ, sửa chữa sai lệch giấy tờ, hồ sơ đăng ký,...) thì hầu như
khơng có các quy định hiện hành để xử phạt hoặc nếu vận dụng quy định tương tự cũng
rất khó áp dụng vào thực tiễn.
Cụ thể: Nghị định 87 có quy định việc xử phạt các hành vi vi phạm quy định về giám hộ
(Điều 13), nhưng đây là xử phạt hành chính đối với hành vi “Trốn tránh không thực hiện
nghĩa vụ giám hộ sau khi đã làm thủ tục công nhận giám hộ tại Uỷ ban nhân dân xã,
phường, thị trấn theo quy định của pháp luật là hành vi vi phạm pháp luật thuộc lĩnh vực
hơn nhân gia đình, cịn các vi phạm về đăng ký giám hộ là hành vi vi phạm pháp luật về
đăng ký và quản lý hộ tich như giả mạo, sửa chữa giấy tờ,... để đăng ký giám hộ thì thiếu
quy định xử phạt cụ thể. Nếu vận dụng quy định hiện hành của Nghị định 49 (Điều 9, Điều
10) thì sẽ có một số điểm rất khó vận dụng vì các quy phạm này quy định chung cho các
hành vi vi phạm quy định về đăng ký quản lý hộ tịch, hộ khẩu (Điều 9); hành vi vi phạm
quy định về cấp và quản lý, sử dụng giấy chứng minh thư nhân dân và các giấy tờ đi lại

12

Khoản 1, Điều 59 của Nghị định 83/1998/NĐ-CP, ngày 10/10/1998 quy định: việc sinh, tử chưa đăng ký
trong thời hạn quy định tại Điều 18 và Điều 28 của Nghị định này, thì phải đăng ký theo thủ tục đăng ký quá

hạn.
Điều 18, Nghị định 83 quy định thời hạn đăng ký khai sinh cho trẻ em là 30 ngày, kể từ ngày sinh; đối với
khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, thì thời hạn trên khơng quá 60 ngày.
Điều 28 của Nghị định 83 quy định về thời hạn đăng ký khai tử (người chết tại nhà hoặc nhận được giấy báo
tử) là 48 giờ tại khu vực thành phố, thị xã, thị trấn; đối với khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa thì
thời hạn trên khơng q 15 ngày.
13
Điều 9 Nghị định số 49/CP ngày 15/8/1996 về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, có
quy định rõ hơn về trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm quy định về đăng ký quản lý hộ tịch, hộ khẩu
nói chung như sau:
1. phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 20.000 đồng đến 100.000 đồng, đối với một trong những hành vi sau:
a. không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, kịp thời những quy định về đăng ký hộ khẩu khi thay đổi nơi
cư trú;
b. không thực hiện đúng quy định về khai báo những thay đổi nhân khẩu trong hộ gia đình như: trẻ em mới
sinh, có người chết, người mất tích.


khác (Điều 10)14. Do vậy nếu người đăng ký giám hộ hoặc đăng ký nhận cha mẹ, con có
hành vi vi phạm như hành vi sửa giấy khai sinh của người nhận giám hộ hoặc các hành vi
gian dối đối với các hồ sơ khác theo quy định về thủ tục đăng ký của pháp luật về quản lý
hộ tịch (như giả mạo các giấy tờ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con,..) thì khơng thể vận
dụng được các quy định này của Nghị định 49 để xử phạt và cả trong Điều 9 và 10 của
Nghị định 49 đều không quy định biện pháp xử phạt đối với các hành vi này.
iii) Thiếu hẳn các quy định xử phạt đối với một số hành vi không đăng ký hộ tịch (tham
khảo thêm tại Phụ lục II của đề tài)
Đăng ký hộ tịch được pháp luật dân sự và pháp luật về quản lý hộ tịch khẳng định là
quyền và nghĩa vụ của mỗi người và là trách nhiệm của một số cơ quan, tổ chức theo quy
định của pháp luật. Chính vì vậy mà hành vi “ khơng đăng ký” các sự kiện như khai sinh ,
khai tử, đăng ký kết hôn, đăng ký nuôi con nuôi, đang ký giám hộ,..., về nguyên tắc phải
được xem là hành vi vi phạm pháp luật phải bị xử lý, còn xử lý ở mức độ nào thì do pháp

luật quy định căn cứ vào tính chất vi phạm, hậu quả của vi phạm, đặc thù về chủ thể vi
phạm,... Nguyên tắc này cũng đã được khẳng định trong Nghị định 83 là: Cá nhân, tổ
chức có trách nhiệm đi đăng ký hộ tịch mà không thực hiện theo đúng các quy định của
Nghị định này thì tuỳ theo mức độ sẽ bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm
hình sự,.. Tuy nhiên, ngoại trừ việc quy định xử phạt đối với hành vi không đăng ký khai
sinh và khai tử thì hiện nay một loạt các hành vi khơng đăng ký hộ tịch hiện cịn đang
thiếu các chế tài xử lý, như: không đăng ký kết hôn; không đăng ký nhận nuôi con nuôi
(trong nước); không đăng ký giám hộ.
Các quy định xử lý vi phạm hành chính hiện hành trong lĩnh vực quản lý hộ tịch mới chỉ
quan tâm chủ yếu đến việc xử lý các hành vi giả mạo giấy tờ, hồ sơ hoặc các hành vi có
tính chất gian dối nhằm đạt tới mục đích đăng ký kết hôn, đăng ký con nuôi, đăng ký giám
hộ,... trái pháp luật, trong khi đó hiện nay trên thực tế đã và đang phát sinh những hành vi
vi phạm pháp luật, tập trung vào các lĩnh vực như: Hành vi không đăng ký con nuôi (chủ
thể là công dân Việt Nam, cư trú tại Việt Nam, sau đây gọi tắt là đăng ký nuôi con nuôi
trong nước) hành vi chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn.
c) Bản thân những chế tài cụ thể về xử phạt hành chính trong lĩnh vực quản lý hộ tịch
cũng cịn có một số hạn chế nhất định:
i) Thiếu sự quy định chi tiết, cụ thể về mức độ phức tạp, hậu quả của hành vi vi phạm,
các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.
Nghị định 87/2001/NĐ-CP có quy định các vi phạm về đăng ký nuôi con nuôi, tuy nhiên
các quy định này mới chỉ dừng lại ở việc gọi tên, phân nhóm các hành vi, chứ chưa tính
đến mức độ phức tạp và hậu quả của các hành vi vi phạm. Cụ thể là, Điều 9 (Hành vi vi
phạm quy định về đăng ký kết hôn) và Điều 14, khoản 1 (Hành vi vi phạm quy định về
đăng ký nuôi con nuôi) đều quy định khung xử phạt giống nhau: phạt tiền từ 200.000
đồng đến 500.000 đồng 15. Hơn nữa, trên thực tế, cũng không thể coi hành vi cố tình sử
14

Điều 10 của Nghị định số 49/CP ngày 15/8/1996 về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự
quy định: “ .... 2. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một số hành vi như sau:
a. Tẩy xoá, sửa chữa giấy chứng minh hoặc giấy phép đi lại khác,....

15 - Điều 9 Nghị định 87/2001/NĐ-CP ngày 21 tháng 11 năm 2003 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực hơn nhân và gia đình quy định: . Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi sửa chữa,
làm sai lệch nội dung hoặc giả mạo giấy tờ để đăng ký kết hôn mà chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm


dụng các giấy tờ về nhân thân sai lệch, ví dụ giấy khai sinh ghi sai năm sinh cũng tương
đương về tính chất như hành vi giả mạo, sửa chữa giấy tờ khác như hộ khẩu, giấy khám
sức khỏe,..vì giấy khai sinh là loại giấy tờ gốc, làm cơ sở để xác lập các loại giấy tờ khác
như chứng minh thư nhân dân, sổ hộ khẩu,... nên cần có mức xử lý phân biệt với các
hành vi giả mạo, sửa chữa giấy tờ khác để đăng ký hộ tịch. Việc quy định có tính chất “đổ
đồng” như vậy gây khó khăn cho cá nhân, tổ chức có thẩm quyền trong việc áp dụng
pháp luật trong những tình huống cụ thể, có thể dẫn đến việc quyết định mức xử phạt bất
hợp lý, khơng đảm bảo được mục đích xử lý vi phạm.
ii) Quy định khung xử phạt giống nhau đối với các chủ thể khác nhau.
Do có những tính chất đặc thù về chủ thể quan hệ và liên quan đến nhiều quan hệ pháp
lý khá phức tạp khác nên các quan hệ hơn nhân gia đình có yếu tố nước ngồi (trong đó
có quan hệ hộ tịch) được điều chỉnh bằng một Nghị định riêng là Nghị định 68, và Nghị
định này cũng quy định về nguyên tắc xử lý vi phạm là: Người nào gian dối trong việc khai
hồ sơ, giấy tờ để xin đăng ký kết hôn, nhận cha, mẹ, con, ni con ni có yếu tố nước
ngồi .....thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị
truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của
pháp luật. Tuy nhiên, lại khơng có các quy định riêng về xử lý các vi phạm hành chính về
quản lý hộ tịch có yếu tố nước ngồi, vì vậy, việc xử lý các vi phạm hành chính về đăng
ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài (mà cụ thể là đối với các vi phạm phổ biến như đăng ký
kết hôn, nuôi con ni) là rất khó áp dụng.
iii) Nếu áp dụng chung văn bản quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
hơn nhân và gia đình tại Nghị định 87 cho cả chủ thể vi phạm là công dân Việt Nam và
cơng dân nước ngồi thì mức phạt là từ 200 nghìn đồng đến 500 nghìn đồng (đối với
hành vi giả mạo, sửa chữa giấy tờ đăng ký hoặc hành vi gian dối khác để đăng ký) là q
ít đối với người vi phạm có quốc tịch nước ngồi. Đối với cơng dân trong nước thì mức

xử phạt như vậy cũng ít nhiều có tác dụng, đạt được mục đích của việc xử phạt là răn đe,
phịng ngừa và giáo dục đối tượng vi phạm, nhưng mức xử phạt với số tiền như vậy mà
cũng áp dụng đối với cơng dân nước ngồi thì hầu như khơng đạt được ý nghĩa, tác dụng
của việc xử phạt hành chính.
iv) Nếu áp dụng các quy định tại Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính thì bên cạnh các
hình thức xử phạt khác, khung phạt tiền trong Pháp lệnh quy định tuy rộng nhưng lại rất
chung chung, vì pháp lệnh chỉ quy định về nguyên tắc xử phạt và thẩm quyền xử phạt
trên một số lĩnh vực quản lý Nhà nước như trật tự, an toàn xã hội; quản lý và bảo vệ các
cơng trình giao thơng; lao động, tư pháp,...(khơng có lĩnh vực hẹp như quản lý hộ tịch) và
không quy định cụ thể về loại hành vi vi phạm, tính chất vi phạm, mức độ vi phạm,.. trên
từng lĩnh vực. Do vậy nếu khơng có Nghị định quy định chi tiết mà vận dụng thẳng các
chế định của Pháp lệnh để xử lý những trường hợp cụ thể là khá khó khăn cho cơ quan
hoặc cá nhân có thẩm quyền16.
hình sự; cố ý khai gian dối hoặc có hành vi lừa dối khác khi đăng ký kết hôn...”
- Điều 14, khoản 1, Nghị định 87: Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi sửa chữa, làm
sai lệch nội dung, giả mạo giấy tờ để đăng ký nuôi con nuôi mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
cố ý kê khai gian dối hoặc có hành vi lừa dối khác khi đăng ký nuôi con nuôi.”
16 Điều 14 và Điều 30 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 2/7/ 2002 quy định: Chủ tịch Uỷ ban ND
tỉnh có thẩm quyền phạt tiền đến 20 triệu đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực: Trật
tự, an tồn xã hội, quản lý và bảo vệ các cơng trình giao thơng, kế tốn, thống kê, tư pháp,...; tước quyền sử


d) Một số hành vi vi phạm pháp luật về quản lý hộ tịch vẫn chưa được phân định rạch
ròi với các vi phạm pháp luật thuộc lĩnh vực pháp luật khác:
i) Vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đăng ký kết hơn vẫn chưa được nhìn nhận như một
trong những vi phạm chủ yếu trong lĩnh vực quản lý hộ tịch.
Một trong những điểm bất cập của các quy định pháp luật về xử lý đối với hành vi vi
phạm trong hoạt động đăng ký kết hôn hiện nay là nhìn từ khía cạnh lập pháp có thể thấy
các hành vi vi phạm quy định về đăng ký kết hơn được quan niệm là thuộc nhóm hành vi
vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hơn nhân và gia đình chứ chưa được nhìn nhận đúng

bản chất của nó là hành vi vi phạm trong lĩnh vực hộ tịch. Từ quan niệm đó nên sự điều
chỉnh pháp luật đối với các vi phạm trong hoạt động đăng ký kết hôn hiện nay còn nhiều
điểm bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn.
Với tính chất là một vi phạm hành chính trong lĩnh vực hơn nhân và gia đình, việc xử
phạt hành chính đối với hành vi vi phạm quy định về đăng ký kết hôn quy định tại Điều 9,
Nghị định 87/2001/NĐ-CP phải tuân thủ nguyên tắc về mục đích xử phạt “Việc xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực hơn nhân và gia đình chủ yếu nhằm mục đích giáo dục
để cá nhân, tổ chức vi phạm nhận thức được sai phạm, tự nguyện sửa chữa, thực hiện
nghĩa vụ mà pháp luật quy định hoặc chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật và để răn đe,
phòng ngừa chung” (Điều 2, Nghị định 87/2001/NĐ-CP). Đây được coi là nguyên tắc đặc
thù của việc xử phạt hành chính trong lĩnh vực hơn nhân và gia đình so với các lĩnh vực
xử phạt hành chính khác. Ngun tắc này có tính chất chi phối đối với việc áp dụng hình
thức xử phạt và mức xử phạt đối với các vi phạm hành chính trong lĩnh vực hơn nhân và
gia đình. Trong khi đó, tính chất của các vi phạm trong hoạt động đăng ký kết hôn (hành
vi giả mạo giấy tờ, hồ sơ; cố ý gian dối…) có mức độ nghiêm trọng khác hẳn với các vi
phạm hành chính khác trong cùng lĩnh vực. Do đó, cần có quan niệm nhìn nhận đúng tính
chất của hành vi này là vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý hộ tịch để từ đó có thể áp
dụng các nguyên tắc xử phạt, hình thức xử phạt, mức xử phạt tương xứng với tính chất
hành vi.
ii) Xử lý vi phạm các quy định về khai sinh, khai tử - thuộc lĩnh vực quản lý hộ tịch cũng
bị quy định chung với xử lý vi phạm trong lĩnh vực quản lý hộ khẩu - thuộc lĩnh vực quản
lý an ninh, trật tự xã hội
Điều 9 Nghị định 49 quy định hình thức xử lý vi phạm chung cho các hành vi vi phạm
thuộc hai lĩnh vực quản lý là quản lý hộ tịch và quản lý hộ khẩu. Mặc dù cùng là hoạt động
quản lý dân cư, nhưng quản lý hộ tịch và quản lý hộ khẩu là hai hoạt động quản lý hoàn
toàn khác nhau từ lĩnh vực quản lý đến chủ thể quản lý, khách thể quản lý,...Hơn nữa,
theo quy định tại pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính thì thẩm quyền xử lý đối với vi phạm
trong hoạt động đăng ký và quản lý hộ tịch ở cơ sở thuộc về Chủ tịch Uỷ ban nhân dân
cấp xã, còn thẩm quyền xử lý đối với các vi phạm xẩy ra trong hoạt động đăng ký và quản
lý hộ khẩu thuộc về trưởng công an xã. Như vậy, nếu quy định mức phạt chung áp dụng

cho các hành vi như tại khoản 1 Điều 9 sẽ dẫn đến khó khăn trong việc xác định đâu là vi
phạm trong hoạt động đăng ký hộ tịch, đâu là vi phạm trong hoạt động đăng ký hộ khẩu,
dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi
phạm hành chính,...


từ đó dẫn đến khó khăn trong việc xác định thẩm quyền xử lý vi phạm17.
e) Một số quy định xử lý vi phạm liên quan đến lĩnh vực đăng ký hộ tịch đã lạc hậu
nhưng vẫn chưa có văn bản mới thay thế.
Như đã phân tích ở phần trên, việc áp dụng các quy định của Nghị định số 49/CP của
Chính phủ ngày 15-8-1996 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự
để xử lý một số hành vi vi phạm pháp luật về đăng ký hộ tịch như khai sinh, khai tử hoặc
đăng ký giám hộ, về mặt nội dung có rất nhiều điểm bất hợp lý. Bên cạnh đó, về hình
thức văn bản, thì bản thân Nghị định 49 được ban hành để hướng dẫn chi tiết thi hành
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính cũ (1996), đến nay Pháp lệnh hiện hành (2002) vẫn
chưa có Nghị định mới hướng dẫn thi hành. Như vậy là, việc xử lý vi phạm về khai sinh,
khai tử,… đã phải vận dụng một văn bản thuộc lĩnh vực khác - quản lý trật tự an toàn xã
hội nhưng bản thân trên lĩnh vực này văn bản đó cũng đã trở nên lạc hậu, cần phải ban
hành mới.
g) Quy định về chế tài kỷ luật đối với cán bộ, cơng chức có thẩm quyền đăng ký và quản
lý hộ tịch rất chung chung, khó áp dụng.
Quản lý hộ tịch là công việc vừa liên quan đến trực tiếp đến việc đảm bảo quyền, lợi ích
hợp pháp của công dân và cá nhân, vừa đảm bảo thực hiện hoạt động quản lý Nhà nước
trên một lĩnh vực khá quan trọng và nhạy cảm. Vì vậy, hành vi vi phạm pháp luật của cán
bộ công chức trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch đòi hỏi phải có những quy định
tương đối cụ thể, chi tiết để xử lý chính xác, nghiêm minh những người vi phạm. Tuy
nhiên, mặc dù những vi phạm pháp luật của người thi hành công vụ khá đa dạng, nhưng
các quy định xử lý kỷ luật đối với những cán bộ, cơng chức có hành vi vi phạm pháp luật
(chưa đến mức tội phạm) trên lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch lại rất chung chung. Cả
Nghị định 97/1998/NĐ-CP ngày 17 tháng 11 năm 1998 của Chính phủ về xử lý kỷ luật và

trách nhiệm vật chất đối với cơng chức lẫn Nghị định 114/2003/NĐ-CP ngày 10-10-2003
của Chính phủ về cán bộ, công chức xã phường, thị trấn đều chỉ quy định chung về các
hình thức xử lý kỷ luật, thủ tục xử lý đối với cán bộ, công chức vi phạm pháp luật, vi phạm
chế độ công vụ mà chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định cụ thể về cơ
chế xử lý loại chủ thể đặc biệt này. Trong rất nhiều văn bản về quản lý Nhà nước trên
nhiều lĩnh vực khác nhau đều có một câu chung chung là: Cán bộ, cơng chức có trách
nhiệm.... mà có hành vi vi phạm Nghị định (văn bản) này thì tuỳ theo mức độ vi phạm mà
có thể bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự,... Quy định như vậy rất khó
khăn cho các Hội đồng kỷ luật trong việc vận dụng đúng và hợp lý các chế tài kỷ luật để kỷ
luật công chức vi phạm pháp luật (nhất là đối với những Hội đồng kỷ luật cán bộ, công chức
cấp xã trong trường hợp xử lý kỷ luật cán bộ tư pháp - hộ tịch). Đây là một trong những bất
cập, tồn tại của các quy định về xử lý vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức trên lĩnh
17

Điều 9 Nghị định số 49/CP ngày 15/8/1996 về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, có
quy định rõ hơn về trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm quy định về đăng ký quản lý hộ tịch, hộ khẩu
nói chung như sau:
1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 20.000 đồng đến 100.000 đồng, đối với một trong những hành vi sau:
a. Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, kịp thời những quy định về đăng ký hộ khẩu khi thay đổi nơi
cư trú;
b. Không thực hiện đúng quy định về khai báo những thay đổi nhân khẩu trong hộ gia đình như: trẻ em mới
sinh, có người chết, người mất tích.
c. Khơng thực hiện những quy định về khai báo tạm trú, tạm vắng, hoặc những thay đổi khác về hộ tịch, hộ
khẩu.


vực quản lý hộ tịch nói riêng và cũng là một tồn tại chung của các quy định về xử lý vi phạm
pháp luật, vi phạm chế độ công vụ của cán bộ, cơng chức hiện nay.
2. Thực trạng tình hình vi phạm pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch
2.1. Thực trạng tình hình vi phạm pháp luật của công dân, cá nhân, tổ chức

2.1.1. Trong lĩnh vực đăng ký khai sinh, khai tử
a) Hành vi của cá nhân, tổ chức không thực hiện việc đăng ký khai sinh, khai tử
Qua số liệu thống kê năm 2000, 2001 về tỷ lệ đăng ký khai sinh trong cả nước cho thấy
số trẻ em chưa được đăng ký khai sinh là khá phổ biến. Đặc biệt ở các vùng nông thôn,
miền núi, vùng sâu, vùng xa hoặc những vùng có khó khăn đặc thù đối với cơng tác quản
lý hộ tịch như khu vực tập trung nhiều dân làng vạn chài, hay khu vực tập trung nhiều di
dân tự do thì tình trạng số lượng cấp xã được xem là điểm trắng trong đăng ký khai sinh
không phải là hạn hữu.
Nếu so sánh với tỷ lệ đăng ký khai sinh, có thể thấy, số lượng đăng ký khai tử trong cả
nước vẫn còn rất hạn chế, tỷ lệ đăng ký khai tử có chiều hướng tăng chậm. Các con số
cho thấy, trong lĩnh vực đăng ký khai tử, việc khơng thực hiện thủ tục đăng ký có thể xem
là thường xuyên và đáng kể.
b) Các hành vi sửa chữa, làm sai lệch nội dung, giả mạo giấy tờ, hồ sơ đăng ký, hoặc
hành vi gian dối khác của cá nhân, tổ chức khi thực hiện đăng ký
Bên cạnh việc vi phạm thời hạn đăng ký, việc đăng ký không chính xác các dữ liệu
trong đăng ký khai sinh, khai tử được xem là khá phổ biến, đặc biệt là trong các trường
hợp đăng ký khai sinh. Chính vì vậy mà có địa phương, cứ mỗi dịp vào năm học mới
hoặc làm hồ sơ thi hết cấp, thi đại học... thì người dân lại ùn ùn kéo đến Sở Tư pháp để
xin thay đổi, cải chính hộ tịch cho con em mình. Nhiều trường hợp trong số đó là do nhầm
lẫn, sai sót trong khi kê khai để đăng ký khai sinh, nhưng cũng nhiều trường hợp lại là do
kê khai tuỳ tiện, cố ý khai gian dối để đạt được mục đích cá nhân. Có thể đưa ra một số
trường hợp vi phạm chính như sau: i) Đăng ký sai các dữ liệu; ii) Đăng ký một cách tuỳ
tiện các dự liệu; iii) Tẩy xố, sửa chữa các thơng số trên Giấy khai sinh.
Điều cần bàn ở đây là những vi phạm của công dân nhiều lúc gắn liền với những sai
phạm của người có thẩm quyền trong lĩnh vực đăng ký hộ tịch khi họ thực hiện hoạt động
cơng vụ của mình. Trong nhiều trường hợp, những vi phạm trên có thể sẽ khơng xẩy ra
nếu như những người có thẩm quyền khơng dễ dàng bng lỏng hoạt động quản lý của
mình.
2.1.2. Trong lĩnh vực đăng ký kết hôn
a) Hành vi gian dối trong việc kê khai hồ sơ, giả mạo giấy tờ để đăng ký kết hôn

i) Đánh tráo ảnh trong hồ sơ đăng ký kết hôn và sử dụng giấy tờ nhân thân của người
khác để nộp hồ sơ đăng ký kết hơn:
ii) Một hình thức giả mạo giấy tờ để đăng ký kết hôn khác: Để con gái đủ tuổi kết hơn,
gia đình đó làm hộ khẩu khai thêm tên của một người khơng có thực với năm sinh lùi lại
cho đủ tuổi kết hôn, sau đó tiến hành thủ tục đăng ký khai sinh và làm chứng minh nhân
dân cho người này. Với các giấy tờ đó hồ sơ đăng ký kết hơn giả mạo được lập và dán


ảnh của cô gái chưa đủ tuổi kết hôn.
iii). Hành vi sửa chữa giấy tờ hộ tịch, khai tăng tuổi để đủ tuổi kết hôn hoặc cố ý khai
gian tuổi thật bằng cách làm lại giấy khai sinh và chứng minh nhân dân, điều chỉnh lại hộ
khẩu để đủ tuổi kết hôn.
iv) Bên cạnh các hành vi giả mạo giấy tờ để khai đủ tuổi kết hơn đó nêu ở trên, trong
hoạt động đăng ký kết hơn cịn tồn tại những hình thức vi phạm khác mà đương sự thực
hiện cũng nhằm mục đích lẩn tránh các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn, cụ
thể là:
Hành vi khai man về tình trạng hơn nhân: người xin đăng ký kết hôn thực ra đã kết hôn
một lần và quan hệ hơn nhân hợp pháp đó đang tồn tại nhưng vẫn làm thủ tục đăng ký
kết hôn với người nước ngồi và khai là kết hơn lần thứ nhất. Hoặc trường hợp anh trai,
chị gái đã lập gia đình nhưng vì muốn kết hơn tiếp nên đó sử dụng giấy tờ hộ tịch của em
ruột (chưa kết hôn lần nào) để tiếp tục đăng ký kết hôn với người khác.
b) Hành vi khơng đăng ký kết hơn
Bên cạnh tình trạng hôn nhân thực tế diễn ra khá nhiều ở vùng miền núi, vùng biên giới
hiện nay, thì vấn đề nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết
hôn ở các vùng đồng bằng, thành phố không phải là hiện tượng hiếm. Nhưng do pháp
luật khơng quy định chế tài xử lý nên khi có tranh chấp xảy ra họ vẫn không được pháp
luật công nhận là vợ chồng. Trong trường hợp những người đó có con thì rõ ràng quyền
lợi chính đáng của những trẻ em này khơng khỏi bị thiệt thịi, đó là chưa nói đến những
hành vi này thể hiện việc coi thường pháp luật, vi phạm trật tự quản lý Nhà nước, kỷ
cương, đạo đức xã hội. Mặc dù khi có tranh chấp xảy ra giữa các đơi có hơn nhân thực

tế, Tồ án vẫn có thể vận dụng Điều 17 của Luật hơn nhân và gia đình để giải quyết về
vấn đề con cái chung, về tài sản,.... nhưng đây là giải pháp có tính chất bị động, nhằm
giải quyết hậu quả mà khơng mang tính chất phịng ngừa, răn đe18. Về lâu dài, nếu không
quy định các chế tài hành chính để hạn chế tình trạng hơn nhân thực tế thì khơng những
trật tự quản lý Nhà nước bị vi phạm mà cịn khó bảo vệ được quyền lợi chính đáng của
phụ nữ, trẻ em trong các quan hệ hơn nhân này, đó là chưa kể việc đặt tồn bộ gánh
nặng lên vai cơ quan toà án trong việc giải quyết tranh chấp từ hậu quả của các cuộc hôn
nhân thực tế đang không phải là hiện tượng hiếm trong giai đoạn hiện nay. Do vậy, về
nguyên tắc, cần quy định hành vi nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký
kết hôn là hành vi vi phạm pháp luật và phải có chế tài xử phạt tương thích với tính chất
tiêu cực của hành vi này.
2.1.3. Trong lĩnh vực đăng ký nuôi con nuôi
a) Hành vi gian dối trong việc kê khai hồ sơ, giả mạo giấy tờ để đăng ký nuôi con nuôi
i) Đối với hồ sơ, tài liệu liên quan đến người nhận nuôi con nuôi:
- Người nhận nuôi sửa chữa, giả mạo giấy tờ về nhân thân (chứng minh thư, hộ chiếu,
18

Điều 17 - Hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật
1- Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên nam, nữ phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.
2- Quyền lợi của con được giải thích như trường hợp cha mẹ ly hơn.
3- Tài sản được giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó; tài
sản chung được chia theo thỏa thuận của các bên; nếu khơng thỏa thuận được thì u cầu Tịa án giải quyết,
có tính đến cơng sức đóng góp của mỗi bên; ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con.



×