Tải bản đầy đủ (.docx) (13 trang)

Bài thu hoạch diễn án hồ sơ dân sự 09 tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải (trần thị thu CTY YD)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (160.48 KB, 13 trang )

HỌC VIỆN TƯ PHÁP
CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
Môn
Mã số hồ sơ
Diễn lần
Ngày diễn

: DÂN SỰ
: LS.DS 09/B4.TH3_DA4 /LĐ
:
:

TRANH CHẤP
VỀ XỬ LÝ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG THEO HÌNH THỨC SA THẢI
Nguyên đơn: TRẦN THỊ THU
Bị đơn: CƠNG TY TNHH YD VIỆT NAM
Vai trị của luật sư:
LUẬT SƯ ĐẠI DIỆN CHO NGUYÊN ĐƠN

Họ và tên
Ngày sinh
Lớp
SBD

:
:
:
:



MỤC LỤC


I.

TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN VÀ KẾT QUẢ NGUYÊN CỨU HỒ SƠ
1. Đương sự tham gia tố tụng
Nguyên đơn: (Bà) Trần Thị Thu, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Số 6xx, Phố Đ, P. Hoàng Văn Thụ, Quận Hồng Bàng, Tp. Hải Phịng.
Bị đơn: Cơng ty TNHH YD Việt Nam (sau đây gọi tắt là “Công ty YD”).
Địa chỉ: Lô 12xx, Khu cơng nghiệp NM – Hải Phịng, Tp. Hải Phịng.
Đại diện theo pháp luật: (Ông) Shuhei – chức vụ: Giám đốc
Đại diện theo uỷ quyền: (Bà) Trần Thị Huyền (theo Giấy uỷ quyền ngày 26/10/2016

– BL60).
2. Tóm tắt nội dung
Bà Trần Thị Thu (sinh năm 1985) vào làm việc tại Công ty YD vào ngày 17/7/2006.
Ngày 17/10/2008 bà Thu ký Hợp đồng lao động số YC-S008/PLHĐ-2008, loại hợp đồng
lao động là vô thời hạn với chức danh chuyên môn được ghi trong hợp đồng là “nhân
viên làm việc tại văn phịng”, nhưng cơng việc thực tế bà Thu trình bày là Kế toán
trưởng.
Tháng 6/2015 bà Thu nghỉ thai sản đến ngày 09/12/2015 thì đi làm trở lại. Khi đi làm
Cơng ty yêu cầu bà Thu tạm dừng làm việc từ ngày 09/12/2015 đến hết ngày 30/12/2015
với lý do để Công ty làm rõ một số sai phạm kế tốn có liên quan đến bà Thu thời gian
trước khi nghỉ thai sản.
Ngày 05/01/2016 Công ty mời bà Thu đến để nhận quyết định số 008-14/QĐ ngày
30/12/2015 do Tổng giám đốc ký, chuyển bà Thu từ kế tốn văn phịng sang kế toán phụ
trách quản lý kho rác từ ngày 05/01/2016 với công việc “Theo dõi, thống kê, kiểm đếm
và gửi bản tổng kết hàng ngày cho người phụ trách bán rác về: tình trạng, số lượng rác

theo từng loại cụ thể; Trông coi, sắp xếp, vệ sinh kho rác; Chuẩn bị, cân đo khi bán rác.
Lương và các chế độ theo Điều 31 Bộ luật Lao động”.
Nhận thấy việc điều chuyển công việc, mức lương theo quyết định 008 của Công ty
là vi phạm Điều 158 và Điều 160 BLLĐ 2012, đồng thời do sức khỏe không đảm bảo nên
khi nhận quyết định 008-14 bà Thu đã nêu rõ ý kiến với Công ty không đồng ý thực hiện.
Trong các ngày 09/01, 28/01, 03/02 năm 2016 người đại diện theo ủy quyền của bà
Thu đã có cơng văn u cầu Cơng ty chấm dứt hợp đồng lao động, trả tiền lương và các
chế độ cho bà Thu. Tại cuộc họp ngày 14/5/2016 giữa hai bên do Ban quản lý khu công
nghiệp Hải Phịng chủ trì, bà Thu tiếp tục đề nghị chấm dứt hợp đồng nhưng Công ty
không chấp nhận. Đồng thời tại cuộc họp này Công ty đã gửi cho bà Thu Biên bản xử lý
3


vi phạm kỷ luật ngày 20/3/2016 bằng hình thức sa thải bà Thu với lý do tự ý nghỉ việc
quá 5 ngày khơng đến Cơng ty mà khơng có lý do chính đáng.
Cho rằng Biên bản xử lý vi phạm kỷ luật ngày 20/3/2016 là vi phạm khoản 4 Điều
123 BLLĐ 2012 vì bà Thu nghỉ việc là có lý do chính đáng, Cơng ty tiến hành họp xử lý
vi phạm nhưng bà Thu khơng được mời tham dự. Vì vậy, ngày 06/7/2016 bà Thu đã có
đơn khởi kiện gửi đến Tòa án.
Trong khi Tòa án nhân dân huyện AD, Thành phố Hải Phịng đang xem xét đơn khởi
kiện thì bà Thu lại tiếp tục nhận được Biên bản xử lý vi phạm kỷ luật ngày 14/8/2016 và
Quyết định số 02-QĐ/HĐKL ngày 15/8/2016 của Tổng giám đốc xử lý kỷ luật sa thải bà
Thu với lý do “đã không đến Công ty tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động, mặc dù Cơng
ty đã có thơng báo”.
Ngày 14/10/2016 Tồ án nhân dân huyện AD thông báo thụ lý vụ án theo thơng báo
số 04/TB-TLVA.
Ngày 14/01/2017 Tồ án nhân dân huyện AD ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết
vụ án với lý do “Cần đợi kết quả trả lời của Ban quản lý Khu kinh tế Hải Phòng về người
đại diện theo pháp luật của bị đơn – Công ty TNHH YD Việt Nam…”. Sau đó vụ án được
tiếp tục giải quyết ngày 10/03/2017.

Tại đơn khởi kiện bổ sung ngày 11/5/2017 và tại phiên tòa, bà Thu yêu cầu Tòa án
tuyên bố việc sa thải của Công ty đối với bà Thu là trái pháp luật. Do không muốn trở lại
Cơng ty làm việc nên bà Thu đề nghị Tịa án buộc Công ty khôi phục các quyền lợi cho
bà Thu theo quy định tại Điều 42 Bộ luật Lao động.
Sau nhiều phiên hồ giải khơng thành, ngày 03/08/2017 Tồ án nhân dân huyện AD
đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm theo Quyết định số: 01/2017/QĐST-LĐ.
3. Luật áp dụng để giải quyết vụ án
− Bộ luật Lao động năm 2012 (BLLĐ 2012) và các văn bản hướng dẫn.
− Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS 2015) và các văn bản hướng dẫn.
4. Quan hệ pháp luật tranh chấp
Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải theo điểm a, khoản 1,
Điều 32 BLTTDS 2015.
5. Đánh giá điều kiện khởi kiện
5.1. Quyền khởi kiện vụ án
Bà Trần Thị Thu có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự theo quy định tại khoản 2
Điều 69 BLTTDS và có quyền khởi kiện vụ án theo quy định tại Điều 186 BLTTDS
4


5.2. Thẩm quyền giải quyết của toà án
− Vụ án thuộc trường hợp tranh chấp về xử lý kỷ luật theo hình thức sa thải thuộc
thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 32
BLTTDS 2015.
− Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện theo quy định
tại điểm c khoản 1 Điều 35.
− Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nơi bị đơn cư trú theo quy định tại
điểm a khoản 1 Điều 39.
Từ các căn cứ trên Tồ án có thẩm quyền giải quyết cấp sơ thẩm đối với tranh chấp
này là Toà án nhân dân huyện AD, Thành phố Hải Phòng.
5.3. Thời hiệu khởi kiện

Căn cứ khoản 2 Điều 202 BLLĐ 2012 thì thời hiệu u cầu Tồ án giải quyết tranh
chấp lao động cá nhân là 01 năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp
cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.
Bà Thu bị sa thải theo Biên bản xử lý kỷ luật lao động ngày 20/3/2016. Tuy nhiên, bà
Thu nhận được Biên bản này vào ngày 14/5/2016 tại cuộc họp với Cơng ty YD có sự
tham gia của Ban Quản lý khu kinh tế và Cơng đồn khu kinh tế Hải Phịng. Vậy thời
hiệu khởi kiện được tính từ ngày 14/5/2016. Bà Thu khởi kiện vào ngày 06/7/2016, vẫn
trong thời hiệu khởi kiện.
5.4. Thủ tục tiền tố tụng
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 32 BLTTDS 2015 và điểm a khoản 1 Điều 201
BLLĐ 2012, thì tranh chấp giữa bà Thu và Công ty YD là tranh chấp lao động cá nhân về
xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải. Tranh chấp này khơng bắt buộc phải thơng
qua thủ tục hịa giải của hịa giải viên lao động.
6. Yêu cầu của nguyên đơn
Thứ nhất, yêu cầu Tịa án tun bố việc sa thải của Cơng ty YD đối với bà Thu là trái
pháp luật.
Thứ hai, buộc Công ty YD khôi phục các quyền lợi cho bà Thu theo quy định tại
Điều 42 BLLĐ 2012 bao gồm:
− Thanh tốn tiền lương trong những ngày khơng được làm việc từ ngày 09/12/2015
đến ngày xét xử sơ thẩm 21/09/2017 là 1 năm 9 tháng 12 ngày làm tròn là 21
tháng cộng với hai tháng tiền lương với mức lương 20.393.000 đồng/tháng, số tiền
là: 20.393.000 đồng x 23 tháng = 469.039.000 đồng.
5


− Cơng ty phải thanh tốn tiền trợ cấp thơi việc cho thời gian bà làm việc từ tháng
7/2006 đến 30/12/2008 là 2,5 năm với tiền trợ cấp là: 20.393.000 đồng x 2,5 năm
x ½ = 25.491.250 đồng.
− Bồi thường thêm hai tháng tiền lương để chấm dứt hợp đồng lao động là
40.786.000 đồng.

Tổng cộng: 535.316.205 đồng.
− Buộc Công ty phải chốt sổ BHXH đến ngày xét xử sơ thẩm và trả sổ BHXH cho
bà.
7. Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn
Các chứng cứ ban đầu chứng minh yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và
hợp pháp bao gồm:
− Bản sao CMND, Sổ hộ khẩu; Giấy xác nhận CMND của Công an thành phố Hải
Phịng;
− HĐLĐ ngày 17/10/2008;
− Thơng báo ngày 05/12/2015 của công ty YD;
− Công văn đề nghị giải quyết quyền lợi của Công ty Luật K ngày 09/01/2016;
− Biên bản họp kỷ luật ngày 25/12/2016 và ngày 20/03/2016;
− Quyết định số 008/14-QĐ ngày 30/12/2015 công ty YD;
− Công văn đề nghị phối hợp hòa giải tranh chấp lao động;
− Biên bản làm việc ngày 14/05/2016;
− Đơn đề nghị hòa giải tranh chấp lao động số 12/2016/CV-K ngày 12/03/2016; số
20/2016 ngày 27/03/2016;
− Công văn số 39/LĐTBXH ngày 25/03/2016.
II. DỰ KIẾN KẾ HOẠCH HỎI
Mục đích: Làm sáng tỏ các sự việc, đồng thời chứng minh yêu cầu của Nguyên đơn chị Trần Thị Thu là có căn cứ và hợp pháp.
1. Hỏi bị đơn – đại diện Công ty YD
− Tại sao Bị đơn lại sắp xếp công việc cho Chị Thu trong môi trường làm việc ô
nhiễm, tiếp xúc trực tiếp đến rác thải trong khi biết rõ Chị Thu đang trong thời kỳ
nuôi con dưới 12 tháng tuổi?
− Bị đơn cho rằng Chị Thu đã khơng có nhiều sai sót trong nghiệp vụ kế tốn, Bị
đơn có căn cứ nào chứng minh khơng? Đó là những chứng cứ nào?
6


− Vì sao Cơng ty khơng nộp những chứng cứ chứng minh sai phạm của bà Thu cho

Tòa án? (nếu có)
− Bị đơn cho rằng Chị Thu đã sử dụng phần mềm Team Viewer để can thiệp vào hệ
thống kế tốn của cơng ty, Bị đơn có bằng chứng nào chứng minh về việc này
không?
− Chị Thu không đến Công ty từ lúc nào? Vậy tại sao đến ngày 20/3/2016, Cơng ty
mới có cuộc họp xử lý việc này?
− Tại sao Bị đơn lại xử lý kỷ luật đối với Chị Thu trong khi biết rõ Chị Thu đang
trong thời kỳ ni con dưới 12 tháng tuổi?
− Cơng ty có ký kết phụ lục HĐLĐ nào thay đổi chức danh của bà Thu hay không?
− Sau thời gian bà Thu nghỉ thai sản và trở lại làm việc, phía bị đơn có bố trí để bà
Thu tiếp tục thực hiện công việc cũ hay không?
− Dựa trên những sai phạm này (kế tốn, kiêm nhiệm) để cơng ty YD đưa ra thơng
báo số 05 về tạm đình chỉ cơng việc với bà Thu đúng không?
− Vậy trước khi ra thông báo số 05 thì cơng ty có ra bất kỳ một thơng báo nào
khơng? (Nếu có) thì đã gửi đến đâu? Có tiến hành lưu trữ khơng?
− Bà Thu có tham gia vào các buổi họp xử lý kỷ luật lao động ngày 15/12/2015 và
25/12/2015 hay không?
− Việc điều chuyển bà Thu sang công việc mới bắt đầu từ ngày 05/01/2016? Quy
trình điều chuyển như thế nào?
− Từ ngày 09/12/2015 đến ngày 05/01/2016, bà Thu hồn tồn khơng được bố trí
cơng việc đúng khơng?
− Sau khi có quyết định điều chuyển việc bà Thu Thu khơng đồng ý thì Cơng ty đã
xử lý như thế nào?
− Quyết định hủy bỏ quyết định S008/14 ngày 30/12 về việc điều chuyển công việc
là quyết định nào? Quyết định ấy đã được gửi cho những ai?
− Bà Thu có tham gia vào buổi làm việc xử lý kỷ luật ngày 20/30/2016 hay không?
− Công ty đã thông báo cho bà Thu và yêu cầu bà Thu đến công ty làm việc hay
không? Bằng hình thức nào?
− Sau ngày 20/03/2016, Cơng ty có thơng báo yêu cầu bà Thu đến Công ty làm việc
hay không?


7


− Sau ngày 09/12/2015, bà Thu đã được điều chuyển làm những công việc nào? Cho
biết cụ thể thời gian chuyển bà Thu sang kế toán thống kê?
− Tại Biên bản xử lý kỷ luật lao động ngày 14/8/2016, Công ty vẫn viện dẫn quyết
định công việc đưa ra đối với bà Thu ngày 05/01/2016. Vậy tại sao Công ty lại nói
rằng đã chuyển bà Thu sang làm kế tốn thống kê?
− Công ty đã chốt sổ bảo hiểm cho bà Thu vào thời gian nào? Vì sao cơng ty lại chốt
sổ bảo hiểm khi bà Thu vẫn là nhân viên của Công ty?
2. Hỏi nguyên đơn – bà Trần Thị Thu
− Chị cho biết Bảo vệ công ty đã nói gì với chị khi chị quay trở lại cơng ty làm việc
vào ngày 9/12/2015?
− Chị cho biết chị sinh con vào ngày, tháng, năm nào?
− Chị nhận được biên bản họp xử lý kỷ luật ngày 20/3/2016 không?
− Chị có tham gia vào cuộc họp xử lý kỷ luật này khơng?
− Chị có nhận được thơng báo tham dự cuộc họp không?
− Biên bản xử lý kỷ luật lao động đối với chị mà Công ty YD Việt Nam đưa ra vào
ngày 20/03/2016, vào thời điểm đó, con chị được bao nhiêu tháng tuổi?
− Cơng ty YD bố trí cơng việc gì cho chị sau khi mời chị trở lại làm việc? Cơng việc
có phù hợp với nội dung hợp đồng đã ký kết và có phù hợp với hồn cảnh và sức
khỏe của chị khơng?


8


III. DỰ THẢO BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ CHO NGUYÊN ĐƠN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TP.HCM, ngày 21 tháng 9 năm 2017

BẢN LUẬN CỨ
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn bà Trần Thị Thu trong vụ án
dân sự sơ thẩm “Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải”
Kính gửi:

– HỘI ĐỒNG XÉT XỬ TAND HUYỆN AD
– CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
– ĐẠI DIỆN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN AD

Kính thưa Hội đồng xét xử, vị đại diện Viện kiểm sát và các vị Luật sư đồng nghiệp,
Tôi là Luật sư … thuộc Văn phịng Luật sư …, Đồn Luật sư …, hôm nay đến đây
tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Trần Thị Thu - là nguyên đơn trong vụ
án dân sự sơ thẩm “Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải” với bị
đơn là Công ty TNHH YD Việt Nam.
Vụ án hiện đang được TAND huyện YD, Thành phố Hải Phòng thụ lý và giải quyết
theo thủ tục sơ thẩm theo hồ sơ thụ lý số 04/2016/TLST-LĐ ngày 14 tháng 10 năm 2016.
Nay được đem ra xét xử theo Quyết định số 01/2017/QĐST-LĐ, ký ngày ngày 22 tháng
08 năm 2017.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đối chiếu với các quy
định pháp luật hiện hành và qua diễn biến thực tế của phiên tịa hơm nay, tơi trình bày
quan điểm bảo vệ cho nguyên đơn như sau:
1

Giữa bà Thu với Công ty YD tồn tại quan hệ lao động hợp pháp.
Cả bà Thu và Công ty YD đều thống nhất rằng bà Thu bắt đầu làm việc tại Công ty

YD từ ngày 17/7/2006, đến ngày 17/10/2008, hai bên thỏa thuận ký kết Hợp đồng lao

động không xác định thời hạn, vị trí là nhân viên, làm việc tại Văn phịng. Cơng việc cụ
thể của bà Thu trước khi nghỉ thai sản là Kế tốn trưởng, mức lương là 20.393.000
đồng/tháng. Tơi kính đề nghị HĐXX ghi nhận những điểm trên để làm cơ sở cho các yêu
cầu bồi thường của nguyên đơn.
2

Công ty YD đã sa thải bà Thu từ ngày 20/03/2016

9


Theo quy định tại Điều 123 BLLĐ 2012, Điều 30 Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày
12/01/2015 và Thông tư số 19/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003 của Bộ LĐTB và
XH đã quy định về trình tự, thủ tục tiến hành xử lý vi phạm kỷ luật lao động. Trong đó có
quy định bắt buộc khi tiến hành xử lý kỷ luật lao động phải lập thành biên bản, trên cơ sở
đó người sử dụng lao động ký quyết định kỷ luật lao động.
Đối với việc khởi kiện bị sa thải của bà Thu, mặc dù Công ty chưa ra quyết định kỷ
luật sa thải nhưng Cơng ty đã thực hiện trình tự thủ tục xử lý vi phạm, đã có biên bản
ngày 20/3/2015 họp xử lý vi phạm của bà Thu và kết luận bằng hình thức sa thải. Biên
bản được Tổng giám đốc và Chủ tịch cơng đồn Cơng ty cùng ký và gửi cho bà Thu. Do
đó, bà Thu khởi kiện bị Cơng ty xử lý kỷ luật sa thải theo Biên bản xử lý vi phạm kỷ luật
lao động ngày 20/3/2015 là có căn cứ.
Trong khi Tịa án sơ thẩm đang xem xét đơn khởi kiện của bà Thu thì ngày 14/8/2016
Cơng ty lại tiếp tục tiến hành họp xử lý vi phạm lao động đối với bà Thu và ngày
15/8/2016 Tổng giám đốc ra quyết định kỷ luật sa thải. Như vậy khi Tịa án thụ lý vụ án
thì Cơng ty không chỉ tiến hành họp xử lý vi phạm kỷ luật lao động đối với bà Thu ngày
20/3/2016 mà còn tiếp tục họp xử lý ngày 14/8/2016 và ban hành quyết định kỷ luật sa
thải ngày 15/8/2016. Việc sa thải của Công ty đối với bà Thu cần được xem xét trên cơ sở
Biên bản xử lý vi phạm ngày 20/3/2015 đồng thời cùng với Biên bản ngày 14/8/2015 và
Quyết định xử lý kỷ luật sa thải ngày 15/8/2015 của Công ty YD.

Xét việc xử lý kỷ luật lao động của Công ty, thấy rằng:
Về căn cứ sa thải: Việc bà Thu không thực hiện quyết định 008-14 ngày 31/12/2015
điều chuyển công việc, tiền lương khác với hợp đồng (85% lương) là đúng bởi lẽ: Việc
điều chuyển này Công ty khơng báo trước và khơng có thỏa thuận với bà Thu là vi phạm
Điều 31, Điều 158 BLLĐ 2012; Công việc theo quyết định 008-14 là cơng việc có tính
chất độc hại mà lại giao cho người lao động đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi là
Công ty đã vi phạm Điều 160 BLLĐ 2012. Công ty cho rằng đã thay đổi quyết định số
008-14 bằng quyết định số 008-15 ngày 06/01/2015 nhưng khơng có chứng cứ chứng
minh đã giao quyết định này cho bà Thu. Vì vậy bà Thu từ chối thực hiện quyết định số
008-14 và nghỉ làm là có lý do chính đáng.
Cơng ty nêu đã gửi bằng bưu điện ba lần thông báo cho bà Thu đến tiếp tục hợp đồng
lao động nhưng các vận đơn mà Công ty cung cấp không thể hiện nội dung các thông báo
của Công ty, bà Thu cũng không được nhận các thông báo này.
Tại Biên bản ngày 20/3/2016 Công ty xác định lỗi của bà Thu là tự ý nghỉ việc theo
công việc tại quyết định số 008-14, trong khi quyết định này đối với bà Thu là trái quy
10


định của pháp luật về lao động. Vì vậy bà Thu nghỉ việc là có lý do chính đáng, khơng vi
phạm Khoản 3 Điều 126 BLLĐ 2012.
Về trình tự xử lý kỷ luật sa thải bà Thu: Công ty không gửi thông báo bằng văn bản
về việc tham dự cuộc họp xử lý kỷ luật lao động cho bà Thu nên bà Thu không được
tham dự cuộc họp là Công ty vi phạm điểm c Khoản 1 Điều 123 BLLĐ 2012. Ngày
20/3/2016 Công ty tiến hành xử lý kỷ luật lao động đối với bà Thu là người lao động
đang trong thời gian nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi là vi phạm quy định điểm d Khoản
4 Điều 123 BLLĐ 2012. Như vậy việc Công ty tiến hành xử lý kỷ luật vi phạm lao động,
lập biên bản xử lý vi phạm bằng hình thức sa thải ngày 20/3/2015 đối với bà Thu là
khơng có căn cứ và vi phạm các quy định tại Điều 123 BLLĐ 2012.
Bên cạnh đó, xét Biên bản ngày 14/8/2015 và quyết định số 02 ngày 15/8/2015, thấy
rằng: Về căn cứ sa thải cũng như trình tự thủ tục xử lý vi phạm kỷ luật bà Thu của Công

ty là không khác so biên bản ngày 20/3/2015. Công ty vẫn không mời bà Thu tham dự
họp xử lý kỷ luật là vi phạm điểm c Khoản 1 Điều 123 BLLĐ. Quyết định xử lý kỷ luật
sa thải số 02 của Công ty đối với bà Thu vì lý do “khơng đến Cơng ty tiếp tục thực hiện
hợp đồng lao động”, không thuộc trường hợp bị sa thải quy định tại Điều 126 BLLĐ
2012 và không phù với lý do sa thải như biên bản ngày 14/8/2015. Vì vậy Quyết định sa
thải số 02 ngày 15/8/2015 của Công ty đối với bà Thu cũng là không đúng pháp luật.
Từ những luận cứ nêu trên thể hiện việc sa thải của Công ty đối với bà Thu là trái
pháp luật, tơi kính đề nghị HĐXX xem xét áp dụng Điều 129, Điều 160, Điều 31, Điều
158, Điều 123, Điều 7, Điều 42, 48 BLLĐ 2012; Điều 30 Nghị định 05/2015/NĐ-CP;
Thông tư 26/2013/TT-BLĐTBXH và Nội quy lao động cơng ty TNHH YD, chấp nhận
tồn bộ u cầu của nguyên đơn bà Trần Thị Thu:
1 Tuyên bố việc kỷ luật lao động sa thải của Công ty YD đối với bà Thu là trái pháp
luật
2 Buộc Công ty YD:
-

Thanh tốn tiền lương trong những ngày bà Thu khơng được làm việc từ
ngày 09/12/2015 đến ngày xét xử sơ thẩm là 1 năm 9 tháng 12 ngày làm
tròn là 21 tháng cộng với hai tháng tiền lương với mức lương 20.393.000
đồng/ tháng, số tiền là: 20.393.000 đồng x 23 tháng = 469.039.000 đồng.

-

Thanh tốn tiền trợ cấp thơi việc cho thời gian bà Thy làm việc từ tháng
7/2006 đến 30/12/2008 là 2,5 năm với tiền trợ cấp là: 20.393.000 đồng x
2,5 năm x ½ = 25.491.250 đồng.

11



-

Bồi thường thêm hai tháng tiền lương để chấm dứt hợp đồng lao động là
40.786.000 đồng.

Tổng cộng: 535.316.205 đồng.
-

Buộc Công ty phải chốt sổ BHXH đến ngày xét xử sơ thẩm, trích nộp tiền
bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và trả sổ BHXH cho bà Thu.

Trên đây là phần trình bày quan điểm của tơi đối với vụ án, kính mong Hội đồng xét
xử xem xét, giải quyết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.
Tôi xin cảm ơn Hội đồng xét xử, những người tham gia tố tụng và tham gia phiên tịa
đã chú ý lắng nghe ý kiến của tơi.

12


IV. NHẬN XÉT VỀ VIỆC ĐÓNG VAI TẠI PHIÊN DIỄN ÁN
1. Nhận xét chung về buổi diễn án
2. Chủ toạ phiên toà
3. Hội thẩm nhân dân
4. Thư ký phiên toà
5. Kiểm sát viên: Bà Lê Phan Huyền Trâm
6. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thu
7. Bị đơn: Công ty TNHH YD Việt Nam
8. Luật sư của nguyên đơn
Phần thủ tục hỏi:
Phần trình bày bài luận cứ:

Phần đối đáp, tranh luận:
9. Luật sư của bị đơn

13



×