LỜI NĨI ĐẦU
Lời đầu tiên cho phép nhóm 7 được gửi lời cảm ơn tới cô Phạm Thị Thu Hà
và cô Đặng Thị Hải Linh đã hướng dẫn chúng em học tập bộ môn sinh thái môi
trường trong kỳ học này, cảm ơn các cơ đã hướng dẫn tận tình cho chúng em và đã
tạo điều kiện cho chúng em rất nhiều để làm các bài tập nhóm và thuyết trình, giúp
chúng em tăng khả năng làm việc nhóm và tìm kiếm thơng tin. Sau khi mơn học kết
thúc chúng em đã biết thêm được rất nhiều kiến thức không chỉ riêng về bộ mơn
sinh thái mà cịn về cả các kiến thức bên ngoài xã hội cùng với các kỹ năng mềm,
thực sự chúng em rất muốn gửi lời cảm ơn tới hai cơ ạ.
Bài tiểu luận của nhóm 7 với chủ đề tìm hiểu về các mối quan hệ trong
quần xã và ứng dụng của chúng đối với việc xử lý các vấn đề môi trường. Mục tiêu
trọng tâm của bài tiểu luận đề cập tới là hiểu được khái niệm chung về quần xã,
hiểu được các mối quan hệ trong quần xã, và tìm được một số ứng dụng của các
mối quan hệ trong việc xử lý, giảm thải các vấn đề về mơi trường. Nhóm đã rất cố
gắng tìm đa dạng các nguồn tài liệu trên mạng, do khả năng tìm kiếm và chọn lọc
thơng tin của chúng em cịn kém nên có nhiều tài liệu chúng em khơng chích dẫn
được nguồn chi tiết, bọn em rất xin lỗi ạ. Cùng với khả năng dịch tiếng anh còn hạn
chế, nên các nguồn tham khảo tiếng anh chúng em dịch ra còn một số chỗ diễn đạt
chưa hợp lý em rất mong các cô thông cảm ạ. Chúng em sẽ cố gắng nhiều hơn nữa
để cải thiện khả năng làm báo cáo, tiểu luận và tìm kiếm, chọn lọc thơng tin để có
thêm nhiều kiến thức phục vụ cho công việc, học tập và nghiên cứu ạ. Chúng em
xin chân thành cảm ơn ạ!
1
MỤC LỤC
1. Tổng quan về quần xã và các mối quan hệ trong quần xã................................2
1.1. Khái niệm về quần xã: 2
1.2. Mối quan hệ trong quần xã là gì?
2
1.3. Các mối quan hệ trong quần xã:
3
2. Các mối quan hệ trong quần xã và ví dụ.............................................................3
2.1. Tương tác dương (+)
3
2.1.1. Mối quan hệ hội sinh: 3
2.1.2. Mối quan hệ tiền hợp tác:
4
2.1.3. Mối quan hệ cộng sinh: 6
2.2. Tương tác âm (-) 7
2.2.1. Mối quan hệ hãm sinh: 7
2.2.2. Mối quan hệ cạnh tranh:
8
2.2.3. Mối quan hệ vật dữ, con mồi: 11
2.2.4. Mối quan hệ ký sinh:
13
3. Ứng dụng của các mối quan hệ trong quần xã trong xử lý các vấn đề môi
trường......................................................................................................................................15
3.1 Nấm rễ cộng sinh mycorrhizae và nơng nghiệp hữu cơ.
15
3.1.1 Tóm tắt: 15
3.1.2 Tương tác của nấm rễ cộng sinh AM: 16
3.1.3. Nấm rễ cộng sinh mycorrhizae và đóng góp cho nơng nghiệp, cải thiện
mơi trường....................................................................................................................17
3.2. Quan hệ vật dữ - con mồi giữa ốc sên châu Á và mầm bệnh rỉ sét của lá
cây cà phê............................................................................................................................18
3.2.1. Bệnh rỉ sắt trên cây cà phê
18
3.2.2. Biện pháp phòng trừ bệnh rỉ sắt
18
3.2.3. Điều trị bệnh rỉ sắt trên lá cây cà phê từ ốc sên châu Á
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO:.......................................................................................21
2
1. Tổng quan về quần xã và các mối quan hệ trong quần xã.
1.1. Khái niệm về quần xã:
Quần xã sinh vật là tập hợp quần thể thuộc nhiều loài, phân bố trong một
sinh cảnh xác định với những mối tương tác giữa chúng với nhau và với môi
trường để tồn tại để tồn tại và phát triển một cách ổn định theo thời gian [1].
Các nhà động vật học có thể áp dụng thật ngữ quần xã để chỉ một nhóm lồi
xác định như quần xã chim, quần xã động vật có vú trong một khu rừng hoặc một
đồng cỏ. Các nhà thực vật học sử dụng thật ngữ “hội” (association) cho một quần xã
thực vật có thành phần lồi xác định. Các nhà sinh thái học có thể nhận biết và làm
nổi bật nét tương phản của các quần xã dị dưỡng và quần xã tự dưỡng. Ví dụ rừng
và đồng cỏ là những quần xã tự dưỡng, chúng chỉ cần năng lượng mặt trời để điều
chỉnh quá trình quang hợp. Những nhóm cơ thể sống giới hạn trong các nơi cư trú
như khúc gỗ mục, vũng nước nhỏ trong hốc cây hoặc hang động là những ví dụ về
quần xã dị dưỡng. Nguồn cung cấp năng lượng của các quần xã dị dưỡng phụ thuộc
và quần xã tự dưỡng. Mặc dù các nhà sinh thái học có thể định nghĩa và phân loại
các quần xã khác nhau nhưng các quần xã đều có các đặc điểm cụ thể xác định cấu
trúc vật lý và cấu trúc sinh học của chúng. Các đặc điểm này thay đổi theo thời gian
và không gian [1].
1.2. Mối quan hệ trong quần xã là gì?
Mối quan hệ sinh thái mơ tả sự tương tác giữa hai hoặc giữa các sinh vật
trong môi trường của chúng. Những tương tác này có thể có tác động tích cực, tiêu
cực hoặc trung tính đến khả năng sống sót và sinh sản của một lồi. Bằng cách phân
loại các hiệu ứng này, các nhà sinh thái học đã rút ra được năm loại tương tác chính
của loài [2].
Các quần thể của tất cả các loài khác nhau sống cùng nhau trong một khu
vực tạo nên một cộng đồng sinh thái. Các nhà sinh thái học cộng đồng kiểm tra các
loài khác nhau trong một cộng đồng tương tác với nhau như thế nào. Tương tác giữa
hai hoặc nhiều loài được gọi là tương tác giữa các lồi. Các loại tương tác khác
nhau có tác động khác nhau đối với hai người tham gia, có thể là dương (), âm (-)
[2].
3
1.3. Các mối quan hệ trong quần xã:
Các mối
quan hệ
Tương tác
Tương tác
âm (-)
dương (+)
V
C
H
Hãm
sinh
Vật
dữ
con
mồi
Cạnh
tranh
K
Ký
sinh
Hội
sinh
2. Các mối quan hệ trong quần xã và ví dụ.
2.1. Tương tác dương (+)
Các mối tương tác dương nói chung đều làm lợi cho ít nhất 1 loài trong mối
quan hệ giữa hai loài. Chúng bao gồm các dạng hội sinh; tiền hợp tác và cộng sinh,
trong cách sống đó các lồi nhận được những lợi ích do loài khác mang lại. [1]
2.1.1. Mối quan hệ hội sinh:
Quan hệ hội sinh hay còn gọi là Commensalism là mối quan hệ giữa 2 lồi
trong đó một lồi có lợi cịn lồi được sống cộng sinh khơng bị ảnh hưởng gì. [1]
Trong tự nhiên dạng quan hệ này rất phổ biến khi vật này sử dụng vật khác
như một giá thể để bám, làm phương tiện vận động, kiếm ăn hay làm nơi sinh sản
v.v. [1]
4
- Ví dụ:
Một số thân mềm (hầu, vẹm v.v.), giáp xác sống bám vào các cây sống v.v.
Cá chép (Echeneis) bám vào bất kỳ một con vật lớn nào (cá mập, rùa), kể cả tàu
thuyền, để được vận chuyển đi xa. Ở biển, trong tổ giun Erechis có tới 13 loại động
vật nhỏ như cá bống, cua, giun nhiều tơ…sống hội sinh với Erechis để có nơi ẩn
nấp và kiếm thức ăn thừa và phân của chủ để sống.
Hoa lan (ví dụ về epiphyte) được tìm thấy trong các khu rừng mưa nhiệt đới
mọc trên cành cây để tiếp cận ánh sáng, nhưng sự hiện diện của hoa lan không ảnh
hưởng đến cây (Hình 1). Commensalism có thể khó xác định bởi vì cá nhân mà lợi
ích có thể có tác động gián tiếp đến cá nhân khác mà không dễ nhận thấy hoặc có
thể phát hiện được. Nếu cây lan từ ví dụ trước phát triển quá lớn và gãy cành hoặc
che bóng cây, thì mối quan hệ sẽ trở thành ký sinh.
Hình 1: Các bromeliads biểu sinh mọc trên các chi của cây rừng nhiệt đới
lớn.
Các bromeliads được hưởng lợi bằng cách chiếm không gian trên chi nhận
được mưa và ánh sáng mặt trời, nhưng không gây hại cho cây.
© 2013 Giáo dục thiên nhiên Lịch sự của M. E. Benbow.
2.1.2. Mối quan hệ tiền hợp tác:
Là cách sống hợp tác đơn giản giữa các loài, chúng mang đến những lợi
ích cho nhau về nhiều mặt, song cách sống này không bắt buộc. [1]
Thuyết hỗ sinh (Mutualism) được cho là loại tương tác sinh thái phổ biến
nhất và nó thường chiếm ưu thế trong hầu hết các cộng đồng trên toàn thế giới.
5
Thuyết hỗ sinh có thể tương phản với cạnh tranh giữa các quan thể, giống lồi,
trong đó mỗi lồi có kinh nghiệm trong việc tiết kiệm sức lực, năng lượng, sức sinh
tồn, và cùng khai thác tài nguyên (thức ăn, nước uống, nơi ở, bãi săn), hoặc sống
bám vào, dựa vào đối tác, trong đó một lồi được hưởng lợi từ "cơng sức" của lồi
kia gọi là sinh vật tầm gửi. [2]
- Ví dụ:
Kiến cánh cụt và một số loại nấm có mối quan hệ tương hỗ bắt buộc. Ấu
trùng kiến chỉ ăn một loại nấm và nấm không thể tồn tại nếu khơng có sự chăm sóc
liên tục của kiến. Do đó, các hoạt động của các thuộc địa xoay quanh việc ni
trồng nấm. Họ cung cấp cho nó vật liệu lá được tiêu hóa, có thể cảm nhận được nếu
một lồi lá có hại cho nấm và giữ cho nó khơng bị sâu bệnh. Một ví dụ điển hình về
mối quan hệ tương hỗ tiềm ẩn được tìm thấy giữa nấm mycorrhizal và rễ cây. Nó đã
được đề xuất rằng 80% thực vật có mạch hình thành mối quan hệ với nấm
mycorrhizal (Deacon 2006). Tuy nhiên, mối quan hệ có thể biến thành ký sinh khi
mơi trường của nấm rất giàu chất dinh dưỡng, bởi vì cây khơng cịn mang lại lợi ích
(Johnson et al. 1997). Do đó, bản chất của sự tương tác giữa hai loài thường liên
quan đến điều kiện phi sinh học và không phải lúc nào cũng dễ dàng xác định trong
tự nhiên.
Kiến cắt lá mang những mảnh lá trở lại thuộc địa, nơi những chiếc lá sẽ được
sử dụng để trồng một loại nấm sau đó được sử dụng làm thực phẩm. Những con
kiến sẽ tạo ra "những con đường mòn" đến một nguồn lá chấp nhận được để thu
hoạch nó nhanh chóng.
Nhiều lồi chim nhỏ ăn cơn trùng thích tìm đến thân các con thú lớn (ngựa
vằn, lạc đà, trâu, v.v.) để tìm thức ăn là các lồi sâu bọ sống ngoại ký sinh ở thú v.v.
Có loại chim sống hợp tác với hổ báo bằng cách chui vào miệng hổ báo để tìm thức
ăn thừa cịn bám trong kẽ răng của chủ. Bằng cách này vật ăn thịt loại bỏ được thức
ăn thừa trong kẽ răng, chim có thức ăn để ni sống chính mình.
6
Hình 2: Chim bắt ve Buphagus erythrorhynchus và linh dương đang có
mối quan hệ hỗ sinh
Nguồn: Bernard DUPONT, Red-billed Oxpeckers (Buphagus
erythrorhynchus) on Impala female ...
2.1.3. Mối quan hệ cộng sinh:
Là kiểu hợp tác bắt buộc, rời nhau ra cả hai đều khơng thể tồn tại
được. [1]
Ví dụ: Vi sinh vật sống trong cơ quan tiêu hóa của lồi nhai lại. Vi sinh vật
có khả năng phân huy Cellulose do thú kiếm được, tạo ra đường để cung cấp thức
ăn cho cả hai. Tảo và nấm sống cộng sinh tạo ra địa y, trong đó nấm phân hủy các
chất hữu cơ, tảo cung cấp nước và chất khống.
Nhiều lồi mối (của họ Termitidae) gặm được gỗ nhưng khơng tiêu hóa
được; lồi động vật nguyên sinh (bộ Hypermastigina) sống trong ruột mối lại phân
giải được bột gỗ để tạo nên đường nuôi sống cả hai.
Một số lồi kiến nhiệt đới cịn biết “trồng nấm” trong vườn lá cây của mình.
Kiến kiếm là về tổ rồi cấy nấm lên trên đó và chăm sóc một cách cẩn thận để thu
hoạch. M. M. Martin (1970) chỉ ra rằng, trong hệ thống kiến – nấm, xích thức ăn
detrit được rút ngắn và sự phân hủy lá diễn ra nhanh hơn. Kiến “biết” thay đổi các
nhóm vi sinh vật để nâng cao hiệu quả phân hủy lá. Nếu lá trong vườn được kiến
“bón phân” từ chất thải của mình thì nấm, tương tự như kiểu đơn canh
(Monoculture), sinh sản rất nhanh trên lá tơi, đảm bảo cho kiến nguồn thức ăn
phong phú. Để duy trì lối canh tác đơn canh có năng suất cao, kiến phải mất nguồn
7
năng lượng lớn, nhưng lại nhận được năng lượng mới khá dồi dào từ sự phân hủy
cellulose do nấm đảm nhận.
Cá hề và hải quỳ biển có mối quan hệ cộng sinh, nghĩa là thường xuyên
đem lại lợi ích cho nhau. Hải quỳ biển bảo vệ cá hề khỏi kẻ thù, cũng như cung cấp
thức ăn qua phần dư thừa bỏ lại từ những bữa ăn của hải quỳ và thỉnh thoảng là các
xúc tu quỳ đã chết. Đổi lại, cá hề bảo vệ hải quỳ khỏi những kẻ thù của nó như ký
sinh trùng. [4] Hải quỳ cịn thu nạp chất dinh dưỡng từ phân của cá hề và những
chất này có chức năng làm nơi ẩn náu an toàn. [5] Lượng Nitơ bài tiết từ cá hề làm
tăng số lượng tảo đưa vào mô của vật chủ, giúp hải quỳ phát triển mơ và tái sinh.
[3] Có giả thuyết đặt ra rằng cá hề sử dụng màu sắc sáng của nó để thu hút các lồi
cá nhỏ đến hải quỳ, [6] và hoạt động của cá hề dẫn đến sự lưu thông trong nước
rộng hơn xung quanh hải quỳ. Những nghiên cứu về cá hề phát hiện rằng chúng làm
thay đổi dòng chảy của nước xung quanh các xúc tu của hải quỳ bằng các tác động
và chuyển động nhất định. Sự thơng khí của các xúc tu vật chủ hải quỳ đem lại lợi
ích cho sự trao đổi chất của hai đối tác, chủ yếu bằng việc làm tăng kích thước cơ
thể và cả hơ hấp của hải quỳ và cá hề. [7]
Hình 3: Cá hề ocellaris nép mình trong một cây hải quỳ Heteractis
magnifica.
Nguồn: Nhobgood Nick Hobgood, Amphiprion ocellaris (Clown
anemonefish) in Heteractis magnifica (Sea anemone)
2.2. Tương tác âm (-)
Các mối tương tác âm trong quần xã gồm: Hãm sinh, cạnh tranh, vật dữ con mồi và ký sinh – vật chủ.
8
2.2.1. Mối quan hệ hãm sinh:
-
Một số loài tảo tiết ra chất gây độc cho thần kinh đối với các lồi
động vật.
Ví dụ: Đại diện của các chi tảo Microcystis, Anabaena, Nodularia tiết ra
chất đầu độc gan (Hepatoxin), tảo Lyngbya, Anabaena tiết ra chất gây độc cho thần
kinh (Neurotoxin) đối với các lồi động vật [1]
Hình 4: Độc tố tảo lam ảnh hưởng đến sức khỏe tôm thẻ chân trắng
Nguồn: Tin kiến thức phần mềm và giải pháp cho nông nghiệp m.2lua.vn
2.2.2. Mối quan hệ cạnh tranh:
Cạnh tranh là mối quan hệ điển hình nhất trong tương tác âm giữa các loài,
các thành viên của hai loài khác nhau sử dụng cùng một nguồn lực để duy trì sự
sống (nguồn lực này là giới hạn) do đó các lồi phải đấu tranh để có được nguồn lực
giúp chúng sinh tồn. Cạnh tranh ảnh hưởng tiêu cực đến cả hai loài tham gia (tương
tác âm), vì một trong hai lồi sẽ có tỷ lệ sống và sinh sản cao hơn nếu lồi kia vắng
mặt. [2]
Các lồi cạnh tranh khi chúng có các hốc chồng chéo, nghĩa là, các vai trò
và yêu cầu sinh thái chồng chéo đối với sự sinh tồn và sinh sản. [2]
Cạnh tranh thường được coi là sự tương tác của các cá nhân tranh giành
một nguồn tài ngun chung có nguồn cung hạn chế, nhưng nhìn chung có thể được
hiểu là sự tương tác trực tiếp hoặc gián tiếp của các sinh vật dẫn đến thay đổi thể
trạng khi các loài sinh vật sử dụng chung nguồn tài nguyên. Kết quả thường có tác
động tiêu cực đến các đối thủ yếu hơn. Có ba hình thức cạnh tranh chính, hai trong
số đó là cạnh tranh can thiệp và cạnh tranh khai thác, được phân loại là cạnh tranh
thực sự. Một hình thức thứ ba là cạnh tranh rõ ràng thì khơng được phân loại là
cạnh tranh thực sự. Cạnh tranh can thiệp xảy ra trực tiếp giữa các cá nhân, trong khi
cạnh tranh khai thác và cạnh tranh rõ ràng xảy ra gián tiếp giữa các cá nhân
(Holomuzki và cộng sự 2010) (Hình 5).
9
Hình 5: Ba loại tương tác chính cạnh tranh.
Các sơ đồ minh họa ba loại tương tác cạnh tranh chính trong đó các đường
đứt nét biểu thị các tương tác gián tiếp và các đường liền mạch tương tác trực tiếp
là một phần của các cộng đồng sinh thái. C1 = Đối thủ cạnh tranh số 1, C2 = Đối
thủ cạnh tranh số 2, P = Kẻ săn mồi, R = Tài nguyên.
Khi một cá nhân trực tiếp thay đổi hành vi đạt được tài nguyên của các cá
nhân khác, sự tương tác được coi là cạnh tranh can thiệp. Ví dụ, khi một con khỉ đột
đực cấm những con đực khác tiếp cận bạn tình bằng cách sử dụng sự gây hấn hoặc
thể hiện sự gây hấn, con đực thống trị đang trực tiếp thay đổi hành vi giao phối của
những con đực khác. Đây cũng là một ví dụ về tương tác nội bộ. Cạnh tranh khai
thác xảy ra khi các cá nhân tương tác gián tiếp khi họ cạnh tranh các nguồn lực
chung, như lãnh thổ, con mồi hoặc thực phẩm. Nói một cách đơn giản, việc sử dụng
tài nguyên của một cá nhân sẽ làm giảm số lượng có sẵn cho các cá nhân khác. Cho
dù bằng cách can thiệp hay khai thác, theo thời gian, một đối thủ cạnh tranh vượt
trội có thể loại bỏ một người kém hơn khỏi khu vực, dẫn đến loại trừ cạnh tranh
(Hardin 1960). Kết quả của sự cạnh tranh giữa hai lồi có thể được dự đốn bằng
các phương trình, và một trong những mơ hình được biết đến nhiều nhất là mơ hình
Lotka-Volterra (Volterra 1926, Lotka 1932). Mơ hình này liên quan đến mật độ dân
số và khả năng mang của hai loài với nhau và bao gồm ảnh hưởng chung của chúng
đối với nhau. Bốn kết quả của mơ hình này là: 1) lồi A cạnh tranh loại trừ loài B;
2) loài B cạnh tranh loại trừ loài A; 3) một trong hai loài chiến thắng dựa trên mật
độ dân số; hoặc 4) cùng tồn tại. Các lồi có thể tồn tại cùng nhau nếu nội bộ đặc
hiệu mạnh hơn cạnh tranh giữa các loài cụ thể. Điều này
10
có nghĩa là mỗi lồi sẽ kìm hãm sự tăng trưởng dân số của chúng trước khi chúng
ức chế đối thủ cạnh tranh, dẫn đến sự cùng tồn tại. [2]
Một cơ chế khác để tránh loại trừ cạnh tranh là áp dụng lịch sử thay thế và
chiến lược phân tán, thường được củng cố thông qua chọn lọc tự nhiên. Cơ chế này
làm giảm các tương tác cạnh tranh và tăng cơ hội cho việc thực dân hóa và thu nhận
chất dinh dưỡng mới. Thành công của việc này thường phụ thuộc vào các sự kiện
(như thủy triều, lũ lụt hoặc xáo trộn lửa) tạo ra cơ hội thu nhận chất phân tán và
dinh dưỡng. Hãy xem xét rằng Loài thực vật A hiệu quả hơn Loài thực vật B khi
hấp thụ chất dinh dưỡng, nhưng Cây B là chất phân tán tốt hơn. Trong ví dụ này, tài
nguyên đang cạnh tranh là chất dinh dưỡng, nhưng việc thu nhận chất dinh dưỡng
có liên quan đến tính sẵn có. Nếu một sự xáo trộn mở ra không gian mới để thực
dân hóa, Nhà máy B dự kiến sẽ đến trước và duy trì sự hiện diện của nó trong cộng
đồng cho đến khi Nhà máy A đến và bắt đầu cạnh tranh với Nhà máy B. Cuối cùng,
Nhà máy A sẽ vượt qua Nhà máy B, có lẽ bằng cách phát triển nhanh hơn vì Nhà
máy A là hiệu quả hơn trong việc thu nhận chất dinh dưỡng. Với dân số Nhà máy A
ngày càng tăng, dân số Nhà máy B sẽ giảm và có đủ thời gian, có thể được loại trừ
khỏi khu vực đó. Việc loại trừ Nhà máy B có thể tránh được nếu một sự xáo trộn
cục bộ (ví dụ, đám cháy thảo nguyên) liên tục mở ra những cơ hội mới (không gian)
cho việc thực dân hóa. Điều này thường xảy ra trong tự nhiên, và do đó, sự xáo trộn
có thể cân bằng các tương tác cạnh tranh và ngăn chặn sự loại trừ cạnh tranh bằng
cách tạo ra các bản vá sẽ dễ dàng bị các lồi có chiến lược phân tán tốt hơn
(Roxburgh et al. 2004) (Hình 6). Tuy nhiên, sự thành công của sự đánh đổi sự phân
tán và thu nhận chất dinh dưỡng phụ thuộc vào tần suất và sự gần gũi về không gian
(hoặc mức độ gần nhau) của các sự kiện xáo trộn so với tỷ lệ phân tán của các cá
thể của các loài cạnh tranh. Sự cùng tồn tại có thể đạt được khi các nhiễu loạn xảy
ra ở tần số hoặc khoảng cách cho phép đối thủ yếu hơn, nhưng thường phân tán tốt
hơn, được duy trì trong mơi trường sống. Nếu sự xáo trộn quá thường xuyên, đối
thủ kém hơn (người phân tán tốt hơn) sẽ thắng, nhưng nếu sự xáo trộn là hiếm thì
đối thủ cạnh tranh vượt trội sẽ từ từ so với đối thủ kém hơn, dẫn đến loại trừ cạnh
tranh. Đây được gọi là giả thuyết nhiễu loạn trung gian (Horn 1975, Connell 1978).
[2]
11
Hình 6: Kết quả của các mơ hình mơ phỏng về các nhiễu loạn vai trị trong
việc duy trì sự cùng tồn tại của loài giữa các bản vá theo thời gian.
Các sơ đồ hiển thị kết quả của các mơ hình mơ phỏng về các nhiễu loạn vai
trị trong việc duy trì sự cùng tồn tại của lồi giữa các bản vá theo thời gian. Các
pixel màu đen đại diện cho một đối thủ cạnh tranh vượt trội với khả năng phân tán
thấp và các pixel màu xám biểu thị một loài đối thủ kém hơn với khả năng phân tán
lớn hơn. Màu trắng chỉ mức độ của từng nhiễu loạn. Rối loạn nhất quán có thể tạo
điều kiện cho cùng tồn tại và ngăn chặn loại trừ cạnh tranh.
Sự cạnh tranh rõ ràng xảy ra khi hai cá thể không cạnh tranh trực tiếp các
nguồn lực ảnh hưởng gián tiếp với nhau bằng cách trở thành con mồi cho cùng một
loài săn mồi (Hatcher et al. 2006). Hãy xem xét một con diều hâu (động vật ăn thịt,
xem bên dưới) con mồi cả trên sóc và chuột. Trong mối quan hệ này, nếu dân số sóc
tăng lên, thì quần thể chuột có thể bị ảnh hưởng tích cực vì nhiều con sóc sẽ có sẵn
làm con mồi cho diều hâu. Tuy nhiên, một quần thể sóc tăng dần cuối cùng có thể
dẫn đến một quần thể diều hâu địi hỏi nhiều con mồi hơn, do đó, ảnh hưởng tiêu
cực đến những con chuột thông qua áp lực săn mồi gia tăng khi dân số sóc giảm.
Tác động ngược lại cũng có thể xảy ra thơng qua việc giảm nguồn thức ăn cho động
vật ăn thịt. Nếu số lượng sóc giảm, nó có thể gián tiếp dẫn đến giảm số lượng chuột
vì chúng sẽ là nguồn thức ăn dồi dào hơn cho diều hâu. Sự cạnh tranh rõ ràng có thể
khó xác định trong tự nhiên, thường là do sự phức tạp của các tương tác gián tiếp
liên quan đến nhiều lồi và thay đổi điều kiện mơi trường. [2]
2.2.3. Mối quan hệ vật dữ, con mồi:
-
Trong săn mồi, một thành viên của một loài (động vật ăn thịt) ăn một phần
hoặc toàn bộ sinh vật sống hoặc gần đây là cơ thể của một sinh vật khác (con mồi).
Tương tác này có lợi cho động vật ăn thịt, nhưng có hại cho con mồi (+/ - tương
tác). Dự đốn có thể liên quan đến hai lồi động vật, nhưng nó cũng có thể liên
quan đến một phần động vật hoặc côn trùng tiêu thụ thực vật, một trường hợp đặc
biệt của động vật ăn thịt được gọi là động vật ăn cỏ.
12
Mối quan hệ vật dữ - con mồi đòi hỏi một cá thể, động vật ăn thịt, phải giết
và ăn thịt một cá thể khác, con mồi (Hình 7). Trong hầu hết các ví dụ về mối quan
hệ này, động vật ăn thịt và con mồi đều là động vật; tuy nhiên, động vật nguyên sinh
được biết đến là con mồi của vi khuẩn và các động vật nguyên sinh khác và một số
thực vật được biết là bẫy và tiêu hóa cơn trùng (ví dụ, cây bình) (Hình 8). Thơng
thường, sự tương tác này xảy ra giữa các lồi (liên cụ thể); nhưng khi nó xảy ra
trong một lồi (cụ thể) thì đó là ăn thịt đồng loại. Ăn thịt đồng loại thực sự khá phổ
biến trong cả mạng lưới thức ăn dưới nước và trên cạn (Huss et al. 2010;
Greenwood et al. 2010). Nó thường xảy ra khi nguồn thức ăn khan hiếm, buộc các
sinh vật cùng loài phải ăn lẫn nhau. Đáng ngạc nhiên, điều này thực sự có thể mang
lại lợi ích cho tồn bộ lồi (mặc dù không phải là con mồi) bằng cách duy trì dân số
qua thời gian có nguồn lực hạn chế đồng thời cho phép nguồn tài nguyên khan hiếm
phục hồi nhờ áp lực cho ăn giảm (Huss et al. 2010). Mối quan hệ giữa động vật ăn
thịt và con mồi có thể phức tạp thơng qua sự thích nghi tinh vi của cả kẻ săn mồi và
con mồi, trong cái được gọi là "cuộc chạy đua vũ trang tiến hóa". Sự thích nghi điển
hình là răng và móng vuốt nhọn, cá đuối hoặc độc, cơ thể nhanh nhẹn và nhanh
nhẹn, ngụy trang màu sắc và nhanh nhẹn, khứu giác tuyệt vời, thị giác hoặc âm
thanh. Các loài săn mồi đã tiến hóa một loạt các biện pháp phịng vệ bao gồm đồng
bộ hóa hành vi, hình thái, sinh lý, cơ học, lịch sử cuộc sống và phịng thủ hóa học
để tránh bị bắt mồi (Aaron, Farnsworth et al. 1996, 2008). [2]
Hình 7: Cá sấu là một số lồi săn mồi nguy hiểm và lâu đời nhất.
© 2013 Giáo dục thiên nhiên Lịch sự của M. E. Benbow.
13
Hình 8: Một cây ăn thịt ăn thịt.
Một lồi cây ăn thịt ăn thịt côn trùng bằng cách dụ chúng vào ống thon dài
nơi côn trùng bị mắc kẹt, chết và sau đó bị tiêu hóa.
© 2013 Giáo dục thiên nhiên Lịch sự của M. E. Benbow.
Một tương tác khác rất giống với săn mồi là động vật ăn cỏ, đó là khi một
cá thể ăn tất cả hoặc một phần của sinh vật quang hợp (thực vật hoặc tảo), có thể
giết chết nó (Gurevitch et al. 2006). Một sự khác biệt quan trọng giữa động vật ăn
cỏ và ăn thịt là động vật ăn cỏ không phải lúc nào cũng dẫn đến cái chết của cá thể.
Động vật ăn cỏ thường là nền tảng của lưới thức ăn vì nó liên quan đến việc tiêu thụ
các nhà sản xuất chính (sinh vật chuyển đổi năng lượng ánh sáng thành năng lượng
hóa học thơng qua q trình quang hợp). Động vật ăn cỏ được phân loại dựa trên
một phần của cây được tiêu thụ. Granivores ăn hạt; grazers ăn cỏ và cây bụi thấp;
trình duyệt ăn lá từ cây hoặc cây bụi; và frugivores ăn trái cây. Thực vật, giống như
con mồi, cũng đã tiến hóa thích nghi với động vật ăn cỏ. Dung sai là khả năng giảm
thiểu các tác động tiêu cực do ăn cỏ, trong khi sức đề kháng có nghĩa là thực vật sử
dụng hệ thống phịng thủ để tránh bị tiêu thụ. Vật lý (ví dụ, gai, vật liệu cứng, chất
dính) và thích ứng hóa học (ví dụ, chất độc gây kích thích trên các cấu trúc đâm và
hóa chất có mùi vị khó chịu trong lá) là hai loại phòng vệ thực vật phổ biến
(Gurevitch et al. 2006) (Hình 9). [2]
14
Hình 9: Những chiếc gai nhọn trên cành cây, được sử dụng làm chất chống
cơn trùng.
© 2013 Giáo dục thiên nhiên Lịch sự của M. E. Benbow.
2.2.4. Mối quan hệ ký sinh:
Vật ký sinh là một phần trọn vẹn của các quần xã tự nhiên. Ảnh hưởng bao
trùm đến cấu trúc quần xã trở nên rõ ràng nhất khi có sự bùng phát dịch bệnh hoặc
suy giảm quần thể bị nhiễm bệnh.
Ký sinh xảy ra khi một cá thể, ký sinh trùng, được hưởng lợi từ một cá thể
khác, vật chủ, trong khi gây hại cho vật chủ trong quá trình. Ký sinh trùng ăn mơ
chủ hoặc chất lỏng và có thể được tìm thấy trong (endoparaites) hoặc bên ngồi
(ectoparaites) của cơ thể vật chủ (Holomuzki et al. 2010). Ví dụ, các loài bọ ve khác
nhau là những loài ngoại tinh phổ biến trên động vật và con người. Ký sinh trùng là
một ví dụ tốt về cách các tương tác lồi được tích hợp. Ký sinh trùng thường khơng
giết chết vật chủ của chúng, nhưng có thể làm suy yếu đáng kể chúng; gián tiếp làm
cho vật chủ chết do bệnh tật, ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, sức khỏe tổng
thể thấp hơn và khả năng săn mồi tăng (Holomuzki et al. 2010). Ví dụ, có một loại
giun trịn ký sinh một số lồi ốc thủy sinh. Những con ốc bị nhiễm bệnh mất đi một
số hành vi đặc trưng của chúng và sẽ ở lại trên những tảng đá trong suối nơi thức ăn
không đủ và thậm chí trong thời kỳ đỉnh cao của hoạt động thủy cầm, khiến chúng
trở thành con mồi dễ dàng cho chim (Levri 1999). Hơn nữa, ký sinh trùng của các
loài con mồi có thể gián tiếp thay đổi sự tương tác của các loài săn mồi liên quan,
15
con mồi khác của động vật ăn thịt và con mồi của chúng. Khi một ký sinh trùng ảnh
hưởng đến sự tương tác cạnh tranh giữa hai lồi, nó được gọi là cạnh tranh qua
trung gian ký sinh trùng (Hình 10. Ký sinh trùng có thể lây nhiễm một hoặc cả hai
lồi liên quan (Hatcher et al. 2006). Ví dụ, ký sinh trùng sốt rét Plasmodium
azurophilum lây nhiễm khác nhau hai lồi thằn lằn được tìm thấy ở vùng biển
Caribbean, Anolis gingivinius và Anolis wattsi. A. gingivinius là đối thủ cạnh tranh
tốt hơn A. wattsi nhưng mẫn cảm với P. azurophilum, trong khi A. wattsi hiếm khi
nhiễm ký sinh trùng. Những con thằn lằn này chỉ được tìm thấy cùng tồn tại khi có
ký sinh trùng, cho thấy rằng ký sinh trùng làm giảm khả năng cạnh tranh của A.
gingivinius '(Schall 1992). Trong trường hợp này, ký sinh trùng ngăn chặn loại trừ
cạnh tranh, do đó duy trì sự đa dạng lồi trong hệ sinh thái này. [2]
Hình 10: Nhiều mơ hình khái niệm về sự tương tác của các lồi có liên quan
đến ký sinh trùng.
16
Các tương tác + và - chỉ ra ảnh hưởng tích cực và tiêu cực, tương ứng, giữa
các tài nguyên, vật chủ, động vật ăn thịt và ký sinh trùng.
© 2013 Giáo dục thiên nhiên
3.
Ứng dụng của các mối quan hệ trong quần xã trong xử lý các vấn đề
môi trường.
3.1 Nấm rễ cộng sinh mycorrhizae và nông nghiệp hữu cơ.
3.1.1 Tóm tắt:
Nấm rễ nội cộng sinh Arbuscular Mycorrhizal Fungi (viết tắt AMF) là
thành phần chính của hệ vi sinh vật đất có vai trị thiết yếu đối với sự phát triển của
cây, bảo vệ thực vật và chất lượng đất. Những loại nấm này phổ biến trong các hệ
thống nông nghiệp và đặc biệt phù hợp canh tác hữu cơ vì chúng có thể hoạt động
như phân bón tự nhiên và tăng năng suất cây trồng.
3.1.2 Tương tác của nấm rễ cộng sinh AM:
Đối với đất và cây trồng. Hệ thống rễ Mycorrhizal làm tăng diện tích hấp
thụ của rễ từ 10 đến 1000 lên, do đó cải thiện đáng kể khả năng của cây để sử dụng
tài nguyên đất. Nấm rễ cộng sinh có thể hấp hụ và chuyển tất cả 15 chất dinh dưỡng
chính, đa lượng và vi lượng cần thiết cho sự phát triển của cây. Hành vi này rõ ràng
với các chất dinh dưỡng bất động hơn như P, ZN, và Cu. Mạng lưới nấm trong đất
có thể duy trì vận chuyển P để trồng trong thời gian dài hơn. [8]
Nấm mycorrhizae giải phóng các hóa chất mạnh vào đất hịa tan khó thu
giữ như P, Fe các các chất dinh dưỡng liên kết chặt chẽ khác. Quá trình này đặc biệt
quan trọng trong dinh dưỡng thực vật. Nấm rễ cộng sinh AM tạo thành một mạng
lưới phức tạp, thu giữ và đồng hóa các chất dinh dưỡng bảo tồn vốn dinh dưỡng
trong đất. Mạng lưới rộng lớn của các sợi nấm quan trọng trong việc hấp thụ và lưu
trữ dinh dưỡng và nước.
Đối với hệ thống thực hành nông nghiệp: Việc quản lý cây trồng có thể
ảnh hưởng đến mạng lưới nấm rễ cộng sinh, giết chết gián tiếp hoặc trực tiếp, hoặc
tạo điều kiện bất lợi cho nấm AM. Nhìn chung với tập qn nơng nghiệp có tác
động tiêu cực đến nấm AM, khiến chúng bị giảm chủng loại và số lượng [9]. Ví dụ
mức độ tồn dư P cao có thể làm chậm hoặc ức chế hiệu quả của Mycorrhizae trong
17
các cánh đồng đậu tương. Rất nhiều bằng chứng liên quan cho thấy canh tác hữu cơ
làm tăng cường quần thể nấm rễ cộng sinh mycorrhizae. [10]
Đối với hoạt động của các vi sinh vật khác trong đất: Cùng với việc tương
tác với tất cả vi sinh vật trong đất, nấm rễ cộng sinh cũng tương tác với 1 sốt ác
nhân gây bệnh. Nấm AM có thể cung cấp một phương tiện kiểm soát sinh học bệnh
thực vật trong hệ thống hữu cơ [11]. Các quần thể vi khuẩn và một số chủng nấm
thúc đẩy sự nảy mầm của bào tử nấm Am làm tăng tỷ lệ và mức độ xâm lấn của rễ
[12]. Những tương tác này cho thấy nấm AM có thể ảnh hưởng đến hoạt động của
vi sinh vật trong đất và thực vật bằng cách kích thích rễ sản xuất và tiết ra
Phytoalexin và các hợp chất Phenolic [13].
Đối với dinh dưỡng và sự phát triển của cây trồng: Mối quan hệ này đã
được Asai (1944) công nhận trong các nghiên cứu về nấm rễ cộng sinh AM và các
nốt sần ở một số lượng lớn cây họ đậu. Ông kết luận rằng quần thể nấm AM đóng
vai trị quan trọng trong việc tăng trưởng thực vật và sự phát triển của các nốt sần.
Các loài AM có hai con đường để hấp thu dinh dưỡng tiềm năng, đó là trực
tiếp từ đất hoặc thơng qua sự cộng sinh. Con đường phát triển của nấm rễ cộng sinh
AM phụ thuộc vào ba quá trình: sự hấp thu các chất dinh dưỡng của sợi nấm trong
đất, khoảng cách giữa các sợi nấm và rễ và các mặt tiếp xúc trực tiếp giữa các sinh
vật cộng sinh. Các sợi nấm có thể hấp thụ các dinh dưỡng vượt ra ngồi khu vực bị
cạn kiệt thơng qua sự hấp thụ của rễ, do đó chúng tăng hiệu quả mà khối lượng đất
được khai thác. Do đó, ảnh hưởng của sự xâm nhập nấm AM đến dinh dưỡng
Photpho thường lớn và có thể tác động gián tiếp đến các khía cạnh khác của q
trình chuyển hóa thực vật, ảnh hưởng đến việc tìm kiếm những dinh dưỡng khác bị
che dấu trong đất.
3.1.3. Nấm rễ cộng sinh mycorrhizae và đóng góp cho nông nghiệp, cải
thiện môi trường.
Nấm rễ cộng sinh mycorrhizae là những sinh vật đóng góp tiềm năng cho
dinh dưỡng thực vật và ức chế mầm bệnh trong các hệ thống nơng nghiệp. Theo
IFOAM 1998, các chất phân bón hóa học, chất diệt khuẩn dễ bị hoàn tan bị cấm
hoàn toàn trong canh tác hữu cơ. Kết quả là các hệ thống canh tác hữu cơ này
thường có nồng độ P có sẵn trong đất thấp hơn các hệ thống canh tác truyền thống
[14]. Ngoài ra trong khi canh tác hữu cơ, nguyên tố P là chất dinh dưỡng đa lượng
duy nhất khơng thể có được thơng qua q trình cố định sinh học hoặc phong hóa
khống chất. Đo đó, nông dân phụ thuộc vào việc tạo ra chất dinh dưỡng này từ tàn
18
dư thực vật, phân bón hoặc bổ sung supe lân để đáp ứng nhu cầu Photpho của thực
vật.
Nấm rễ cộng sinh mycorrhizae hình thành sợi nấm trong đất như sự mở
rộng của rễ, vận chuyển chất dinh dưỡng từ đất đến cây, đã được minh chứng là cải
thiện công dụng của cả Nito và Photpho trong nguyên liệu. Điều này khiến cho cây
được cung cấp lượng Photpho đầy đủ mà khơng cần dùng đến các loại muối hịa tan
(Joner, 1996).
Việc tăng số lượng AM đều cho thấy sự cải thiện khả năng cố định đạm ở
cây họ đậu, và tăng sự hấp thụ Photpho giúp làm giảm nhu cầu phân bón hóa học và
các vấn đề liên quan đến ơ nhiễm nước và khơng khí. Thử nghiệm này đã được
kiểm chứng trên những cánh đồng lớn của Bangladesh (Mridha and Xu, 2001).
Ngoài ra những thử nghiệm trên cây cam quýt, trà, cà phê, cao su, cọ dầu ở những
vườn ươm, nơi cây con được tiếp xúc ngay từ đầu với nấm rễ cộng sinh, đã cho thấy
sự phát triển vượt trội ngay sau khi cấy.
3.2. Quan hệ vật dữ - con mồi giữa ốc sên châu Á và mầm bệnh rỉ sét của
lá cây cà phê.
3.2.1. Bệnh rỉ sắt trên cây cà phê.
Bệnh gỉ sắt thường xuất hiện chủ yếu trên cây cà phê. Bệnh xuất hiện chủ
yếu trên lá, tiếp đến là trên thân, quả. Cây nhiễm bệnh sẽ bị rụng lá dẫn đến kiệt sức
trên cây, cây héo úa và không thể đậu quả dẫn tới năng suất và sản lượng kém. Khi
cây bị bệnh gỉ sắt nặng sẽ chết. [15]
Khi cây cà phê bị nhiễm bệnh gỉ sắt thì mặt dưới của lá cà phê sẽ xuất hiên
những chấm nhỏ màu bàng nhạt, khá giống với giọt dầu. Sau một thường gian thì
những chấm này sẽ lớn dần và phía trên đó xuất hiện những lớp bột màu cam. Lớp
bột này chính là bào tử của nấm gỉ sắt. Dần dần những bào tử này sẽ ăn rộng ra bề
mặt lá và chuyển dần từ màu cam sang màu trắng. Dần dần những bào từ này biến
mất và để lại trên lá những vết bệnh màu nâu như bị cháy. Các vết bệnh sẽ xuất hiện
ở nhiều nơi trên mặt lá, với khả năng lan rộng chúng có thể liên kết với nhau biến
thành những vết cháy lớn khiến toàn bộ bề mặt lá đều bị mất hết sắc tố khiến lá
rụng. Khi bệnh nặng và ăn sâu đến thân và quả của cây cà phê thì cây sẽ kiệt quệ
mà chết. [15]
19
Hình 11: Ảnh lá cây cây phê bị nhiễm bệnh rỉ sắt
Nguồn: Zachary hajian-forooshani, National Geographic
3.2.2. Biện pháp phòng trừ bệnh rỉ sắt.
Có rất nhiều biện pháp như sử dụng giống kháng được bệnh, Ghép chồi vơ
tính của các dịng có năng suất cao và có khả năng kháng bệnh hay sử dụng biện
pháp hóa học. Và sử dụng biện pháp hóa học được người nơng dân ưa chuộng nhất.
Khi phát hiện cây bị bệnh, người nông dân sẽ sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực
vật như Viben-C 50BTN, Tilt Super 300EC, Anvil 5SC, Dizeb-Mb45 80 WP,… để
trị bệnh rỉ sắt ở cây trồng, nếu như không sử dụng đúng liều lượng khả năng các
thuốc chữa bệnh này bị dư thừa là rất cao. Từ đó sẽ dẫn đến ô nhiễm môi trường đất
nuối cây ca phê. [15]
3.2.3. Điều trị bệnh rỉ sắt trên lá cây cà phê từ ốc sên châu Á.
Các nhà khoa học đã ứng dụng mối quan hệ vật dữ - con mồi giữa ốc sên
châu Á (vật chủ) và mầm bệnh trên gỉ sét của lá cà phê (con mồi) để khắc phục và
hạn chế việc xuất hiện gỉ sét ở lá cà phê cũng như hư hại cây trồng. Đây là một phát
hiện quan trọng giúp chúng ta hạn chế việc sử dụng các thuốc bảo vệ thực vật gây ô
nhiễm môi trường.
Trong khi tiến hành nghiên cứu thực địa tại khu vực miền núi trung tâm của
Puerto Rico vào năm 2016, các nhà sinh thái học của Đại học Michigan đã nhận
thấy những vệt nhỏ của ốc sên màu cam sáng ở mặt dưới của lá cà phê bị rỉ sét, loại
sâu bệnh quan trọng nhất về mặt kinh tế. [16]
Bị hấp dẫn bởi điều đó, họ đã tiến hành quan sát thực địa và thí nghiệm
trong phịng thí nghiệm trong nhiều năm tiếp theo và cho thấy loài ốc xâm lấn phổ
biến Bradybaena sameis, thường được gọi là ốc sên châu Á và thường là loài ăn
20
thực vật, đã thay đổi chế độ ăn uống để tiêu diệt mầm bệnh gây ra cà phê bệnh gỉ sắt
- mầm bệnh mà đã tàn phá các đồn điền cà phê trên khắp châu Mỹ Latinh trong
những năm gần đây. [16]
Bây giờ các nhà nghiên cứu của U-M đang khám phá khả năng B. sameis
và các loài ốc sên khác, là một phần của một nhóm động vật lớn gọi là gastropods,
có thể được sử dụng như một biện pháp kiểm soát sinh học để giúp kiềm chế bệnh
gỉ sắt trên lá cà phê. Nhưng là các nhà sinh thái học, họ nhận thức sâu sắc về nhiều
nỗ lực tai hại trong việc kiểm soát sinh vật gây hại trong quá khứ. [16]
Đây là lần đầu tiên bất kỳ lớp chân bụng (gastropods) nào được mô tả là
tiêu thụ mầm bệnh này và phát hiện này có thể có ý nghĩa đối với việc kiểm sốt nó
ở Puerto Rico, tiến sĩ UM, Zachary Hajian-Forooshani, tác giả chính của bài báo
xuất bản trực tuyến ngày 12 tháng 1 trong tạp chí Sinh thái học. [16]
“Nhưng cần có thêm nghiên cứu để hiểu được sự đánh đổi tiềm năng B.
sameis và các loại lớp chân bụng khác có thể cung cấp cho các hệ thống nông
nghiệp cà phê, theo sự hiểu biết của chúng tôi về các yếu tố khác trong hệ thống”,
ông John Vandermeer, giáo sư của nhà sinh thái học UM, John Vandermeer, giáo sư.
trong Khoa sinh thái và sinh học tiến hóa. [16]
Nhà sinh thái học Vandermeer và U-M Ivette Perfecto, giáo sư tại Trường
Môi trường và Bền vững, lãnh đạo một nhóm giám sát bệnh gỉ sắt lá cà phê và cộng
đồng kẻ thù tự nhiên tại 25 trang trại trên khắp vùng sản xuất cà phê của Puerto
Rico.
Những kẻ thù tự nhiên đó bao gồm ấu trùng ruồi, ve và một cộng đồng nấm
đa dạng đáng ngạc nhiên sống trên lá cà phê, bên trong hoặc bên cạnh các đốm màu
cam đánh dấu vết gỉ sắt của lá cà phê. Hajian-Forooshani đã nghiên cứu tất cả
những kẻ thù tự nhiên này cho luận án tiến sĩ của mình. [16]
“Trong tất cả các kẻ thù tự nhiên mà tơi đã nghiên cứu, những lồi thuộc
lớp chân bụng này ở Puerto Rico rõ ràng và rõ ràng nhất là lá của bào tử nấm lá rỉ
sắt,” ơng nói trong một email từ Puerto Rico. [16]
Đứng đầu trong số những lồi lớp chân bụng này là B. sameis, có nguồn
gốc từ Đông Nam Á và hiện là một trong những loài ốc đất xâm lấn phân bố rộng
rãi nhất trên thế giới. Nó có vỏ màu nâu nhạt dài từ 12 đến 16 milimét (khoảng một
nửa đến hai phần ba inch). [16]
Trong bài báo Sinh thái học của họ, Hajian-Forooshani, Vandermeer và
Perfecto mơ tả các thí nghiệm trong đó một lá cà phê bị nhiễm bệnh và một con ốc
21
B. sameis được đặt cùng nhau trong các thùng chứa tối. Sau 24 giờ, số lượng bào tử
nấm lá gỉ sắt trên lá đã giảm khoảng 30%. [16]
Tuy nhiên, những con ốc sên cũng chịu trách nhiệm cho việc giảm khoảng
17% số lượng tổn thương gây ra bởi một kẻ thù tự nhiên khác của bệnh gỉ sắt lá cà
phê, nấm ký sinh lecanicillium lecanii. [16]
Hình 12: Ốc sên châu Á, Bradybaena, bò trên lá cà phê với nấm gỉ sắt.
Nguồn: ZACHARY HAJIAN-FOROOSHAN
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
[1]. PGS.TS Nguyễn Thị Loan (Chủ biên), TS Nguyễn Kiều Băng Tâm, Sinh thái
cơ sở, Chương 4: Sinh thái học quần xã, 4.1. Khái niệm chung về quần xã, 4.3 Mối
quan hệ giữa các loài trong quần xã
[2]. Khan Academy, Science, Ecology, Ecological relationships
[3]. Porat, D.; Chadwick-Furman, N.E. (2005). “Effects of anemonefish on giant sea
anemones: Ammonium uptake, zooxanthella content and tissue regeneration”
(PDF). Marine and Freshwater Behaviour and Physiology 29 (1): 43–51.
[4]. “Clown Anemonefish”. Nat Geo Wild: Animals. National Geographic
Society.
[5]. Holbrook, S. J. and Schmitt,R. J. Growth, reproduction and survival of a
tropical sea anemone (Actiniaria): benefits of hosting anemonefish, 2005.
[6]. “Clown Anemonefishes, Amphiprion ocellaris”. Marinebio. The MarineBio
Conservation Society.
22
[7]. Joseph T. Szczebak; Raymond P. Henry; Fuad A. Al-Horani; Nanette E.
Chadwick (3 tháng 11 năm 2012). “Anemonefish oxygenate their anemone hosts at
night”. The Journal of Experimental Biology.
[8]. Hodge, 2000; Jeffries and Barrea, 1994; Lange and Vlek, 2000
[9]. Helgason et al, 1998; Menendez et al, 2001
[10].
[11].
[12].
Bending et al, 2004; Mader et al, 2000
Siddiqui et al., 1998; Harrier and Watson, 2004; Whipps, 2004
Johansson et al., 2004
[13].
Morandi, 1996; Norman and Hooker, 2000
[14].
Gosling and Shepherd, 2005
[15]. Báo điện tử VIENEAKMAT.COM, Cà phê, Tìm hiểu bệnh rỉ sắt trên cây cà
phê và cách phòng trừ.
[16].
Science Daily, Materials provided by University of Michigan,
Journal Reference: Zachary Hajian‐Forooshani, John Vandermeer, Ivette
Perfecto. Insights from excrement: invasive gastropods shift diet to consume the
coffee leaf rust and its mycoparasite. Ecology, 2020; DOI: 10.1002/ecy.2966
23