Tải bản đầy đủ (.pdf) (100 trang)

HỢP ĐỒNG mở tài KHOẢN THANH TOÁN QUA NGÂN HÀNG (luận văn thạc sỹ luật học)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.36 MB, 100 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

PHAN THỊ KIM NGÂN

HỢP ĐỒNG MỞ TÀI KHOẢN THANH TOÁN
QUA NGÂN HÀNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

PHAN THỊ KIM NGÂN

HỢP ĐỒNG MỞ TÀI KHOẢN THANH TOÁN
QUA NGÂN HÀNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành Luật Kinh tế, mã số: 60380107

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Vân

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2014


LỜI CAM ĐOAN



Đây là đề tài được tác giả tâm đắc lựa chọn và bằng sự cố gắng của mình, tác
giả đã hoàn thành các nội dung cơ bản của đề tài dưới sự hướng dẫn trực tiếp của
PGS.TS Nguyễn Văn Vân. Tác giả cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng
tác giả. Các số liệu thống kê trong đề tài là trung thực. Nội dung đề tài chưa từng
được cơng bố dưới bất kỳ hình thức nào. Trong luận văn có một số kiến thức khoa
học từ các cơng trình khác được đưa vào dưới dạng trích dẫn và có chú thích rõ
nguồn trích dẫn.

Tác giả luận văn

Phan Thị Kim Ngân


DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC VÀ BẢNG BIỂU
********************

I. Phụ lục I – giấy đề nghị mở tài khoản cá nhân của ngân hàng Nam Á.
II. Phụ lục II – Phiếu khảo sát phục vụ nghiên cứu đề tài Hợp đồng mở tài khoản
thanh toán qua ngân hàng.
III. Phụ lục III – Báo cáo kết quả khảo sát.
1. Bảng 1: Kết quả khảo sát số lượng tài khoản các chủ thể sở hữu.
2. Bảng 2: Kết quả khảo sát về cách thức mở tài khoản – Đối với tài khoản
cá nhân.
3. Bảng 3: Kết quả khảo sát về sự quan tâm đến bản điều kiện mở TK – Đối
với tài khoản cá nhân.
4. Bảng 4: Kết quả khảo sát về việc đóng tài khoản khi khơng cịn nhu cầu
sử dụng – Đối với tài khoản cá nhân.



MỤC LỤC

Trang
PHẦN MỞ ĐẦU……………………………………………………………….. 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG MỞ
TÀI KHOẢN THANH TOÁN QUA NGÂN HÀNG………………………...

8

1.1.

Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng mở tài khoản thanh toán
8
qua ngân hàng

1.1.1.

Khái niệm hợp đồng mở tài khoản thanh toán qua ngân hàng……

8

1.1.2.

Đặc điểm của hợp đồng mở tài khoản thanh toán qua ngân hàng..

14

1.2.

Nội dung của hợp đồng mở tài khoản thanh toán qua ngân hàng


26

1.2.1.

Những nội dung của hợp đồng mở tài khoản thanh toán qua ngân 26
hàng theo quy định của pháp luật dân sự………………………….

1.2.1.1 Đối tượng của hợp đồng mở tài khoản thanh toán qua ngân hàng….

26

1.2.1.2 Quyền và nghĩa vụ chung của ngân hàng và chủ tài khoản ………….

28

1.2.2.

Những nội dung đặc thù của hợp đồng mở tài khoản thanh toán 29
qua ngân hàng………………………………………………………..

1.2.2.1 Lãi suất và mức phí dịch vụ………………………………………………… 30
1.2.2.2 Sử dụng tài khoản và ủy quyền sử dụng tài khoản………………………

31

1.2.2.3 Bảo mật thông tin trong hợp đồng mở tài khoản thanh toán qua ngân 33
hàng……………………………………………………………………………
1.2.2.4 Quản lý rủi ro và giới hạn trách nhiệm ………………………………….


34

1.2.2.5 Tạm khóa và phong tỏa tài khoản thanh tốn…………………………..

36

1.2.2.6 Đóng tài khoản thanh toán…………………………………………………

37

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1……………………………………………………..

39

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG CÁC QUY
ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MỞ TÀI KHOẢN THANH TOÁN 40
QUA NGÂN HÀNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
2.1.

Thực trạng pháp luật và áp dụng các quy định pháp luật về chủ
thể ký kết, thực hiện hợp đồng mở tài khoản thanh toán qua ngân 40


hàng và một số kiến nghị
2.1.1.

Thực trạng pháp luật và áp dụng các quy định pháp luật về chủ thể 40
ký kết hợp đồng mở tài khoản thanh toán qua ngân hàng và một số
kiến nghị………………………………………………………………


2.1.1.1 Đối với tài khoản cá nhân………………………………………………….

40

2.1.1.2 Đối với tài khoản tổ chức…………………………………………………… 43
2.1.2.

Thực trạng pháp luật và áp dụng các quy định pháp luật về chủ thể 45
thực hiện hợp đồng mở tài khoản thanh toán qua ngân hàng và
một số kiến nghị…………………………………………………….

2.1.2.1 Đối với tài khoản cá nhân…………………………………………………

45

2.1.2.2 Đối với tài khoản tổ chức…………………………………………………..

50

2.2.

Thực trạng pháp luật và áp dụng các quy định pháp luật về nội 54
dung của hợp đồng mở tài khoản thanh toán qua ngân hàng và
một số kiến nghị………………………………………………………

2.2.1.

Cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản thanh tốn………

2.2.2


Ứng dụng cơng nghệ thơng tin, điện tử trong giao dịch tài khoản 55
thanh tốn ngân hàng………………………………………………..

2.2.3.

Báo cáo thơng tin, bảo mật thơng tin tài khoản thanh tốn……….

59

2.2.3.1 Các chủ thể được quyền yêu cầu cung cấp thông tin…………………..

59

2.2.3.2 Các loại thông tin được phép cung cấp…………………………………..

62

54

2.2.3.3 Các phương thức cung cấp thông tin……………………………………… 62
2.2.3.4 Công tác bảo mật thông tin khách hàng, thông tin về tài khoản ở các 65
tổ chức tín dụng………………………………………………………………
2.2.4.

Tạm khố, phong toả, trích tiền từ tài khoản thanh tốn…………

70

2.2.5.


Đóng tài khoản thanh tốn…………………………………………

74

2.2.5.1 Các điều kiện đóng tài khoản………………………………………………

75

2.2.5.2 Xử lý số dư trong trường hợp đóng tài khoản……………………………

76

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2……………………………………………………...

79

KẾT LUẬN CHUNG………………………………………………………….. 80


1

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Trong gần 10 năm trở lại đây, thị trường tài chính Việt Nam, đặc biệt là lĩnh
vực Ngân hàng đã có những bước tiến vượt bậc. Những bước tiến ở đây không chỉ là
mở rộng về quy mô, số lượng, địa bàn mà cả chiều sâu về sản phẩm, dịch vụ và công
nghệ. Hiện nay, xét về sản phẩm ngân hàng, chúng ta đã cung cấp gần như đầy đủ
các sản phẩm ngân hàng như những ngân hàng quốc tế. Từ hoạt động cho vay, tài

trợ xuất khẩu, dịch vụ bao thanh toán, dịch vụ thanh tốn bằng thẻ tín dụng, dịch vụ
nhờ thu cho đến dịch vụ ngân hàng điện tử. Các Ngân hàng cũng đã đầu tư đáng kể
cho công tác bảo mật, phòng ngừa rủi ro và ứng dụng những cơng nghệ hàng đầu.
Bên cạnh đó hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực Tài chính – Ngân
hàng cũng đang ngày càng được hồn thiện thơng qua việc sửa đổi bổ sung và ban
hành nhiều văn bản để đáp ứng nhu cầu thực tế.
Tuy nhiên, xét ở góc độ hẹp, liên quan đến các hoạt động thanh toán qua tài
khoản đang diễn ra ngày càng nhiều, nhưng việc thực hiện và giải quyết các vấn đề
phát sinh từ hoạt động này còn nhiều bất cập. Về nguyên tắc, khi ngân hàng đồng ý
và khởi tạo tài khoản thanh toán cho khách hàng, đã tồn tại một hợp đồng giữa ngân
hàng và chủ tài khoản. Việc ký kết, thực hiện hợp đồng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến
quyền và nghĩa vụ giữa các bên liên quan. Do vậy, tìm hiểu và giải quyết những
vướng mắt sẽ giúp cho việc ký kết và thực hiện hợp đồng được thuận lợi hơn, từ đó
bảo vệ quyền lợi của các bên một cách hài hịa và phù hợp nhất. Vì thế, việc nghiên
cứu về hợp đồng mở tài khoản thanh toán trong giai đoạn hiện nay là cần thiết.
Bên cạnh đó, văn bản quy phạm pháp luật quy định điều chỉnh trực tiếp mối
quan hệ trong hợp đồng mở và sử dụng tài khoản tiền gửi hiện tại vẫn chủ yếu áp
dụng theo Quy chế mở và sử dụng tài khoản tiền gửi ngân hàng được ban hành kèm
theo Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban
hành (QĐ 1284/QĐ-NHNN). Căn cứ vào Quy chế này, các ngân hàng biên soạn một
bản quy định, bản điều kiện riêng phù hợp với nhu cầu và khả năng của mình. Trong
thời điểm ban hành quy chế này, sản phẩm ngân hàng cịn ít đa dạng, mức độ ứng
dụng cơng nghệ hạn chế và quy mơ giao dịch cịn khiêm tốn. Đến nay, khi hoạt động
ngân hàng đã ở giai đoạn phát triển cao hơn, phức tạp hơn, nên xét về mặt khoa học
và thực tiễn, Quy chế quản lý việc mở tài khoản và cung cấp dịch vụ thanh toán
ngân hàng có nhiều bất cập. Ngày 25 tháng 11 năm 2012, Chính Phủ đã ban hành


2


Nghị định số 101/2012/NĐ-CP về thanh tốn khơng dùng tiền mặt (NĐ 101/NĐCP), trong đó có đề cập nhiều vấn đề liên quan trực tiếp đến hoạt động mở và sử
dụng tài khoản thanh toán ngân hàng. Nghị định này ra đời đã giải quyết được một
số vấn đề thiếu sót của Quyết định 1284/2002/QĐ-NHNN như quy định hợp đồng
mở tài khoản thanh toán bắt buộc phải lập thành văn bản, có đề cập đến quyền và
nghĩa vụ các bên. Tuy nhiên, xét một cách khái quát, Nghị định 101/2012/NĐ-CP
vẫn chưa thực sự giải quyết được nhiều vấn đề bất cập xung quanh hoạt động mở tài
khoản và sử dụng dịch vụ thanh tốn. Từ đó, dẫn đến cơ sở pháp lý cho việc thực
hiện các nội dung của hợp đồng mở tài khoản thanh toán ngân hàng vẫn chưa được
giải quyết triệt để.
Ngoài ra, khi Bộ luật dân sự (BLDS) có hiệu lực vào năm 2005 cũng đã có
nhiều thay đổi liên quan đến hợp đồng vay tài sản, hợp đồng gửi giữ, hợp đồng dịch
vụ, các quan hệ này được quy định riêng biệt và rõ ràng hơn. Việc nghiên cứu cơ sở
pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng mở tài khoản thanh toán qua ngân hàng là
yêu cầu cấp thiết để đánh giá tính hiệu quả, phù hợp của pháp luật và thực tiễn phát
sinh nhằm điều chỉnh kịp thời những quan hệ phát sinh từ hợp đồng này, đảm bảo an
tồn hệ thống tài chính và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chủ tài khoản.
Hiện nay, vấn đề nội dung và cơ sở pháp lý của hợp đồng mở tài khoản thanh
toán qua ngân hàng đang có nhiều bất cập và cần được nghiên cứu để thay đổi cho
phù hợp. Có rất nhiều vấn đề phát sinh trên thực tế như việc bảo mật thơng tin trong
q trình thực hiện hợp đồng, việc phong tỏa tài khoản khách hàng, việc quản lý và
sử dụng tài khoản,… Theo nghiên cứu của tác giả, vẫn chưa có một đề tài nào
nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ pháp lý và phân tích trực tiếp về hợp đồng mở
tài khoản thanh tốn qua ngân hàng.
Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu là “HỢP ĐỒNG MỞ TÀI
KHOẢN THANH TOÁN QUA NGÂN HÀNG”. Đề tài sẽ nghiên cứu cơ sở pháp lý
đang được vận dụng để điều chỉnh quan hệ này, tình hình áp dụng văn bản quy phạm
pháp luật về mở tài khoản thanh tốn của các ngân hàng, phân tích những bất cập
thông qua những sự kiện trong thực tiễn, qua đó rút ra những ý kiến và giải pháp
khắc phục đảm bảo cho hợp đồng mở tài khoản thanh toán qua ngân hàng được thiết
lập và thực hiện một cách phù hợp và hiệu quả nhất.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đề tài nghiên cứu các quy định của pháp luật trong lĩnh vực tài chính nhiều
đến mức tác giả rất khó khăn để tìm ra một đề tài phù hợp. Hiện nay, trong lĩnh vực


3

tài chính, vấn đề liên quan đến việc cung ứng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng
đang được quan tâm, đặc biệt là việc cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản
ngân hàng. Các đề tài liên quan đến vấn đề này cũng đã được khai thác tương đối
nhiều, như vấn đề về thanh toán qua các lệnh chuyển tiền, sử dụng thẻ thanh toán,…
Tuy nhiên sau quá trình tìm hiểu, tác giả nhận thấy vẫn chưa có đề tài cụ thể nào đi
vào nghiên cứu trực tiếp hợp đồng mở tài khoản thanh toán qua ngân hàng dưới góc
độ khai thác các quy định pháp luật và tìm hiểu việc áp dụng các quy định mở tài
khoản tại các ngân hàng để đề xuất giải pháp.
Một số đề tài đã được nghiên cứu có liên quan đến đề tài của tác giả
Mặc dù đề tài được chọn nghiên cứu dưới khía cạnh pháp lý nhưng địi hỏi
phải vận dụng và lồng ghép một cách hợp lý nhất các kiến thức về nghiệp vụ ngân
hàng. Do vậy, một số đề tài chuyên sâu về ngân hàng cũng xác định là có liên quan
đến đề tài của tác giả. Cụ thể như:
(i) “Các giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng Ngoại
Thương Việt Nam” của Hoàng Minh Trang, Đại học Ngân hàng (2010). Đề tài
này nghiên cứu chuyên sâu về các dịch vụ e- Banking và có đề ra một số các
kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống dịch vụ về ngân hàng điện tử. Tuy nhiên, đề
tài này chỉ đơn thuần nghiên cứu dưới góc độ kinh tế, khơng lồng ghép các khía
cạnh pháp lý trong đề tài.
(ii) “Phát triển dịch vụ ngân hàng tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn thành
phố Hồ Chí Minh” của Lê Thị Bích Ngọc, lớp 30K07.2, Trường Đại học Kinh tế
TPHCM, 2008. Đề tài nghiên cứu về các dịch vụ ngân hàng nói chung, trong đó
có đề cập một phần đến dịch vụ thanh tốn qua tài khoản. Đề tài cũng đề xuất

được một số kiến nghị, tuy nhiên các kiến nghị cũng chỉ mang tính kinh tế,
khơng đề cập đến vấn đề pháp lý. Bên cạnh đó, đề tài này cũng khơng nghiên
cứu chun sâu về vấn đề thanh toán qua tài khoản như đề tài tác giả lựa chọn.
Dưới góc độ kinh tế, các vấn đề liên quan đến dịch vụ thanh toán qua ngân
hàng được nghiên cứu và tìm hiểu rất nhiều.
(iii) “Pháp luật về cung ứng và sử dụng séc” của Nguyễn Thành Nhơn, khoá luận
tốt nghiệp cử nhân luật năm 2010. Đề tài phân tích được các vấn đề cơ bản liên
quan đến Séc cũng như nội dung các quy định pháp luật về cung ứng và sử dụng
Séc. Tuy nhiên, việc dùng Séc thanh tốn thơng qua Ngân hàng cũng chỉ là một
trong những cách thức cung ứng các dịch vụ thanh tốn của ngân hàng mà thơi.


4

(iv) “Pháp luật điều chỉnh giao dịch bằng thẻ thanh toán giữa ngân hàng và chủ
thẻ” của Phan Huỳnh Diễm Châu, khoá luận tốt nghiệp cử nhân luật năm 2010.
Đề tài đã phân tích khá sâu sắc đến vấn đề giao dịch bằng thẻ thanh toán, làm rõ
được các vấn đề cơ bản về thẻ thanh toán ATM và các quy định pháp luật có
liên quan. Bên cạnh đó, đề tài cũng trình bày được một số giải pháp cụ thể dưới
góc độ pháp lý nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động giao dịch và thanh toán
bằng thẻ. Tuy nhiên, vấn đề sử dụng thẻ ATM cũng là một nội dung nhỏ liên
quan đến dịch vụ thanh toán qua tài khoản ngân hàng.
Như vậy, dưới góc độ pháp lý, có một số đề tài đã nghiên cứu về các dịch vụ
thanh tốn qua ngân hàng nói chung và dịch vụ thanh tốn qua tài khoản ngân hàng
nói riêng. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của tác giả, hiện nay vẫn chưa có đề tài nào
nghiên cứu và xem xét trực tiếp về hợp đồng liên quan đến việc mở và cung ứng các
dịch vụ thanh toán qua tài khoản ngân hàng. Theo tác giả tìm hiểu, viết về vấn đề
hợp đồng mở và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản ngân hàng vẫn chưa
được đề cập dưới góc độ khoá luận cử nhân hay luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ.
Một số bài viết liên quan đến đề tài của tác giả

1. TS Lê Hùng (2010), “ thực trạng – giải pháp phát triển thị trường thẻ và thị
trường dịch vụ ngân hàng”, Tạp chí tin học ngân hàng.
2. ThS Đoàn Thái Sơn (2005), “Thực trạng và định hướng hồn thiện về dịch vụ
ngân hàng”, Tạp chí Ngân hàng, (số 8).
Hai bài viết trên đều có đề cập đến thị trường dịch vụ ngân hàng, có phân tích
cụ thể về thực trạng và đề xuất hướng hoàn thiện. Tuy nhiên, khơng phân tích sâu về
dịch vụ thanh tốn qua tài khoản. Hơn nữa, bài viết chủ yếu phân tích và đề xuất giải
pháp dưới góc độ kinh tế.
3. Ngô Quốc Kỳ (2002), “Quy chế pháp lý về hoạt động cung ứng dịch vụ thanh
toán qua ngân hàng”, Tạp chí Khoa Học pháp lý, số 7. Đây là một trong những bài
viết mà tác giả tìm được có liên quan trực tiếp đến hoạt động cung ứng dịch vụ
thanh toán qua ngân hàng. Bài viết cũng nêu lên được các vấn đề pháp lý liên quan
đến hoạt động này. Tuy nhiên, bài viết khơng đi vào phân tích các dịch vụ thanh
tốn qua tài khoản ngân hàng dưới góc độ quan hệ hợp đồng. Hơn nữa, bài viết cũng
đã được thực hiện từ 2002 nên đến nay sẽ có rất nhiều vấn đề cần xem xét và bổ
sung thêm liên quan đến Quy chế pháp lý về mở và cung ứng dịch vụ thanh tốn qua
ngân hàng nói chung và hợp đồng liên quan đến vấn đề này nói riêng.


5

Như vậy, với sự cần thiết phải nghiên cứu các vấn đề pháp lý về hợp đồng
mở tài khoản thanh tốn qua ngân hàng và với tình hình nghiên cứu như tác giả vừa
trình bày, là lý do để tác giả chọn nghiên cứu về đề tài “HỢP ĐỒNG MỞ TÀI
KHOẢN THANH TỐN QUA NGÂN HÀNG”.
3. Mục đích nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu của đề tài
3.1.

Mục đích nghiên cứu


Thứ nhất, đề tài hướng đến làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về quan
hệ trong hợp đồng mở tài khoản thanh toán qua ngân hàng.
Thứ hai, làm rõ quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng mở tài khoản
thanh toán qua ngân hàng.
Thứ ba, đánh giá thực trạng áp dụng Quy chế mở và sử dụng tài khoản ngân
hàng tại các Ngân hàng khi cho mở và sử dụng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản
ngân hàng.
Thứ tư, đề xuất các quan điểm, phương hướng nhằm hoàn thiện các quy định
pháp luật liên quan đến điều chỉnh quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng mở tài
khoản thanh toán qua ngân hàng.
3.2.

Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài mà tác giả hướng đến là “hợp đồng” mở tài

khoản thanh toán qua ngân hàng. Phục vụ cho đề tài, tác giả nghiên cứu các văn bản
là những phần không thể tách rời của hợp đồng như giấy đăng ký mở tài khoản, quy
chế mở và sử dụng tài khoản của các ngân hàng. Việc nghiên cứu các quy định pháp
luật hướng đến làm rõ và nghiên cứu chi tiết hơn về hợp đồng mở tài khoản thanh
tốn. Vì thế, trong đề tài, tác giả đã thực hiện khảo sát thực tế về hợp đồng mở tài
khoản, cùng với việc tìm hiểu các quy định pháp luật, tác giả đi đến nghiên cứu cụ
thể về hợp đồng mở tài khoản thanh toán qua ngân hàng.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài và phương pháp nghiên cứu
4.1. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
Tác giả chọn đề tài nghiên cứu về hợp đồng mở tài khoản thanh toán qua
ngân hàng. Liên quan đến hợp đồng này, hiện nay còn tồn tại rất nhiều vấn đề cần
tìm hiểu và giải quyết. Tuy nhiên, trong luận văn, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu
chủ yếu về việc ký kết và thực hiện hợp đồng giữa các chủ thể có liên quan, trong đó
vấn đề về quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng mở và cung ứng dịch vụ thanh



6

toán qua tài khoản thanh toán ngân hàng mà các ngân hàng đang áp dụng sẽ được
nghiên cứu chi tiết và đề cập cụ thể.
Để làm được điều này, tác giả chủ yếu nghiên cứu những quy định liên quan
đến quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng được điều chỉnh theo Bộ luật Dân sự
2005, Luật Các tổ chức tín dụng 2010, Quyết định 1284/2002/QĐ-NHNN, Nghị
định 101/2012/NĐ-CP và một số văn bản hướng dẫn có đề cập cụ thể về vấn đề này.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin. Theo đó, nhằm đạt được
kết quả nghiên cứu chính xác và khách quan nhất, tác giả đã kết hợp nhiều phương
pháp nghiên cứu cơ bản như phương pháp phân tích, giải thích, đánh giá, so sánh,
tổng hợp,… cùng với các phương pháp suy luận logic, thống kê, điều tra xã hội
học… nhằm phân tích được các vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến hợp đồng mở tài
khoản thanh toán qua ngân hàng, đồng thời làm rõ quyền và nghĩa vụ các bên trong
quan hệ hợp đồng này, những bất cập trong quan hệ đó, làm cơ sở cho việc giải
quyết những tranh chấp có thể phát sinh và đề xuất các kiến nghị.
5. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Nghiên cứu đề tài này, tác giả, với mong muốn bổ sung thêm một tài liệu
hữu ích cho những chủ thể có liên quan đến hoạt động mở tài khoản thanh toán
ngân hàng.
Đề tài đã giải quyết được một số vấn đề bất cập trong việc quy định pháp
luật và việc thực hiện hợp đồng mở tài khoản thanh toán ngân hàng trên thực tế.
Trong đề tài, tác giả đã có một số kiến nghị liên quan đến chủ thể ký kết và thực
hiện hợp đồng, các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng cũng như
việc chấm dứt thực hiện hợp đồng này.
Về mặt khoa học, đề tài có thể trở thành tài liệu nghiên cứu cho người nghiên
cứu về luật học nói chung và về pháp luật ngân hàng nói riêng. Đồng thời phần nào

cũng có giá trị với những người nghiên cứu về nghiệp vụ ngân hàng, các dịch vụ
ngân hàng dưới góc độ tài chính ngân hàng.
Đề tài cũng có thể có giá trị ứng dụng thực tế cho các ngân hàng với tư cách
là một bên chủ thể quan trọng trong việc tạo lập và thực hiện hợp đồng mở tài
khoản thanh toán ngân hàng.


7

Song song đó, các kết quả nghiên cứu của đề tài, có thể tạo ra cái nhìn tồn
diện về hợp đồng mở tài khoản thanh toán – một dạng hợp đồng vốn dĩ chưa được
các bên quan tâm nhiều trên thực tế. Những người làm công tác xét xử, nếu nhìn
nhận đầy đủ về bản chất cũng nhưng cách thức thực hiện hợp đồng này, sẽ có thể
phục vụ tốt hơn cho công tác xét xử, đặc biệt là xét xử các tranh chấp có liên quan
đến tài khoản ngân hàng.
Ở một khía cạnh nhỏ, các kết quả của đề tài cũng có thể ứng dụng cho một
số lượng lớn những chủ thể thơng thường có sử dụng tài khoản. Bởi lẽ, đề tài
nghiên cứu về hợp đồng mở tài khoản thanh tốn, mà các khách hàng có nhu cầu
mở tài khoản sẽ có thể trở thành một bên quan trọng trong hợp đồng này.
6. Bố cục của luận văn
Bố cục chính của luận văn sẽ được chia thành ba phần gồm phần mở đầu, nội
dung chính và phần kết luận. Bên cạnh đó, trong đề tài cịn có phần các phụ lục được
đưa vào cuối luận văn nhằm giúp người đọc hình dung rõ hơn một số vấn đề được
nghiên cứu trong đề tài.
Về nội dung, đề tài gồm hai chương sẽ lần lượt làm rõ các vấn đề về mặt lý
luận và thực tiễn trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng mở tài khoản thanh toán
qua ngân hàng đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định
pháp luật liên quan đến việc điều chỉnh quan hệ hợp đồng này.
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng mở tài khoản thanh toán
qua ngân hàng.

Chương 2: Thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về hợp đồng mở tài
khoản thanh toán qua ngân hàng và một số kiến nghị.


8

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG MỞ TÀI KHOẢN
THANH TOÁN QUA NGÂN HÀNG
1.1.

Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng mở tài khoản thanh toán qua ngân
hàng

1.1.1. Khái niệm hợp đồng mở tài khoản thanh toán qua ngân hàng
Trong hoạt động ngân hàng, mở tài khoản là nghiệp vụ phổ biến nhất để thực
hiện các giao dịch ngân hàng. Tuy nhiên, trong thực tế việc mở (khởi tạo) một tài
khoản đã được tiến hành một cách đơn giản đến mức người mở tài khoản đôi lúc
cũng không hiểu đúng bản chất của việc mở tài khoản.
Dưới góc độ pháp lý, bản chất việc mở tài khoản là một hợp đồng. Để hiểu
đúng bản chất quan hệ hợp đồng mở tài khoản thanh toán cũng như xây dựng một
định nghĩa cụ thể về loại hợp đồng này, trước hết phải tìm hiểu khái niệm tài khoản
và giao dịch mở tài khoản dưới góc độ nghiệp vụ ngân hàng.
* Tài khoản ngân hàng
a. Khái niệm tài khoản ngân hàng
Dưới góc độ pháp lý, tài khoản là hình thức ghi nhận các giao dịch tiền tệ, liệt
kê chi tiết các khoản nợ và có giữa các bên trên cơ sở một hợp đồng hay trên cơ sở
quan hệ ủy quyền1.
Tài khoản ngân hàng, thực tế được hiểu là một mã số do ngân hàng cấp cho
chủ tài khoản để chủ tài khoản gửi tiền vào, rút tiền ra, sử dụng dịch vụ thanh toán

qua ngân hàng và các dịch vụ khác do ngân hàng mở tài khoản cung cấp. Tài khoản
ngân hàng thường gồm hai phần: (i) Tên chủ tài khoản (hay gọi tắt là tên tài khoản)
thường là tên của cá nhân chủ tài khoản hoặc tên của tổ chức có tài khoản và (ii)
phần số tài khoản là dãy số hoặc gồm chữ do ngân hàng tạo lập kèm theo tên tài
khoản và giao cho chủ tài khoản.
Khi ngân hàng tạo lập một tài khoản cho chủ tài khoản, trên hệ thống của
ngân hàng được thiết lập một bản ghi (record) có tên là tên chủ tài khoản, có số tham
1

Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội (2002), Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam, NXB Cơng an nhân dân,
Hà Nội, tr.246.


9

chiếu là số tài khoản. Trong bản ghi này có nhiều trường thông tin (field) như (i)
các trường chứa thông tin về chủ tài khoản gồm tên, địa chỉ, số điện thoại, số chứng
minh nhân dân (với cá nhân), số giấy phép hoạt động (với tổ chức),… và (ii) trường
chứa thông tin về giao dịch của chủ tài khoản như số tiền gửi vào, số tiền rút ra, số
tiền còn lại, số tiền lãi được hưởng, số tiền phí phải trả, số tiền đã chuyển khoản,…
Bản ghi này có thể truy xuất hiển thị ra màn hình, ra tập tin (file) hoặc ra máy in
cung cấp cho chủ tài khoản hoặc chủ thể khác khi cần.
Như vậy, tài khoản (trương mục) ngân hàng là một bảng mang tên họ của cá
nhân hoặc tên giao dịch của tổ chức dưới những mã số do ngân hàng quy định, trong
đó kê khai những khoản nợ và có của khách hàng, phản ánh tương quan tình hình tài
chính giữa khách hàng và ngân hàng2.
b. Phân loại tài khoản ngân hàng
Xét hoạt động thực tế tại các ngân hàng, tài khoản ngân hàng có nhiều loại
mà các ngân hàng có thể sử dụng với các tên gọi khác nhau như (i) Tài khoản tiền
gửi (Deposit Account) là tài khoản ngân hàng được mở với mục đích duy trì số dư

có (Credit Balances) tại ngân hàng; (ii) tài khoản vay (Loan Account) là tài khoản
ngân hàng được mở với mục đích ghi nợ (Debt Balances) với ngân hàng hay (iii) Tài
khoản thanh toán (Current Account hay Checking Account) được mở để gửi tiền và
thực hiện các dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, rút tiền, phát hành séc; (iv) Tài khoản
tiết kiệm (Savings Account) là tài khoản tiền gửi được mở để rút tiền và nạp tiền mà
khơng sử dụng các dịch vụ thanh tốn, khơng phát hành séc.
Căn cứ theo mục đích sử dụng, tài khoản có thể phân thành tài khoản tiền vay
(Loan Account) và tài khoản tiền gửi (Deposit Account). Tài khoản tiền gửi có thể
chia thành tài khoản tiền gửi thanh tốn và tài khoản tiền gửi tiết kiệm.
Ngoài ra, căn cứ theo chủ tài khoản có tài khoản cá nhân (Individual
Account) do một cá nhân là chủ tài khoản; tài khoản tổ chức là tài khoản do một tổ
chức được thành lập hợp pháp là chủ tài khoản và đồng chủ tài khoản là tài khoản do
từ hai người trở lên đồng thời cùng là chủ tài khoản.
Căn cứ theo loại tiền sử dụng trong giao dịch tài khoản, có tài khoản nội tệ và
tài khoản ngoại tệ. Tuỳ thuộc vào việc mở tài khoản ở đâu sẽ cho biết đồng tiền nào
là ngoại tệ và từ đó xác định tài khoản là tài khoản nội tệ hay ngoại tệ. Ở Việt Nam,
tài khoản nội tệ là tài khoản được dùng để giao dịch bằng đồng tiền nội tệ là Đồng

2

Lê Tài Triển chủ biên (1972), Luật thương mại Việt Nam diễn giải, Kim Lai Ấn quán, Sài Gòn, tr.577.


10

Việt Nam, tài khoản ngoại tệ là tài khoản được dùng để giao dịch bằng ngoại tệ là
USD, EURO3 hoặc các ngoại tệ khác.
* Tài khoản thanh toán
a. Khái niệm tài khoản thanh tốn
Dưới góc độ kinh tế - ngân hàng, tài khoản thanh tốn là tài khoản tiền gửi

khơng kỳ hạn của cá nhân, tổ chức mở tại ngân hàng để phát hành, thanh toán séc và
sử dụng dịch vụ thanh toán của ngân hàng.
Tiền gửi thanh toán được hiểu là “hình thức huy động vốn của ngân hàng
thương mại bằng cách mở cho khách hàng tài khoản gọi là tài khoản tiền gửi thanh
tốn. Theo đó, ngân hàng thực hiện việc trích chuyển tiền của khách hàng phải thanh
toán bằng cách ghi Nợ vào tài khoản, chuyển sang tài khoản của đơn vị thụ hưởng
bằng bút toán ghi Có vào tài khoản, điều kiện để thực hiện nghiệp vụ thanh tốn này
địi hỏi khách hàng phải mở tài khoản tiền gửi thanh tốn ở ngân hàng”4.
Bên cạnh đó, tài khoản thanh tốn cịn được hiểu là tài khoản mà ngân hàng
tạo lập riêng cho chủ tài khoản theo một mã dãy ký hiệu bằng số hoặc bằng chữ để
ghi nhận những giao dịch gửi tiền, rút tiền và thanh toán qua ngân hàng. Tài khoản
thanh toán là một loại tài khoản trong hệ thống tài khoản ngân hàng, là loại tài khoản
chủ yếu và thực hiện nhiều chức năng trong giao dịch ngân hàng.
Theo nội dung trả lời các câu hỏi thường gặp về chỉ dẫn liên quan đến tài
khoản thanh toán số European Commission – MEMMO/13/413 ngày 8/5/2013 được
đăng trên website chính thức của Ủy ban Cộng đồng chung Châu Âu thì tài khoản
thanh tốn là một tài khoản được nắm giữ bởi một hay nhiều người mà được sử dụng
để thanh toán chuyển khoản5.
Một cách hiểu khác, tài khoản thanh toán là tài khoản tiền gửi mà theo đó chủ
tài khoản có thể rút tiền hoặc chuyển tiền cho bên thứ ba thông qua duyệt chi, hối
phiếu hoặc trực tuyến6.
“Dưới góc độ pháp lý, tài khoản thanh tốn có thể được hiểu là tài khoản
vãng lai, tài khoản do người sử dụng dịch vụ thanh toán mở tại tổ chức cung ứng

3

USD, EUR là những ngoại tệ được sử dụng phổ biến ở Việt Nam.
Phan Thị Thu Cúc chủ biên (2010), Tín dụng ngân hàng, NXB Thống kê, tr.48.
5
“Proposal for a Directive on Payment Accounts - Frequently Asked Questions”.

http://europa.eu/rapid/press-release_MEMO-13-413_en.htm#footnote-1.
6
http://www.businessdictionary.com/definition/transaction-account.html.
4


11

dịch vụ thanh toán để thực hiện giao dịch thanh toán theo quy định của pháp luật về
thanh toán qua tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán”.7
Như vậy, tài khoản thanh tốn là tài khoản tiền gửi khơng kỳ hạn của chủ tài
khoản mở tại ngân hàng để sử dụng các dịch vụ thanh toán do ngân hàng cung ứng8.
Đó là loại tài khoản mà khách hàng gửi tiền vào khơng nhằm mục đích hưởng lãi mà
để đáp ứng nhu cầu thanh toán với các cá nhân, tổ chức khác được diễn ra nhanh, an
toàn, thuận lợi. Số dư trong tài khoản này không được hưởng lãi hoặc được hưởng
lãi suất rất thấp tùy theo lãi suất không kỳ hạn do ngân hàng cung ứng. Như vậy, có
thể hiểu một cách đơn giản thì tài khoản thanh tốn là tài khoản do người sử dụng
dịch vụ thanh toán mở tại ngân hàng với mục đích thực hiện các giao dịch thanh
toán qua ngân hàng bằng các phương tiện thanh toán. Ngân hàng mở tài khoản mà
tác giả đề cập đến trong đề tài được hiểu là các tổ chức tín dụng (TCTD) là ngân
hàng.
b. Phân loại tài khoản thanh tốn
Căn cứ theo tính chất tài khoản, có thể chia tài khoản thanh toán thành hai
loại là tài khoản thanh tốn có số dư và tài khoản thanh tốn thấu chi.
Căn cứ theo chủ thể mở tài khoản thanh toán có tài khoản thanh tốn của cá
nhân (Individual Account) do một cá nhân là chủ tài khoản; tài khoản thanh toán của
tổ chức là tài khoản do một tổ chức được thành lập hợp pháp là chủ tài khoản; đồng
chủ tài khoản9 là tài khoản do từ hai chủ thể trở lên đồng thời cùng là chủ tài khoản.
Căn cứ theo loại tiền giao dịch thì có tài khoản thanh toán nội tệ và tài khoản
thanh toán ngoại tệ theo đó tài khoản nội tệ là tài khoản được dùng để giao dịch

bằng đồng tiền nội tệ, tài khoản ngoại tệ là tài khoản được dùng để giao dịch bằng
ngoại tệ.
Như vậy, tài khoản thanh toán tại ngân hàng hiện nay được xem là loại tài
khoản đa dạng về loại tiền tệ, các chủ thể có thể mở tài khoản theo tiền đồng Việt
Nam hoặc các loại ngoại tệ khác nhau tùy vào nhu cầu và quy định của ngân hàng
nơi khởi tạo tài khoản. Bên cạnh đó, khi mở tài khoản thanh toán, chủ tài khoản
được sử dụng tài khoản tiền gửi thanh toán để thực hiện thanh toán theo nhu cầu phù
hợp với quy định của pháp luật. Chủ tài khoản có thể thực hiện việc nộp tiền vào tài
7

Xem: Trường Đại học Luật TP.HCM (2013), Giáo trình Luật Ngân hàng, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia
Việt Nam, tr.403.
8
Khoản 22 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2010.
9
Nghị định số 101/2012/NĐ-CP gọi tài khoản đồng chủ là tài khoản chung.


12

khoản, rút tiền từ tài khoản và chuyển tiền từ tài khoản đến các tài khoản khác, thực
hiện các dịch vụ thanh tốn một cách nhanh chóng và thuận tiện,…
*Khái niệm hợp đồng mở tài khoản thanh toán qua ngân hàng
Trước thập niên 20 của thế kỷ XX, giới luật gia không ghi nhận thỏa thuận
mở tài khoản tại ngân hàng là một hợp đồng độc lập. Lý giải hiện tượng này có thể
do tính phổ qt của quan hệ mở tài khoản ngân hàng cũng như tính đa dạng của các
dịch vụ ngân hàng cung cấp qua tài khoản giai đoạn này. Thời điểm bấy giờ việc sử
dụng các dịch vụ ngân hàng, trong đó có dịch vụ thanh tốn khơng phổ biến. Từ thập
niên 60 của thế kỷ XX đến nay, trong lý luận đã xuất hiện những ý kiến chấp nhận
sự tồn tại của hợp đồng mở tài khoản ngân hàng là một hợp đồng dân sự độc lập10.

Thật vậy, Điều 391 và Điều 392 Bộ luật Dân sự của Nga năm 1964 quy định rằng tổ
chức phải thực hiện thanh tốn thơng qua tổ chức tín dụng mà họ đang có tài khoản,
phù hợp với pháp luật. Theo điều 110 Nguyên tắc cơ bản Luật Dân sự năm 1991
của Liên Xô quy định: “Ngân hàng phải có nghĩa vụ mở và bảo quản vốn tiền tệ của
khách hàng trên tài khoản theo hợp đồng tài khoản thanh toán”
Đến cuối thế kỷ XX, Bộ luật dân sự Cộng hịa Liên bang Nga do Viện Duma
thơng qua Phần I ngày 21/10/1994, Phần II ngày 26/01/1996 đã dành Chương
(44,45) để quy định về hợp đồng mở tài khoản ngân hàng và hợp đồng tiền gửi tiết
kiệm. Trong có Điều 845 BLDS Nga quy định: “theo hợp đồng mở tài khoản thanh
tốn, ngân hàng có nghĩa vụ tiếp nhận và hạch toán, bảo quản khoản vốn tiền tệ do
khách hàng (chủ tài khoản) chuyển vào tài khoản (được mở bởi khách hàng), thực
hiện các yêu cầu chuyển khoản, chi trả và các nghiệp vụ liên quan tài khoản khi có
yêu cầu từ chủ tài khoản (khách hàng)”.
Trong luật ngân hàng Anh, quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng được điều
chỉnh bằng một hợp đồng “ngầm”. Thuật ngữ này được hiểu là một thỏa thuận bất
thành văn dựa trên cơ sở những quy tắc, tập quán, thông lệ tồn tại nhất quán và lâu
đời, những phán quyết của trọng tài và tòa án11.
Theo luật ngân hàng Pháp, hợp đồng mở tài khoản ngân hàng là một loại hợp
đồng khung điều chỉnh những hoạt động nhằm cung ứng các dịch vụ ngân hàng từ
10

Skundin Z.I, về bản chất pháp lý cuả tài khoản, Tạp chí Nhà nước Pháp luật Xơ viết, 1950 (số 5), tr.40-41
hoặc Kompanhes E.S, Dalonski EG, Áp dụng pháp luật về tín dụng và thanh tốn, 1967, tr.223. Theo:
Nguyễn Văn Vân (1998) Điều chỉnh bằng pháp luật quan hệ thanh tốn quốc tế (Séc- Hối phiếu- Thư tín
dụng) Luận án TS Luật, Khoa Luật, ĐH Quốc gia Mondova.
11
Whiting DP. Sđd. Tr.110-111. Theo Nguyễn Văn Vân (1998) Điều chỉnh bằng pháp luật quan hệ thanh
toán quốc tế (Séc- Hối phiếu- Thư tín dụng) Luận án TS Luật, Khoa Luật, ĐH Quốc gia Mondova.



13

nhận tiền gửi, thanh toán, bảo lãnh, thu hộ, mặc dù có một số dịch vụ cần phải ký
những hợp đồng bổ sung riêng biệt (ví dụ: mua bán chứng khốn, cung ứng tín dụng
vv…).
Như vậy, hợp đồng mở tài khoản ngân hàng được pháp luật mỗi quốc gia và
những trường phái lý luận đề cập đến dưới các góc độ khác nhau. Tuy nhiên, có thể
tóm tắt những điểm chung nhất để xây dựng một khái niệm hoàn chỉnh.
Thứ nhất, hợp đồng mở tài khoản thanh toán là một văn bản được ký kết giữa
chủ tài khoản và ngân hàng nhằm cung cấp dịch vụ khởi tạo và quản lý tài khoản.
Thứ hai, dựa trên văn bản này, chủ tài khoản sẽ nộp tiền vào tài khoản, rút
tiền ra khỏi tài khoản hoặc yêu cầu ngân hàng thực hiện dịch vụ thanh toán qua các
lệnh bằng văn bản, lời nói, thư điện tử,… và trả phí cho ngân hàng.
Thứ ba, ngân hàng căn cứ trên văn bản này tạo lập một mã số tài khoản để
ghi chép lại toàn bộ những giao dịch của chủ tài khoản và chịu trách nhiệm quản lý
các thông tin trước các chủ thể khác.
Thứ tư, chủ tài khoản ký phát giấy nộp tiền, giấy rút tiền, ký phát lệnh chuyển
tiền, ký phát séc,.. để yêu cầu ngân hàng thực hiện các công việc cung cấp dịch vụ
thanh toán.
Thứ năm, căn cứ trên các văn bản này, ngân hàng sẽ được sử dụng số tiền mà
chủ tài khoản đã nộp vào ngân hàng và trả lãi hoặc không trả lãi cho chủ tài khoản.
Hợp đồng được xác lập khi ngân hàng ký duyệt vào tờ khai đăng ký mở tài
khoản thanh toán do người yêu cầu mở tài khoản đã ký và tạo lập một mã số tài
khoản tại ngân hàng theo bản quy định về mở tài khoản ngân hàng. Bản quy định
mở tài khoản này thường được các ngân hàng gọi là bản quy chế và điều kiện mở tài
khoản, bản điều kiện mở và sử dụng tài khoản,… do ngân hàng phát hành và đăng
ký với Ngân hàng Nhà nước. Các phụ lục khác như giấy nộp tiền, giấy rút tiền, uỷ
nhiệm chi,... được chủ tài khoản ký phát và có hiệu lực kể từ khi được ngân hàng ký
phê duyệt. Tờ khai mở tài khoản thanh toán ngân hàng và bản quy chế mở tài khoản
của ngân hàng là những căn cứ tạo nên hợp đồng mà theo đó ngân hàng cung cấp

dịch vụ mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng của mình cho chủ tài khoản theo yêu
cầu, sau đó nhận tiền của chủ tài khoản và cung cấp dịch vụ thanh tốn để hưởng phí
dịch vụ. Việc thực hiện dịch vụ thanh toán qua ngân hàng được thực hiện bằng các
phụ lục ký kết sau đó dưới hình thức là giấy nộp tiền, rút tiền, uỷ nhiệm chi,...


14

Hợp đồng mở tài khoản thanh toán ngân hàng là một thỏa thuận bằng văn
bản giữa ngân hàng và chủ tài khoản làm cơ sở phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền
và nghĩa vụ giữa ngân hàng (bên quản lý tài khoản) và khách hàng (bên sử dụng
dịch vụ) trong việc mở tài khoản và sử dụng dịch vụ thanh tốn qua ngân hàng.
Phân tích khái niệm trên cho thấy để được xem là một hợp đồng mở tài khoản
thanh tốn ngân hàng thì phải là hình thức văn bản, được ký kết giữa ngân hàng và
khách hàng. Sau khi hợp đồng có hiệu lực thì khách hàng trở thành chủ tài khoản.
Các văn bản này là cơ sở xác lập và điều chỉnh mối quan hệ giữa ngân hàng
và chủ tài khoản liên quan đến việc mở tài khoản và sử dụng dịch vụ thanh toán qua
ngân hàng. Mọi vấn đề phát sinh trong quan hệ giữa ngân hàng và chủ tài khoản sẽ
căn cứ các văn bản này làm cơ sở để giải quyết hoặc từ đó sẽ dẫn chiếu đến những
quy định khác của pháp luật để giải quyết.
Xét theo chiều ngược lại, một (hoặc nhiều) văn bản thoả thuận giữa ngân
hàng và khách hàng mà theo đó quy định quyền và nghĩa vụ của ngân hàng và chủ
tài khoản về việc mở tài khoản và sử dụng dịch vụ thanh tốn qua ngân hàng thì
cũng đủ yếu tố để xem đó là hợp đồng.
Như vậy, khái niệm trên đủ cho chúng ta biết hợp đồng mở tài khoản là gì, và
căn cứ vào khái niệm này có thể phân biệt được hợp đồng mở tài khoản thanh toán
ngân hàng với bất kỳ hợp đồng nào khác. Hợp đồng nào có nội hàm như trên thì sẽ
phải là hợp đồng mở tài khoản thanh toán ngân hàng.
i.


Đặc điểm của hợp đồng mở tài khoản thanh toán qua ngân hàng
1.

Chủ thể của hợp đồng mở tài khoản thanh toán qua ngân hàng

Xét về chủ thể ký kết, để hình thành nên hợp đồng thì ít nhất phải có hai bên
chủ thể. Trong một số trường hợp, thì các chủ thể của hợp đồng có thể nhiều hơn
hai. Tuy nhiên, hiện nay, xem xét một cách tổng quát thì hợp đồng có hai chủ thể ký
kết vẫn là dạng phổ biến nhất. Đối với hợp đồng mở tài khoản thanh tốn qua ngân
hàng có hai bên chủ thể, một bên là ngân hàng với tư cách là bên thực hiện khởi tạo
tài khoản và một bên là chủ thể có yêu cầu mở tài khoản. Trong hợp đồng này, chủ
thể khởi tạo tài khoản chỉ có thể là ngân hàng và duy nhất là ngân hàng. Trong khi
đó, chủ thể có yêu cầu mở tài khoản có thể là tổ chức hoặc cá nhân. Đồng thời, chủ
thể có yêu cầu mở tài khoản có thể có một hoặc nhiều (trường hợp đồng chủ tài
khoản).


15

Trường hợp cá nhân mở tài khoản thì yêu cầu phải có năng lực pháp luật dân
sự và năng lực hành vi dân sự. Riêng đối với người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18
tuổi có tài sản riêng thì có thể tự mình thực hiện việc mở tài khoản. Đối với người
chưa thành niên, khi mở tài khoản thanh tốn phải có người giám hộ theo quy định
của pháp luật.
Trường hợp tổ chức mở tài khoản thì tổ chức đó phải được thành lập hợp
12

pháp . Những giấy tờ chứng minh tổ chức được thành lập hợp pháp như giấy
ĐKKD hoặc quyết định thành lập. Đối với tổ chức, yêu cầu phải có thêm giấy tờ
chứng minh tư cách của người đại diện.

2.

Hình thức của hợp đồng mở tài khoản thanh toán qua ngân hàng

Theo quy định của BLDS 2005 thì hợp đồng có thể được xác lập dưới nhiều
hình thức khác nhau, trừ một số trường hợp pháp luật bắt buộc hợp đồng phải được
xác lập theo một hình thức cụ thể. Từ những quy định bước đầu về mở tài khoản
thanh toán ngân hàng, pháp luật đều có quy định phải có tờ khai đăng ký mở tài
khoản.
Xét đúng bản chất, tờ khai mở tài khoản thực chất là một bộ phận cấu thành
của thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng. Nó được xem như một phần không
thể tách rời của hợp đồng mở tài khoản thanh toán qua ngân hàng. Việc xác lập hợp
đồng mở tài khoản thanh tốn ngân hàng dưới góc độ là một văn bản cũng được quy
định trong Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN và Nghị định số 101/2012/NĐ-CP.
Tuy nhiên, trong Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN quy định tờ khai mở
tài khoản chỉ cần có một số nội dung thơng tin của chủ tài khoản. Trong tờ khai này,
ngân hàng chỉ quan tâm đến những thông tin giúp ngân hàng khởi tạo được tài
khoản cho chủ tài khoản mà không đề cập đến các quyền và nghĩa vụ cụ thể13. Giai
đoạn áp dụng Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN, quyền và nghĩa vụ giữa các bên
thường được quy định chung chung trong các bản quy định riêng của các ngân hàng.
Khi phát sinh tranh chấp, thường khó xác định quyền và nghĩa vụ cụ thể giữa các
bên. Vì điều đó, Nghị định số 101/2012/NĐ-CP quy định về thanh tốn khơng dùng
tiền mặt đã quy định nhiều về mở tài khoản thanh tốn, trong đó quy định bắt buộc
“việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán phải được thực hiện bằng hợp đồng giữa
12

Điểm b khoản 2 điều 2 Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN: “Tổ chức Việt Nam được thành lập và hoạt
động theo quy định của pháp luật Việt Nam, tổ chức nước ngoài được thành lập và hoạt động theo quy định
của pháp luật nước mà tổ chức đó được thành lập”.
13

Xem Phụ lục 1.


16

các bên liên quan, trong đó xác định rõ quyền và trách nhiệm của các bên theo đúng
quy định pháp luật”14.
Dưới góc độ pháp lý lẫn thực tế, việc quy định như thế là một dấu hiệu tốt thể
hiện rõ ý chí của nhà làm luật trong việc thừa nhận bản chất hợp đồng của tờ khai
mở tài khoản. Đồng thời, quy định bắt buộc phải lập hợp đồng có xác định rõ quyền
và trách nhiệm các bên sẽ giúp tờ khai mở tài khoản thực sự là một văn bản hợp
đồng đúng nghĩa, rõ ràng và thuận lợi cho việc triển khai, thực hiện các giao dịch
mở tài khoản trên thực tế. Tuy nhiên, dù Nghị định số 101/2012/NĐ-CP quy định
bắt buộc phải xác định rõ quyền và trách nhiệm nhưng trong Nghị định này khơng
có những quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Quan hệ mở tài khoản
thanh toán ngân hàng được thực hiện thơng qua hợp đồng mở tài khoản thanh tốn
và hợp đồng này thường bất lợi cho chủ tài khoản – khách hàng, vì ngân hàng là chủ
thể có quyền thiết kế tờ khai và cung cấp tờ khai cho khách hàng. Ngân hàng là chủ
thể ban hành nên các quy định và điều kiện về mở tài khoản thanh tốn để dẫn chiếu
trở thành một phần khơng thể tách rời của hợp đồng. Vì thế, nếu Nghị định số
101/2012/NĐ-CP đã có quy định về việc yêu cầu xác định rõ quyền và nghĩa vụ
trong hợp đồng thì cũng nên có những quy định chi tiết về quyền và nghĩa vụ nhằm
thúc đẩy quan hệ hợp đồng mở tài khoản thanh toán thuận lợi hơn khi ký kết, áp
dụng và giải quyết tranh chấp.
Mặc dù thừa nhận rằng, quyền và nghĩa vụ cơ bản giữa các bên cũng có quy
định trong BLDS 2005 và Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN, nhưng quan hệ
giữa các bên trong giao dịch mở tài khoản có những đặc thù nhất định, bản chất của
hợp đồng này cũng không mang những dấu hiệu đặc trưng rõ nét của một loại hợp
đồng cụ thể. Vì điều đó, nên cần có những quy định rõ hơn, cụ thể hơn về quyền và
nghĩa vụ giữa các bên trong giao dịch mở tài khoản ngân hàng.

Ở một góc độ khác, dù rằng hợp đồng là sự tự do thoả thuận giữa các bên và
hợp đồng mở tài khoản thanh toán qua ngân hàng bản chất cũng là một hợp đồng
dân sự, vì thế pháp luật cũng khơng can thiệp q sâu vào quan hệ hợp đồng này.
Tuy nhiên, như đã phân tích, trong quan hệ này, khách hàng - chủ tài khoản thường
ở vị thế yếu hơn các ngân hàng, các văn bản tạo lập nên hợp đồng đều do ngân hàng
cung cấp, quyền và nghĩa vụ cũng dẫn chiếu theo các quy định riêng của ngân hàng.
Do vậy, nhận thấy rằng cần có những quy định rõ về quyền và nghĩa vụ giữa các bên

14

Điều 7, Nghị định số 101/2012/NĐ-CP.


17

để các ngân hàng căn cứ vào đó xây dựng những quy định riêng nhưng vẫn không
tác động bất lợi đến khách hàng.
Chung quy lại, hình thức của hợp đồng mở tài khoản thanh toán ngân hàng
được xác lập dưới hình thức văn bản. Hiện nay, hợp đồng này được thể hiện ở dạng
tờ khai đăng ký mở tài khoản và bản điều kiện về mở tài khoản do các ngân hàng
ban hành và cung cấp cho khách hàng khi có nhu cầu mở tài khoản. Mặc dù tờ khai
đăng ký mở tài khoản có hay khơng có đầy đủ những nội dung về quyền và nghĩa vụ
giữa các bên thì nó vẫn được xem là một phần khơng thể tách rời của hợp đồng vì có
xác nhận của hai bên thực hiện giao dịch. Nếu trong giấy đăng ký mở tài khoản
khơng có nội dung thể hiện các quyền và nghĩa vụ cơ bản giữa các bên thì trong bản
quy định chung về mở tài khoản của ngân hàng sẽ phải có nội dung này.
3.

Bản chất pháp lý của hợp đồng mở tài khoản thanh toán qua ngân
hàng


Từ khái niệm về hợp đồng mở tài khoản thanh toán qua ngân hàng cho thấy,
quan hệ mở tài khoản thanh toán ngân hàng mang đầy đủ tính chất của một quan hệ
hợp đồng. Xét về bản chất, bộ hồ sơ mở tài khoản thanh toán ngân hàng bao gồm cả
tờ khai được hai bên ký chính là một phần của hợp đồng bao gồm “mở tài khoản” và
“sử dụng dịch vụ thanh toán”.
Việc thừa nhận quan hệ tài khoản ngân hàng là quan hệ hợp đồng trong các
tài liệu luật học ở một số quốc gia trên thế giới trải qua những giai đoạn thăng trầm
nhất định và thu hút sự tham gia của đông đảo giới học thuật và các nhà lập pháp.
Trước hết, hợp đồng mở tài khoản thanh toán qua ngân hàng thể hiện rõ nét
bản chất của hợp đồng dịch vụ.
Hợp đồng cung ứng dịch vụ được hiểu là “sự thỏa thuận giữa bên cung ứng
dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ, trong đó quy định quyền và nghĩa vụ giữa các bên
trong việc cung ứng và sử dụng một dịch vụ cụ thể là đối tượng của hợp đồng”15.
Hợp đồng mở tài khoản thanh toán qua ngân hàng được khách hàng ký kết
với mục đích chính hướng đến sử dụng dịch vụ của ngân hàng. Khi ngân hàng khởi
tạo tài khoản cho khách hàng, khách hàng dùng tài khoản để sử dụng các dịch vụ
qua tài khoản mà ngân hàng cung ứng, đồng thời chấp nhận trả phí dịch vụ theo biểu
phí do ngân hàng ban hành. Khách hàng có thể trả phí bằng tiền mặt ngay khi thực
15

Trường đại học Luật TPHCM (2013), Giáo trình Pháp luật thương mại hàng hóa và dịch vụ, NXB Hồng
Đức – Hội luật gia Việt Nam, tr.176.


18

hiện dịch vụ hoặc ngân hàng ghi nợ vào tài khoản tương ứng số tiền dịch vụ mà chủ
tài khoản sử dụng.
Xét bản chất quan hệ hợp đồng mở tài khoản thanh toán ngân hàng cụ thể, ta

thấy hợp đồng này mang bản chất hợp đồng dịch vụ.
Thứ nhất, nghiên cứu hợp đồng dịch vụ cho thấy hợp đồng dịch vụ là sự thoả
thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê
dịch vụ, còn bên thuê dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ16. Đối
tượng của hợp đồng dịch vụ phải là cơng việc có thể thực hiện được, không bị pháp
luật cấm, không trái đạo đức xã hội. Xét hợp đồng mở tài khoản thanh toán ngân
hàng, bên thuê dịch vụ là chủ tài khoản, bên cung cấp dịch vụ là ngân hàng. Chủ tài
khoản sử dụng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng và trả phí dịch vụ cho ngân hàng.
Ngược lại, ngân hàng cung cấp dịch vụ thanh toán cho chủ tài khoản và thu phí của
chủ tài khoản. Hợp đồng dịch vụ giữa chủ tài khoản và ngân hàng là hợp đồng cung
cấp dịch vụ thanh tốn qua ngân hàng. Cơng việc làm dịch vụ thanh tốn qua ngân
hàng là cơng việc có thể thực hiện được và pháp luật khơng cấm, không trái đạo đức
xã hội.
Thứ hai, theo Điều 520 BLDS 2005, đối với hợp đồng dịch vụ, bên thuê dịch
vụ có nghĩa vụ cung cấp cho bên cung ứng dịch vụ thông tin, tài liệu và các phương
tiện cần thiết để thực hiện cơng việc, nếu có thoả thuận hoặc việc thực hiện cơng
việc địi hỏi; trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ theo thoả thuận. Trong hợp
đồng mở tài khoản, chủ tài khoản với tư cách là bên thuê dịch vụ có nghĩa vụ cung
cấp cho ngân hàng các thông tin, tài liệu và các phương tiện cần thiết để thực hiện
các dịch vụ thanh toán. Theo đó, chủ tài khoản phải chuẩn bị bộ hồ sơ mở tài khoản,
cũng như việc ký phát giấy rút tiền, uỷ nhiệm chi, séc, cung cấp hoá đơn chứng từ
thanh tốn để căn cứ vào đó ngân hàng có thơng tin về người nhận tiền. Lý do thanh
tốn và điều kiện thanh tốn chính là thơng tin để bên ngân hàng thực hiện các dịch
vụ thanh toán theo yêu cầu của chủ tài khoản. Chủ tài khoản ký phát vào những giấy
tờ trên cũng đồng nghĩa với việc chấp thuận trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch
vụ theo thoả thuận trong hợp đồng mở tài khoản thanh toán đã ký.
Thứ ba, Điều 521 BLDS 2005 quy định, đối với hợp đồng dịch vụ, bên thuê
dịch vụ có quyền yêu cầu bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc theo đúng chất
lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm và các thoả thuận khác. Nếu bên cung ứng dịch
vụ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thì bên thuê dịch vụ có quyền đơn phương chấm

16

Điều 518, BLDS 2005.


19

dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Bên cung ứng dịch vụ
không được giao cho người khác thực hiện thay cơng việc, nếu khơng có sự đồng ý
của bên thuê dịch vụ. Trong hợp đồng mở tài khoản thanh toán, chủ tài khoản với tư
cách là người thuê dịch vụ có quyền yêu cầu ngân hàng là bên cung ứng dịch vụ
thực hiện công việc theo đúng chất lượng đã cam kết. Theo đó, ngân hàng phải thực
hiện đúng về thời gian, mức độ tin cậy của dịch vụ, số lượng như quy định trong các
giấy tờ mà chủ tài khoản đã ký phát, thời hạn và địa điểm đúng như cam kết trong
hợp đồng mở tài khoản thanh toán ngân hàng. Hợp đồng mở tài khoản thanh toán
ngân hàng cũng quy định nếu ngân hàng vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thì chủ tài
khoản có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường
thiệt hại. Truờng hợp vi phạm nghĩa vụ nghiêm trọng này có thể là việc ngân hàng
chậm trễ thanh toán dẫn đến chủ tài khoản vi phạm nghĩa vụ thanh toán với đối tác,
bị đối tác phạt hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại; hoặc trường hợp ngân hàng
đã thực hiện sai lệnh chuyển tiền dẫn đến làm mất tiền của chủ tài khoản. Trong
những trường hợp như vậy, ngân hàng sẽ có nghĩa vụ bồi thường. Hợp đồng mở tài
khoản thanh toán ngân hàng cũng quy định ngân hàng không được giao cho chủ thể
khác thực hiện thay công việc cung cấp dịch vụ thanh tốn, nếu khơng có sự đồng ý
của chủ tài khoản.

Thứ tư, nghĩa vụ bảo quản và giao lại cho bên thuê dịch vụ tài liệu và phương
tiện được giao sau khi hồn thành cơng việc. Theo Điều 522 BLDS 2005, bên cung
ứng dịch vụ có nghĩa vụ báo ngay cho bên thuê dịch vụ về việc thông tin, tài liệu
không đầy đủ, phương tiện không bảo đảm chất lượng để hồn thành cơng việc. Bên

thực hiện dịch vụ phải giữ bí mật thơng tin mà mình biết được trong thời gian thực
hiện công việc đồng thời bồi thường thiệt hại cho bên thuê dịch vụ, nếu làm mất
mát, hư hỏng tài liệu được giao hoặc tiết lộ bí mật thông tin. Đối với hợp đồng mở
tài khoản thanh toán ngân hàng, khi việc thực hiện các dịch vụ thanh tốn hồn tất,
ngân hàng phải bảo quản và phải giao lại cho chủ tài khoản biên lai xác nhận làm
bằng chứng cho việc thanh toán, xác nhận đã chi tiền theo đúng nội dung do chủ tài
khoản yêu cầu ngân hàng thực hiện. Trong trường hợp các lệnh chi, séc hay giấy rút
tiền có sai sót thì ngân hàng phải báo ngay cho chủ tài khoản về việc thông tin, tài
liệu khơng đầy đủ hoặc có sai sót dẫn đến ngân hàng khơng hồn thành cơng việc
thanh tốn như cam kết. Hợp đồng mở tài khoản thanh toán ngân hàng cũng quy
định ngân hàng có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin mà ngân hàng biết được trong thời
gian thực hiện dịch vụ thanh toán cho chủ tài khoản, đồng thời cũng quy định ngân


×