Tải bản đầy đủ (.pdf) (62 trang)

Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại trong khu công nghiệp (luận văn thạc sỹ luật học)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.03 MB, 62 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƢƠNG MẠI
-----------***------------

PHẠM THỊ HỢP

PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI
TRONG KHU CƠNG NGHIỆP
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Chuyên ngành Luật Thƣơng Mại

TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƢƠNG MẠI
-----------***------------

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY
HẠI TRONG KHU CƠNG NGHIỆP

SINH VIÊN THỰC HIỆN: PHẠM THỊ HỢP
KHĨA: 35 – MSSV: 1055010106
GIÁO VIÊN HƢỚNG DẪN: ThS. PHAN THỊ KIM NGÂN

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2014



LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Phạm Thị Hợp – sinh viên Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí
Minh, Khoa Luật Thương Mại, Khóa 35 (2010 – 2014), là tác giả của Khóa
luận tốt nghiệp Cử nhân Luật – Chuyên ngành Luật Thương Mại – Đề tài:
Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại trong Khu cơng nghiệp được trình
bày trong tài liệu này (sau đây gọi là “Khóa luận”).
Tơi xin cam đoan tất cả nội dung trong Khóa luận này hồn tồn được
phát triển và hình thành từ những quan điểm cá nhân của tôi, dưới sự hướng
dẫn khoa học của ThS. Phan Thị Kim Ngân – Giảng viên Khoa Luật Thương
Mại, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.
Trong Khóa luận có trích dẫn, sử dụng một số ý kiến, quan điểm khoa
học của một số tác giả. Sự trích dẫn này được thể hiện cụ thể trong Danh mục
tài liệu tham khảo và tuân thủ các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
Các số liệu và kết quả có được trong Khóa luận này là hoàn toàn trung
thực.
Sinh viên thực hiện
Phạm Thị Hợp


LỜI CẢM ƠN
Để hồn thành Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân Luật Chuyên ngành Luật
Thương Mại với đề tài Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại trong Khu công
nghiệp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến các Thầy Cô
giảng viên Tổ bộ môn Luật Đất đai – Môi trường, Khoa Luật Thương Mại, Trường
Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, đặc biệt cảm ơn ThS. Phan Thị Kim Ngân – giảng
viên hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tơi trong thời gian thực hiện Khóa
luận.
Bên cạnh đó, tơi xin gửi lời cảm ơn đến Gia đình, bạn bè đã bên cạnh để tơi có
thể hồn thành Khóa luận này.

Một lần nữa xin trân trọng cảm ơn.

Sinh viên thực hiện

Phạm Thị Hợp


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt

Viết đầy đủ

BQL

:

Ban Quản lý

BVMT

:

Bảo vệ môi trường

CCN

:

Cụm công nghiệp


CTNH

:

Chất thải nguy hại

CSMT

:

Cảnh sát môi trường

ĐTM

:

Đánh giá tác động môi trường

KCN

:

Khu công nghiệp

KCX

:

Khu chế xuất


KKT

:

Khu kinh tế

SXKD

:

Sản xuất kinh doanh

TN&MT

:

Tài nguyên và Môi trường

UBND

:

Uỷ ban nhân dân

GPS

:

Hệ thống định vị vệ tinh


VPPL

:

Vi phạm pháp luật

VPHC

:

Vi phạm hành chính


MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU…………………………………………………… ....................... 8
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI
NGUY HẠI TRONG KHU CÔNG NGHIỆP …………………. ............................. 12
1.1. Tổng quan về quản lý CTNH trong KCN ...................................................12
1.1.1. Một số khái niệm .......................................................................................... 12
1.1.1.1. Khái niệm chất thải .....................................................................................12
1.1.1.2. Khái niệm CTNH ......................................................................................... 14
1.1.1.3. Khái niệm KCN ...........................................................................................17
1.1.1.4. Khái niệm CTNH trong KCN ......................................................................18
1.1.1.5. Khái niệm quản lý CTNH trong KCN .........................................................19
1.1.2. Mô hình quản lý CTNH trong KCN ............................................................ 20
1.1.3. Tình hình quản lý CTNH trong KCN ......................................................... 21
1.1.4. Các yếu tố tác động đến quản lý CTNH trong KCN hiện nay ................... 24
1.2. Tổng quan về pháp luật quản lý CTNH trong KCN .................................. 24
1.2.1. Các quy định của pháp luật hiện hành về quản lý CTNH trong KCN ...... 24

1.2.2. Vai trò của pháp luật quản lý CTNH trong KCN ....................................... 25
1.2.3. Mối quan hệ của quá trình hình thành và phát triển pháp luật về quản lý
CTNH trong KCN với quá trình hình thành và phát triển của KCN ................... 26
1.2.4. Các yếu tố tác động đến pháp luật quản lý CTNH trong KCN .................. 28
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY
HẠI TRONG KHU CÔNG NGHIỆP VÀ HƢỚNG HOÀN THIỆN ................ 31
2.1. Trách nhiệm quản lý CTNH trong KCN – thực trạng và một số kiến nghị
31
2.1.1. Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước.............................................. 31


2.1.1.1. Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chung....................................... 31
2.1.1.2. Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chuyên môn ..............................35
2.1.1.3. Các cơ quan liên quan phối hợp trong quản lý CTNH trong KCN ............36
2.1.2. Trách nhiệm của Ban quản lý KCN ............................................................ 39
2.1.3. Trách nhiệm của chủ nguồn thải CTNH trong KCN ................................. 40
2.1.4. Trách nhiệm của chủ hành nghề quản lý CTNH từ KCN ......................... 42
2.1.5. Trách nhiệm của chủ tái sử dụng CTNH từ KCN...................................... 45
2.1.6. Trách nhiệm của chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng kỹ
thuật KCN .................................................................................................................45
2.2. Các giai đoạn của hoạt động quản lý CTNH trong KCN – thực trạng và
một số kiến nghị ...................................................................................................... 47
2.2.1. Thu gom, lưu giữ tạm thời, vận chuyển CTNH trong KCN ...................... 47
2.2.2. Xử lý CTNH trong KCN ............................................................................... 49
2.3. Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong hoạt động quản lý CTNH trong
KCN – thực trạng và một số kiến nghị ................................................................. 51
2.3.1. Thanh tra, kiểm tra hoạt động quản lý CTNH trong KCN ........................ 51
2.3.2. Xử lý vi phạm trong hoạt động quản lý CTNH trong KCN ....................... 53
KẾT LUẬN


58



PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Mơi trường sống là yếu tố vô cùng quan trọng và cần thiết đối với sự tồn tại của
con người cũng như sự phát triển bền vững của một quốc gia. Trong những năm trở lại
đây, tình trạng ơ nhiễm mơi trường, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên diễn ra gay gắt và
ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống xã hội. Phát triển kinh tế cùng với sự gia tăng ồ ạt
số lượng các KCN đã và đang mang lại những lợi ích nhất định, tuy nhiên các KCN
cũng chính là nơi tiêu thụ nguồn tài nguyên đáng kể và là nguồn phát thải lớn. Hiện
nay, tình trạng ơ nhiễm do chất thải nói chung đặc biệt là CTNH tại các KCN ngày
càng có xu hướng gia tăng mà chưa có được sự quan tâm, chú trọng quản lý đúng mức
từ các cơ quan chức năng cũng như ý thức chấp hành các quy định về quản lý CTNH
trong KCN của các chủ thể có liên quan.
Trong bối cảnh trên, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, chỉ đạo phát triển
kinh tế gắn liền với việc BVMT. Theo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm
2020 nước ta trở thành một nước cơng nghiệp. Tính đến hết năm 2012, Việt Nam có
289 KCN, KCX với diện tích hơn 80 ngàn ha. Các KCN, KCX này đã thu hút trên 4,3
ngàn dự án FDI với tổng số vốn đăng ký lên tới 65 tỷ USD. Ngoài ra, cả nước hiện có
gần 900 CCN, thu hút trên 7 ngàn dự án với tổng vốn đầu tư trên 112 ngàn tỷ đồng, tạo
việc làm cho gần nửa triệu lao động…1
Bên cạnh những đóng góp tích cực về kinh tế - xã hội, quá trình phát triển các
KCN ở Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn về ô nhiễm môi trường,
do các loại chất thải thải ra từ hoạt động sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp
trong KCN trong đó có CTNH. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam có
thể phải chịu tổn thất do ô nhiễm môi trường lên tới 5,5 % GDP hàng năm. Như vậy,
nền kinh tế mất khoảng 3,9 tỷ USD trong 7,1 tỷ USD của GDP trong năm 2007 và
khoảng 4,2 tỷ USD trong ước tính 76 tỷ USD của GDP trong năm 2008. Cũng theo

đánh giá của Ngân hàng Thế giới, mỗi năm Việt Nam thiệt hại 780 triệu USD trong
các lĩnh vực sức khỏe cộng đồng vì ơ nhiễm mơi trường2.
Trước thực trạng ơ nhiễm mơi trường từ CTNH trong KCN, thời gian qua Đảng
ta đã ban hành nhiều văn bản về chiến lược BVMT như: Nghị quyết 41-NQ/TW ngày
15/11/2004 của Bộ Chính trị (Khóa IX) về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Chỉ thị 29-CT/TW ngày 21/01/2009 của Ban Bí thư
về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ Chính trị. Các kỳ Đại hội đại biểu
1

http://baophapluat.vn/doanh-nghiep/tu-khu-cong-nghiep-den-o-o-nhiem-174736.html
(truy cập ngày
21/4/2013, Bài “Từ Khu công nghiệp đến ổ ô nhiễm” của tác giả Hoàng Quý đăng trên Báo Pháp luật online
ngày 30/12/2013).
2
Bộ Tài nguyên và Môi trường (2010), Báo cáo môi trường Quốc gia năm 2009 – Môi trường KCN Việt Nam,
Hà Nội, tr.2.

8


toàn quốc lần thứ IX, X và mới đây nhất là đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt
Nam tiếp tục khẳng định con đường phát triển kinh tế bền vững phải gắn chặt với
BVMT.
Về phía Nhà nước, với việc cho ra đời nhiều văn bản pháp luật đặc biệt là Luật
BVMT 2005, Luật BVMT 2014 cùng với các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành
bước đầu tạo hành lang pháp lý để các chủ thể có liên quan tiến hành hoạt động quản
lý CTNH trong KCN. Nhìn chung, pháp luật về quản lý CTNH đã được quan tâm và
quy định tương đối chi tiết, còn pháp luật về quản lý CTNH trong KCN nói riêng vẫn
chưa được quy định một cách đầy đủ. Đồng thời, bản thân pháp luật BVMT trong
quản lý CTNH còn nhiều vấn đề bất cập như trách nhiệm của cơ quan chức năng có

thẩm quyền quản lý CTNH trong KCN, trách nhiệm của chủ nguồn thải CTNH, quy
trình xử lý CTNH, vấn đề quy kết trách nhiệm và tiến hành thanh tra, kiểm tra cũng
như phát hiện xử lý các hành vi VPPL về hoạt động quản lý CTNH trong KCN…cần
phải được xem xét và đánh giá. Những bất cập trên là rào cản lớn đối với hoạt động
quản lý có hiệu quả CTNH trong KCN hiện nay.
Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Pháp luật về quản
lý chất thải nguy hại trong Khu công nghiệp” làm khóa luận tốt nghiệp cử nhân cho
mình.
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Xuất phát từ những đặc tính đặc biệt mà CTNH có sự khác biệt đáng kể đối với
những loại chất thải khác. Trong đó, mức độ nguy hiểm cao đối với mơi trường và sức
khỏe của con người là một trong những sự khác biệt cơ bản nhất. Vấn đề quản lý
CTNH nói chung và quản lý CTNH trong KCN nói riêng so với hoạt động quản lý các
chất thải khác vì vậy cũng cần có những quy định riêng biệt.
Hiện nay pháp luật về quản lý CTNH trong KCN còn nhiều hạn chế và chưa
được quy định một cách đầy đủ, cũng như hoạt động quản lý của các cơ quan chức
năng cịn nhiều bất cập đã gây ra rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý CTNH.
Việc nghiên cứu đề tài “Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại trong Khu cơng
nghiệp” hứa hẹn mang tính ứng dụng cho việc kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện
pháp luật, tạo ra một hành lang pháp lý cần thiết cho hoạt động quản lý chất thải nói
chung và quản lý CTNH trong KCN nói riêng. Mặc khác, tác giả mong muốn đề tài
nghiên cứu này có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cá nhân và tổ chức
quan tâm về đào tạo và nghiên cứu Luật học, các cơ quan xây dựng và tổ chức thực
hiện pháp luật về BVMT.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Với điều kiện và khả năng cho phép của mình, tác giả chủ yếu tập trung nghiên
cứu về quản lý CTNH trong KCN và pháp luật về quản lý CTNH trong KCN. Những
kiến thức chuyên sâu về công nghệ, kỹ thuật của quy trình xử lý, hoạt động xử lý
9



CTNH sẽ không được đề cập một cách cụ thể. Tác giả đi sâu vào nghiên cứu một số
khía cạnh pháp lý về hoạt động quản lý CTNH trong KCN như trách nhiệm quản lý
CTNH trong KCN của các chủ thể liên quan, trọng tâm nghiên cứu về các giai đoạn
của hoạt động quản lý CTNH trong KCN và cuối cùng là hoạt động thanh tra, kiểm
tra, xử lý vi phạm trong hoạt động quản lý CTNH trong KCN.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1.

Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận chung nhất cũng như thực tiễn quản lý CTNH
trong KCN, tác giả đề xuất kiến nghị cũng như giải pháp góp phần hồn thiện quy định
của pháp luật về quản lý CTNH trong KCN. Hướng tới mục tiêu gắn liền hoạt động
cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với việc BVMT một cách bền vững.
4.2.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Trong khóa luận, tác giả có nhiệm vụ làm sáng tỏ các vấn đề liên quan đến quản
lý CTNH trong KCN và pháp luật về quản lý CTNH trong KCN. Đồng thời nghiên
cứu, phân tích thực trạng quản lý CTNH trong KCN để đề xuất hướng hoàn thiện
trong tương lai.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1.

Cơ sở lý luận

Trong khóa luận tác giả sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát

triển kinh tế gắn liền với BVMT bền vững.
5.2.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài khóa luận được nghiên cứu dựa trên các phương pháp lịch sử, phương
pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp thực tiễn và đánh giá, phương pháp
phân tích…
6. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trên thực tế đã có nhiều cơng trình nghiên cứu về vấn đề quản lý CTNH nhưng
rất ít đề tài nghiên cứu một cách trực tiếp về quản lý CTNH trong KCN. Các cơng
trình nghiên cứu này cũng chỉ đề cập đến các giải pháp kỹ thuật mà chưa đi sâu nghiên
cứu về quy định của pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý CTNH trong KCN.
Nghiên cứu các khía cạnh của cơng tác quản lý chất thải dưới góc độ khoa học
pháp lý nói chung hiện nay có một số đề tài như: Hồng Thị Vui (2008), Pháp luật về
quản lý chất thải thông thường ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Trường ĐH Luật
TP.HCM, TP. Hồ Chí Minh, luận văn của Phan Thanh Tùng (2012), Trách nhiệm
pháp lý của Doanh nghiệp trong hoạt động quản lý chất thải, Luận văn thạc sĩ,
Trường ĐH Luật TP.HCM, TP. Hồ Chí Minh. Tổng quan về hoạt động quản lý chất
thải nguy hại có đề tài khóa luận của Võ Thúy An (2011), Quản lý chất thải nguy hại 10


thực trạng và kiến nghị, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật, Trường ĐH Luật
TP.HCM, TP. Hồ Chí Minh… Các cơng trình nghiên cứu trên chỉ mới đề cập đến vấn
đề quản lý chất thải rắn thông thường, CTNH một cách chung nhất hay vấn đề trách
nhiệm quản lý chất thải của Doanh nghiệp nói chung.
Về pháp luật quản lý chất thải trong KCN có đề tài luận văn của Mai Xuân Vinh
(2013), Pháp luật về quản lý nước thải Khu công nghiệp, Luận văn thạc sĩ, Trường
ĐH Luật TP. HCM, TP. Hồ Chí Minh, đề tài của Võ Thị Bích Hiền (2013), Pháp luật
về quản lý chất thải rắn thơng thường trong Khu cơng nghiệp, Khóa luận tốt nghiệp cử

nhân Luật, Trường ĐH Luật TP.HCM, đề tài của Nguyễn Chí Nguyên (2012), Pháp
luật về quản lý nước thải trong Khu cơng nghiệp, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật,
Trường ĐH Luật TP.HCM. Những cơng trình này tuy đã hướng đến nghiên cứu hoạt
động quản lý chất thải trong KCN tuy nhiên cũng chỉ mới nghiên cứu về hoạt động
quản lý nước thải và chất thải rắn thơng thường.
Ngồi ra có một số bài nghiên cứu trên các tạp chí Luật học, tạp chí Khoa học
pháp lý hay tạp chí Tài nguyên và Môi trường, nghiên cứu pháp luật môi trường dưới
nhiều góc độ, khía cạnh pháp lý khác nhau. Trên các trang điện tử internet có nhiều bài
viết về vấn đề quản lý CTNH và tình trạng chơn lấp CTNH không qua xử lý gây ô
nhiễm của một số KCN...
Như vậy, các nghiên cứu từ trước đến nay chỉ mới xoay quanh các vấn đề về
quản lý chất thải, chất thải rắn thông thường, nước thải, hay quản lý CTNH nói chung
mà chưa có đề tài nào nghiên cứu chuyên sâu về “Pháp luật về quản lý chất thải nguy
hại trong Khu cơng nghiệp”.
7. Kết cấu của khóa luận
Khóa luận được kết cấu bởi ba phần gồm mở đầu, nội dung và kết luận. Trong
đó, phần nội dung được bố cục trong 2 chương. Chương 1: Một số vấn đề lý luận về
quản lý CTNH trong KCN. Chương 2: Thực trạng pháp luật quản lý CTNH trong
KCN và hướng hoàn thiện.

11


CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI
NGUY HẠI TRONG KHU CÔNG NGHIỆP

Tổng quan về quản lý CTNH trong KCN
Một số khái niệm
Xuất phát từ nguyên tắc BVMT gắn liền với phát triển bền vững cũng như hiện
trạng suy giảm môi trường mà hiện nay Nhà nước ta đặt vấn đề BVMT là mối quan

tâm hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Để cơng tác BVMT nói
chung và hoạt động quản lý chất thải mà đặc biệt là CTNH được thực thi một cách
hiệu quả trước tiên ta cần nắm vững các khái niệm có liên quan, từ đó xác định được
các yếu tố cần phải quản lý, bảo vệ hoặc loại trừ,…

Khái niệm chất thải
Dưới góc độ ngữ nghĩa, chất thải là chất không sử dụng được, bị con người thải
ra trong các hoạt động khác nhau. Chất thải được sản sinh trong các hoạt động khác
nhau của con người thì được gọi với những thuật ngữ khác nhau như: chất thải rắn
phát sinh trong sinh hoạt và sản xuất được gọi là rác thải, chất thải phát sinh sau khi
sử dụng nguyên liệu trong quá trình sản xuất gọi là phế liệu, chất thải sau quá trình sử
dụng nước gọi là nước thải,…3 .
Theo định nghĩa trong Từ điển Tiếng Việt của Viện ngơn ngữ học thì “Chất thải
là rác là những đồ vật bị bỏ đi nói chung”. Theo cách hiểu của khái niệm này, chất
thải bao gồm rác là những thức vụn vặt bị vứt bỏ vương vãi, làm bẩn và những đồ đạc
khơng có giá trị, khơng có tác dụng nên khơng được giữ lại4.
Từ điển Môi trƣờng Anh – Việt và Việt – Anh định nghĩa: “Chất thải (waste)
là bất kỳ chất gì, rắn, lỏng hoặc khí mà cơ thể, hệ thống sản sinh ra nó khơng cịn sử
dụng được nữa và cần có biện pháp thải bỏ”5.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Cơng ƣớc Basel về Kiểm sốt vận chuyển
qua biên giới các phế thải nguy hại và việc tiêu hủy chúng (Cơng ước Basel) thì khái
niệm chất thải được hiểu “là các chất hoặc các đồ vật mà người ta tiêu hủy, có ý định
tiêu hủy hoặc phải tiêu hủy chiếu theo các điều khoản của luật lệ quốc gia”. Theo cách
hiểu của Cơng ước này thì chất thải được định nghĩa dựa trên tính chất thải loại tức
yếu tố quyết định để xác định một vật chất hoặc đồ vật có phải là chất thải hay khơng
phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu chúng có muốn tiêu hủy, có ý định tiêu hủy hoặc

3

Nguyễn Văn Phương (2006), “Một số khái niệm chất thải”, Luật học (10), tr.43- 47.

Nguyễn Văn Phương, tlđd 1, tr.43.
5
http://environment-safety.com/dict/ (truy cập ngày 27/04/2014).
4

12


phải tiêu hủy chúng hay không. Định nghĩa này chưa nêu được nguồn phát sinh, chưa
tính đến giá trị sử dụng lại của một số loại chất thải.
Theo Cục BVMT Thụy Điển thì “Chất thải là những nguyên liệu, vật liệu thô,
thành phẩm, bán thành phẩm, sản phẩm phụ và các chất xúc tác, các chất hóa học bổ
sung khác đã bị bẩn hoặc đã bị phân hủy hoặc không thể sử dụng được theo mục đích
ban đầu hay một mục đích tương tự nữa, hoặc người sử dụng vì một lý do nào đó
muốn loại bỏ chúng”6.
Dưới góc độ quy định của pháp luật, Luật BVMT 1993, đạo luật đầu tiên điều
chỉnh về vấn đề BVMT ở nước ta đã nêu ra khái niệm về chất thải tại khoản 2 Điều 2
như sau: “Chất thải là chất được loại ra trong sinh hoạt, trong quá trình sản xuất hoặc
trong các hoạt động khác”. Tuy lần đầu tiên khái niệm chất thải được quy định trong
một văn bản quy phạm pháp luật nhưng đây là một khái niệm khá đầy đủ và tồn diện,
đã nêu được tính chất cơ bản cũng như dạng tồn tại của chất thải.
Khái niệm chất thải trong Luật BVMT 2005 nhìn chung có nội hàm không khác
so với khái niệm được nêu trong Luật BVMT 1993 nhưng diễn đạt ngắn gọn, dễ hiểu
hơn, chú trọng đến tính chất vật lý và nguồn thải của chất thải. Khoản 3 Điều 3 Luật
BVMT 2005 định nghĩa: “Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác.”
Luật BVMT 2014 - Luật số 55/2014/QH13 được Quốc hội thông qua tại kỳ họp
thứ 7, Quốc hội khóa XIII có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 (sau đây gọi tắt là Luật
BVMT 2014) lại đưa ra khái niệm chất thải mang tính khái quát cao hơn nữa, theo đó:
“Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc

hoạt động khác”7.
Từ những khái niệm trong các Điều ước quốc tế cũng nhưng pháp luật Việt
Nam ta rút ra một khái niệm bao quát hơn: chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí
được tạo ra từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt và các hoạt
động khác của con người, là những vật chất không dùng đến nữa cần phải được tiêu
hủy hoặc tái chế để sử dụng lại.
Trên thực tế, chất thải tồn tại dưới nhiều trạng thái rất đa dạng và phong phú,
nắm được khái niệm cũng như đặc điểm của chất thải từ đó đưa ra các căn cứ để phân
loại chúng có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định các phương pháp, biện pháp quản
lý cũng như trách nhiệm của các chủ thể quản lý chất thải. Tùy thuộc vào nhiều căn cứ
mà người ta chia chất thải thành các loại khác nhau:
Thứ nhất, căn cứ vào nguồn gốc hình thành, chất thải sinh hoạt – phát sinh từ các
sinh hoạt hằng ngày của dân cư và các hoạt động phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hằng
6

Nguyễn Đức Khiển (2003), Quản lý chất thải nguy hại, NXB Xây dựng, Hà Nội, tr.17.
Khoản 12 Điều 3 Luật BVMT 2014, thông qua tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII, có hiệu lực từ ngày
01/01/2015.
7

13


ngày của họ; chất thải công nghiệp – phát sinh từ hoạt động sản xuất công nghiệp, thủ
công nghiệp; chất thải nông nghiệp – phát sinh từ hoạt động nông nghiệp như phân gia
súc, gia cầm, xác thực vật,…; và chất thải y tế - phát sinh từ các hoạt động khám, chữa
bệnh, chăm sóc sức khỏe,… của các cơ sở y tế.
Thứ hai, căn cứ vào mức độ nguy hại, chất thải được phân thành 02 loại đó là
CTNH – là chất thải chứa các yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mịn, dễ
lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác8; và chất thải không nguy hại – là

những chất thải thông thường, không chứa những yếu tố nguy hại kể trên.
Thứ ba, căn cứ vào thành phần chất thải, chất thải được phân thành chất thải hữu
cơ có thành phần gồm các chất hữu cơ và chất thải vô cơ có thành phần là các chất vơ
cơ.
Thứ tư, căn cứ vào trạng thái tồn tại, chất thải được phân thành 03 loại là chất
thải rắn, chất thải lỏng và chất thải khí.
Thứ năm, căn cứ vào khả năng tái chế, chất thải được phân thành phế liệu – là
các chất thải có thể tái chế được và có thể trở thành nguyên liệu sản xuất và chất thải
không thể tái chế - là những loại chất thải không thể trở thành nguyên liệu sản xuất,
phải xử lý chôn lấp hoặc tiêu hủy…

Khái niệm CTNH
Căn cứ mức độ nguy hại của chất thải, chất thải có thể được chia thành CTNH và
chất thải thơng thường, trong đó CTNH ln là mối quan tâm đặc biệt trong công tác
BVMT ở các nước. Vì thế, trong các Điều ước quốc tế về quản lý chất thải các quốc
gia thường thỏa thuận và đề cập đến CTNH, cụ thể:
Trong Công ước Basel, mặc dù không đưa ra một định nghĩa cụ thể về CTNH
nhưng trong các Phụ lục của Cơng ước có chỉ rõ cách xác định CTNH, trong đó xác
định những chất thuộc Phụ lục I và có ít nhất một thuộc tính trong Phụ lục III, hoặc
các chất do nước sở tại quy định trong luật pháp của nước đó, được coi là CTNH.
Trong các văn bản của UNEP (United Nation Environment Programmer:
Chương trình mơi trường Liên hợp quốc) và Mỹ đưa ra một số khái niệm như sau9:
Theo UNEP, “CTNH là những chất thải (khơng kể chất thải phóng xạ)có hoạt
tính hóa học, hoặc có tính độc hại, cháy nổ, ăn mịn gây nguy hiểm hoặc có thể gây
nguy hiểm đến sức khỏe hoặc mơi trường khi hình thành hoặc tiếp xúc với các chất
thải khác”. Khái niệm này không bao hàm chất thải phóng xạ và chất thải rắn thơng
thường. Chất thải phóng xạ và chất thải rắn thơng thường thường được quy định bởi
những quy ước riêng trong hệ thống quản lý chất thải của từng quốc gia. Chất thải
8


Khoản 11 Điều 3 Luật BVMT 2005.
Võ Đình Long, Nguyễn Văn Sơn (2008), Giáo trình quản lý chất thải rắn và chất thải nguy hại, ĐH Công
nghiệp TP. HCM, TP. Hồ Chí Minh, tr.12.
9

14


phóng xạ dù có những tính chất nguy hiểm trong những điều kiện nhất định song lại
không được thừa nhận trong khái niệm này.
Theo Luật khôi phục và bảo vệ tài nguyên của Mỹ (RCRA): CTNH là chất
rắn hoặc hỗn hợp chất rắn (thuật ngữ “chất rắn” trong định nghĩa này được giải thích
bao gồm chất bán rắn, lỏng và đồng thời bao gồm cả chất khí) có khối lượng, nồng độ,
hoặc các tính chất vật lý, hóa học, lây nhiễm khi xử lý, vận chuyển, thải bỏ, hoặc bằng
những cách quản lý khác nó có thể:
(i)
Gây nguy hiểm hoặc tiếp tục tăng nguy hiểm hoặc làm tăng đáng kể số
tử vong hoặc làm mất khả năng phục hồi sức khỏe của người bệnh.
(ii)
Làm phát sinh hiểm họa lớn cho con người hoặc môi trường hiện tại
hoặc tương lai.
Khái niệm này đã đưa ra được những đặc tính vật lý, hóa học chung nhất cũng
như nêu bật được tính nguy hiểm đối với con người và môi trường. Tuy nhiên, cách
hiểu trên khá khái quát nên không chỉ ra cụ thể những biểu hiện nguy hiểm như dễ
cháy nổ, dễ ăn mịn, có chất độc…10.
Trong các văn bản pháp lý của Việt Nam cũng đưa ra một số định nghĩa như sau:
Theo quy định tại khoản 11 Điều 3 Luật BVMT 2005 định nghĩa: “CTNH là
chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mịn, dễ lây nhiễm, gây
ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác”. Khái niệm này tập trung chỉ ra những tính chất
nguy hiểm của CTNH mà chưa cụ thể được dạng tồn tại cũng như điều kiện gây nguy

hiểm của nó.
Tiêu chuẩn Việt Nam 5507:2002 về Hóa chất nguy hiểm – Quy phạm an
toàn trong sản xuất, kinh doanh, sử dụng, bảo quản và vận chuyển quy định:
“CTNH (hazardous waste) là chất thải có chứa các đơn chất hoặc hợp chất có một
trong các đặc tính nguy hại trực tiếp (dễ cháy, nổ, gây ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ gây ơ
nhiễm mơi trường và các đặc tính nguy hại khác) hoặc tương tác với các chất khác
gây nguy hại tới môi trường, động thực vật và sức khỏe con người”.
Từ các khái niệm trên, ta thấy đặc trưng nổi bật nhất của CTNH chính là tính
nguy hiểm của chúng đối với môi trường sống và con người. Như vậy, có thể xây dựng
một định nghĩa chung về CTNH theo cách hiểu CTNH là loại chất thải ở thể rắn, lỏng
hoặc khí có chứa các đơn chất hoặc hợp chất có một trong những đặc tính gây nguy
hiểm đến mơi trường và sức khỏe con người hoặc tương tác với những chất khác dẫn
đến dễ cháy nổ, dễ ăn mòn, có tính độc, dễ lây nhiễm… (kể cả chất thải phóng xạ).
Theo Danh mục CTNH được ban hành kèm theo Thông tư số 12/2011/TTBTNMT ngày 14 tháng 4 năm 2011 của Bộ Tài nguyên và môi trường Quy định về
10

Võ Thúy An (2011), Quản lý chất thải nguy hại – thực trạng và kiến nghị, Khóa luận cử nhân, ĐH Luật
TP.HCM, TP. Hồ Chí Minh, tr.9.

15


Quản lý CTNH (Thơng tư số 12/2011/TT-BTNMT) thì CTNH có những đặc tính như
dễ nổ, dễ cháy, oxy hóa, ăn mịn, có độc tính, có độc tính sinh thái, lây nhiễm11.
Từ các đặc tính trên của CTNH như dễ nổ, dễ cháy, dễ oxy hóa, ăn mịn hoặc có
độc… mà trên thực tế khi bị thải bỏ ra môi trường bên ngồi khơng qua xử lý sẽ gây ra
những hậu quả vô cùng nghiêm trọng đối với sức khỏe của con người cũng như tác hại
đối với môi trường. Việc phân loại CTNH có vai trị hết sức cần thiết để từ đó đưa ra
quy trình xử lý riêng biệt phù hợp cho từng loại.
Như đã phân tích, với mỗi loại CTNH có những đặc tính khác nhau sẽ có các tiêu

chí cũng như các cách phân loại khác nhau. Tùy vào từng mục đích khoa học hay để
dễ dàng nhận biết thông thường CTNH được phân thành một số hệ thống như hệ thống
phân loại khoa học, hệ thống phân loại dùng cho công tác quản lý, hệ thống phân loại
để đánh giá khả năng tác động đến môi trường và hệ thống phân loại chung12.
Các hệ thống phân loại CTNH trên đây tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu của
nó mà có ưu, nhược điểm khác nhau. Hệ thống phân loại theo nguồn thải sẽ khơng nêu
được tính chất, thành phần của CTNH, ngược lại hệ thống phân loại theo đặc điểm cho
ta biết hỗn hợp CTNH bao gồm những gì… Ở đây, ta có thể thấy hệ thống phân loại
khoa học theo UNEP và Phụ lục 8 Thông tư 12/2011/TT-BTNMT phù hợp hơn khi sử
dụng cho mục đích nghiên cứu khoa học.
Trên thực tế CTNH phát sinh từ các nguồn khác nhau, trong đó chủ yếu phát sinh
từ ba loại nguồn sau đây:
(i) Từ thiên nhiên: quá trình trao đổi chất trong tự nhiên, có thể có hay khơng có
sự tác động của con người.
(ii) Từ hoạt động sinh hoạt của con người: các hoạt động thương nghiệp, dịch vụ,
tiêu dùng.
(iii) Từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, cơng nghiệp: các ngun liệu, hóa chất
con người sử dụng và thải ra trong các ngành này.
Ta có thể liệt kê CTNH của một số ngành công nghiệp như sau:
Ngành cơng nghiệp hóa chất: dung mơi thải, dung mơi cơng nghiệp dùng để hịa
tan cũng như dùng để tổng hợp các chất mới…
Ngành công nghiệp dầu mỏ: các chất dễ cháy, cặn dầu mỏ, các hợp chất có hoạt
tính cao như hợp chất chứa natri, hợp chất sunfit…
Ngành công nghiệp may mặc, giày da: thuốc nhuộm, dầu nhớt, phế thải…
Chất thải công nghiệp tại Việt Nam chiếm khoảng 13% đến 20% tổng lượng chất
thải. Phần trăm chất thải công nghiệp nguy hại vào năm 2008 là khoảng 18% trong
11

Phần 1.6 Phụ lục 8 Thơng tư 12/2011/TT-BTNMT.


12

Võ Đình long, Nguyễn Văn Sơn, tlđd 5, tr.14.

16


tổng số chất thải công nghiệp. Chất thải công nghiệp phát sinh chủ yếu tại các khu
công nghiệp và ở miền Nam. Tại các vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là thành phố
Hồ Chí Minh, Biên Hịa, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương chất thải cơng
nghiệp đã chiếm số lượng gần một nửa.
Chất thải công nghiệp phát sinh tại các vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc (Hà
Nội, Hải Phòng) chiếm tỉ lệ 30%. Các vùng kinh tế trọng điểm phía Nam chiếm hơn
70% lượng chất thải cơng nghiệp nguy hại phát sinh tại Việt Nam13.
Tóm lại, thơng qua khái qt đặc tính cũng như phân loại CTNH ta có thể nắm
rõ được khái niệm CTNH, từ đó làm tiền đề nghiên cứu các khái niệm về sau liên quan
đến CTNH trong KCN.

Khái niệm KCN
Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định 29/2008/NĐ-CP quy định về KCN,
KCX, KKT, khái niệm KCN được đưa ra như sau: “Khu công nghiệp là khu chuyên
sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất cơng nghiệp, có ranh
giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại
Nghị định này”. Như vậy, theo định nghĩa này, KCN mang một số đặc điểm sau14:
Thứ nhất, KCN là khu vực địa lý có ranh giới xác định. Đặc điểm này thường
được thể hiện ở khái niệm “hàng rào KCN”, cụ thể mỗi KCN khi thành lập đều được
xác định chính xác địa điểm, diện tích, phạm vi, ranh giới,… và được ghi rõ trong
quyết định thành lập.
Thứ hai, KCN được thành lập theo điều kiện, trình tự, thủ tục luật định. Các
KCN đều được thành lập theo một quy trình nghiêm ngặt từ việc xin chủ trương thành

lập, đưa vào quy hoạch tổng thể đến việc xin chấp thuận chủ trương và cuối cùng là
ban hành Quyết định thành lập. Đặc điểm này nhằm phân biệt KCN với một khu vực
địa lý nhất định có các cơ sở công nghiệp tập trung một cách tự phát, ngẫu nhiên.
Những khu vực như vậy không được gọi là KCN.
Thứ ba, KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ
cho sản xuất công nghiệp. Đây là hai lĩnh vực hoạt động chủ yếu và duy nhất được
cơng nhận trong KCN. Điều này có nghĩa là trong KCN sẽ không tồn tại hoạt động sản
xuất kinh doanh trong các lĩnh vự nông, lâm, ngư nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi,
làm muối,…
Theo Nghị định 29/2008/NĐ-CP, khái niệm KCN còn được hiểu theo nghĩa rộng
bao gồm KCN và KCX, cụ thể tại khoản 2 Điều 2 quy định: “KCN, KCX được gọi
13

Lê Thị Bích Thủy (2012), Đánh giá tình hình quản lý CTNH ở Việt Nam và đề xuất giải pháp phù hợp để hoàn
thiện về thể chế chính sách quản lý CTNH ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và
môi trường, tr.52.
14

Nguyễn Chí Nguyên (2012), Pháp luật về quản lý nước thải trong KCN, Khóa luận cử nhân, ĐH Luật
TP.HCM, TP. Hồ Chí Minh, tr.9.

17


chung là KCN, trừ trường hợp quy định cụ thể”. Khái niệm KCX cũng được quy định
tại khoản 2, Điều 2 này, theo đó: “KCX là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực
hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý
xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với KCN theo
Nghị định này”. Theo cách định nghĩa này, KCX là một loại hình KCN với đặc điểm
riêng có là “sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu

và hoạt động xuất khẩu”. Như vậy, có thể nói, khái niệm KCX mang một phần nội
hàm khái niệm KCN.
Như vậy, từ các quy định của pháp luật ta rút ra khái niệm chung nhất về KCN
là khu vực sản xuất hàng công nghiệp và các dịch vụ cho sản xuất hàng công nghiệp,
được thành lập theo một quy chế nhất định và có ranh giới địa lý rõ ràng.

Khái niệm CTNH trong KCN
Từ việc tổng hợp các khái niệm có liên quan như khái niệm về chất thải, CTNH,
khái niệm KCN, ta có thể kết luận CTNH trong KCN có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, CTNH trong KCN là loại chất thải có thể tồn tại ở thể rắn, lỏng, khí có
chứa các đơn chất hoặc hợp chất có một trong những đặc tính gây nguy hiểm đến môi
trường và sức khỏe con người hoặc tương tác với những chất khác dẫn đến dễ cháy nổ,
dễ ăn mịn, có tính độc, dễ lây nhiễm… phát sinh từ hoạt động sản xuất hàng công
nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng công nghiệp.
Bên cạnh chất thải nguy hại phát sinh từ hoạt động sản xuất hàng công nghiệp và
các hoạt động của dịch vụ bổ trợ cho hoạt động này thì cịn có CTNH được thải ra
trong quá trình sinh hoạt của cán bộ, công nhân viên sinh sống và làm việc tại KCN
như việc thải bỏ những thứ đã qua sử dụng bởi các hoạt động cọ rửa, tẩy trùng, sơn
quét, diệt công trùng, bảo dưỡng bồn tắm, xe cộ, sàn nhà..., nó có thể là một số dược
phẩm hay một số sản phẩm phục vụ cá nhân (vật dụng nấu nướng và đựng thức ăn, pin
– acquy). Tuy nhiên, nó chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ so với lượng CTNH phát sinh từ
hoạt động sản xuất hàng công nghiệp và các dịch vụ sản xuất công nghiệp.
Thứ hai, CTNH trong KCN đương nhiên phải phát sinh trong phạm vi địa giới
của KCN. Điều này đã được đề cập ngay trong tên gọi CTNH trong KCN.
Từ các đặc điểm trên có thể rút ra khái niệm về CTNH trong KCN như sau:
CTNH trong KCN là loại chất thải ở thể rắn, lỏng hoặc khí có chứa các đơn chất hoặc
hợp chất có một trong những đặc tính gây nguy hiểm đến mơi trường và sức khỏe con
người hoặc tương tác với những chất khác dẫn đến dễ cháy nổ, dễ ăn mịn, có tính độc,
dễ lây nhiễm phát sinh từ hoạt động sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch
vụ cho sản xuất hàng công nghiệp và các hoạt động khác trong phạm vi KCN.


18


Khái niệm quản lý CTNH trong KCN
Khái niệm quản lý chất thải lần đầu tiên được đề cập tại Thông tư
1590/1997/TTLT-BKHCNMT-BXD, theo đó: “Quản lý chất thải là các hoạt động
nhằm kiểm sốt tồn bộ q trình từ khâu sản sinh chất thải đến thu gom, vận chuyển,
xử lý (tái sử dụng, tái chế), tiêu hủy (thiêu đốt, chôn lấp…) chất thải và giám sát các
địa điểm tiêu hủy chất thải”. Thông tư trên đã hết hiệu lực, tuy nhiên khái niệm về
quản lý chất thải đề cập tại thông tư này chính là tiền đề xây dựng khái niệm quản lý
chất thải cũng như các hoạt động về quản lý chất thải về sau.
Luật BVMT 2005 tại khoản 12, Điều 3 định nghĩa như sau: “Quản lý chất thải
bao gồm các hoạt động thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, tái sử dụng chất thải và
các hình thức xử lý chất thải nhằm tận dụng khả năng có ích của chất thải và hạn chế
đến mức thấp nhất tác hại đối với môi trường do chất thải gây ra”.
Khoản 15 Điều 3 Luật BVMT 2014 quy định mới như sau: “Quản lý chất thải là
q trình phịng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử
dụng, tái chế và xử lý chất thải”.
Quản lý CTNH có thể được hiểu theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp15:
Theo nghĩa rộng, quản lý chất thải là tổng hợp các biện pháp, cách thức nhằm
kiểm sốt q trình phát sinh, tồn tại, chuyển hóa, xử lý chất thải và những ảnh hưởng,
tác động của chất thải đến môi trường.
Theo nghĩa hẹp, quản lý chất thải bao gồm các hoạt động thu gom, lưu giữ, vận
chuyển, giảm thiểu, tái chế, tái sử dụng chất thải và các hình thức chất thải nhằm tận
dụng khả năng có ích của chất thải và hạn chế đến mức thấp nhất tác hại đối với môi
trường do chất thải gây ra.
Như vậy, quy định mới trong Luật BVMT 2014 có xu hướng định nghĩa khái
niệm quản lý chất thải theo nghĩa rộng.
Ngoài ra, theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Thông tư 12/2011/TT-BTNMT quy

định về quản lý CTNH đề cập đến khái niệm quản lý CTNH: “Quản lý CTNH là các
hoạt động liên quan đến việc phòng ngừa, giảm thiểu, phân định, phân loại, tái sử dụng
trực tiếp, lưu giữ tạm thời, vận chuyển và xử lý CTNH”. Xét theo nghĩa hẹp, các khái
niệm nêu trên cho ta thấy quản lý CTNH nói chung và quản lý CTNH trong KCN nói
riêng bao gồm các giai đoạn:
- Phân loại: là hoạt động phân loại tại nguồn thải tại cơ sở phát sinh CTNH
trong KCN. Xuất phát từ tính chất của từng loại CTNH mà từng cơ sở có phương án
phân loại tại nguồn cho phù hợp.

15

Nguyễn Văn Phương (2013), “Chính sách pháp luật về quản lý chất thải nhằm bảo đảm phát triển bền vững ở
Việt Nam”, Luật học (12), tr.17-18.

19


- Thu gom: là hoạt động tiếp nhận CTNH từ các cơ sở SXKD trong KCN đến các
địa điểm cụ thể đã được cơ quan nhà nước cho phép để xử lý CTNH.
- Lưu giữ: là việc CTNH được giữ lại tại một địa điểm trong một khoản thời gian
nhất định trước khi CTNH được đưa đến cơ sở xử lý.
- Vận chuyển: là quá trình các phương tiện chuyên dụng dùng để chuyên chở
CTNH đưa CTNH từ nơi chứa CTNH đến nơi xử lý, tái sử dụng hoặc chôn lấp cuối
cùng.
- Xử lý: là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, tiến bộ khoa học, kỹ thuật
nhằm làm biến đổi, loại bỏ, cách ly, tiêu huỷ hoặc phá huỷ các tính chất, thành phần
nguy hại của CTNH với mục đích cuối cùng là khơng gây tác động xấu đến môi
trường sống và sức khoẻ con người.
- Sơ chế: là việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật cơ – lý đơn giản nhằm thay đổi
tính chất vật lý như kích thước, độ ẩm, nhiệt độ để tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận

chuyển, xử lý hoặc nhằm trộn lẫn hoặc tách riêng các thành phần của CTNH cho phù
hợp với các phương pháp xử lý khác nhau.
- Đồng xử lý: là việc kết hợp một quá trình sản xuất sẵn có để xử lý CTNH, trong
đó CTNH được sử dụng làm nhiên liệu, nguyên vật liệu bổ sung cho quá trình sản xuất
này.
- Tái sử dụng trực tiếp: là việc trực tiếp sử dụng lại các CTNH có nguồn gốc là
các phương tiện, thiết bị, sản phẩm hoặc vật liệu, hoá chất đã qua sử dụng thuộc danh
mục quy định tại Phụ lục 8 kèm theo Thơng tư này theo đúng mục đích sử dụng ban
đầu của phương tiện, thiết bị, sản phẩm hoặc vật liệu, hố chất đó mà khơng qua bất kỳ
khâu xử lý hay sơ chế nào.
Như vậy, quản lý CTNH trong KCN chính là q trình thực hiện liên tục các hoạt
động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy
CTNH trong KCN nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với mơi
trường cũng như sức khoẻ con người.
Mơ hình quản lý CTNH trong KCN
Hiện nay trên thế giới có hai mơ hình phổ biến được áp dụng trong quản lý chất
thải cũng như CTNH đó là quản lý chất thải ở cuối đường ống sản xuất (còn gọi là
quản lý chất thải ở cuối công đoạn sản xuất) và quản lý chất thải theo đường ống sản
xuất (quản lý chất thải trong suốt quá trình sản xuất, dọc theo đường ống sản xuất). Tại
một số nước có nền kinh tế phát triển cịn có cách tiếp cận mới trong quản lý chất thải,
đó là quản lý chất thải đánh mạnh vào khâu tiêu dùng. Cách này nhằm nâng cao nhận
thức của người tiêu dùng (bao gồm cả các nhà sản xuất để họ lựa chọn phương thức
sản xuất và đòi hỏi các sản phẩm được sản xuất ra phải đạt tiêu chuẩn môi trường, phải

20


thân thiện với môi trường và bản thân người tiêu dùng cũng phải hành động thân thiện
với môi trường trong quá trình tiêu thụ sản phẩm)16.
Trên thực tiễn, cách tiếp cận quản lý chất thải cuối đường ống thường gây bị

động cho các cơ quan chức năng, chi phí cho hoạt động xử lý cao hơn. Tuy nhiên,
trong bối cảnh hiện tại vẫn cần thiết áp dụng đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh
chưa có đủ điều kiện về tài chính và vật chất để đổi mới cơng nghệ sản xuất cũng như
đầu tư cho hệ thống xử lý chất thải.
Mơ hình quản lý chất thải theo đường ống sản xuất là mơ hình quản lý có sự
khác biệt hồn tồn với mơ hình quản lý chất thải cuối đường ống. Cách tiếp cận này
đòi hỏi chất thải phải được quản lý trong suốt quá trình sản xuất, bao gồm việc giảm
thiểu cũng như tái sử dụng, tái chế và thu hồi chất thải ở mọi khâu, mọi cơng đoạn của
q trình sản xuất. Mơ hình này được nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh và KCN Việt
Nam cũng như các nước đang phát triển khác lựa chọn để quản lý CTNH vì nhiều lý
do, trong đó có lý do kinh tế. Hiện nay, dưới sức ép về BVMT, sự cạnh tranh của các
hàng hóa về tiêu chuẩn môi trường, phản ứng của người tiêu dùng cũng như sự thắt
chặt quản lý của Nhà nước mà các nước đang dần chuyển sang mơ hình quản lý chất
thải dọc đường ống sản xuất, nhấn mạnh vào khâu tiêu dùng.
Tình hình quản lý CTNH trong KCN
Hiện nay, việc quản lý chất thải trong đó có CTNH chưa đáp ứng được yêu cầu
về BVMT trong KCN. Theo Ông Nguyễn Thanh Sơn, đại diện Hội Môi trường đô thị
và KCN khu vực miền Nam, cho biết ước tính lượng chất thải cơng nghiệp phát sinh
chiếm khoảng 20% - 25% tổng lượng chất thải sinh hoạt, tùy theo quy mô và cơ cấu
công nghiệp của từng tỉnh, thành phố. Trong đó, riêng khu vực phía Nam chiếm hơn
50% tổng lượng chất thải cơng nghiệp của cả nước. Và riêng thành phố Hồ Chí Minh
là tỉnh, thành dẫn đầu cả nước khi chiếm khoảng 31%/tổng lượng chất thải công
nghiệp phát sinh. Không dừng lại đó, khu vực phía Nam cũng là nơi có tỷ lệ CTNH
phát sinh cao nhất với hơn 60%/tổng lượng CTNH của cả nước. Và cùng với tốc độ
tăng trưởng kinh tế và đơ thị hóa diễn ra nhanh chóng như hiện nay, đến năm 2015,
lượng chất thải của cả nước sẽ tăng lên 35 triệu tấn/năm. Trong đó, chất thải rắn đô thị
chiếm 51%, chất thải công nghiệp chiếm 22%, CTNH chiếm từ 18% - 25%, còn lại là
chất thải từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, nông thôn, y tế… Và khu vực phía Nam
vẫn được xác định là khu vực có lượng chất thải phát sinh lớn nhất cả nước17.
Thông tư 12/2011/TT-BTNMT quy định về quản lý CTNH được ban hành đã

quy định khá chi tiết và đầy đủ về hoạt động quản lý CTNH nói chung. Tuy nhiên,
16

Võ Thị Bích Hiền (2013), Pháp luật về quản lý chất thải rắn thơng thường trong Khu cơng nghiệp, Khóa luận
cử nhân, ĐH Luật TP.HCM, TP. Hồ Chí Minh, tr.19.
17

http://www.sggp.org.vn/doanhnghiepxanhden/2013/12/335032/ (truy cập ngày 19/5/2014, Bài “Khó kiểm
sốt, xử lý chất thải nguy hại” của tác giả Minh Xuân đăng trên Báo Sài gịn giải phóng online ngày 16/12/2013).

21


hiện nay chưa có văn bản nào quy định cụ thể về hoạt động quản lý CTNH trong phạm
vi KCN. Việc thơng báo định kỳ tình hình phát sinh CTNH của các chủ nguồn thải
trong KCN, chủ hành nghề quản lý CTNH từ KCN, các chủ thu gom, chủ vận chuyển,
xử lý CTNH tuy đã được quy định chi tiết nhưng việc thực hiện chưa đầy đủ và
nghiêm túc dẫn đến việc khơng nắm bắt kịp thời tình hình phát sinh CTNH tại các
KCN trên tồn quốc để có cơ sở tham mưu cho các cấp ngành đưa ra giải pháp quản lý
hiệu quả.
Việc phân loại CTNH tại nguồn hiện nay còn hạn chế, thường chỉ được thực hiện
với những chất thải mang lại lợi ích kinh tế, cịn những CTNH khác đều được thu gom
và đem đổ thải chung cùng với chất thải rắn sinh hoạt18. Lợi dụng việc chuyển giao
chất thải công nghiệp không nguy hại, nhiều doanh nghiệp trong KCN bắt các đơn vị
thu gom phải thu nhận ln những chất thải cơng nghiệp có lẫn CTNH.
Một thực tế khác khá phổ biến nữa hiện nay là có nhiều doanh nghiệp, cơ sở thu
gom CTNH cùng với rác thải sinh hoạt và chuyển giao lại cho các cơng ty cơng ích
chun đi thu gom chất thải rắn đô thị. Điều này khiến cho một số lượng lớn CTNH
phát tán một cách tràn lan ra môi trường mà các cơ quan chức năng khó có thể kiểm
sốt được.

Các cơng nghệ sử dụng xử lý chất thải hiện có của cả nước nói chung và khu vực
miền Nam nói riêng, phần lớn chưa thật sự hiện đại. Chủ yếu sử dụng các công nghệ
đa dụng cho nhiều loại CTNH và thường ở quy mô nhỏ, chỉ mới đáp ứng được một
phần nhu cầu xử lý CTNH. Các đơn vị hành nghề xử lý CTNH là những cơng ty cơng
ích tại địa phương hoặc các đơn vị tư nhân nên quy mô đầu tư công nghệ không đồng
đều, dẫn đến việc cạnh tranh chưa thật sự công bằng. Các đơn vị cạnh tranh giành giật
thị trường bằng mọi giá, điều này có thể dẫn đến việc xử lý khơng tn thủ theo đúng
giấy phép hành nghề quy định, gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho môi trường.
Trong tổng số 232 KCN đã đi vào hoạt động19, số lượng những KCN đầu tư xây
dựng các khu xử lý CTNH tập trung rất ít, cả nước đang thiếu các khu xử lý tập trung
quy mơ lớn. Chỉ có số ít KCN trên tồn quốc có được trạm trung chuyển rác thải các
loại. Chỉ tính trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, nơi các KCN tập trung lớn cả về số lượng
và quy mô, nhưng việc các KCN đầu tư xây dựng cơ sở xử lý CTNH hay trạm phân
loại, trung chuyển CTNH các loại chỉ chiếm một phần nhỏ. Theo số liệu của BQL các
KCN, KCX TP. Hồ Chí Minh (HEPZA), tính đến năm 2012, trong tổng số 14 KCN,
KCX đang hoạt động trên địa bàn thành phố thì chỉ có 3 KCX (Tân Thuận, Linh Trung
18

http://moitruongxanh.org.vn/Default.aspx?Module=Site&Function=News&Id=475 (truy cập ngày 25/6/2014 ,
Bài “Quản lý chất thải rắn còn nhiều hạn chế” của Thông tấn xã Việt Nam đăng trên Báo Môi trường xanh ngày
16/12/2010).
19
http://baocongthuong.com.vn/co-khi-luyen-kim/25006/quy-hoach-khu-cum-cong-nghiep-chua-gan-muc-tieuphat-trien-ben-vung.htm#.U6qfBfmSwSM (truy cập ngày 25/6/2014, Bài “Quy hoạch khu, cụm công nghiệp:
chưa gắn mục tiêu phát triển bền vững” của tác giả Khánh Thiện đăng trên Báo Công thương ngày 9/8/2012).

22


I và Linh Trung II) và 2 KCN (Tân Bình, Lê Minh Xuân) có đầu tư trạm phân loại,
trung chuyển rác thải các loại, các KCN cịn lại thì phần lớn các đơn vị có chức năng

trên địa bàn thành phố thu gom trực tiếp tại các nhà máy có phát sinh20.
Ngoài ra, các trạm xử lý nước thải tập trung trong KCN phát sinh bùn thải sẽ
được công ty phát triển hạ tầng KCN thu gom giao cho công ty môi trường đô thị xử
lý. Năm 2009, tổng lượng bùn thải phát sinh từ các KCN TP. Hồ Chí Minh dao động
trong khoảng 200 tấn/tháng. KCN Lê Minh Xuân, Hiệp Phước được xác định có lượng
bùn thải nhiều nhất. Tại một số cơ sở, bùn được ép hoặc phơi khơ và sau đó bón trực
tiếp cho cây xanh trong phạm vi KCN (KCN Lê Minh Xuân), được ủ tại chỗ làm phân
compost (KCN Vĩnh Lộc), hoặc bán cho cơ sở làm phân vi sinh (KCN Tân Tạo).
Thông thường, bùn thải của doanh nghiệp trong các KCN, KCX được chuyển cho các
đơn vị có chức năng thu gom, xử lý. Tuy nhiên, chỉ có 20/138 doanh nghiệp được
khảo sát đã thực hiện chuyển giao bùn thải, số doanh nghiệp còn lại đều chứa trong
kho. Bùn thải từ KCN, KCX sau khi được phân tích thành phần chất thải cho thấy có
đến 60% lượng bùn thải chứa các CTNH21.
Ngày 17/12/2009, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược quốc gia về
quản lý tổng hợp chất thải đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050”, trong đó nêu ra mơ
hình quản lý cần chú trọng là “3R”, nghĩa là tái chế (Recycle – sử dụng rác như một
nguồn tài nguyên), tái sử dụng (Reuse – sử dụng lại các đồ vật hoặc phần của đồ vật
vẫn còn giá trị sử dụng) và giảm phát sinh (Reduce – chọn sử dụng các sản phẩm một
cách cẩn trọng để giảm lượng rác thải ra) chất thải.
Mơ hình này dựa trên cách tiếp cận theo Trung tâm công nghệ môi trường của
Liên hợp quốc nghiên cứu, phổ biến trong nhiều năm ở các quốc gia trên thế giới.
Trong bối cảnh hoạt động thu gom, tái chế, xử lý CTNH ở các nước đang phát triển
trong đó có Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế thì cách tiếp cận này
được đánh giá là cách tiếp cận khoa học, phù hợp giúp quản lý chất thải đạt hiệu quả
cao nhất về môi trường, tiết kiệm tài nguyên. Hoạt động này không những đem lại hiệu
quả kinh tế trong thị trường tái chế chất thải mà còn đem lại việc làm cho người lao
động, tạo ra sản phẩm hữu ích phục vụ đời sống, giảm được lượng CTNH cần phải đưa
đi chôn lấp, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tiết kiệm được quỹ đất dùng
để quy hoạch chôn lấp CTNH. Để thực hiện thành cơng 3R trong KCN cần có mối liên
kết chặt chẽ giữa người dân – chính quyền địa phương và doanh nghiệp (nhà máy tái

chế, công ty thu gom phế thải, chủ nguồn thải…).
Như vậy, có thể nói hoạt động quản lý CTNH trong KCN hiện nay chưa đáp
ứng được nhu cầu BVMT. Một số KCN thực hiện tốt việc đầu tư xây dựng trạm phân
loại tại nguồn, lưu trữ, trung chuyển CTNH trước khi đi xử lý nhưng bên cạnh đó cũng
20
21

Võ Thị Bích Hiền (2013), tlđd 12, tr.14-15.
Bộ Tài nguyên và môi trường (2010), tlđd2, tr.4.

23


có nhiều KCN chưa đầu tư trạm phân loại, trung chuyển chất thải như quy hoạch được
duyệt, lưu giữ CTNH không đúng quy cách và nơi quy định…
Các yếu tố tác động đến quản lý CTNH trong KCN hiện nay
Một là, yếu tố thuộc về trình độ, khoa học kỹ thuật công nghệ trong xử lý CTNH
hiện nay. Xử lý CTNH đóng vai trị vơ cùng quan trọng trong cơng tác BVMT. Xuất
phát từ nguyên nhân CTNH mang rất nhiều đặc tính nguy hiểm đối với mơi trường
cũng như con người. Xử lý CTNH không chỉ ngăn chặn nguy cơ gây ô nhiễm môi
trường (nếu không xử lý hoặc xử lý khơng hiệu quả), mà cịn có thể thu hồi vật liệu,
sản phẩm để tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên. Trong những năm qua, Nhà nước ta đã
áp dụng một số công nghệ để xử lý CTNH như áp dụng công nghệ sinh học, công nghệ
thiêu đốt, công nghệ xử lý hóa - lý,… và nhiều phương pháp mới được phát minh, ứng
dụng trong thực tế xử lý CTNH đã làm cho lượng CTNH có trong mơi trường được
thu gom và xử lý tăng lên.
Hai là, yếu tố thuộc về chuyên môn, định hướng xử lý của BQL KCN. Với sự chỉ
đạo quyết liệt cũng như sự quan tâm sâu sát của BQL KCN, hiện nay công tác thu gom
và xử lý CTNH tại các KCN đã có những bước chuyển biến tích cực. BQL KCN trên
thực tế đã ban hành nhiều văn bản buộc chủ đầu từ kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN và

các doanh nghiệp KCN thực hiện đầy đủ báo cáo ĐTM và cam kết BVMT; phối hợp
giám sát chặt chẽ quá trình phân loại tại nguồn, thu gom, lưu trữ, quá trình đưa CTNH
đến nơi xử lý cuối cùng của chủ nguồn thải cũng như doanh nghiệp dịch vụ hành nghề
quản lý CTNH trong KCN. Nhờ đó mà cơng tác quản lý mơi trường nói chung và cơng
tác quản lý CTNH có nhiều bước tiến đáng kể.
Ba là, yếu tố thuộc về pháp luật. Với việc Nhà nước ban hành các văn bản quy
phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động BVMT trong KCN nói chung và quản lý CTNH
trong KCN nói riêng đã góp phần giúp các chủ thể thực hiện các khâu của quá trình
quản lý CTNH trong KCN một cách có hiệu quả. Đáp ứng yêu cầu đặt ra trong hoạt
động quản lý CTNH trong KCN.
Trong các yếu tố tác động đến quản lý CTNH trong KCN kể trên, mỗi yếu tố đều
có sự tác động và quyết định khác nhau đến hiệu quả của công tác quản lý CTNH
trong KCN. Tuy nhiên, tổng hợp các yếu tố trên sẽ hợp thành nhân tố quyết định
chung đến hiệu quả quản lý CTNH trong KCN hiện nay.

Tổng quan về pháp luật quản lý CTNH trong KCN
Các quy định của pháp luật hiện hành về quản lý CTNH trong KCN
Pháp luật về quản lý CTNH trong KCN là hệ thống các quy phạm pháp luật điều
chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý CTNH trong KCN. Vì hoạt
động quản lý CTNH trong KCN là quá trình thực hiện liên tục các hoạt động phân
24


×