Tải bản đầy đủ (.pdf) (13 trang)

Sử dụng các kỹ thuật sinh học phân tử trong phân tích đa dạng cà định dạng của tập đoàn cây dó bầu ( aquilaria SP ) tại hà tĩnh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (548.45 KB, 13 trang )

Sử dụng các kỹ thuật sinh học phân tử trong
phân tích đa dạng cà định dạng của tập đoàn
cây Dó Bầu ( Aquilaria SP.) tại Hà Tĩnh

Hoàng Đăng Hiếu

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Khoa Sinh học
Luận văn Thạc sĩ ngành: Di truyền học; Mã số: 60 42 70
Người hướng dẫn: PGS.TS. Chu Hoàng Hà
Năm bảo vệ: 2012


Abstract. Tổng quan về cây dó bầu; phương pháp sử dụng trong việc định danh loài
và xác định quan hệ di truyền; DNA barcode - quan điểm mới trong phân loại; locus
được sử dụng trong phương pháp DNA barcode ở thực vật; tình hình nghiên cứu
DNA barcode ở thực vật. Tìm hiểu một số kết quả trong nghiên cứu về cây dó bầu
tại Việt Nam và trên thế giới, Nghiên cứu thu thập 18 mẫu lá các cây dó dầu tại Hà
Tĩnh, Phú Quốc và tại Lào, tách chiết tinh sạch DNA. Sử dụng phương pháp PCR để
nhân bản đoạn gen quan tâm với mồi đặc hiệu. Tách dòng đoạn gen và xác định
trình tự gen. Đưa ra kết quả và thảo luận: kết quả tách chiết và tinh sạch DNA tổng
số; tìm nhiệt độ gắn mồi đăc hiệu của phản ứng PCR; nhân bản gen với các cặp mồi;
kết quả tách dòng gen; xác định và phân tích trình tự nucleotide của các đoạn DNA
chỉ thị.

Keywords. Di truyền học; Cây dó dầu; Sinh học phân tử

Content

1. Đặt vấn đề
Cây dó bầu (Aquilaria sp) là một trong những loài thực vật đặc hữu của nước ta, cây


dó bầu mang lại giá trị kinh tế rất lớn với mục đích chủ yếu là khai thác trầm hương, một mặt
hàng có giá trị kinh tế cao sử dụng trong công nghiệp mỹ phẩm, trong dược liệu, trong tôn
giáo, chế tác đồ thủ công mỹ nghệ.
Tuy nhiên, hiện nay các loài dó bầu ở Việt Nam bị lai tạp rất nhiều, công tác lựa chọn
giống đưa vào trồng dựa chủ yếu vào quan sát hình thái, theo kinh nghiệm của mỗi cá nhân,
dẫn đến năng suất và chất lượng trầm thu được không ổn định. Do vậy, việc chọn lọc giống
cây ban đầu để đưa vào triển khai là hết sức quan trọng và là nhiệm vụ cấp thiết trong công
tác bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen quý.
Hiện nay phương pháp DNA barcode là một trong những công cụ phục vụ định danh
loài chính xác, nhanh chóng, tự động hóa bằng cách sử dụng một vùng DNA chuẩn hay còn
gọi là chỉ thị DNA hay mã vạch DNA (DNA barcode). Việc xác định loài bằng DNA chỉ thị
có hiệu quả cao trong việc phân biệt các loài thực vật trong đó có dó bầu ở Việt Nam khi
những quan sát hình thái, sinh trưởng và phát triển chưa đủ cơ sở để định danh hoặc phân biệt
loài.
2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Gồm 18 mẫu lá cây dó bầu được thu thập tại Hà Tĩnh, Phú Quốc và tại Lào
Chủng vi khuẩn Escherichia coli (DH5α) sử dụng cho mục đích tách dòng do Phòng
Công nghệ tế bào thực vật - Viện Công nghệ sinh học cung cấp.
Các bước nghiên cứu:
- Thu thập mẫu lá ở các cây dó bầu
- Tách chiết tinh sạch DNA tổng số từ 18 mẫu dó bầu
- Sử dụng phương pháp PCR để nhân bản đoạn gen quan tâm với mồi đặc hiệu
- Tách dòng đoạn gen quan tâm
- Xác định trình tự gen và phân tích kết quả
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Kết quả tách chiết và tinh sạch DNA
Các mẫu dó bầu sau khi thu thập được tiến hành ách triết DNA theo phương pháp
CTAB
T1 T2 T3 T4 T6 T7 T8 T9 T10 T11


Hình 1. Kết quả điện di DNA tổng số của một số mẫu dó bầu nghiên cứu
Kết quả sau khi điện di trên gel agarose 0,8% và nhuộm bằng Ethidium bromide (hình
1) cho thấy DNA thu được sau khi tách có chất lượng tốt, DNA không bị đứt gẫy, các băng
vạch đều sáng rõ.
3.2. Tìm nhiệt độ gắn mồi đặc hiệu của phản ứng PCR
Bốn cặp mồi chúng tôi tiến hành nghiên cứu được thiết kế dựa theo Vijayan và Tsou
(2010). Chúng tôi tiến hành thử nghiệm nhiệt độ gắn mồi của 4 cặp mồi và kiểm tra kích
thước nhân bản thực tế của 4 gen này với 18 mẫu dó bầu. Sau quá trình thử nghiệm với các
dải nhiệt độ gắn mồi khác nhau, đã xác định được nhiệt độ gắn mồi đặc hiệu cho 4 cặp mồi
nghiên cứu và kích thức nhân bản của 4 gen này so với dự đoán ban đầu có sự thay đổi thể
hiện trên bảng 1.
Bảng 1 Nhiệt độ bắt mồi và kích thước gen của các cặp mồi nghiên cứu
STT
Vùng gen
nhân bản
Ký hiệu
mồi
Kích thước
đoạn gen nhân
bản
Nhiệt độ bắt
cặp mồi lý
thuyết
Nhiết độ bắt cặp
mồi thực tế
1
rbcL
P2F
750 bp
53

54
P2R

60

2
rpoB
P5F
500 bp
59
54
P5R

60

3
psbA-trnH
P10F
450 bp
57
56
P10R

72

4
ITS
P12F
800 bp
74

57
P12R

76

3.3. Kết quả nhân bản gen với các cặp mồi nghiên cứu
Sau khi tối ưu được nhiệt độ gắn mồi đặc hiệu chúng tôi đã tiến hành nhân bản bằng
phản ứng PCR với 4 cặp mồi nghiên cứu. Kết quả cho thấy 18 mẫu dó bầu nhân bản tốt với 4
cặp mồi nghiên cứu.

Hình 2. Kết quả PCR gen ITS
Hình 3. Kết PCR gen psbA – trnH


Hình 4. Kết quả PCR gen rpoB
Hình 5. Kết quả PCR gen rbcL
3.4. Kết quả tách dòng gen
3.4.1 Kết quả tinh sạch sản phẩm PCR (thôi gel)
Sản phẩm PCR thu được sau phản ứng khuếch đại gen có các tạp chất như mồi, đệm
PCR, các nucleotide, còn dư, và đôi khi có thể chứa các sản phẩm phụ sẽ ảnh hưởng đến kết
quả của quá trình tách dòng, do vậy cần tiến hành tinh sạch sản phẩm PCR trước khi tiến
hành quá trình đưa gen vào vector tách dòng.
Các đoạn gen sau khi tinh sạch được kiểm tra bằng điện di trên gel agarose 0.8% để
kiểm tra chất lượng và xác định sơ bộ hàm lượng DNA tinh sạch, kết quả thể hiện ở hình 6.

Hình 6. Kết quả tinh sạch sản phẩm PCR gen rpoB
M : thang Marker1Kb; AL2,AL6,AL8,G1,Qx,M1, PQ64, T, T2,T3, T4,
T6,T7,T8,T9,T10,T11,T14 : Các mẫu dó bầu nghiên cứu
Kết quả điện di kiểm tra sản phẩm tinh sạch ở hình 6 cho thấy chỉ có một băng vạch
có kích thước tương ứng với đoạn gen được nhân lên bằng mồi barcode tương ứng. Các băng

vạch rõ nét chứng tỏ các DNA không bị đứt gãy trong quá trình tinh sạch, có thể tiến hành
phản ứng ghép nối sản phẩm PCR vào vector tách dòng tiếp theo.
Tương tự với các sản phẩm PCR của các gen còn lại cũng đã được tiến hành tinh sạch
và cho kết quả tốt tương tự gen rpoB.
3.4.2. Kết quả chuyển gen vào vector tách dòng
Sản phẩm PCR sau khi được tinh sạch, chạy điện di kiểm tra và tính toán hàm lượng
DNA để dùng cho phản ứng ghép nối vào vector tách dòng pBT. Phản ứng ghép nối là phản
ứng hình thành liên kết phosphodiester giữa base Adenin ở đầu 5

của sản phẩm PCR với
base Thymine ở đầu 3

của vector tách dòng nhờ hoạt tính nối của enzyme T4 ligase.
3.4.3. Kết quả biến nạp DNA plasmid vào tế bào khả biến E. coli
Sản phẩm của quá trình chuyển gen vào vector pBT sẽ được biến nạp vào vi khuẩn
E.coli DH5α, sau đó được cấy trải trên môi trường LB đặc có bổ sung carbenicilin 50 mg/l,
500 bp
X-gal 0,004% và IPTG 100μM. Kết quả của quá trình này sẽ là sự xuất hiện của những khuẩn
lạc xanh và trắng, trong đó khuẩn lạc trắng là những khuẩn lạc chúng ta quan tâm.


Hình 7. Kết quả biến nạp vector tái tổ hợp vào tế bào khả biến
Hình 7 cho thấy kết quả biến nạp vector tái tổ hợp vào tế bào khả biến có kết quả tốt,
trên đĩa nuôi cấy xuất hiện những khuẩn lạc xanh và trắng mật độ và số lượng tương đối lớn
đủ để qúa trình chọn lọn khuẩn lạc diễn ra dễ dàng.
3.4.4 Kết quả chọn lọc dòng tế bào mang gen tái tổ hợp
Để xác định chính xác khuẩn lạc nào mang vector gắn đoạn DNA quan tâm chúng tôi
tiến hành phản ứng colony - PCR. Với phương pháp này giúp chúng ta phát hiện nhanh
những dòng khuẩn lạc nào mang gen đích, giảm chi phí và tiết kiệm thời gian. Tiến hành
chọn lọc các khuẩn lạc trắng trên đĩa khuẩn lạc, sau đó thực hiện phản ứng colony-PCR với

cặp mồi vector pUC-18.

Hình 8. Kết quả điện di sản phẩm PCR - clony khuẩn lạc mồi rbcL
M : thang Marker 1Kb; 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21,
22, 23, 24 : Các khuẩn lạc.
Mồi pUC18 được thiết kế nằm trên vector pBT và ở hai phía đối với đoạn cắt đa
điểm. Khoảng cách giữa 2 mồi trên vector vào khoảng 200 bp. Do đó khi tiến hành phản ứng
clony - PCR các khuẩn lạc trắng do vector tự đóng vòng sẽ thu được băng có kích thước
khoảng 200 bp, còn với plasmid tái tổ hợp còn các plasmid tái tổ hợp nhận được đoạn gen sẽ
có kích thước bằng kích thước gen cộng thêm 200 bp.
Mồi rbcL nhân lên đoạn gen barcodes có kích thước vào khoảng 750 bp, kết quả điện
di trên hình 3.8 xuất hiện các băng vạch duy nhất có kích thước vào khoảng hơn 900 bp. Như
vậy bước đầu cho thấy các dòng khuẩn lạc đều mang gen quan tâm trừ dòng số 1, 4, 5, 7, 8, 9,
11, 12, 17, 24 vì những dòng khuẩn lạc này không có băng vạch chúng ta quan tâm.
Các mồi còn lại cũng được tiến hành tương tự và đã thu được các dòng khuẩn lạc
mang gen cần quan tâm.
3.4.5. Kết quả tách chiết plasmid tái tổ hợp
Sau khi các dòng khuẩn lạc chứa đoạn gen ở trên được lựa chọn sẽ được nuôi trong 3
ml môi trường LB lỏng có bổ sung carbenicillin 50 mg/l, lắc 200 vòng/phút qua đêm, sau đó
tiến hành tách plasmid sau đó plasmid được điện di kiểm tra trên gel agarose 0.8%.

Hình 9. Kết quả điện di plasmid tách chiết
M : thang maker 1kb; T1,T2,T3,T4,T6,T7,T8,T9,T10,T11,T14, M1, Qx, G1, PQ64 : các
plasmid của mồi rbcL
Qua kết quả điện di plasmid hình 9 ta thấy các plasmid tái tổ hợp đều có 3 băng rõ nét
không bị đứt gẫy. Để kiểm tra chính xác sự có mặt của DNA đã được biến nạp chúng tôi tiến
hành xử lý plasmid thu được bằng enzyme cắt giới hạn BamHI.
3.4.6. Kết quả cắt kiểm tra plasmid tái tổ hợp
Các plasmid sau khi tách chiết cần tiến hành cắt kiểm tra plasmid bằng enzyme giới
hạn BamHI để khẳng định plasmid có mang đoạn gen quan tâm hay không. Theo lý thuyết

sau khi xử lý plasmid tái tổ hợp bằng enzyme cắt giới hạn sẽ thu được 2 phân đoạn có DNA:
i) đoạn DNA đã được biến nạp và ii) phần plasmid còn lại sau khi đã mất đoạn DNA.

2500 bp
750 bp
Hình 10. Kết quả điện di sản phẩm cắt bằng enzyme BamHI mồi rbcL.
M : thang Marker 1Kb; T1, T2, T3, T4, T6, T7, T8 : Các sản phẩm cắt của các plasmid
được tách dòng đoạn gen rbcL
Kết quả điện di sản phẩm cắt plasmid bằng BamHI ở các mẫu(T1,T2, T3, T4, T6, T7,
T8)từ các plasmid được tách dòng đoạn gen rbcL cho thấy các mẫu plasmid đều phân thành
hai băng trong đó có băng DNA kích thước 750 bp quan tâm. Với các mẫu còn lại của mồi
rbcL và 3 mồi còn lại chúng tôi cũng thu được kết quả tương tự.
3.5. Xác định và phân tích trình tự nucleotide của các đoạn DNA chỉ thị
Các đoạn DNA sau khi được tách dòng thành công sẽ được gửi đọc trình tự tại công
ty Macrogen (Công ty tham gia vào dự án giải trình tự bộ gen người). Trình tự được xác định
trên máy đọc trình tự tự động theo nguyên lý của Sanger. Sau khi xử lý trình tự bằng phần
mềm Bioedit và đối chiếu với những thông tin trên ngân hàng GenBank, chúng tôi đã tiến
hành phân tích kết quả với cả 4 mồi nghiên cứu kết quả thu được như sau :
3.5.1. Kết quả xác định và phân tích trình tự gen trn-psbA
Trình tự đoạn gen phân tích được có kích thước 440 bp đúng so với kích thước dự
đoán là 450 bp trong đó có một số những sai khác ở các vị trí của 18 mẫu dó bầu nghiên cứu
tuy nhiên những sai khác này là chưa đủ để xác định phân loại giữa các mẫu nghiên cứu.
Phân tích trình tự đoạn gen trnH-psbA cho thấy độ tương đồng khi so sánh 18 mẫu Dó bầu
nghiên cứu và trình tự A.sinensis đã được đăng trên ngân hàng GenBank có độ tương đồng rất
cao (99,1-100%). Điều này cho thấy hệ gen lục lạp ở dó bầu có tính bảo thủ rất cao giữa các
cá thể ở các khu vực cách xa nhau về mặt địa lý (Hà Tĩnh, Phú Quốc, Lào). Hơn nữa, theo
bản chất của hệ gen lục lạp thì đây là hệ gen rất ít có những biến động giữa các cá thể thuộc
các loài gần nhau.
3.5.2. Kết quả xác định và phân tích trình tự gen rpoB
Trình tự đoạn gen phân tích được có kích thước 510 bp trong đó có một số vị trí sai

khác giữa 18 mẫu nghiên cứu, tuy nhiên những sai khác này là những sai khác điểm nhỏ lẻ có
thể bắt nguồn từ sự sai khác trong quá trình PCR vì emzym Taq polymerase không có hoạt
tính sửa chữa trong quá trình PCR. Phân tích trình tự đoạn gen rpoB cho thấy độ tương đồng
khi so sánh 18 mẫu dó bầu nghiên cứu và trình tự A.sinensis đã được đăng trên ngân hàng
GenBank có độ tương đồng rất cao (99,0 - 100%). Điều này càng khẳng định tính bảo thủ của
hệ gen lục lạp ở thực vật.
3.5.3. Kết quả xác định và phân tích trình tự vùng gen lục lạp rbcL
Đoạn gen phân tích được có kích thước 734 bp phù hợp với kích thước ban đầu, trong
kết quả phân tích trình tự thấy xuất hiện những vị trí sai khác của 18 mẫu dó bầu nghiên cứu
đặc biệt ở vị trí 43 có sự thay đổi nucleotit A bằng G của với 6 mẫu Dó bầu nghiên cứu là
AL2, AL6, AL8, M1, Qx, PQ64 so với 12 loài dó bầu còn lại. Đây là hai nhóm có xuất xứ
cách xa nhau về mặt địa lý, các mẫu AL2, AL6, AL8, M1, Qx, PQ64 có xuất xứ từ Lào và
Phú Quốc, các mẫu còn lại có xuất xứ từ Hà Tĩnh. Đây có thể coi là một dấu hiệu để bước
đầu phân biệt 18 cá thể dó bầu mà chúng ta nghiên cứu dù hệ số tương đồng của 18 mẫu vẫn
rất cao ( 99,0 - 100% ).
3.5.4. Kết quả xác định và phân tích trình tự gen ITS
Kết quả phân tích trình tự cho thấy gen ITS có kích thước 655 bp, hệ số tương đồng di
truyền giữa các mẫu vẫn cao ( 91,1 - 100%) tuy nhiên trong trình tự xác định được xuất hiện
nhiều sai khác có giá trị có thể sử dụng để phân loại đặc biệt là ở các vị trí 196, 455, 536, 596
611, 612. Một số sai khác được liệt kê trong bảng 2. Với những sai khác ở những vị trí trên
đã bổ xung thêm cơ sở để xác định phân loại 18 mẫu dó bầu nghiên cứu.
Bảng 2. Các vị trí sai khác dùng để phân loại của đoạn gen vùng ITS
STT
Tên
mẫu
Vị trí dùng để phân loại
113
131
196
217

239
455
536
596
616
617
1
AL 02
C
T
T
C
C
G
A
A
G
T
2
AL 06
C
T
T
C
C
G
A
A
G
T

3
AL 08
C
T
T
C
C
G
A
A
G
T
4
G 1
C
T
T
C
C
G
A
A
G
T
5
T 1
T
T
C
T

T
C
G
G
A
C
6
T 2
C
T
T
C
C
G
G
G
A
C
7
T 3
T
T
C
T
T
C
G
G
A
C

8
T 4
T
C
C
T
T
C
G
G
A
C
9
T 6
C
T
T
C
C
G
A
A
G
T
10
T 7
C
T
T
C

C
G
A
A
G
T
11
T 8
C
T
T
C
C
G
A
A
G
T
12
T 9
C
C
T
C
C
C
A
A
G
T

13
T 10
C
T
T
C
C
G
A
A
G
T
14
T 11
C
T
T
C
C
G
A
A
G
T
15
T 14
T
C
C
T

T
C
G
G
A
C
16
PQ64
C
T
T
C
C
G
A
A
G
T
17
Qx
C
T
T
C
C
G
A
A
G
T

18
M1
C
T
T
C
C
G
A
A
G
T

T7
QX
A crassna AY920326
M1
Al8
A crassna AY920327
T11
T8
A sinensis FJ980392
A sinensis EF645836
G1
PQ64
Al6
Al2
A sinensis GQ891956
A sinensis EF645834
A sinensis EF645833

T6
T10
T9
T2
A yunnanensis EF645835
A rugosa AY920328
A rugosa AY920330
T1
T4
T3
T14
51
40
100
99
99
51
94
86
82
64
83
47
38
25
0.005

Hình 10. Cây phân loại giữa trên kết quả mồi ITS
Nhìn trên cây phân loại ta nhận thấy 18 mẫu dó bầu nghiên cứu có thể chia thành 2
nhóm lớn, với chỉ số bootstrap 80,5. Nhóm thứ nhât bao gồm các mẫu AL2, AL6, AL8, G1,

Qx, PQ64, M1, T6, T7, T8, T9, T10, T11 cùng với A.crassna và A. sinensis, nhóm thứ hai
bao gồm các 5 mẫu còn lại. Các mẫu T1, T2, T3, T4, T14 phân thành 1 nhóm phân loại riêng
với so với các loài A.crassna, A.sinensis, A.rugosa, A.yunasensis với chỉ số bootstrap 99,9%,
có thể kết luận các mẫu này không thuộc 4 loài trên. Ở Việt Nam hiện nay ngoài 4 loài trên
còn có 2 loài Dó Bà Nà (A.banacensis) và Dó Mã Lai (A. malacensis), tuy nhiên trình tự hai
loại này chưa được nghiên cứu. Nhiều khả năng các mẫu này là một trong hai loài trên. vì vậy
cần sử dụng thêm các chỉ thị khác và các mồi barcode khác để có thể có kết luận chính xác
hơn. Trình tự đoạn ITS của các mẫu T6, T7, T8, T9, T10, T11, các mẫu M1, QX, PQ64, G1
thu thập tại Phú Quốc và 3 mẫu thu thập ở Lào không có khác biệt tin cậy (25-47%) so với
trình tự này của các loài A crassna và A. sinensis.
Từ kết quả phân tích chúng tôi nhận thấy rằng mối tương quan di truyền giữa 18 mẫu
dó bầu được nghiên cứu là tương đối cao, Chỉ số tương đồng di truyền khoảng (91,1-100%).
Các mẫu dó bầu có mức độ đa dạng di truyền thấp, tính bảo thủ cao điều này đã được chứng
minh rõ ràng khi chúng tôi tiến hành nghiên cứu một số chỉ thị đối với hệ gen lục lạp như
trên.
3. Kết luận và kiến nghị
4.1. Kết luận
- Đã tách chiết và tinh sạch được DNA tổng số của 18 mẫu dó bầu trong đó có 3 loài
của Lào, 4 mẫu thu tại Phú Quốc và 11 mẫu thu tại Hà Tĩnh.
- Đã nhân bản thành công các đoạn gen trnH-psbA, rbcL, rpoB, ITS bằng phương
pháp PCR từ DNA tổng số của 18 mẫu dó bầu.
- Đã xác định được trình tự nucleotide của 4 đoạn gen trnH-psbA, rbcL, rpoB, trnL
của 18 mẫu dó bầu.
- Xuất hiện được những sai khác ở 4 gen này tuy nhiên gen trnH-psbA và rpoB khó có
thể sử dụng để phân loại vì những sai khác này là do quá trình nhân bản.
- Với rbcL gen và ITS đã tìm được những sai khác có tính hệ thống và có giá trị trong
việc sử dụng để phân loại.
4.2. Kiến nghị
- Tiếp tục sử dụng phương pháp DNA bacode trong phân loại và xác định loài ở Việt
Nam.

- Sử dụng gen rbcL và ITS vào việc xác định các loài dó bầu ở Việt Nam đồng thời
tiến hành nghiên cứu với các mồi barcode khác để tìm ra các dấu hiệu xác định loài
khác nhằm phân loại một cách chính xác và cụ thể hơn.

References

Tài liệu tiếng Việt
`1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2002), Báo cáo tổng kết đề tài: “Nghiên cứu
xác định phương pháp tạo trầm bằng tác nhân vi sinh trên cây dó bầu Aquilaria
crassna”, Nha Trang.
2. Hoàng Cảnh (2006), Trầm hương và loại cây tạo ra trầm hương, lợi ích, thách thức và
triển vọng. Hội trầm hương Việt Nam.
3. Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập II, Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật, Trung
tâm nghiên cứu tài nguyên môi trường, NXB Nông nghiệp.
4. Bùi Công Khánh (2007), Bước đầu tìm hiểu các chất tạo trầm nhân tạo trên cây dó bầu
Aquilaria crassnatại Việt Nam, Nha Trang.
5. Thái Thành Lượm (2000), “Bảo vệ nguồn gen và khai thác kết qủa tạo trầm nhân tạo trên
cây trầm hương”, Tạp chí khoa học phổ thông - Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật
TP HCM, số 518.
6. Đào Sỹ Sành, Nguyễn Huy Sơn, Cao Văn, “Báo cáo kết quả ánh giá sơ bộ về tiềm năng
sản xuất bột giấy của cây dó bầu”, Trung tâm nghiên cứu Lâm đặc sản, Viện Khoa
học Lâm nghiệp Việt Nam, Viện Công nghiệp giấy và Cenlulose.
7. Phạm Hồng Sơn (2006), Giáo trình kỹ thuật cơ bản trong sinh học phân tử , Nhà xuất bản
Đại học Huế, Huế.
8. Lê Duy Thành, Tạ Toàn, Đỗ Lê Thăng, Đinh Đoàn Long (2005), Di truyền học, NXB
Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội.
Tài liệu tiếng Anh
9. Anton L. (2007), Investigation of seed longevity and viability and cutting propagation for
Aquilaria crassna, School of Marine and Tropical Biology James Cook University,
Cairns.

10. Aron J. F., Kevin S. B., Prasad R. K., Sean W. G., Steven G. N., Brian C. H., Diana M.
P., Mehrdad Hajibabaei, Spencer C. H. B. (2008), “Multiple multilocus DNA
barcodes from the plastid genome discriminate plant species equally well”. PLoS
ONE, 3(7), pp. 2802.
11. Barden A., Awang A.N., Mulliken T., Song M. (2000),“Heart of the matter: agarwood
use and trade and CITES implementation for Aquilaria malaccensis”.
12. Borsch T., Hilu K.W., Quandt D., Wilde V., Neinhuis C., Barthlott W. (2003),
“Noncoding plastid trnT-trnF sequences reveal a well resolved phylogeny of basal
angiosperms”, J. Evol. Biol, (6), pp. 558-576.
13. Chakrabarty K., Kumar A., Menon V. (1994) “Trade in Agarwood. TRAFFIC-India
Publications, New Delhi”, published by Avenash Dutta.
14. Chase M. W., Nicolas S., Mike W., James M. D., Rao P. K., Nadia H., and Vincent S.
(2005), “Land plants and DNA barcodes: short-term and long-term goals”, Philos
Trans R Soc Lond B Biol Sci, 360 (1462), pp. 1889-1895.
15. CITES (2004), “Thirteenth Meeting of the Conference of the Parties. Amendments to
Appendices I and II of CITES”. Bangkok, Thailand, 3-14 October 2004 unpublished.
16. Gonzalez M. A., Baraloto C., Engel J., Mori S. A., Pe´tronelli P. (2009), “Identification of
Amazonian trees with DNA barcodes”, PLoS ONE 4(10), pp. 7483.
17. Harvey M., Botha F.C., (1996), “Use of PCR-based methodologies for the determination
of DNA diversity between Saccharum varieties”, Euphytica, (89), pp. 257-265.
18. Kiet L., Kessler PJA. and Eurlings M. (2005), “A new species of Aquilaria
(Thymelaceaceae) from Vietnam”, Blumea, (50), pp. 135-141.
19. Kress W. J., Erickson D. L. (2008), “DNA barcodes: Genes, genomics, and
bioinformatics”, Proc Natl Acad Sci U S A, 105(8), pp. 2761-2762.
20. Michiho I., Ken I. O., Toru Y., Gisho H., Fumiyuki K., Yasuo S. (2005) ,“Induction of
sesquiterpenoid production by methyl jasmonate in Aquilaria sinensis cell suspension
culture”, Journal of Essential Oil Research, 17(2), pp. 175-180.
21. Nurita T. M., Dewi R., Anidah (2009), “ Genetic variations among aquilaria species and
gyrinops vetseegii using amplified fragment length polymorphism markers”
Biotropia, Vol. 16 (No.2), pp. 88 - 95.

22. Ole S. and Gitte P. (2009), “How many loci does it take to DNA barcode a crocus?”,
PLoS ONE, 4(2), pp. 4598.
23. Qi S. H., He M. L., Lin D. L., Zhang C. H., Hu. L .J., and Zhang H. Z. (2005).”
Production of 2-(2-phenylethyl) chromones in cell suspension cultures of Aquilaria
sinensis”. Biomedical and Life Science , 83(2), pp.217-221.
24. Roman B., Alfaro C., Torres A. M., Moreno M. T., Satovic Z., Pujadas A., Rubiales D.
(2003) , “Genetic relationships among Orabache species as revealed by RAPD
analysis”, Annals of Botany, (91), pp. 637-642.
25. Savolainen V., and Chase M. W. (2003), “A decade of progress in plant molecular
phylogenetics”, Trends Genet, (19), pp. 717-724.
26. Shaw J., Lickey E.B., Schilling E. E., Small R.L. (2007),” Comparison of whole
chloroplast genome sequences to choose noncoding regions for phylogenetic studies
in angiosperms”, The tortoise and the hare III. Amer. J. Bot, (94), pp. 275-288.
27. Shiou Y. L., Jean W., Rozi M. (2011), “Genetic variation and molecular authentication of
slected Aquilaria species from natural population in Malaysia using RAPD and SCAR
markers”, Asian journal of Plant Sciences, 10(3), pp. 204 - 210.
28. Storchova H., M. S. Olson (2007), “The architecture of the chloroplast psbA-trnH non
coding region in angiosperms”. Plant systematic and evolution. Biomedical and life
sciences, Vol 268, No 1-4, pp. 235-256.
29. Taberlet P., Eric C., François P., Ludovic G., Christian M., Alice V., Thierry V., Gérard
C., Christian B., and Eske W. (2007),” Power and limitations of the chloroplast trnL
(UAA) intron for plant DNA barcoding”, Nucleic Acids Res, 35(3), pp14.
30. Taberlet P., Gielly L., Pautou G., Bouvet J. (1991), “Universal primers for amplification
of three non-coding regions of chloroplast DNA”, Plant Molecular Biology (17), pp.
1105-1109.
31. TRP Agarwood Projectinformationand conference Website-
2007
32. Van den Berg C., Higgins W. E., Dressler R. L., Whitten W. M., Soto Arenas M. A.,
Culham A., Chase M. W. (2000), “A phylogenetic analysis of Laeliinae (Orchidaceae)
based on sequence data from nuclear internal transcribed spacers (ITS) of ribosomal

DNA”, Lindleyana (15), pp.96114.
33. Valentini A., Miquel C., Nawaz M. A., Bellemain E. V. A., Coissac E., (2009), “New
perspectives in diet analysis based on DNA barcoding and parallel pyrosequencing:
the trnL approach”, Molecular Ecology Resources (9), pp. 51-60.
34. Valentini A, Miquel C, Taberlet P (2010) “DNA barcoding for honeybiodiversity”,
Diversity 2, pp. 610-617.
35. Van DeWiel C. C. M., Van Der Schoot J., Van Valkenburg J. L., Duistermaat C. H.,
Smulders (2009), “DNA barcoding discriminates the noxious invasive plant species,
floating pennywort (Hydrocotyle ranunculoides L.f.), from non-invasive relatives”,
Molecular Ecology Resources (9), pp.1086-1091.
36. Vijayan K. and Tsou C. H. (2010), “DNA barcoding in plants: taxonomy in a new
perspective”, Current science, vol. 99, pp. 1530 - 1540.
37. Wang W., Wu Y., Yan Y., Ermakova M., Kerstetter R. (2010) “DNA barcoding of the
Lemnaceae, a family of aquatic monocots”, BMC Plant Biology (10), pp.205.
38. Wu F., Mueller L A., Crouzillat D., Petiard V., Tanksley S. D. (2006), “Combining
bioinformatics and phylogenetics to identify large sets of single-copy orthologous
genes (COSII) for comparative, evolutionary and systematic studies: A test case in the
euasterid plant clade”, Genetics (174), pp. 1407-1420.
39. Yao H., Song J., Liu C., Luo K., Han J. (2010), “Use of ITS2 region as theuniversal DNA
barcode for plants and animals”, PLoS ONE (5), pp.13102.
40. Yong H. L., Jinlan R., Shilin C., Jingyuan S., Kun L., Dong L. and Hui Y. (18 December,
2010) “Authentication of Taxillus chinensis using DNA barcoding technique”,
Journal of Medicinal Plants Research Vol. 4(24), pp. 2706-2709.
Tài liệu Internet
41.
42. />Nghe/Cay-Do-Bau/
43. huong
44.
45. ).



×