Tải bản đầy đủ (.pdf) (13 trang)

Dẫn độ tội phạm trong luật quốc tế và liên hệ thực tiễn việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (413.61 KB, 13 trang )

Dẫn độ tội phạm trong Luật quốc tế và liên hệ
thực tiễn Việt Nam


Hà Thanh Hòa


Khoa Luật
Luận văn ThS. ngành: Luật quốc tế; Mã số: 60 38 60
Người hướng dẫn: TS. Lê Văn Bính
Năm bảo vệ: 2012


Abstract. Trình bày về khái niệm, định nghĩa, đặc điểm và các nguyên tắc của dẫn
độ tội phạm. Nghiên cứu quy định của pháp luật quốc tế về dẫn độ tội phạm: Các
quy định trong một số điều ước quốc tế đa phương toàn cầu về dẫn độ tội phạm (về
nghĩa vụ dẫn độ tội phạm, về đối tượng của hoạt động dẫn độ tội phạm… ); một số
điều ước song phương về dẫn độ tội phạm giữa các quốc gia; quy định về dẫn độ
trong pháp luật một số quốc gia; hoạt động dẫn độ thông qua vai trò của tổ chức
cảnh sát hình sự quốc tế (Interpol). Phân tích thực trạng hợp tác quốc tế về dẫn độ
tội phạm ở Việt Nam và kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam
về vấn đề này qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác về dẫn độ tội phạm giữa
Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Keywords. Luật Quốc tế; Tội phạm; Luật hình sự; Pháp luật Việt Nam

Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự phát triển không ngừng của cộng đồng quốc tế trên mọi lĩnh vực đã mang lại thuận lợi
cho các quốc gia trong quá trình phát triển của mình. Mặt trái của quá trình phát triển này


chính là sự gia tăng không ngừng của tỷ lệ tội phạm cả về mức độ và tính chất của hành vi.
Nhằm tiến hành đấu tranh phòng chống các loại tội phạm, các quốc gia đã sử dụng
phương thức hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm thông qua hoạt động dẫn độ tội phạm.
Để thực hiện được hoạt động này, các quốc gia luôn ý thức được tầm quan trọng của việc hợp
tác với quốc gia khác trên cơ sở các điều ước quốc tế song phương và đa phương về dẫn độ
tội phạm được xây dựng trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, có rất ít điều ước quốc tế đa
phương quy định riêng về dẫn độ tội phạm mà hầu hết các quy phạm về dẫn độ đều nằm
trong các điều ước quốc tế đa phương chuyên ngành của tổ chức quốc tế liên chính phủ. Hơn
nữa, hoạt động dẫn độ chủ yếu được các quốc gia tiến hành trên cơ sở hợp tác song phương
và những điều ước quốc tế song phương được xây dựng đòi hỏi phải có được sự tương thích
nhất định trong hệ thống pháp luật về hình sự của các bên ký kết. Bên cạnh đó, còn rất nhiều
khó khăn trong việc giải thích và áp dụng các nguyên tắc cũng như quy phạm tập quán quốc
tế hoặc trong các điều ước quốc tế về dẫn độ tội phạm giữa các quốc gia.
Xuất phát từ những lý do trên, việc nghiên cứu pháp luật quốc tế về hoạt động dẫn độ tội
phạm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hợp
tác thực thi pháp luật quốc tế về dẫn độ tội phạm; góp phần thúc đẩy việc hoàn thiện chính sách
pháp luật về chống khủng bố và hợp tác dẫn độ tội phạm ở Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay ở Việt Nam, các nghiên cứu về dẫn độ tội phạm dưới góc độ Luật quốc tế còn
chưa nhiều. Có thể kể đến một số luận văn, sách tham khảo, các bài viết của học giả nghiên cứu
luật giới thiệu các điều ước quốc tế về dẫn độ tội phạm hoặc đề cập đến hoạt động dẫn độ tội
phạm; một số bài viết tại các hội thảo, tạp chí về vấn đề này… Dưới góc độ quốc tế, cũng có các
bài viết tìm hiểu về dẫn độ tội phạm của các luật sư, các chuyên gia về luật quốc tế như Van den
Wijngaert… Tuy nhiên, thực tế chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống về
hợp tác quốc tế về dẫn độ tội phạm, đặc biệt là đặt trong tương quan so sánh với pháp luật Việt
Nam.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích của đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận về hoạt động hợp tác dẫn độ tội phạm
nhằm trả lời các câu hỏi: Thế nào là dẫn độ tội phạm? Đặc điểm và các nguyên tắc của dẫn độ
tội phạm? Cơ sở pháp lý quốc tế toàn cầu và song phương về dẫn độ tội phạm? Bên cạnh đó, đề

tài có nhiệm vụ nghiên cứu thực trạng hợp tác quốc tế về dẫn độ tội phạm ở Việt Nam và kiến
nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này qua đó góp phần nâng cao
hiệu quả hợp tác về dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới.
4. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài: Đề tài tập trung nghiên cứu các khía cạnh pháp
lý xung quanh nội dung về hợp tác dẫn độ tội phạm với nguồn chủ yếu là các điều ước quốc tế
về dẫn độ tội phạm và các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này.
Đề tài nghiên cứu về hợp tác dẫn độ tội phạm trên cơ sở tìm hiểu các điều ước quốc tế đa
phương, song phương và pháp luật của một số quốc gia về dẫn độ tội phạm. Trong việc
nghiên cứu cơ sở pháp lý đa phương và song phương về dẫn độ tội phạm, đề tài chỉ nghiên
cứu một số điều ước quốc tế đa phương và ở những khu vực và những quan hệ hợp tác song
phương mang tính điển hình.
Phương pháp nghiên cứu của đề tài: Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, so
sánh, liệt kê, tổng hợp dựa trên nền tảng là phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử
và phép biện chứng duy vật để làm rõ đối tượng nghiên cứu đã đặt ra.
5. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề lý luận và pháp lý cơ bản của pháp luật quốc tế
về dẫn độ tội phạm;
- Luận văn hệ thống và làm rõ các vấn đề pháp lý của pháp luật Việt Nam về dẫn đô tội phạm;
- Luận văn đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về dẫn độ tội phạm.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài Mục lục, Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết
cấu thành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về dẫn độ tội phạm
Chương 2: Các quy định của pháp luật quốc tế về dẫn độ tội phạm.
Chương 3: Thực trạng và giải pháp cho hoạt động dẫn độ ở Việt Nam./.

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DẪN ĐỘ TỘI PHẠM
1.1. Quá trình hình thành và phát triển của các quy định về dẫn độ tội phạm

Cùng với sự ra đời của ngành Luật Hình sự quốc tế, hoạt động hợp tác đấu tranh phòng chống
tội phạm cũng có những bước phát triển đáng kể qua các giai đoạn với sự hình thành của các
điều ước quốc tế về dẫn độ tội phạm. Từ Hiệp ước hoà bình năm 1296 trước công nguyên đến
các điều ước quốc tế liên quan đến hoạt động dẫn độ vào các năm 1802, 1889 Bước phát
triển quan trọng nhất của các quy định về dẫn độ tội phạm trong Luật quốc tế đó là sự ra đời
của tổ chức đa phương toàn cầu có vai trò gìn giữ hoà bình và an ninh quốc tế vào năm 1945
- Liên hợp quốc. Trong quá trình hoạt động của mình, Liên hợp quốc đã xây dựng các điều
ước quốc tế đa phương chứa đựng các quy định liên quan đến nguyên tắc, trình tự, thủ tục
điều chỉnh hoạt động dẫn độ giữa các quốc gia thành viên như: Hiệp định mẫu về dẫn độ tội
phạm năm 1990, Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia,
Công ước của Liên hợp quốc về phòng chống tham nhũng năm 2003
Từ những quy định sơ khai, với những quy tắc xử sự dưới dạng tập quán đến các quy định
trong các điều ước quốc tế cụ thể, các quy phạm về dẫn độ tội phạm trong Luật quốc tế đã có
những bước hoàn thiện dần nhằm góp phần vào hoạt động hợp tác đấu tranh phòng chống tội
phạm giữa các quốc gia.
1.2. Khái niệm dẫn độ tội phạm
1.2.1. Định nghĩa
Có rất nhiều quan điểm khác nhau trong các từ điển, tác phẩm nghiên cứu liên quan đến khái
niệm dẫn độ tội phạm. Tuy nhiên, hầu hết các khái niệm đều cho rằng dẫn độ tội phạm là việc
đưa một cá nhân trở lại quốc gia mà họ đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật của quốc gia
đó để xét xử hoặc thi hành bản án đã có hiệu lực.
Trên thực tế, đây là hoạt động hợp tác dựa trên sự thoả thuận giữa các quốc gia hữu quan
nhằm đưa cá nhân đang hiện diện trên lãnh thổ của quốc gia được yêu cầu cho quốc gia yêu
cầu để tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành bản án đã có hiệu lực đối với cá
nhân đó.
Khi xem xét khái niệm dẫn độ tội phạm, cũng cần phải đặt trong tương quan so sánh với một
số thuật ngữ có liên khác như: trục xuất, chuyển giao, nhượng bộ, để làm rõ hơn khái niệm
dẫn độ cũng như sử dụng các thuật ngữ theo đúng hoàn cảnh của nó.
1.2.2. Đặc điểm của hoạt động dẫn độ tội phạm
Về chủ thể thực hiện hoạt động dẫn độ tội phạm: Các quốc gia độc lập có chủ quyền là chủ

thể cơ bản và chủ yếu của Luật quốc tế, đồng thời cũng chính là chủ thể tham gia vào hoạt
động dẫn độ tội phạm. Trong hoạt động dẫn độ tội phạm sẽ có chủ thể là quốc gia yêu cầu và
quốc gia được yêu cầu. Quốc gia yêu cầu là quốc gia là quyền và lợi ích bị cá nhân tiến hành
hành vi xâm hại một cách trực tiếp, quốc gia được yêu cầu là quốc gia nơi cá nhân này đang
hiện diện. Quốc gia yêu cầu sẽ đưa ra yêu cầu dẫn độ khi phát hiện ra cá nhân đó đang ở trên
lãnh thổ của quốc gia yêu cầu (trên cơ sở sự thoả thuận), quốc gia được yêu cầu căn cứ vào
pháp luật quốc gia và quy định của Luật quốc tế để chấp nhận hoặc từ chối yêu cầu dẫn độ
đó.
Về cơ sở pháp lý của hoạt động dẫn độ: Các điều ước quốc tế được ký kết giữa các quốc gia
hữu quan chính là cơ sở pháp lý cho hoạt động dẫn độ. Vì việc tiến hành dẫn độ tội phạm là
quyền của quốc gia trong quan hệ quốc tế trên cơ sở chủ quyền quốc gia, hoạt động này sẽ
chỉ trở thành nghĩa vụ mà quốc gia phải thực hiện trên cơ sở các điều ước quốc tế được ký kết
với các quốc gia khác.
Về nguồn của hoạt động dẫn độ tội phạm: Điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, luật quốc gia
chính là nguồn của hoạt động dẫn độ tội phạm.
Điều ước quốc tế điều chỉnh hoạt động dẫn độ tội phạm gồm điều ước quốc tế đa phương
toàn cầu hoặc khu vực (Công ước châu Âu về dẫn độ năm 1957, Hiệp định mẫu về dẫn độ
của Liên hợp quốc năm 1990, Hiệp ước dẫn độ giữa các quốc gia thành viên Cộng đồng Kinh
tế Tây Phi năm 1994 ); Các điều ước quốc tế song phương (Hiệp định dẫn độ tội phạm giữa
Hoa Kỳ và Pháp năm 1996, Hiệp định dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam và Đại Hàn Dân Quốc
năm 2003 )
Tập quán quốc tế có thể kể đến như: nguyên tắc không dẫn độ công dân nước mình, nguyên
tắc có đi có lại
Luật quốc gia bao gồm các văn bản pháp lý quốc gia điều chỉnh hoạt động hợp tác về dẫn độ
tội phạm (thẩm quyền, trình tự, thủ tục ) của chính quốc gia trong quan hệ với quốc gia khác
như: Luật dẫn độ năm 1999 của Canada, Đạo luật dẫn độ của Trung Quốc năm 2000…)
Về đối tượng dẫn độ: Đối tượng chính của hoạt động dẫn độ là các tội phạm mà cá nhân thực
hiện trên lãnh thổ của quốc gia mình và đang hiện diện trên lãnh thổ của quốc gia khác. Khoa
học Luật Hình sự quốc tế ghi nhận 3 hình loại: tội phạm quốc tế, tội phạm có tính chất quốc
tế, tội phạm hình sự chung. Trên thực tế, hoạt động dẫn độ tội phạm chủ yếu được thực hiện

với các cá nhân phạm tội có tính chất quốc tế hoặc một số tội phạm hình sự chung mang tính
chất quốc tế.
1.3. Các nguyên tắc pháp lý về dẫn độ tội phạm
Các nguyên tắc pháp lý về dẫn độ tội phạm là những tư tưởng chính trị, pháp lý mang tính chỉ
đạo, bao trùm, có già trị bắt buộc đối với các chủ thể khi áp dụng chúng trong hoạt động dẫn
độ
1.3.1. Nguyên tắc có đi có lại
Đây là một trong những nguyên tắc rất phổ biến trong nhiều lĩnh vực của đời sống quốc tế.
Nội dung của nguyên tắc có đi có lại đối với hoạt động dẫn độ tội phạm quy định rằng các
quốc gia được yêu cầu dẫn độ chỉ tiến hành các hoạt động dẫn độ tội phạm, nếu nhận được sự
bảo đảm chắc chắn từ phía quốc gia yêu cầu rằng trong trường hợp dẫn độ tương tự phát sinh
thì quốc gia này cũng sẽ đảm bảo chắc chắn trong thực tế sẽ thực hiện dẫn độ tội phạm cho
quốc gia đối tác hữu quan theo yêu cầu của quốc gia này
1.3.2. Nguyên tắc không dẫn độ công dân nước mình
Xuất phát từ chủ quyền quốc gia đối với dân cư và xuất phát từ việc nhà nước có nghĩa vụ
đảm bảo các quyền và lợi ích của công dân (cá nhân mang quốc tịch của quốc gia đó), thì nội
dung nguyên tắc không dẫn độ công dân nước mình là quốc gia được yêu cầu dẫn độ có
quyền từ chối không thực hiện yêu cầu dẫn độ của quốc gia khác, nếu cá nhân bị yêu cầu dẫn
độ là công dân nước mình (người mang quốc tịch của quốc gia được yêu cầu).
1.3.3. Nguyên tắc không dẫn độ tội phạm chính trị
Đây là một trong những nguyên tắc gây ra khá nhiều tranh cãi về việc áp dụng nguyên tắc
này trong thực tế quan hệ giữa các quốc gia. Nội dung của nguyên tắc này là quốc gia được
yêu cầu có thể từ chối yêu cầu dẫn độ của quốc gia khác đối với các cá nhân mà quốc gia này
cho rằng đã phạm các tội về chính trị (có lý do hoạt động và tư tưởng chính trị đối lập tại
quốc gia yêu cầu). Việc lý giải được “tính chính trị” của các loại tội phạm này phụ thuộc vào
quan điểm chính trị của chính quốc gia được yêu cầu.
1.3.4. Nguyên tắc định danh kép
Nguyên tắc này được coi là nguyên tắc quan trọng và không thể thiếu được của hoạt động
dẫn độ tội phạm. Nội dung của nguyên tắc này hoạt động dẫn độ chỉ được tiến hành khi hành
vi do cá nhân bị dẫn độ thực hiện được định danh là hành vi phạm tội theo quy định hiện

hành của pháp luật cả hai quốc gia (quốc gia yêu cầu và quốc gia được yêu cầu dẫn độ), đồng
thời hành vi phạm tội phải được định án ở mức trừng phạt cụ thể theo ý chí của các quốc gia
hữu quan và được ghi nhận trong pháp luật nước mình, hoặc được các nước này thoả thuận
nhất trí và được quy định trong các điều ước quốc tế giữa các quốc gia hữu quan.
1.4. Các trường hợp không dẫn độ tội phạm
1.4.1. Không dẫn độ nếu cá nhân bị dẫn độ sẽ bị kết án đối với tội phạm khác
Theo đó, cá nhân được yêu cầu dẫn độ sẽ chỉ bị truy tố và xét xử đối với hành vi phạm tội
trên cơ sở định danh tội phạm được áp dụng tại thời điểm xảy ra hành vi phạm tội đó, hành vi
này đã được cung cấp như là cam kết để được dẫn độ của quốc gia yêu cầu. Quốc gia được
yêu cầu hoàn toàn có thể từ chối dẫn độ tội phạm nếu quốc gia yêu cầu tiến hành xét xử đối
với tội phạm khác mà cá nhân đó đã thực hiện trong quá khứ (không nằm trong yêu cầu dẫn
độ).
1.4.2. Không dẫn độ trong trường hợp cá nhân sẽ bị kết án tử hình
Trong quan hệ hợp tác dẫn độ tội phạm, các quốc gia có thể đưa ra thoả thuận về trường hợp
quốc gia được yêu cầu sẽ từ chối dẫn độ nếu như cá nhân được dẫn độ sẽ bị kết án tử hình đối
với hành vi vi phạm của mình tại quốc gia yêu cầu hoặc quốc gia đó sẽ chấp nhận dẫn độ nếu
nhận được sự cam kết của quốc gia yêu cầu rằng cá nhân đó sẽ không bị lĩnh án tử hình.
1.4.3. Một số trường hợp khác
Một số trường hợp không dẫn độ tội phạm khác bao gồm: Không dẫn độ trong trường hợp cá
nhân bị xét xử về cùng một tội; Không dẫn độ nếu hành vi phạm tội của cá nhân được thực
hiện ở quốc gia này mà quốc gia khác lại đưa ra yêu cầu dẫn độ; Cá nhân không bị dẫn độ
nếu thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đã chấm dứt; Cá nhân sẽ không bị dẫn độ nếu các
hành vi phạm tội được ghi nhận trong đề nghị dẫn độ thuộc sự điều chỉnh đặc biệt của quốc
gia được yêu cầu; Một số trường hợp từ chối dẫn độ khi cân nhắc các vấn đề nhân đạo đối với
cá nhân bị dẫn độ.

Chương 2
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ DẪN ĐỘ TỘI PHẠM
2.1. Các quy định trong một số điều ước quốc tế đa phương về dẫn độ tội phạm
Các quy định về dẫn độ tội phạm nằm trong các điều ước đa phương đa phương khu vực và

toàn cầu có vai trò rất quan trọng với các quốc gia thành viên trong việc áp dụng các quy định
của điều ước trong quan hệ với các quốc gia thành viên khác. Có thể kể đến một số điều ước
quốc tế đa phương như Hiệp định mẫu về dẫn độ tội phạm năm 1990 của Liên hợp quốc, Luật
mẫu về dẫn độ năm 2004 của Liên hợp quốc, Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm có
tổ chức xuyên quốc gia năm 2000, Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng năm 2003,
Công ước châu Âu về dẫn độ năm 1957 và các Nghị định thư bổ sung năm 1975, 1978,
2010…
2.1.1. Về nghĩa vụ dẫn độ tội phạm
Nghĩa vụ dẫn độ tội phạm trong các điều ước quốc tế đa phương quy định khi nhận được một
yêu cầu dẫn độ của bên ký kết khác, các quốc gia thành viên được yêu cầu sẽ tiến hành dẫn
độ một cá nhân đang hiện diện trên lãnh thổ quốc gia mình nhằm thực hiện việc xét xử hoặc
thi hành bản án đã có hiệu lực đối với cá nhân đó theo pháp luật của quốc gia đưa ra yêu cầu.
Nghĩa vụ này được ghi nhận trong tất cả các điều ước quốc tế đa phương về dẫn độ tội phạm
(Hiệp định mẫu về dẫn độ của Liên hợp quốc, Luật mẫu về dẫn độ năm 2004 của Liên hợp
quốc, Công ước châu Âu về dẫn độ năm 1957
2.1.2. Về đối tượng của hoạt động dẫn độ
Những quy định về đối tượng dẫn độ trong các điều ước quốc tế đa phương sẽ giúp các quốc
gia thành viên đưa ra yêu cầu dẫn độ đối với các loại tội phạm phù hợp được ghi nhận trong
các điều ước quốc tế về dẫn độ tội phạm. Thông thường các điều ước quốc tế chuyên môn sẽ
quy định đối tượng dẫn độ cụ thể là các loại tội phạm liên quan đến lĩnh vực chuyên môn đó.
Còn các điều ước quốc tế khác cũng sẽ ghi nhận đối tượng dẫn độ theo sự thoả thuận của các
quốc gia thành viên.
2.1.3. Về các trường hợp không dẫn độ tội phạm
Đây là một trong những quy định không thể thiếu trong các điều ước quốc tế đa phương về
dẫn độ tội phạm, để giúp các quốc gia thành viên căn cứ vào đó đưa ra yêu cầu hoặc từ chối
dẫn độ đối với yêu cầu của quốc gia khác. Thông thường các điều ước quốc tế đưa ra các
trường hợp như: không dẫn độ công dân nước mình, không dẫn độ nếu án tử hình có thể được
áp dụng đối với cá nhân bị dẫn độ, không dẫn độ nếu hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình
sự, không dẫn độ nếu ảnh hưởng đến quan điểm của quốc gia được yêu cầu về nhân đạo, sức
khoẻ hoặc hoàn cảnh của cá nhân đó

2.1.4. Về thủ tục dẫn độ tội phạm
Mỗi quốc gia khi tham gia quan hệ quốc gia lại viện dẫn các quy định về trình tự, thủ tục
trong các văn bản pháp luật của quốc gia và việc đáp ứng riêng rẽ như vậy sẽ gây rất nhiều
khó khăn cho các quốc gia khác trong việc đưa ra yêu cầu dẫn độ. Các điều ước quốc tế đa
phương về dẫn độ tội phạm chính là giải pháp hiệu quả cho những khó khăn này. Hầu hết các
điều ước quốc tế về dẫn độ tội phạm hoặc có quy định về dẫn độ tội phạm đều đưa ra các yêu
cầu bao gồm: Mô tả về cá nhân bị yêu cầu dẫn độ, quốc tịch và các thông tin về nhân thân
(nhận dạng, lai lịch ); các văn bản quy định của pháp luật quốc gia yêu cầu về tội danh,
khung hình phạt đối với tội phạm đó; lệnh bắt giữ; bản mô tả hành vi phạm tội, chứng cứ…
Các thông tin này có thể được bổ sung nếu quốc gia được yêu cầu cho rằng còn thiếu và được
chuyển thông qua con đường ngoại giao, có điều ước quốc tế thì yêu cầu chuyển qua con
đường khác (chuyển fax )
2.1.5. Một số quy định khác
Các quy định khác ở đây bao gồm: quy định về quá cảnh, quy định về chi phí dẫn độ trong
một số các điều ước đa phương.
2.2. Một số điều ước song phương về dẫn độ tội phạm
Trong các loại điều ước quốc tế, các điều ước quốc tế song phương luôn tỏ rõ vai trò điều
chỉnh cụ thể, chi tiết các quyền và nghĩa vụ giữa hai bên ký kết. Đồng thời thể hiện được vị
trí của các bên ký kết so với vai trò của họ tại các điều ước quốc tế đa phương. Một số điều
ước quốc tế được tìm hiểu trong chương này là: Hiệp ước dẫn độ giữa Hoa Kỳ và Liên minh
châu Âu năm 2003, Hiệp ước dẫn độ giữa Trung Quốc và Tây Ban Nha năm 2006.
2.2.1. Hiệp ước dẫn độ giữa Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu năm 2003
Hiệp ước dẫn độ giữa Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu (EU) ký năm 2003, có hiệu lực vào năm
2010 được đánh dấu bước phát triển quan trọng trong quan hệ giữa các bên liên quan đến
hoạt động hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Nội dung cơ bản của Hiệp ước bao gồm
các quy định liên quan đến: Phạm vi áp dụng của Hiệp ước (những vấn đề nào sẽ áp dụng
điều ước song phương giữa Hoa Kỳ và quốc gia thành viên, những vấn đề nào sẽ áp dụng các
quy định trong Hiệp ước về dẫn độ giữa Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ); Đối tượng dẫn độ;
Thủ tục yêu cầu dẫn độ (được xây dựng trên cơ sở các điều ước song phương giữa các thành
viên EU với Hoa Kỳ)

2.2.2. Hiệp ước dẫn độ giữa Trung Quốc và Tây Ban Nha năm 2006
Hiệp ước về dẫn độ giữa Trung Quốc và Tây Ban Nha có hiệu lực năm 2006 với 21 điều
khoản với các quy định liên quan tới nghĩa vụ dẫn độ, đối tượng dẫn độ, căn cứ từ chối dẫn
độ, trình tự, thủ tục của yêu cầu dẫn độ
2.3. Quy định về dẫn độ trong pháp luật của một số quốc gia
2.3.1. Đạo luật dẫn độ năm 1999 của Canada
Đạo luật dẫn độ gồm 4 phần, trong đó có quy định cụ thể về trường hợp dẫn độ từ Canada và
quy định về dẫn độ tới Canada.
Về nghĩa vụ dẫn độ: đạo luật quy định nghĩa vụ dẫn độ của Canada sẽ xuất hiện trong trường
hợp giữa các quốc gia yêu cầu và Canada có thoả thuận dẫn độ được ghi nhận trong các điều
ước quốc tế đa phương hoặc song phương hoặc trong từng trường hợp cụ thể có thoả thuận về
dẫn độ.
Về đối tượng dẫn độ: Đối tượng dẫn độ là những tội phạm mà cá nhân tiến hành được quy
định trong pháp luật của cả hai quốc gia, với mức hình phạt tù từ 2 năm trở lên hoặc một hình
phạt nặng hơn, tối thiểu là 6 tháng đối với việc dẫn độ để thi hành hình phạt tù.
Về thẩm quyền dẫn độ: Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Toà án sẽ là cơ quan có thẩm quyền tiếp
nhận, xem xét và quyết định việc thực hiện các yêu cầu về dẫn độ.
Về căn cứ từ chối dẫn độ: Đạo luật đưa ra 5 trường hợp mà Canada sẽ từ chối dẫn độ tội
phạm
Về quy trình dẫn độ: Hoạt động dẫn độ được quy định trong Đạo luật dẫn độ của Canada
được thực hiện qua hai giai đoạn là: Bộ trưởng Tư pháp sau đó đến Toà án.
2.3.2. Luật dẫn độ năm 1953 của Nhật Bản
Luật dẫn độ của Nhật Bản gồm 34 điều với các vấn đề liên quan đến phạm vi dẫn độ, thủ tục
dẫn độ, giam giữ cá nhân bị yêu cầu dẫn độ
Về các trường hợp từ chối dẫn độ: Luật dẫn độ Nhật Bản quy định 6 trường hợp từ chối dẫn
độ tội phạm (Điều 2)
Về thủ tục dẫn độ: Bộ trường Ngoại giao tiếp nhận văn bản yêu cầu dẫn độ thông qua con
đường ngoại giao và chuyển cho Bộ Tư pháp kèm theo các tài liệu có liên quan, Bộ trưởng
Tư pháp sẽ chuyển tài liệu này tới Công tố viên giám sát của Văn phòng Công tố cấp cao
Tokyo và cơ quan này sẽ liên hệ với Toà án tối cao Tokyo để xem xét việc dẫn độ. Công tố

viên giám sắt văn phòng công tố cấp cao Tokyo sẽ giao nộp cá nhân bị yêu cầu dẫn độ trong
trường hợp đồng ý dẫn độ. Trường hợp quyết định không dẫn độ, Bộ trưởng Tư pháp sẽ
thông báo và yêu cầu Công tố viên giám sắt Văn phòng Công tố cấp cao Tokyo thả cá nhân bị
yêu cầu dẫn độ.
2.3.3. Luật dẫn độ năm 2000 của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa
Luật dẫn độ năm 2000 của Trung Quốc gồm 4 chương với 55 điều. quy định cụ thể về điều
kiện dẫn độ, thủ tục của yêu cầu dẫn độ, hoãn dẫn độ, quá cảnh
Về căn cứ từ chối dẫn độ: Luật dẫn độ Trung Quốc quy định 8 trường hợp từ chối dẫn độ
Về thủ tục của yêu cầu dẫn độ: Quy định về một yêu cầu dẫn độ nằm trong Điều 11 và 12 của
Luật dẫn độ năm 2000 của Trung Quốc. Yêu cầu dẫn độ phải được lập bằng văn bản kèm
theo bản dịch sang tiếng Trung Quốc, yêu cầu phải được đóng dấu của cơ quan có thẩm
quyền của quốc gia yêu cầu
Về thẩm quyền dẫn độ: Bộ Ngoại giao có trách nhiệm kiểm tra tình hợp pháp của yêu cầu dẫn
độ, Toà án nhân dân cấp Tỉnh có trách nhiệm xem xét sự phù hợp của yêu cầu dẫn độ.
Nhìn chung các quy định trong pháp luật của một số quốc gia về dẫn độ đã đáp ứng được các
quy định của Luật quốc tế (các điều ước quốc tế song phương và đa phương, các tập quán
quốc tế ). Các quy định trong hệ thống pháp luật quốc gia về dẫn độ tập trung vào các vấn đề
cơ bản như: các nguyên tắc hợp tác dẫn độ tội phạm; các căn cứ từ chối dẫn độ tội phạm; các
thủ tục liên quan đến yêu cầu dẫn độ, quá cảnh, chi phí dẫn độ Trong các quy định được đưa
ra, vấn đề khác nhau lớn nhất chủ yếu liên quan đến thẩm quyền và trình tự trong việc từ chối
hoặc đáp ứng yêu cầu dẫn độ, các quốc gia quy định thẩm quyền tiếp nhận yêu cầu dẫn độ
thuộc về các cơ quan khác nhau (Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an ). Tuy nhiên, các
cơ quan kể trên đều là các cơ quan có thẩm quyền thực hiện chức năng tố tụng hoặc ngoại
giao. Hầu hết các quốc gia đều công nhận thẩm quyền xem xét và ra quyết định dẫn độ cho
toà án nhân dân câp tỉnh hoặc viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh.
2.4. Hoạt động dẫn độ thông qua vai trò của Tổ chức Cảnh sát Hình sự quốc tế
(INTERPOL)
Được thành lập trên cơ sở Uỷ ban Cảnh sát Hình sự quốc tế (1923), với 190 quốc gia thành
viên hiện nay, INTERPOL được coi là tổ chức quốc tế đa phương toàn cầu lớn thứ hai sau
Liên hợp quốc về số lượng thành viên tham gia. Với 5 cơ quan chính cùng chức năng, nhiệm

vụ và quyền hạn khác nhau. INTERPOL đã có những đóng góp không nhỏ vào hoạt động
hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm của các quốc gia thành viên tổ chức.
Biểu hiện vai trò của tổ chức này trong hoạt động hợp tác dẫn độ tội phạm thông qua các loại
“thông báo quốc tế”, trong đó thông báo đỏ là loại phổ biến nhất, được coi là giấy chứng
nhận bắt giữ của INTERPOL gửi tới các quốc gia thành viên, nếu INTERPOL điều tra và
phát hiện cá nhân đó xuất hiện tại một quốc gia khác thì INTERPOL có quyền yêu cầu quốc
gia đó bắt giữ và dẫn độ cho quốc gia đưa ra yêu cầu truy nã
Với hơn 80 năm hoạt động với những nỗ lực không mệt mỏi, INTERPOL vẫn luôn nắm giữ
được vai trò hết sức quan trọng đối với các quốc gia thành viên và cả cộng đồng quốc tế trong
lĩnh vực hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Trong tương lai, kể cả từ phía tổ chức cũng
như các quốc gia thành viên cần phải tập trung hơn nữa đến quá trình tìm kiếm và chia sẻ
thông tin về tình trạng tội phạm trong cộng đồng quốc tế một cách thống nhất, khắc phục hạn
chế từ sự không tích cực trong khi các quốc gia còn thể hiện tính bị động trong việc thi hành
nghĩa vụ thành viên của INTERPOL, còn INTERPOL thì rất tích cực trong việc cung cấp
thông tin mới nhất cho các quốc gia hữu quan mà không cần các đề nghị đặc biệt nào được
gửi tới
Chương 3
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHO HOẠT ĐỘNG DẪN ĐỘ TỘI PHẠM TẠI
VIỆT NAM
3.1. Các quy định trong điều ước quốc tế về dẫn độ giữa Việt Nam với một số quốc gia
khác
Trên cơ sở xem xét một số điều ước quốc tế về dẫn độ tội phạm hoặc điều ước quốc tế về
tương trợ tư pháp có nội dung về dẫn độ tội phạm được ký kết giữa Việt Nam và một số quốc
gia khác như: Hiệp định Tương trợ Tư pháp Việt Nam – Ba Lan năm 1993, Hiệp định Tương
trợ Tư pháp Việt Nam – Liên bang Nga năm 1998, Hiệp định Tương trợ Tư pháp về Dân sự
và Hình sự giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà dân chủ nhân
dân Lào năm 1998, Hiệp định dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam – Hàn Quốc năm 2003, Hiệp
định dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam – Australia năm 2012
Các điều ước song phương này bao gồm các quy định liên quan đến: Nghĩa vụ dẫn độ tội
phạm; Đối tượng của hoạt động dẫn độ; Căn cứ từ chối dẫn độ; Thủ tục dẫn độ và các tài liệu

cần thiết; Quy định bắt khẩn cấp; Quy định dẫn độ đơn giản; Quy định về giải quyết các
trường hợp đặc biệt trong dẫn độ (nhiều yêu cầu dẫn độ đối với một cá nhân, hoãn thi hành
quyết định dẫn độ, dẫn độ lại, quá cảnh); Quy định về chi phí dẫn độ tội phạm.
Những quy định về dẫn độ tội phạm trong các điều ước quốc tế giữa Việt Nam và một số
quốc gia nêu trên đã thể hiện được sự tương thích với các quy định của pháp luật quốc tế về
dẫn độ tội phạm (về nguyên tắc dẫn độ tội phạm, các trường hợp từ chối dẫn độ, trình tự, thủ
tục dẫn độ tội phạm ). Phù hợp với điều kiện của các quốc gia về chế độ kinh tế, chính trị và
hệ thống pháp luật, Việt Nam và các quốc gia này đã xây dựng các điều khoản phù hợp nhằm
đạt được hiệu quả tốt nhất trong hợp tác dẫn độ tội phạm.
Tuy nhiên, hợp tác song phương về dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam với các quốc gia vẫn còn
một số tồn tại cần khắc phục là
Một là: số lượng các điều ước song phương được ký kết giữa Việt Nam và các quốc gia khác có
liên quan trực tiếp đến dẫn độ tội phạm còn rất hạn chế. Hợp tác song phương về dẫn độ tội phạm
giữa Việt Nam và các quốc gia chủ yếu vẫn dựa trên các hiệp định tương trợ tư pháp mà ít các
hiệp định riêng về dẫn độ tội phạm
Hai là: phạm vi hợp tác song phương còn hẹp.
3.2. Một số quy định của pháp luật Việt Nam về dẫn độ
3.2.1. Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003
Bộ luật Tố tụng Hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thông qua ngày
26/11/2003. Toàn bộ nội dung của Bộ luật Tố Tụng Hình sự quy định trình tự, thủ tục khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối
quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; những người tham gia tố tụng, của các cơ quan,
tổ chức và công dân; hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn
chặn tội phạm…
Văn bản này quy định về vấn đề dẫn độ trong Điều 343 và 344 với các vấn đề về thẩm
quyền tiến hành các hoạt động hợp tác dẫn độ và các trường hợp từ chối dẫn độ.
Về thẩm quyền tiến hành hoạt động hợp tác dẫn độ: Các cơ quan có thẩm quyền về tố tụng
của Việt Nam (các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân các cấp, Toà án nhân dân các
cấp) sẽ là chủ thể đại diện cho Việt Nam đưa ra các yêu cầu về dẫn độ trên cơ sở điều ước
quốc tế và tập quán quốc tế khi tiến hành các hoạt động hợp tác dẫn độ (Điều 343)

Về căn cứ từ chối dẫn độ: Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003 của Việt Nam đưa ra 6 căn cứ từ
chối dẫn độ (Điều 344). Bao gồm: trường hợp cá nhân là công dân Việt Nam; trường hợp hết
thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc lý do hợp pháp khác; trường hợp cá nhân đã bị
cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam kết án bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật về hành vi
phạm tội được nêu trong yêu cầu dẫn độ hoặc đã bị đình chỉ; trường hợp cá nhân bị yêu cầu
dẫn độ có khả năng bị truy bức ở quốc gia yêu cầu dẫn độ vì lý do chính trị, dân tộc, quốc
tịch, tôn giáo, thành phần xã hội; trường hợp theo pháp luật của Việt Nam, hành vi của cá
nhân bị yêu cầu dẫn độ thực hiện không phải là tội phạm; trường hợp cá nhân bị yêu cầu dẫn
độ đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự ở Việt Nam về hành vi được nêu trong yêu cầu dẫn
độ.
3.2.1. Luật Tương trợ Tư pháp 2007
Luật Tương trợ Tư pháp được ban hành ngày 21 tháng 11 năm 2007. Với 7 Chương và 71
Điều, trong đó quy định về Dẫn độ tội phạm nằm trong Chương IV với 17 Điều (từ Điều 32
đến Điều 48). Gồm các nội dung: Dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án;
trường hợp bị dẫn độ; không truy cứu trách nhiệm hình sự, dẫn độ cho quốc gia thứ ba; từ
chối dẫn độ cho nước ngoài; hồ sơ yêu cầu dẫn độ; văn bản yêu cầu dẫn độ và tài liệu kèm
theo; tiếp nhận yêu cầu dẫn độ; xem xét yêu cầu dẫn độ của nhiều quốc gia đối với một cá
nhân; Quyết định dẫn độ; thi hành quyết định dẫn độ; áp giải người bị dẫn độ; hoãn thi hành
quyết định dẫn độ và dẫn độ tạm thời; dẫn độ lại; chuyển giao đồ vật, vật chứng liên quan đến
vụ án; quá cảnh; chi phí về dẫn độ.
Luật Tương trợ Tư pháp 2007 đã hướng tới hoàn thiện các quy định của pháp luật quốc gia
liên quan đến hoạt động hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm hết sức quan trọng này. Bên
cạnh việc quy định về các nguyên tắc, thẩm quyền, căn cứ dẫn độ và từ chối dẫn độ, trình tự,
thủ tục dẫn độ, các biện pháp tạm thời, quá cảnh… là cơ sở cho các cơ quan có thẩm quyền
của Việt Nam đáp ứng hoặc đưa ra yêu cầu đối với các cá nhân là đối tượng của hoạt động
dẫn độ. Tuy nhiên, một số vấn đề cần thiết chưa được Luật quy định cụ thể:
Một là, chưa có quy định cụ thể về trình tự của hoạt động dẫn độ từ Việt Nam và dẫn độ đến
Việt Nam.
Hai là, chưa có quy định về cụ thể bắt giữ tạm thời (thẩm quyền, thủ tục, thời hạn ) mà chỉ
sử dụng thuật ngữ “các biện pháp tạm thời”, để hỗ trợ cho hoạt động dẫn độ tội phạm.

Ba là, hiệu lực của Luật Tương trợ Tư pháp 2007 chưa được phát huy một cách hiệu quả, các
hoạt động bắt giữ, giao và tiếp nhận các đối tượng phạm tội chủ yếu được thực hiện thông
qua INTERPOL và ASEANPOL.
3.3. Thực tiễn dẫn độ tại Việt Nam
3.3.1. Một số hoạt động dẫn độ thực hiện tại Việt Nam
Các hoạt động dẫn độ được thực hiện bởi các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam mà đặc
biệt là sự đóng góp của Văn phòng INTERPOL Việt Nam đã khẳng định được vai trò quan
trọng của Việt Nam trong hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm qua các vụ việc điểm
hình như: vụ việc lực lượng an ninh Việt Nam phối hợp với phía Trung Quốc dẫn độ nguyên
đại tá Lê Quốc Thuỵ về nước để xét xử, các vụ việc tại Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh
3.3.2. Một số khó khăn khi thực hiện hoạt động dẫn độ tại Việt Nam
Thứ nhất, Việt Nam chưa có được một văn bản riêng quy định về dẫn độ mà các quy định về
dẫn độ chỉ nằm trong các văn bản luật khác (Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003, Luật Tương trợ
Tư pháp 2007);
Thứ hai, việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Tương trợ Tư pháp còn chậm;
Thứ ba, nhiều Hiệp định được ký kết trước khi Luật Tương trợ Tư pháp 2007 được ban hành
đã thể hiện sự không phù hợp với quy định của Luật Tương trợ Tư pháp 2007 nhưng chưa thể
đàm phán sửa đổi;
Thứ tư, chế độ, chính sách, kinh phí, trang thiết bị cho các hoạt động về tương trợ tư pháp nói
chung và về dẫn độ nói riêng còn rất hạn hẹp;
Thứ năm, đội ngũ cán bộ thực hiện hoạt động dẫn độ tội phạm còn hạn chế về số lượng và
khả năng làm việc;
3.3.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động dẫn độ tại Việt Nam
Giải pháp đối với các văn bản pháp lý:
Thứ nhất, các cơ quan có thẩm quyền cần xem xét, lấy ý kiến và đưa ra các văn bản hướng
dẫn cụ thể để bổ sung một số vấn đề còn thiếu trong Luật Tương trợ Tư pháp 2007;
Thứ hai, tiếp tục đẩy mạnh việc đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế trong lĩnh vực đấu
tranh phòng chống tội phạm, mà cụ thể là dẫn độ tội phạm;
Một số giải pháp khác:
Một là, giải pháp liên quan đến nhân lực;

Hai là, giải pháp đối với trang thiết bị kỹ thuật
Ba là, giải pháp tài chính;
Bốn là, giải pháp về sự phối hợp đồng bộ

KẾT LUẬN
Sự phát triển và biến đổi không ngừng của tình hình chính trị, kinh tế, xã hội trong
những năm qua đã ghi nhận sự cố gắng và nỗ lực vì cộng đồng quốc tế phát triển, ổn định và
bền vững. Bên cạnh sự phát triển thuận lợi đó, các quốc gia cũng phải đối mặt với rất nhiều
thách thức và khó khăn. Một trong những khó khăn đó là sự gia tăng của các loại tội phạm,
nó không chỉ diễn ra trong phạm vi của một quốc gia, mà còn lan rộng ra khắp toàn cầu.
Trách nhiệm đấu tranh phòng chống các loại tội phạm này không phải chỉ thuộc về riêng mỗi
quốc gia mà còn phải được tiến hành trên cơ sở sự hợp tác của các quốc gia khác. Hoạt động
hợp tác dẫn độ tội phạm đang được các quốc gia coi là hoạt động hợp tác hiệu quả nhằm trấn
áp các loại tội phạm. Bên cạnh những nỗ lực trong việc xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ
pháp lý cùng với các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động hợp tác đấu tranh
phòng chống tội phạm trong phạm vi mỗi quốc gia, các quốc gia còn chú trọng đến các hoạt
động hợp tác song phương và đa phương về dẫn độ tội phạm. Khuôn khổ pháp lý quốc tế
dưới dạng các điều ước quốc tế giữa các quốc gia với các nội dung hợp tác cơ bản sẽ là công
cụ hữu hiệu để giúp các quốc gia đấu tranh phòng chống tội phạm một cách tốt nhất.
Việt Nam với vai trò tích cực và chủ động trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm
trong khu vực và cả toàn cầu cũng đang nỗ lực để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
của mình, kết hợp với các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động dẫn độ tội phạm khác như:
nhân lực, trang thiết bị kỹ thuật, tài chính… Và quan trọng là việc cùng với các quốc gia khác
đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế là cơ sở pháp lý cho hoạt động dẫn độ tội phạm.
Những hoạt động đó sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của việc đấu tranh phòng chống tội phạm
trong phạm vi quốc gia và đóng góp vào sự đấu tranh chung của cộng đồng quốc nhằm đảm
bảo an ninh chung của nhân loại. Trong tương lai, bên cạnh việc thực hiện tận tâm, thiện chí
những cam kết quốc tế trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, chúng ta cần
phải quan tâm hơn nữa các vấn đề về nhân lực, trang thiết bị, tài chính… để củng cố hơn nữa
các công cụ để đấu tranh phòng chống tội phạm.



References
I. TIẾNG VIỆT
1. Nguyễn Ngọc Anh (2000), “Hoạt động dẫn độ tội phạm theo Hiệp định tương trợ tư
pháp giữa Việt Nam với các nước”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (05), tr. 16 – 18, 27.
2. Nguyễn Ngọc Anh, Nguyễn Việt Hồng, Phạm Văn Công (2006), Dẫn độ - những vấn
đề lý luận và thực tiễn, NXB Công an nhân dân, Hà Nội.
3. Nguyễn Ngọc Anh (2008), “Hợp tác quốc tế về tố tụng hình sự trong bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí toà án nhân dân. Toà án nhân dân tối cao, (02), tr 16 - 21.
4. Nguyễn Ngọc Anh (2008), “Nội dung cơ bản của Luật tương trợ tư pháp”, Toà án
nhân dân, Toà án nhân dân tối cao, (03), tr. 19 - 21.
5. Nguyễn Ngọc Anh (2010), Pháp luật Việt Nam và quốc tế về hoạt động tương trợ tư
pháp hình sự và dẫn độ. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Tài liệu tập huấn công tác
phòng chống tội phạm qua kênh hợp tác INTERPOL ngày 25 – 27/04/2012, TP. Hồ Chí
Minh.
6. Nguyễn Ngọc Anh (2012), Một số vấn đề cơ bản trong công tác đối ngoại và hợp tác
quốc tế của Lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, Tài liệu tập huấn công tác phòng
chống tội phạm qua kênh hợp tác INTERPOL ngày 25 – 27/04/2012, TP. Hồ Chí Minh.
7. Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003.
8. Chử Văn Dũng (2010), Hoạt động INTERPOL trong thực hiện tương trợ tư pháp
hình sự và dẫn độ tội phạm ở Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội.
9. Gardoski (1986), Luật hình sự quốc tế, NXB Tri thức Vacsava, Matxcova.
10. Nguyễn Trường Giang (2008), Những phát triển của luật pháp quốc tế thế kỷ XXI,
NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
11. Đào Thị Hà (2006), Vấn đề dẫn độ trong pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật
học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
12. Nguyễn Việt Hồng (2006), Dẫn độ - Thực trạng và các giải pháp nâng cao hiệu quả,
Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội.
13. Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005.

14. Luật tương trợ tư pháp năm 2007.
15. Dương Tuyết Miên (2006), “Vấn đề dẫn độ tội phạm”, Tạp chí Toà án, (10), tr. 2 – 7.
16. Nguyễn Giang Nam (2008), “Dẫn độ theo pháp luật tố tụng hiện hành”, Tạp chí nhà
nước và pháp luật. Viện nhà nước và pháp luật, (04), tr 67 – 69, 79.
17. Nguyễn Giang Nam (2008), “Những nội dung cơ bản của Hiệp định dẫn độ giữa
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hàn Quốc”, Tạp chí Nhà nước và pháp
luật. Viện nhà nước và pháp luật, (12), tr. 77 – 81.
18. Nguyễn Thị Mai Nga (2000), “Dẫn độ tội phạm và hoạt động tương trợ tư pháp của
Viện kiểm sát trong việc giải quyết các vụ án ma tuý có yếu tố nước ngoài”, Tạp chí toà
án nhân dân, (01), tr 15 – 18.
19. Nguyễn Thị Kim Ngân – Chu Mạnh Hùng (đồng chủ biên) (2010), Giáo trình Luật
quốc tế, NXB Giáo dục, Hà Nội.
20. Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/05/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng
và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010.
21. Ngô Hữu Phước (2011), Dẫn độ và các hình thức hợp tác quốc tế khác trong đấu
tranh phòng, chống tội phạm, Tạp chí Khoa học pháp lý. Trường Đại học Luật thành
phố Hồ Chí Minh, (02), tr. 46 – 53.
22. Nguyễn Viết Sách (2006), Bàn về dẫn độ và chuyển giao người bị kết án, Tạp chí
Kiểm sát. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, (10), tr. 48 – 50.
23. Trần Văn Thắng, Lê Mai Anh (2001), Luật quốc tế, lý luận và thực tiễn, NXB Giáo
dục, Hà Nội.
24. Nguyễn Thị Thuận (chủ biên) (2007), Luật hình sự quốc tế, NXB Công an nhân dân,
Hà Nội.
25. Nguyễn Thị Thuỷ (2007), Một số vấn đề về dẫn độ tội phạm, Tạp chí kiểm sát, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao. (08), tr 29, 31, 36.
26. Tổng cục Cảnh sát, Bộ Công an (2000), Dẫn độ tội phạm và tương trợ tư pháp hình
sự trong phòng chống tội phạm ở Việt Nam – thực trạng và giải pháp, Đề tài nghiên cứu
khoa học cấp bộ.
27. Trung tâm luật biển và hàng hải quốc tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, Phái đoàn châu
Âu tại Việt Nam, Đại sứ quán Anh tại Việt Nam, Đại sứ quán Đức tại Việt Nam (2006),

Tòa án hình sự quốc tế và việc gia nhập của Việt Nam, NXB Tư pháp, Hà Nội.
28. Trường Đại học MGIMO (2000). Giáo trình Luật quốc tế. NXB Quan hệ quốc tế,
Matxcova.
29. Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Luật quốc tế, NXB CAND, Hà Nội.
30. Dương Thanh Tú (2004), Dẫn độ tội phạm theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt
Nam, Công trình nghiên cứu khoa học sinh viên lần thứ IX niên học 2003 – 2004, TP. Hồ
Chí Minh.
31. Viện Ngôn ngữ học (1994), Từ điển tiếng Việt, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
32. Lại Hợp Việt (2008), Hoàn thiện các quy định về hợp tác quốc tế trong Bộ luật tố
tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, Tạp chí kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao. (18 – 20), tr. 66 – 70.
33. Nguyễn Xuân Yêm (2000), Dẫn độ tội phạm, tương trợ pháp lý về hình sự và chuyển
giao phạm nhân quốc tế trong phòng chống tội phạm, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
34. Nguyễn Xuân Yên (2000), Dẫn độ tội phạm và tương trợ tư pháp hình sự trong đấu
tranh phòng chống tội phạm ở Việt Nam, Tập san toà án, (01), tr. 15 – 18.
35. www. antg.cand.com.vn/News/PrintView.aspx?ID=51147
36. www.baodatviet.vn/Home/phapluat/Dan-do-hai-toi-pham nguoi-Han-
Quoc/20109/113662.datviet
37. www.canhsat.vn/tabid/64/ID/651/INTERPOL-Viet-Nam Hai-muoi-nam-thanh-lap-
va-truong-thanh.aspx
38.
www.dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx?param=1EB6aWQ9ODkwMSZnc
m91cGlkPSZraW5kPSZrZXl3b3JkPXRyJWUxJWJiJWE1Yyt4dSVlMSViYSVhNXQ=
&page=1
39. www.gov.cn/misc/2006-04/29/content_269815.htm
40. www.khoahoc.baodatviet.vn/Home/phapluat/Vi-sao-toi-pham-kinh-te-thich-tron-
sang Canada/20119/167750.datviet
41. www.thanhnien.com.vn/pages/20111028/INTERPOL-viet-nam-pha-an.aspx
42. www. tintuc.vnn.vn/vdco/phap_luat/270974/dan-do-toi-pham-bi-nguyen-tong-bi-thu-
de-nghi-truy-bat.html

43. www.vietnam.vn/c1088n20120709153315937/viet-nam-va-campuchia-chia-se-co-
so-du-lieu-cua-interpol.htm
II. TIẾNG ANH
44. Bedi, S (1968), Extradition in International Law and Practice. Dennis and Company,
Inc.
45. Lori Fisler Damrosch (2001), International Law: Cases and Materials, West Group,
Minesota.
46. Louis Henkin (1980), International Law: Cases and Materials, Part 1, West
Pubishing Company, Minesota.
47. Lukashuk, I (1989), The Principle of Pacta Sunt Servanda and the Nature of
Obligation Under International Law, The American Journal of International Law, (03),
665 – 680.
48. M. Cherif Bassiouni (1974), International Etradition and World Public Order, A.W.
Sijthoff, Holland.
49. M. Cherif Bassiouni (2007), International Etradition: United States Law and
Practice, Oceana Publications, New York.
50. Mann, F.A (1973). Studies in International Law. Oxford University Press, Oxford,
UK.
51. Pyle, C (2001), Extradition Politics and Human Rights. Temple University Press.
Philadelphia, PA.
52. Robert Louis Parillo (2009), Etradition: A test of international cooperation in the
enforcement of domestic criminal law, Electronic theses, treaties and dissertations, The
Florida State University.
53. Shearer, Ivan (1971), Extradition in International Law, Oceana Publications, New
York.
54. Van Den Wyngaert (1980), C. Political Offense Exeption to Extradition: The
Delicate Problem of Balancing the Rights of the Individual and the International Public
Order, Kluwer Academic.
55. www.constructionweblinks.com/Resources/Industry_Reports__Newsletters/20100726
/usst.html.

56. www.conventions.coe.int
57. www.dictionary.cambridge.org/dictionary/british/extradite
58. www.euro.dantri.com.vn/c36/s36-180313/nga-anh-lanh-nhat-vi-vu-dau-doc-cuu-
diep-vien-kgb.htm
59. www.europa.eu/legislation_summaries/other/l33131_en.htm
60. www.nclp.org.vn/kinh_nghiem_quoc_te/vai-tro-chuc-nang-cua-bo-tu-phap-lien-
bang-thuy-sy-trong-viec-tham-gia-ky-ket-gia-nhap-va-thuc-hien-cac-111ieu-uoc-quoc-te-
ve-hop-tac-phap-luat-va-tu-phap
61. www.oll.libertyfund.org/index.php?Itemid=264&id=862&option=com_content&task
=view.
62. www.oxforddictionaries.com/definition/extradition
63. www.touregypt.net/featurestories/treaty.htm
64. www.unhcr.org/refworld/type,LEGISLATION,,MDA,3ae6b516c,0.html
65. www.unodc.org/pdf/model_law_extradition.pdf.











×