Tải bản đầy đủ (.pdf) (95 trang)

tư tưởng hồ chí minh về dân vận và sự vận dụng vào công tác vận động nông dân ở tỉnh quảng bình trong những năm đầu thế kỷ xxi

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (774.32 KB, 95 trang )






LUẬN VĂN:

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận và
sự vận dụng vào công tác vận động nông
dân ở tỉnh Quảng Bình trong những
năm đầu thế kỷ XXI







Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những
vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, trong đó có tư tưởng về dân vận - một bộ phận
hết sức quan trọng trong toàn bộ di sản vô giá mà Người để lại cho Đảng và nhân dân các
dân tộc ở nước ta.
Có thể nói, tư tưởng dân vận của Hồ Chí Minh không những chứa đựng tinh thần
trọng dân, thương dân, hết lòng chăm lo lợi ích của nhân dân, nhận rõ sức mạnh của nhân
dân, mà còn chỉ ra nội dung và phương thức vận động, tập hợp nhân dân.
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn luôn xác định rõ vai trò, vị trí
quan trọng của công tác dân vận đối với sự nghiệp cách mạng. Bước vào thế kỷ XXI, đất
nước đứng trước nhiều thời cơ và thách thức lớn; trong đó thách thức nổi bật là âm mưu


của các thế lực thù địch hòng chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam.
Do đó, công tác dân vận lúc này cần phải được đẩy mạnh và tăng cường hơn nữa với
những nội dung phù hợp với tình hình mới của đất nước và thế giới nhằm phát huy cao
độ sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi mục tiêu của sự nghiệp đổi mới
đất nước.
Trong 20 năm đổi mới vừa qua (1986-2006), công tác dân vận do Đảng tổ chức,
lãnh đạo đã tạo ra động lực lớn cho các phong trào thi đua yêu nước, góp phần không nhỏ
làm chuyển biến tình hình kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, chống lại có hiệu
quả âm mưu "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch, tạo thế và lực cho đất nước;
đồng thời góp phần mở rộng quyền dân chủ, cải thiện đời sống nhân dân, củng cố niềm
tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công tác dân vận vẫn còn một số yếu
kém cần được khắc phục. Việc triển khai thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước còn thiếu đồng bộ, nhiều nơi còn làm hình thức, chiếu lệ. Đáng tiếc
các cấp uỷ đảng, cấp chính quyền, cán bộ, đảng viên ở một số nơi vẫn chưa nhận thức
đúng vị trí và tầm quan trọng của công tác dân vận, thậm chí còn xem nhẹ công tác này,
không coi đó là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị. Tình trạng một số cán bộ,
đảng viên quan liêu, ngại đi cơ sở nắm bắt nguyện vọng của nhân dân, thậm chí lợi dụng


chức quyền, làm trái đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước để tham nhũng, trục
lợi, vi phạm quyền dân chủ của nhân dân còn khá phổ biến. Tình trạng này là nguyên
nhân chính gây ra các vụ khiếu kiện, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng và
Nhà nước.
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) đất nước, yêu cầu
tập hợp, đoàn kết, vận động nhân dân tiếp tục được đặt ra một cách bức thiết. Do vậy,
công tác dân vận đã được đề cập trong nhiều nghị quyết của Đảng, đặc biệt Hội nghị Ban
Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 khoá IX, có ba nghị quyết về công tác dân vận
nhằm đáp ứng những yêu cầu bức thiết của nhân dân và huy động tối đa nội lực, đẩy
mạnh CNH, HĐH đất nước. Vì vậy, nghiên cứu, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về

công tác dân vận và tích cực đưa đường lối, chủ trương của Đảng vào cuộc sống, tạo ra
sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong công tác vận động nhân dân là một đòi hỏi bức
thiết hiện nay.
Với những lý do đó, tôi chọn đề tài "Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận và sự
vận dụng vào công tác vận động nông dân ở tỉnh Quảng Bình trong những năm đầu
thế kỷ XXI" làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Hồ Chí
Minh học.
2. Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận là một công việc cấp thiết
trong giai đoạn hiện nay. Do vậy, việc nghiên cứu này được nhiều cơ quan, tổ chức và
nhiều nhà khoa học quan tâm thực hiện và đã có nhiều công trình nghiên cứu được công
bố. Sau đây là một số công trình tiêu biểu mà tôi đã tham khảo:
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận của TS. Đỗ Quang Tuấn, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2005; Khái niệm, nguồn gốc và quá trình hình thành tư tưởng của Hồ
Chí Minh về dân vận của PGS.TS Nguyễn Bá Linh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2005; Phong cách dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh của TS. Thanh Tuyền, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Cán bộ dân vận thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ, của TS.
Trịnh Xuân Giới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Tác phẩm dân vận của Chủ tịch
Hồ Chí Minh mãi mãi toả sáng, soi đường cho công tác dân vận của Đảng trong thời kỳ
mới của TS. Nguyễn Văn Hùng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Tư tưởng dân
vận của Hồ Chí Minh với việc xây dựng kỹ năng, nghiệp vụ công tác dân vận của Lương


Ngọc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác dân vận
của hệ thống chính trị của Đinh Hồng Vân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Quyền
hạn và lợi ích của dân trong bài báo dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh của Nguyễn Thị
Cận, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Quan hệ giữa chính quyền nhà nước và nhân
dân trong sự nghiệp cách mạng của PGS.TS Trần Quang Nhiếp, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2005; Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động nông dân của Lê Hoàng
Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; GS. Văn Tạo: Học tập tư tưởng dân vận Hồ

Chí Minh, Tạp chí Dân vận, số 5-2000; PGS.TS Nguyễn Tri Thư: Tư tưởng Hồ Chí Minh
về một số vấn đề trong công tác vận động quần chúng, Tạp chí Dân vận, số 1+2, 2000;
PGS.TS Hoàng Chí Bảo: Hồ Chí Minh với quan điểm thực tiễn và phương pháp khoa học
về dân vận, Tạp chí Dân vận, số 10-2000; TS. Phạm Văn Khánh: Tư tưởng Hồ Chí Minh
về sức mạnh nhân dân và công tác dân vận, Tạp chí Dân vận, số 10-2003; PGS.PTS Đức
Vượng: Đầu xuân suy ngẫm về dân vận trong sự nghiệp đổi mới theo tư tưởng Hồ Chí
Minh, Tạp chí Dân vận, số 1+2, 1999; PGS.TS Bùi Đình Phong: Vận dụng tư tưởng Hồ
Chí Minh về dân vận vào việc thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, Tạp chí Cộng sản, số
9-2003; GS.TS Mạch Quang Thắng: Dân vận - vấn đề luôn luôn mới (qua nghiên cứu tác
phẩm "Dân vận" của Hồ Chí Minh), Tạp chí Lý luận chính trị, 8-2006.
Ngoài ra, rất nhiều bài viết, luận văn, cuốn sách mà nội dung đề cập đến công tác
dân vận cũng đã được công bố, như: Chính quyền và nhiệm vụ dân vận của Nguyễn
Khánh, Tạp chí Cộng sản, số 1-1995; Lại bàn về dân vận của GS. Đặng Nguyên Anh,
Tạp chí Dân vận, số 1-2003; "Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công" của Phạm Thế
Duyệt, Tạp chí Dân vận, số 10-2002; Công tác dân vận là một bộ phận quan trọng của
công tác cách mạng của Phan Diễn, Tạp chí Dân vận, số 11-2000; Cơ quan nhà nước làm
công tác dân vận như thế nào của Nguyễn Khánh, Tạp chí Dân vận, số 8-2000; Dân vận -
một nhiệm vụ quan trọng của chính quyền của Nguyễn Khánh, Tạp chí Cộng sản, số 8-
1996; Công tác dân vận của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình thực hiện đường
lối đổi mới (1986 - 1996), Luận văn thạc sĩ Lịch sử của Nguyễn Thị Ngọc Mai, 2002.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu của tập thể và cá nhân nêu trên đã làm
sáng tỏ lý luận và một số nội dung cụ thể của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận. Song
chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận.
Tuy nhiên, những công trình này là những tài liệu quý báu để tôi tham khảo, kế thừa nhằm


nghiên cứu, trình bày một cách tương đối hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận và
vận dụng tư tưởng đó vào việc đánh giá thực trạng công tác dân vận trong những năm đầu
thế kỷ XXI của tỉnh Quảng Bình; trên cơ sở đó xác định phương hướng và giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng công tác nông vận của tỉnh này trong thời gian tới.

3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Làm rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận, trên cơ sở đó đánh giá thực trạng,
nêu ra phương hướng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác nông vận
hiện nay ở tỉnh Quảng Bình.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhằm đạt được mục đích nêu trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu
sau đây:
- Phân tích cơ sở hình thành và nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về dân
vận.
- Phân tích thực trạng công tác nông vận trong những năm đầu thế kỷ XXI của
tỉnh Quảng Bình, từ đó rút ra nguyên nhân, bài học kinh nghiệm của thực trạng trên.
- Trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận và đánh giá thực trạng công tác
nông vận, đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác nông vận
trong những năm đầu thế kỷ XXI ở tỉnh Quảng Bình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận và việc quán triệt, vận dụng tư
tưởng đó trong vận động nông dân ở tỉnh Quảng Bình.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ nghiên cứu quá trình hình thành và nội dung cơ bản tư tưởng Hồ
Chí Minh về dân vận; nghiên cứu việc vận dụng tư tưởng đó trong công tác nông vận
những năm đầu thế kỷ XXI ở tỉnh Quảng Bình.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận của luận văn là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
quan điểm của Đảng ta về công tác dân vận.


- Phương pháp luận của luận văn là phương pháp duy vật biện chứng của triết
học Mác - Lênin.

- Về phương pháp cụ thể, luận văn sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với
phương pháp lôgíc là chủ yếu, ngoài ra còn sử dụng nhiều phương pháp khác như thống
kê, so sánh
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Luận văn nghiên cứu một cách tương đối toàn diện, hệ thống tư tưởng Hồ Chí
Minh về dân vận.
- Trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận, luận văn làm rõ thực
trạng công tác vận động nông dân hiện nay ở tỉnh Quảng Bình, từ đó rút ra bài học kinh
nghiệm về công tác này.
- Luận văn mạnh dạn nêu ra một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng
công tác nông vận trong giai đoạn hiện nay ở tỉnh Quảng Bình.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ tính cách mạng và khoa học của tư tưởng Hồ Chí
Minh về công tác dân vận. Tính cách mạng và tính khoa học của tư tưởng này không chỉ
có ý nghĩa và giá trị to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giành lại và bảo vệ độc lập dân tộc, mà
cả trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy công
tác dân vận và làm công tác dân vận, nhất là làm công tác dân vận đối với nông dân.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo, luận văn có 2 chương, 6
tiết.



Chương 1
tư tưởng hồ chí minh về dân vận

1.1. quan niệm về dân, dân chủ, dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh
1.1.1. Quan niệm về dân

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người suốt đời đấu tranh đưa dân tộc Việt Nam từ dân tộc
nô lệ thành dân tộc tự do, đưa người dân Việt Nam từ thân phận người dân thuộc địa lên
địa vị người làm chủ đất nước; đồng thời Người cũng suốt đời phấn đấu xây dựng một
nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
Khái niệm "dân" trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sự tiếp thu và phát triển những quan
điểm tiến bộ về dân trong lịch sử tư tưởng dân tộc Việt Nam, lịch sử tư tưởng phương
Đông, phương Tây và khái niệm quần chúng của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Hồ Chí Minh đã rút ra một hệ thống các quan niệm về dân. Cho dù xét theo cách
tiếp cận nào thì quan niệm của Hồ Chí Minh về dân Việt Nam có thể khái quát trên các
nội dung sau:
Dân là những người chung một nước, chung một cộng đồng, chung một lãnh thổ
thống nhất, là đồng bào, là "con Rồng cháu Tiên", là "con Hồng cháu Lạc", là anh em
ruột thịt, là các tầng lớp, các đoàn thể, là những người cùng giai cấp, là những người yêu
nước, là lực lượng cách mạng…
Hồ Chí Minh mở rộng nội hàm khái niệm “dân” đến tất cả những ai thừa nhận mình
là “Con dân đất Việt”. Người thường nói đến “Con Rồng cháu Tiên”, “đồng bào”, gốc
tích Việt Nam, “Hồng Bàng là tổ tiên ta”, “người chung một nước”, không phân biệt dân
tộc thiểu số với dân tộc đa số, người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng,
không phân biệt “già, trẻ, trai, gái, giàu, nghèo, quý, tiện”. Dân là toàn bộ đồng bào trong
đại gia đình các dân tộc Việt Nam, kể cả người Việt Nam ở nước ngoài.
Dân là “toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu,
nghèo, giai cấp, tôn giáo” [26, tr.8].

Dân ở đây trừ bọn phản bội, làm tay sai cho đế quốc thực dân đi ngược lại quyền
lợi, nguyện vọng của toàn dân, dân tộc. Nói đến dân cũng là nói đến tuyệt đại đa số nhân
dân là công nhân, nông dân, trí thức và những người lao động khác. Với quan niệm đó,
Người cho rằng giai cấp tư sản dân tộc - những người có lòng yêu nước, cũng là dân; họ


cũng có đóng góp nhất định trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc. Hồ Chí Minh

phân tích một cách sâu sắc và khoa học lực lượng quần chúng ở nước ta và chỉ rõ: “Nhân
dân là: bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản, và tư sản dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của giai cấp
công nhân và của Đảng, các giai cấp ấy đoàn kết lại, bầu ra chính phủ của mình” [49, tr.214].
Quan niệm về dân như vậy đã tạo ra một sự thuyết phục mạnh mẽ để tập hợp các lực lượng
tiến bộ xã hội thành một mặt trận rộng rãi, làm nên thắng lợi của cách mạng.
1.1.2. Quan niệm về dân chủ
Từ quan niệm về dân, Hồ Chí Minh đi đến quan niệm mới về dân chủ. Bằng
những mệnh đề giản dị, hàm súc, ngắn gọn mà đầy đủ ý nghĩa, Hồ Chí Minh khái quát
bằng cách riêng của mình những giá trị văn hoá dân chủ nhân loại từ cổ đại đến hiện đại
mà lại rất Việt Nam - cụ thể và thiết thực nên ai đọc cũng nhận thức được ngay. Người
viết: “Chế độ của ta là chế độ dân chủ. Nhân dân là chủ” [49, tr.368]; “Nước ta là nước
dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ” [48, tr.515]; “Bây giờ chúng ta là dân chủ.
Dân chủ là thế nào? Là dân làm chủ” [50, tr.375]; “ Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là
nước nhà do nhân dân làm chủ ” [49, tr.452]; “Chế độ ta là chế độ dân chủ. Tức là nhân
dân làm chủ” [52, tr.251]. “Nhân dân là người chủ nắm chính quyền, nhân dân bầu ra đại
biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy thế là dân chủ” [49, tr.218-219].
Có thể coi quan niệm trên đây là quan niệm chính thức của Hồ Chí Minh về dân chủ
và đó là quan niệm ngắn gọn nhất, phản ánh đúng thực chất và nội dung quan niệm của
Người về dân chủ.
Cũng có thể thấy quan niệm của Hồ Chí Minh về dân chủ còn thể hiện nội dung căn
bản nhất của loài người về khái niệm dân chủ. Người viết:
Nước ta là nước dân chủ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.
Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.
Chính quyền xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra.
Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân [47, tr.698].



Như vậy, trong quan niệm của Hồ Chí Minh về dân chủ, vấn đề nhất quán và sáng
tỏ nhất là sự khẳng định ngay chế độ dân chủ của nước ta phải thể hiện “bao nhiêu lợi ích
đều vì dân”, “quyền hành”, “trách nhiệm, lực lượng” là “của dân”, “đều ở nơi dân”. Quan
niệm đó cũng chỉ ra phương thức tổ chức, vận hành của xã hội dân chủ là chế độ đại diện,
uỷ quyền, trong đó chính quyền và đoàn thể “do dân cử ra và do dân tổ chức nên”.
Tóm lại, quan niệm dân chủ ở nước ta được Hồ Chí Minh chỉ ra là: dân là chủ và
dân làm chủ; bản chất của vấn đề dân chủ là quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân, địa
vị của dân là cao nhất, dân là chủ thể của mọi quyền lực. Có thể nói toàn bộ tư tưởng chủ
đạo về dân chủ của Hồ Chí Minh nằm trong chữ "Dân".
1.1.3. Quan niệm về dân vận
Dân vận là một hoạt động vận động, giác ngộ quần chúng nhân dân làm cho dân
hiểu, dân biết, dân bàn, dân kiểm tra, dân quyết định trong quá trình thực hiện các nhiệm
vụ cách mạng do Đảng ta lãnh đạo.
Hồ Chí Minh thường dùng thuật ngữ “Công tác quần chúng” và “dân vận” để chỉ
một lĩnh vực công tác của Đảng. Vấn đề dân vận có nhiều khái niệm khác nhau và cho đến
nay vẫn chưa có khái niệm nào xúc tích, dễ hiểu, lại độc đáo như khái niệm mà Chủ tịch Hồ
Chí Minh viết trong bài “Dân vận”.
Người viết:
Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót
một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công
việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể giao cho.
Dân vận không thể chỉ dùng báo chương, sách vở, mít tinh, khẩu hiệu,
truyền đơn, chỉ thị mà đủ.
Trước nhất là phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ
ràng: Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho
kỳ được.
Điểm thứ hai là bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và
kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh
địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành.

Trong lúc thi hành phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân.


Khi thi hành xong phải cùng với dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh
nghiệm, phê bình, khen thưởng [47, tr.698-699].
Như vậy, công tác dân vận theo tư tưởng Hồ Chí Minh là phải có đường lối, chủ
trương, chính sách đúng đắn, kịp thời; phải làm cho người dân hiểu rõ chủ trương, chính
sách và việc thực hiện chủ trương, chính sách sẽ đưa lại lợi ích cho nhân dân và do nhân
dân thực hiện, không ai làm thay dân được; phải sâu sát nhân dân, sâu sát cơ sở, bàn bạc
với dân, với cơ sở về kế hoạch thực hiện chủ trương, chính sách cho phù hợp với hoàn
cảnh của từng địa phương, từng cơ sở, phù hợp với khả năng của nhân dân và phải hướng
dẫn nhân dân thực hiện chủ trương, chính sách; trong và sau khi thực hiện cần phải theo
dõi, đôn đốc kiểm tra, rút kinh nghiệm để kịp thời bổ sung, uốn nắn những thiếu sót, lệch
lạc, sai lầm trong chủ trương, chính sách, trong tổ chức thực hiện, đồng thời để khen
thưởng và phê bình.
1.2. Cơ sở và quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận
1.2.1. Cơ sở hình thành
Cơ sở lí luận:
Tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng dân vận, hình thành và phát triển có
nguồn gốc từ nhiều yếu tố, trên cơ sở kế thừa và phát triển biện chứng chủ nghĩa yêu
nước và truyền thống đoàn kết của dân tộc, tinh hoa văn hoá nhân loại, đặc biệt là chủ
nghĩa Mác - Lênin.
1.2.1.1. Tư tưởng và văn hoá truyền thông Việt Nam trong đó chủ nghĩa yêu nước
giữ vị trí hàng đầu
Tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa và phát huy tinh thần “trọng
dân”, “yêu dân”, “dựa vào dân” của ông cha ta trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ
nước.
Bản “Tuyên ngôn Độc lập” của Lý Thường Kiệt có tác dụng “Dân vận” to lớn trong
đấu tranh giữ nước và dựng nước. Bản Tuyên ngôn đã động viên toàn dân chống quân
Tống xâm lược. Từ phòng tuyến Như Nguyệt đã vọng lên lời thơ “Thần diệu” thôi thúc

lòng người đứng lên giữ nước:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.


Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư" [3, tr.65].
Tổng kết các bài học lớn của cuộc kháng chiến chống quân Nguyên- Mông, Trần
Quốc Tuấn nhận thấy rằng nguyên nhân lớn nhất của chiến thắng là “Vua tôi đồng tâm,
anh em hoà thuận, cả nước góp sức”, và ông căn dặn: "Phải khoan thử sức dân để làm kế
bền gốc sâu rễ, đó là thượng sách giữ nước”. Những lời tâm huyết đó đã thúc giục lòng
người đứng lên giết giặc lập công.
Lê Lợi, Nguyễn Trãi bằng chiến lược đánh vào lòng người đã động viên toàn quân,
toàn dân trên tư tưởng "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân", "chở thuyền cũng là dân, lật
thuyền cũng là dân".
Tổng kết chiến thắng quân Minh, Nguyễn Trãi nhấn mạnh nguyên nhân thắng lợi là
gắn bó với nhân dân, và vận động, giáo dục, phát huy sức mạnh của nhân dân:
"Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phất phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào" [3, tr.78].
Như vậy, để tập hợp lực lượng, các chính quyền phong kiến đã biết phát huy tinh
thần yêu nước của các tầng lớp nhân dân, đứng dưới ngọn cờ cứu nước. Trước hoạ ngoại
xâm, cứu nước là để cứu dân. Kẻ ngoại xâm “nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi
con đỏ xuống dưới hầm tai vạ” [3, tr.76], nên cứu nước và giành lại nền độc lập cho đất
nước là để cứu dân. Sau khi thắng lợi, các triều đại phong kiến Việt Nam đều có ý định
thực hiện "kế sâu rễ, bền gốc là khoan thử sức dân".
Đến đầu thế kỷ XX, các nhà yêu nước tiêu biểu như Phan Bội Châu, Phan Chu
Trinh vượt qua hệ tư tưởng phong kiến, tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản, thực hiện
một bước tiến về chất trong lịch sử tư tưởng dân tộc nói chung và trong vấn đề vận
động quần chúng nói riêng. Tuy nhiên, các nhà yêu nước nổi tiếng này chưa có
phương pháp đánh giá và công tác vận động nhân dân một cách khoa học, nên phải

chịu “trăm thất bại” mà không một thành công.
Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa truyền thống “yêu nước, trọng dân” của ông cha trên
cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, do đó đã đưa công tác dân vận lên thành một khoa học.
1.2.1.2. Chủ nghĩa Mác - Lênin là nguồn gốc lý luận tư tưởng chủ yếu của sự
hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, trong đó có tư tưởng dân vận


Hồ Chí Minh là nhà yêu nước Việt Nam đầu tiên đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và
cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Người coi chủ nghĩa Mác - Lênin không
những là cái “cẩm nang thần kỳ", mà còn là "kim chỉ nam" và "là mặt trời soi sáng con
đường chúng ta đi tới mục đích cuối cùng", đó là chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin là đến với tri thức tiên tiến của thời đại, là
tiếp thu sức mạnh và giá trị tinh thần của nhân loại.
Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ các đảng cộng sản đều phải làm công tác vận động
nhân dân. Đó là một công tác lâu dài và phải kiên trì thực hiện.
Giai cấp công nhân phải làm công tác dân vận để giành lấy sự đồng tình, sự ủng hộ
của đa số nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh cách mạng của mình; và phải nhận thức
rằng, mỗi thời kỳ cách mạng khác nhau phải có những hình thức, nội dung công tác dân
vận khác nhau.
Nghiên cứu lịch sử đấu tranh giai cấp ở Pháp năm 1848, C. Mác và Ph. Ăngghen
viết trong lời nói đầu tác phẩm “Đấu tranh giai cấp ở Pháp từ 1848 đến 1850” rằng:
Đã qua rồi, thời kỳ những cuộc đột kích, thời kỳ những cuộc cách mạng
do những nhóm thiểu số tự giác cầm đầu những quần chúng không tự giác tiến
hành. ở nơi nào mà vấn đề đặt ra là phải cải tạo hoàn toàn chế dộ xã hội, thì
bản thân quần chúng phải tự mình tham gia vào công cuộc cải tạo ấy, phải tự
mình hiểu rõ vì sao phải tiến hành đấu tranh, vì sao mình phải đổ máu và hy
sinh tính mạng [42, tr.775].
Như vậy, theo C.Mác và Ph. Ăngghen, muốn thắng lợi, các cuộc cách mạng xã hội
không phải do những cá nhân, những nhóm người nhỏ bé cầm đầu, những quần chúng
không tự giác tiến hành, mà phải do các chính đảng có lý luận tiên phong của các giai cấp

lãnh đạo; các đảng đó phải biết thuyết phục, giác ngộ và tập hợp đông đảo quần chúng,
huấn luyện quần chúng dám xả thân đấu tranh.
Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ rằng sức mạnh của quần chúng nhân dân là vô địch;
cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Tuy nhiên, quần chúng nhân dân chỉ có thể phát
huy được sức mạnh của mình khi họ được tổ chức lại:
Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Mục đích trước
mắt của những người cộng sản cũng là mục đích trước mắt của tất cả các đảng vô sản khác:


tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô
sản giành lấy chính quyền” [41, tr.615].
Phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin khẳng định rằng:
1) Không một phong trào cách mạng nào mà lại vững chắc được nếu
không có một tổ chức ổn định và duy trì được tính liên tục gồm những người
lãnh đạo; 2) Càng có đông đảo quần chúng được thu hút tự phát vào cuộc đấu
tranh, tạo thành cơ sở cho phong trào và tham gia phong trào, thì càng cấp thiết
phải có một tổ chức như thế và tổ chức ấy lại càng phải vững chắc (nếu không
thì bọn mị dân sẽ dễ lôi cuốn được những tầng lớp lạc hậu trong quần chúng);
một tổ chức như thế thì chủ yếu phải gồm những người lấy hoạt động cách
mạng làm nghề nghiệp của mình [35, tr.158-159].
Vì vậy, V.I.Lênin nhấn mạnh "hãy cho chúng tôi một tổ chức những người cách
mạng, và chúng tôi sẽ đảo ngược nước Nga lên!" [35, tr.162].
Muốn có sức mạnh phải thống nhất ý chí, phải đoàn kết, phải có tổ chức. Vì thế
trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C. Mác và Ph. Ăngghen viết: “Vô sản tất cả các
nước, đoàn kết lại!” [41, tr.646]. Vận dụng tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăngghen vào thời
đại của mình - thời đại đế quốc chủ nghĩa và cách mạng vô sản, Lênin kêu gọi mở rộng
khối đại đoàn kết của giai cấp công nhân với các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.
Về phương hướng công tác dân vận, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ cần phải dùng
phương pháp nêu gương và giúp đỡ; trong công tác dân vận thì những tấm gương, những
mô hình thực tiễn cụ thể có tác dụng cổ vũ, động viên, hướng dẫn quần chúng nhân dân

rất to lớn; đối với quần chúng nhân dân không được dùng mệnh lệnh áp đặt ý chí chủ
quan của cá nhân lãnh đạo đối với họ.
V. I. Lênin rất coi trọng công tác thuyết phục, giáo dục và nêu gương đối với quần
chúng nhân dân. Người đề ra nhiệm vụ hàng đầu cho các đảng cộng sản là phải “thuyết
phục cho đa số nhân dân thấy được sự đúng đắn của cương lĩnh và sách lược của mình”
[37, tr.208]. Nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong thời kỳ giành được chính quyền, xây
dựng chủ nghĩa xã hội là quản lý, nhưng “Chúng ta phải suy nghĩ kỹ rằng muốn quản lý
được tốt, thì ngoài cái tài biết thuyết phục, biết chiến thắng trong cuộc nội chiến, còn cần
phải biết tổ chức trong lĩnh vực thực tiễn” [37, tr.210]. Đồng thời, V. I. Lênin phê phán
những đảng viên, cán bộ, những tổ chức đảng không gương mẫu, không dũng cảm hoặc


“rất ít dùng những điển hình, những tấm gương cụ thể, sinh động, lấy trong mọi lĩnh vực
của đời sống, để giáo dục quần chúng” [38, tr.109]; Người yêu cầu lấy kinh nghiệm, lấy
ví dụ thực tế để chứng minh cho quần chúng thấy rõ sự cần thiết của công việc đang làm
và coi đó là một biện pháp có hiệu quả.
Để vận động quần chúng, V. I. Lênin khuyến khích mở rộng dân chủ, công khai làm
cho mỗi người dân biết công việc của Đảng, của Nhà nước. Đây là phương pháp vận
động quần chúng có tác dụng nâng cao tính chủ động, tính tích cực sáng tạo, cách mạng
của quần chúng. V. I. Lênin viết: “Một nước mạnh là nhờ ở sự giác ngộ của quần chúng.
Nước mạnh là khi nào quần chúng biết rõ tất cả mọi cái quần chúng có thể phán đoán
được về mọi cái, và đi vào hành động một cách có ý thức” [36, tr.23].
V. I. Lênin rất trân trọng ý kiến của quần chúng; xem tâm tư, nguyện vọng của quần
chúng nhân dân là những nguồn thông tin cực kỳ quý báu để hình thành chính sách. Vì
vậy, Người đề nghị tìm mọi cách để duy trì, phát triển và mở rộng hội nghị công nhân,
nông dân ngoài Đảng, vì thông qua những hội nghị như thế, Đảng có thể “nhận xét tâm
trạng của quần chúng, gần gũi họ, giải quyết những nhu cầu của họ, giao cho những phần
tử tốt nhất, trong số họ đảm nhiệm những chức vụ trong bộ máy nhà nước ” [39, tr.39].
Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin là thế giới quan khoa học, là cơ sở phương pháp
luận giúp Hồ Chí Minh tổng kết, tiếp thu có chọn lọc các học thuyết tư tưởng của nhân

loại, đường lối của cách mạng thế giới. Với ý nghĩa đó, chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở,
là nguồn gốc lý luận chủ yếu nhất để Người nâng cao truyền thống yêu nước của dân tộc
theo phương hướng “Giải phóng dân tộc bằng con đường cách mạng vô sản”, hình thành
và hoàn chỉnh tư tưởng về con đường cách mạng Việt Nam nói chung, về tư tưởng dân
vận nói riêng để vận động, giáo dục, tổ chức nhân dân hành động dưới ngọn cờ của đảng
nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
* Cơ sở thực tiễn:
Điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử của nước ta đã tạo nên mối quan hệ đoàn
kết, gắn bó chặt chẽ với nhau trong chống chọi với thiên nhiên cũng như trong chống giặc
ngoại xâm của cộng đồng người Việt. Lịch sử đã chứng minh truyền thống đoàn kết, ý
chí độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của dân tộc ta đã được hun đúc qua hàng nghìn năm
dựng nước và giữ nước. Hồ Chí Minh là người am hiểu sâu sắc lịch sử đấu tranh dựng
nước và giữ nước của dân tộc; đã nhận thức được lịch sử Việt Nam thời phong kiến, tuy


chỉ là những việc đấu tranh thay đổi triều đại nhưng đã ghi lại những tấm gương tâm
huyết dựng nước và giữ nước của cha ông ta. Khi đất nước bị giặc xâm lăng, “Vua tôi
đồng lòng, anh em hoà thuận, cả nước góp sức” và “Khoan thử sức dân để làm kế sâu rễ,
bền gốc là thượng sách giữ nước”. Hội nghị Diên Hồng đời Nhà Trần là một điển hình
của truyền thống đoàn kết toàn dân tộc nhằm tập hợp mọi lực lượng, thu phục tướng sĩ,
nhân tài, phát huy sức mạnh của cả dân tộc để đánh đuổi kẻ thù. Truyền thống này được
Hồ Chí Minh kế thừa và phát huy lên một tầm cao mới, trong thời đại mới.
Năm 1858, thực dân Pháp tấn công bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), mở đầu cuộc vũ
trang xâm lược và áp bức của chúng đối với dân tộc ta. Chúng đã thi hành nhiều chính
sách nguy hiểm và bằng mọi thủ đoạn độc ác, đê hèn để bóc lột nhân dân ta, đặc biệt là
chính sách “chia để trị”. Với chính sách đó kẻ thù hòng phân biệt, tách rời giữa đồng bào
miền xuôi với đồng bào miền ngược, giữa đồng bào không theo đạo với đồng bào theo
đạo… Nguy hiểm hơn, chúng đã chia đất nước ta thành ba miền: Bắc - Trung - Nam; mỗi
miền có một chế độ cai trị khác nhau nhằm tập trung phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc,
một truyền thống có từ lâu đời của chúng ta. Thực tế đó đặt ra cho cách mạng nước ta

phải thực hiện chiến lược đoàn kết để tập hợp mọi lực lượng yêu nước có thể đoàn kết
được, không phân biệt đảng phái, giai cấp, giàu nghèo thành một mặt trận thống nhất, tạo
thành sức mạnh của toàn dân tộc. Có vậy, mới giành được thắng lợi, đưa cách mạng tiến
lên.
Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, phong trào yêu nước Việt Nam đã diễn ra
rất mạnh mẽ. Từ phong trào Cần Vương, Yên Thế cuối thế kỷ XIX, đến các phong trào
Đông Du, Duy Tân đầu thế kỷ XX, các thế hệ người Việt Nam yêu nước nối tiếp nhau đứng
dậy chống ngoại xâm, nhưng đều thất bại. Hồ Chí Minh nhận thấy được những hạn chế của
các nhà yêu nước trong chủ trương tập hợp lực lượng và trong việc nắm bắt những đòi hỏi
khách quan của lịch sử dân tộc trong giai đoạn này. Đây cũng chính là lý do, là điểm xuất
phát để Hồ Chí Minh quyết tâm ra nước ngoài tìm chân lý cách mạng, rồi trở về nước cùng
với nhân dân cứu nước.
* Thực tiễn thế giới:
Trong hành trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh khảo sát nhiều nước tư bản chủ
nghĩa và nhiều nước thuộc địa, phụ thuộc ở hầu khắp các châu lục. Cuộc khảo nghiệm đó
đã giúp Người nhận ra một sự thật là: Giới cần lao ở các dân tộc thuộc địa tiềm ẩn một


sức mạnh vĩ đại; song cuộc đấu tranh của họ chưa đi đến thắng lợi, bởi vì các dân tộc bị
áp bức chưa biết tập hợp lại, chưa biết đoàn kết chặt chẽ với giai cấp công nhân và nhân
dân lao động ở “chính quốc”, chưa có tổ chức và chưa biết tổ chức. Hồ Chí Minh nghiên
cứu một cách thấu đáo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và những bài
học kinh nghiệm quý báu mà cuộc cách mạng này đem lại cho phong trào cách mạng thế
giới; đặc biệt là bài học về huy động, tập hợp lực lượng quần chúng công nông đông đảo
để giành chính quyền cách mạng.
Đối với phong trào cách mạng của các nước thuộc địa và phụ thuộc, Hồ Chí Minh
đặc biệt chú ý đến phong trào cách mạng ở Trung Quốc và ấn Độ là hai nước có thể đem
lại cho Việt Nam nhiều bài học rất bổ ích về tập hợp các lực lượng yêu nước, tiến bộ để
tiến hành cách mạng, như kinh nghiệm tập hợp lực lượng của Tôn Dật Tiên trong Cách
mạng Tân Hợi (1911) ở Trung Quốc và của lãnh tụ đấu tranh đòi độc lập Mahatma Ganđi

ở ấn Độ.
1.2.2. Quá trình hình thành phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã dành không ít
tâm sức của mình vào công việc to tát, vĩ đại và hệ trọng bậc nhất là vận động, tổ chức và
lãnh đạo quần chúng làm cách mạng. Lý luận Dân vận của Hồ Chí Minh hoà làm một với
thực hành công tác dân vận, một cuộc thực hành bền bỉ kéo dài trong suốt cuộc đời của
Người. Tư tưởng dân vận của Người được hình thành, phát triển và hoàn thiện gắn liền
với quá trình hoạt động cách mạng của Người; gắn liền với quá trình phát triển, thắng lợi
của cách mạng Việt Nam.
1.2.2.1 Thời kỳ thơ ấu đến năm 1920: tham gia hoạt động yêu nước và hình
thành tư tưởng yêu nước, tư tưởng dân vận
Trong thời kỳ này, Hồ Chí Minh tiếp thu truyền thống yêu nước và lòng nhân ái từ
gia đình và quê hương. Tại quê hương, Hồ Chí Minh được khai tâm bằng chữ Hán, hấp
thụ tinh thần yêu nước bất khuất của phong trào chống Pháp, cách đối nhân xử thế, nhân
nghĩa thuỷ chung, khí khái của các nhà nho yêu nước. Tại Huế (1895 - 1901 và 1906 -
1909), Hồ Chí Minh học được kiến thức về tự nhiên, xã hội, bước đầu tiếp xúc với văn
minh phương Tây.


Thời kỳ này, Hồ Chí Minh cũng đã chứng kiến cảnh đàn áp dã man của thực dân
Pháp đối với những người yêu nước Việt Nam; cảnh sống cơ cực, đói rách của nhân dân
lao động; cuộc sống xa hoa của bọn thực dân Pháp và quan lại tay sai. Hồ Chí Minh tham
gia phong trào biểu tình chống thuế của nhân dân Trung Kỳ, thấy được thất bại của phong
trào Đông Du (1906 - 1908) do Phan Bội Châu tổ chức, lãnh đạo và phong trào “Đông kinh
Nghĩa thục”(1907).
Tìm hiểu nguyên nhân thất bại của các phong trào yêu nước lúc bấy giờ, Hồ chí
Minh nhận xét như sau: chủ trương dựa vào Nhật để đánh Pháp của Phan Bội Châu,
“Điều đó rất nguy hiểm, chẳng khác gì đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau” [69, tr.13];
chủ trương của Phan Chu Trinh dựa vào Pháp để “Duy Tân” đất nước “chẳng khác gì đến
xin giặc rủ lòng thương” [69, tr.12]; còn cuộc khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa Thám

“Còn nặng cốt cách phong kiến” [69, tr.13].
Khi bị đuổi học khỏi trường Quốc học Huế, Nguyễn Tất Thành vào dạy học ở trường
Dục Thanh (Phan Thiết) (9/1910 - 2/1911). Trong thời gian này anh đã phổ biến cho học
sinh những thơ ca yêu nước, như bài “Ca hớt tóc”:
Phen này cắt tóc đi tu,
Tụng kinh độc lập ở chùa Duy Tân,
Đêm ngày khấn vái chuyên cần,
Cầu cho ích nước lợi dân mới là,
Quyết tu sao phỉ chí dân nhà,
Tu sao độ được nước ta phú cường,
Lòng thành thắp một tuần nhang,
Nam mô phật tổ hồng bàng chừng tri [5, tr.38].
Ngày 5/6/1911 anh thanh niên Nguyễn Tất Thành ra nước ngoài tìm đường cứu
nước, cứu dân. Khi rời bến Nhà Rồng, Nguyễn Tất Thành có một tâm nguyện rằng: “Tôi
muốn đi ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm thế nào,
tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta” [69, tr.13].
Trong thời gian làm việc trên tàu buôn của Pháp, Người gia nhập Hội viên Công
hội, Hội những người thuỷ thủ Việt Nam ở nước ngoài. Năm 1917, Hồ Chí Minh trở lại
Pháp - một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá lớn ở Châu Âu lúc bấy giờ, sau đó tham
gia Đảng Xã hội Pháp (1918). Năm 1919, Người thay mặt những người Việt Nam yêu


nước gửi đến Hội nghị Vecxây Bản Yêu sách của nhân dân An Nam, gồm 8 điểm đòi tự
do dân chủ đơn sơ, đòi có tiếng nói riêng của người bản xứ trong Quốc hội Pháp, đòi thay
thế chế độ sắc lệnh bằng các đạo luật Mặc dù không được Hội nghị Vecxây xem xét,
song bản yêu sách đã có tiếng vang lớn. Từ thực tế này, Hồ Chí Minh đi đến kết luận về
Kế hoạch 14 điểm của Tổng thống Mỹ Uyn-Xơn rêu rao về quyền tự quyết dân tộc: “Chủ
nghĩa Uyn - Xơn chỉ là trò bịp lớn”, và “muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể
trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình” [69, tr.33].
Trong thời gian này, Hồ Chí Minh qua nhiều nước ở châu á, châu Phi, châu Mỹ và

châu Âu, chú ý xem xét tình hình các nước, suy nghĩ về thực tế đang diễn ra ở các nước
đó và nhận định rằng: trên thế giới này chỉ có hai giống người: bị bóc lột và bóc lột mà
thôi. Người kết luận giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở đâu cũng là bạn; chủ
nghĩa đế quốc ở đâu cũng là thù. Từ đó đã làm nảy nở ở Người tình cảm và ý thức giai
cấp cũng như tình đoàn kết quốc tế. Người cũng đã tìm hiểu các cuộc cách mạng lớn trên
thế giới, khảo sát cuộc sống, tình cảnh của nhân dân bị áp bức và ảnh hưởng về con
đường Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, một cuộc cách mạng đã thành công đến
nơi, vì “Cách mạng rồi quyền giao cho dân chúng số nhiều”. Bằng những hoạt động tích
cực ấy, Hồ Chí Minh đã đi trước một đoạn đường khá thành công của công tác dân vận.
Năm 1920, đọc Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, Hồ
Chí Minh tìm thấy con đường chân chính cho sự nghiệp cứu nước, tìm thấy lực lượng
cách mạng hùng hậu cho thắng lợi của cách mạng thuộc địa. Tháng 12/1920, tại Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp họp tại thành phố Tua, Hồ Chí Minh bỏ
phiếu tán thành gia nhập Quốc tế III . Tiếp đó, Người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản
Pháp và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Sự kiện đó đánh dấu bước chuyển
biến về chất trong nhận thức tư tưởng và lập trường chính trị của Người. Từ đây, khát
vọng giải phóng dân tộc của Người được soi sáng bởi một hệ tư tưởng cách mạng và
khoa học. Đó là chủ nghĩa Mác - Lênin.
1.2.2.2. Thời kỳ từ năm 1921 đến năm 1930: hình thành cơ bản tư tưởng về con
đường cách mạng Việt Nam và tư tưởng dân vận
Thời kỳ này Hồ Chí Minh vừa tiếp tục hoạt động cách mạng, vừa đi sâu nghiên cứu
tư tưởng Mác- Lênin, từng bước xây dựng tư tưởng, chiến lược, sách lược, phương pháp
và lực lượng cách mạng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam. Năm 1921, Hồ Chí


Minh cùng một số chiến sỹ cách mạng ở nhiều nước lập ra tổ chức “Hội Liên hiệp thuộc
địa” và xuất bản báo Le Paria. Tháng 12/1921, theo kiến nghị của Hồ Chí Minh, Đảng
Cộng sản Pháp thành lập Ban Nghiên cứu thuộc địa. Hồ Chí Minh được cử làm trưởng
Tiểu ban nghiên cứu Đông Dương.
Năm 1923, trong bức "Thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp” trước khi rời nước

Pháp, Nguyễn ái Quốc viết: “Chúng ta phải làm gì?
Chúng ta không thể đặt vấn đề ấy một cách máy móc.
Điều đó tuỳ thuộc vào hoàn cảnh của mỗi dân tộc chúng ta.
Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ
chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập” [43,
tr.192]. Những lời của Người trong bức thư ngắn gọn nêu trên cho thấy tư tưởng, quan
điểm của Người với những nội dung hết sức rõ ràng cụ thể về cuộc vận động quần chúng
làm cách mạng, từ giáo dục, tuyên truyền, tổ chức, tập hợp lực lượng và thực hành tranh
đấu. ở đây có hai điểm: 1) Phải gắn bó mật thiết với quần chúng, sống và tranh đấu
cùng quần chúng; 2) Đoàn kết quần chúng.
*Tư tưởng dân vận của Hồ Chí Minh ở thời kỳ này định hướng cho cách mạng
thuộc địa. Sự định hướng đó thể hiện ở chỗ: “Giải phóng dân tộc bằng con đường cách
mạng vô sản”. Đánh giá sức mạnh của nhân dân thuộc địa, Người viết:
Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để
gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình
thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện
tồn tại của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những
người anh em ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn [43, tr.36].
Trong những năm 1925-1927, Hồ Chí Minh hoạt động Quảng Châu (Trung Quốc).
ở đây, Người

vận động, tổ chức Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng, ra báo Thanh niên
và viết tác phẩm “Đường Kách mệnh”, mở các lớp huấn luyện chính trị đào tạo cán bộ rồi
đưa họ về nước hoạt động.

Trong “Đường Kách mệnh”,

Hồ Chí Minh nói rõ mục đích
“Vì sao phải viết sách này”. Người viết:
5. Mục đích sách này là để nói cho đồng bào ta biết rõ: (1) Vì sao chúng

ta muốn sống thì phải cách mệnh. (2) Vì sao cách mệnh là việc chung cả dân
chúng chứ không phải việc một hai người. (3) Đem lịch sử cách mệnh các


nước làm gương cho chúng ta soi. (4) Đem phong trào thế giới nói cho đồng
bào ta rõ. (5) Ai là bạn ta? Ai là thù ta? Cách mệnh thì phải làm thế nào?


6. Sách này muốn nói cho vắn tắt, dễ hiểu, dễ nhớ. Chắc có người chê
rằng văn chương cụt quằn. Vâng ! Đây nói việc gì thì nói rất giản tiện, mau
mắn, chắc chắn như 2 lần hai là 4, không tô vẽ trang hoàng gì cả.
Sách này chỉ ước ao sao đồng bào xem rồi thì nghĩ lại, nghĩ rồi thì tỉnh
dậy, tỉnh rồi thì đứng lên đoàn kết nhau mà làm cách mệnh.
Văn chương và hy vọng sách này chỉ ở trong hai chữ “Cách mệnh! Cách
mệnh!! Cách mệnh !!! [44, tr.262].


Đây là

cách đặt vấn đề xuất phát từ quan điểm thực tiễn rất tiêu biểu của Chủ tịch
Hồ Chí Minh. Quan điểm này là nền tảng của dân vận, của khoa học chính trị vận động
quần chúng.
Tác phẩm “Đường Kách mệnh” là ngọn cờ chỉ đạo; là bước chuẩn bị rất cơ bản về
chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ 6/1 đến 7/2/1930, Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị Hợp nhất các tổ chức cộng sản
trong nước, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam và các đoàn thể cách mạng Việt Nam như
Thanh niên Cộng sản Đoàn, Hội Phụ nữ, Công hội, Hội Cứu tế đỏ, Hội Nông dân và Hội
Phản đế đồng minh. Hội nghị Hợp nhất đã thông qua “Chánh cương vắn tắt của Đảng”,
“Sách lược vắn tắt của Đảng”, “Chương trình tóm tắt của Đảng” và “Điều lệ vắn tắt của
Đảng Cộng sản Việt Nam”. Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do Hồ Chí Minh khởi

thảo là bản cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Văn kiện này đã thể hiện sự nhận thức
sâu sắc và đúng đắn của Hồ Chí Minh và của Đảng ta về nhiều vấn đề cơ bản nhất của
cách mạng; trong đó có vấn đề dân vận.
Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, Hồ Chí Minh còn viết "Lời kêu
gọi"; trong đó, Hồ Chí Minh phân tích tình hình thế giới, tình hình trong nước và nêu lên
đường lối, mục tiêu trước mắt và lâu dài của cách mạng Việt Nam, cổ vũ các tầng lớp
nhân dân đứng lên đấu ranh dưới ngọn cờ cứu nước của Đảng Cộng sản Việt Nam để
giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc.
Như vậy, thông qua những tác phẩm như: “Bản án chế độ thực dân Pháp”, “Đường
Kách mệnh”, “Chánh cương vắn tắt của Đảng”, "Sách lược vắn tắt của Đảng", “Điều lệ
vắn tắt của Đảng”, “Lời kêu gọi”, tổ chức Đảng và các tổ chức quần chúng của Đảng ra


đời đánh dấu sự hình thành cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt
Nam và những tư tưởng, quan điểm, phương pháp vận động quần chúng của Người.


1.2.2.3. Từ năm 1930 đến năm 1945: tư tưởng dân vận của Hồ Chí Minh phát
huy tác dụng tích cực đối với cách mạng Việt Nam
Trong những năm 1930 - 1940, do điều kiện khách quan, Hồ Chí Minh tiếp tục hoạt
động cách mạng ở nước ngoài. Lúc này, toà án thực dân, phong kiến ở Việt Nam kết án
tử hình vắng mặt Hồ Chí Minh. Tháng 6/1931 đế quốc Anh bắt giam trái phép Hồ Chí
Minh tại Hương Cảng (Trung Quốc). Chúng bịa ra nhiều lý do để trao Người cho thực
dân Pháp. Nhờ sự giúp đỡ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của những
nhân sĩ dân chủ và tiến bộ, nhất là của luật sư Lô - Dơ - By và kinh nghiệm hoạt động bí
mật của mình, Hồ Chí Minh đã thoát khỏi nanh vuốt của kẻ thù.
Mùa hè năm 1933, Hồ Chí Minh sang Liên Xô. ở đây Người vào học tại trường Đại
học Lênin và sau đó làm nghiên cứu sinh ở Ban sử của Viện Nghiên cứu các vấn đề dân
tộc và thuộc địa của Quốc tế Cộng sản. Người tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận
cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và kinh nghiệm phong trào cách mạng thế giới. Trong

thời gian này, Người tiếp tục bảo vệ và phát triển những tư tưởng, quan điểm đúng đắn
của mình về cách mạng vô sản, chống lại những biểu hiện tả khuynh và biệt phái trong
phong trào cộng sản và phong trào công nhân quốc tế.
Tháng 7/1935, Đại hội lần thứ 7 Quốc tế Cộng sản được tổ chức ở Mátxcơva, Hồ
Chí Minh tham gia đoàn đại biểu Đảng ta với tư cách là đại biểu tư vấn. Căn cứ vào tình
hình quốc tế lúc này, Đại hội 7 Quốc tế Cộng sản đã thay đổi sự chỉ đạo chiến lược và
chủ trương mở rộng mặt trận thống nhất nhằm tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân,
đấu tranh chống phát xít, bảo vệ tự do, dân chủ, hoà bình. Đại hội 7 Quốc tế Cộng sản đã
khắc phục được một bước quan trọng xu hướng tả khuynh trong phong trào cộng sản và
phong trào quốc tế, tạo điều kiện để cách mạng nhiều nước có bước tiến mới.
Như vậy, thực tiễn cách mạng thế giới và cách mạng Việt Nam đã chứng minh
những quan điểm của Hồ Chí Minh về sự cần thiết phải tổ chức mặt trận dân tộc thống
nhất rộng rãi, tập trung mũi nhọn chống đế quốc là đúng đắn và sáng tạo.
Năm 1941, Hồ Chí Minh về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Người chủ trì Hội nghị Trung ương VIII, cụ thể hoá đường lối do Người vạch ra trong


Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc cao hơn hết. Trong
bài "Kính cáo đồng bào", Người chỉ rõ: "Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng
cao hơn hết thảy" [45, tr.198]. Người chủ trương thành lập Việt Minh, vận động toàn
dân thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam, tiến tới giành chính quyền, giải
phóng dân tộc. Nhờ những chủ trương đúng đắn, sáng tạo đó của Người, cuộc Cách
mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi. Đó là thắng lợi đầu tiên của tư tưởng Hồ
Chí Minh, trong đó có tư tưởng dân vận của Người và tư tưởng đó có sức sống mãnh liệt
trong thực tiễn đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc.
1.2.2.4. Thời kỳ từ năm 1945 đến năm 1969: phát triển toàn diện tư tưởng dân
vận Hồ Chí Minh
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đưa đến sự ra đời nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà - Nhà nước công nông đầu tiên ra đời từ hệ thống thuộc địa của
chủ nghĩa đế quốc. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công vì có những bước đi

thích hợp và vì Việt Minh có những chính sách phù hợp với lợi ích của nhân dân,
được nhân dân cả nước nhiệt tình ủng hộ, tham gia.
Nhưng ngay từ khi mới ra đời, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phải đương đầu
với nhiều khó khăn, thử thách hiểm nghèo. ở miền Bắc, 20 vạn quân Tưởng và sau chúng
là bè lũ Việt gian phản động chống phá cách mạng quyết liệt, mưu toan bóp chết chính
quyền cách mạng non trẻ. ở miền Nam, 6 vạn quân Anh giúp Pháp quay trở lại nổ súng
xâm lược nước ta lần thứ hai. Trong khi đó tình hình kinh tế - tài chính của Nhà nước
mới cực kỳ khó khăn, kho bạc trống rỗng; hơn nữa, nạn đói do hậu quả của chính sách vơ
vét của Pháp và Nhật trước đó vẫn diễn ra gay gắt.
Đứng trước tình thế vô cùng khó khăn, nguy hiểm đó, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí
Minh bình tĩnh, khôn khéo đề ra nhiều biện pháp linh hoạt, phát huy được sức mạnh của
cả dân tộc để giải quyết những vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp thiết của cách mạng; nhờ đó
từng bước đẩy lùi giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, bảo vệ được chính quyền cách mạng
và chuẩn bị lực lượng kháng chiến.
Thực dân Pháp vốn dã tâm cướp bằng được nước ta, chúng từng bước đơn phương
xoá bỏ những điều khoản đã ký kết với Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Hiệp định Sơ bộ
6/3/1946 và Tạm ước 14/9/1946. Trước tình hình đó, Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi toàn


quốc kháng chiến”, quyết tâm chống thực dân Pháp đến cùng. Người viết: “Chúng ta thà
hy sinh tất cả, chứ không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” [46, tr.480].
Trong lời kêu gọi lịch sử này, Hồ Chí Minh vạch ra đường lối kháng chiến đúng
đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn của đất nước; do đó đã vận động, tập hợp, đoàn kết
và huy động cả dân tộc Việt Nam vào cuộc trường chinh vĩ đại, bảo vệ nền độc lập, tự do
của Tổ quốc và từng bước xây dựng chế độ dân chủ nhân dân.
Năm 1947, Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”. Qua tác phẩm này,
Người ý thức cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân sự cần thiết phải có phương pháp và
cách thức làm việc, cách thức giải quyết các vấn đề trong điều kiện kháng chiến. Hơn thế
nữa, tác phẩm còn nêu lên những phẩm chất cần có của người cách mạng để tập hợp sức
mạnh của quần chúng, đưa sự nghiệp kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành

công.
Năm 1949, Hồ Chí Minh viết tác phẩm: “Dân vận”. ở tác phẩm này Người đã nêu
lên những quan điểm và phương pháp chỉ đạo công tác dân vận với một tầm nhìn rộng lớn,
khoáng đạt; với cách nghĩ, cách làm dân vận hết sức mới mẻ, hiện đại. Đây là một trong
những tác phẩm ít chữ mà nhiều ý nghĩa. Với một lượng tối thiểu ngôn từ, Người chuyển tải
và biểu cảm một cách tối đa tư tưởng và triết lý của Người về công tác dân vận.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Mặt trận Dân tộc thống nhất đòi hỏi phải
được mở rộng để thu hút tối đa các thành phần dân tộc vì những lý do khác nhau không
tham gia Việt Minh. Vì vậy, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam ra đời. Công tác dân vận
trong thời kỳ Đảng cầm quyền không phải là nhiệm vụ riêng của Đảng như thời kỳ Đảng
hoạt động bí mật, bất hợp pháp. Theo Hồ Chí Minh, khi chính quyền đã về tay nhân dân,
nước ta là nước dân chủ thì “Tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ Đoàn thể và tất cả
hội viên của các tổ chức nhân dân (Liên Việt, Việt Minh…) đều phải phụ trách dân vận”
[47, tr.699]. Người cũng chỉ rõ những thiếu sót về dân vận, rằng “Khuyết điểm to ở nhiều
nơi là xem khinh việc dân vận” [46, tr.699]. Người nhắc nhở toàn Đảng, toàn quân, toàn
dân hiểu rằng “Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành
công” [47, tr.700].
Từ sau tác phẩm “Dân vận” của Người, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân chú tâm vào
công tác dân vận, động viên nhân dân thi đua ái quốc, giết giặc lập công, tăng gia sản


xuất. Tư tưởng dân vận của Người đã đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến
thắng lợi và cổ vũ nhân dân giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Năm 1954, cuộc kháng chiến của nhân dân ta giành được thắng lợi to lớn, buộc thực
dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ về lập lại hoà bình ở Đông Dương (20/7/1954).
Theo hiệp định này đất nước ta tạm chia làm hai miền và sau hai năm sẽ tổng tuyển cử để
thống nhất đất nước. Song đế quốc Mỹ lợi dụng sự thất bại của Pháp, nhảy vào xâm lược
miền Nam, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta.
Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, Đảng ta và Hồ Chí Minh dành nhiều công sức, trí tuệ để
có đường lối đúng đắn cho giai đoạn cách mạng mới. Đó là Cách mạng Xã hội chủ nghĩa

ở miền Bắc và Cách mạng Dân chủ nhân dân ở miền Nam. Trong thời gian này Hồ Chí
Minh có hàng trăm bài viết, bài nói chuyện để giải thích, tuyên truyền đường lối của
Đảng, đồng thời cổ vũ động viên cán bộ và nhân dân ta hăng hái xây dựng và bảo vệ
miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Để vận động quần chúng, động
viên, cổ vũ cán bộ, chiến sĩ và nhân dân tiến lên đánh thắng hoàn toàn đế quốc Mỹ và tay
sai, ngày 17/7/1966, Hồ Chí Minh với tư cách là Chủ tịch nước ra Lời kêu gọi chống Mỹ,
cứu nước. Trong văn kiện quan trọng này, Người nêu lên chân lý bất hủ “Không có gì
quý hơn độc lập tự do!” [54, tr.108]. Tinh thần ấy đã cổ vũ, thúc giục quân dân ta vượt
qua muôn vàn gian khổ, quyết đánh, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược.
Một trong những tác phẩm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn của Người trong
giai đoạn này là tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”.
Bằng những lời lẽ sâu sắc và đầy sức thuyết phục, Hồ Chí Minh chỉ ra cho cán bộ, đảng
viên thấy sự cần thiết phải thường xuyên rèn luyện tu dưỡng, nâng cao đạo đức cách
mạng, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Người coi chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù hung
ác của chủ nghĩa xã hội, là nguồn gốc của mọi sự sai lầm khuyết điểm. Người viết: “Do
cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa.
Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem
khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh
quan liêu mệnh lệnh” [54, tr.438-439]. Theo Người, để chống chủ nghĩa cá nhân có hiệu
quả. mỗi người cần ra sức trau dồi đạo đức cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, lập
trường cách mạng của giai cấp công nhân, gắn bó mật thiết với quần chúng, thật sự tôn
trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân. Bởi vì theo Người, “đảng viên đi


trước, làng nước theo sau" [54, tr.438]; “Đó cũng là một việc làm cần thiết để giúp tất cả
cán bộ, đảng viên đều tiến bộ, góp sức hơn nữa cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước toàn
thắng và xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công” [54, tr.439].
Năm 1968, Người đặt vấn đề về cuộc vận động “Người tốt việc tốt”; gặp gỡ, nói
chuyện với công nhân và cán bộ ngành than; sửa Điều lệ Hợp tác xã nông nghiệp. Trước
khi vĩnh biệt chúng ta, Hồ Chí Minh để lại bản Di chúc thiêng liêng, thể hiện tình cảm

sâu nặng của Người đối với dân, với nước, nói lên niềm tin tất thắng của Người đối với
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và đề ra những phương sách lớn để đưa sự nghiệp
kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn; đồng thời nêu lên những suy ngẫm, những chỉ dẫn
quý báu của Người về những chủ trương, biện pháp lớn cần thực hiện trong cuộc sống
xây dựng chủ nghĩa xã hội. Người viết: “Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu
khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực
lượng vĩ đại của toàn dân” [54, tr.505].
Lịch sử hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng dân vận
của Người nói riêng cho chúng ta thấy tư tưởng của Người là một hệ thống lý luận gắn
chặt với thực tiễn, có tác dụng to lớn đối với cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam cũng
như của nhân loại tiến bộ chống lại mọi hình thức áp bức, nô dịch để giải phóng giai cấp,
giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận là sự phát triển sáng tạo luận điểm “Cách mạng
là sự nghiệp của quần chúng” của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin vào giải
quyết những vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam và đã đưa cách mạng đi từ thắng
lợi này đến thắng lợi khác. Đảng ta nhận định, trong giai đoạn đổi mới và công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng dân vận của
Người nói riêng vẫn “soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài
sản tình thần to lớn của Đảng và dân tộc ta” [14, tr.82].
1.3. Nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận
1.3.1. Vị trí, vai trò của công tác dân vận
Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, ông
cha ta luôn biết dựa vào dân, phát huy lực lượng to lớn của toàn dân để tiến hành cuộc
đấu tranh chống thiên tai và chống giặc ngoại xâm. Bài học “Nước lấy dân làm gốc” đã

×