Tải bản đầy đủ (.pdf) (5 trang)

Tỷ số giới tính khi sinh và một số yếu tố liên quan trên địa bàn Chililab huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, năm 2005 pdf

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (108.33 KB, 5 trang )

40 Tạp chí Y tế Công cộng, 12.2007, Số 9 (9)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tỷ số giới tính khi sinh và một số yếu tố
liên quan trên đòa bàn Chililab huyện
Chí Linh, tỉnh Hải Dương, năm 2005
BS.Hoàng Văn Huỳnh(*); ThS. Lê Thò Vui(**)
Nghiên cứu được tiến hành trên 7 xã /thò trấn thuộc hệ thống giám sát Dân số -Dòch tễ học
(CHILILAB) ở huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương từ 10/2006 đến 2/2007 nhằm xác đònh tỷ số giới tính
khi sinh (TSGTKS) năm 2005 và mô tả một số yếu tố liên quan đến TSGTKS trên đòa bàn. Nghiên
cứu sử dụng số liệu thứ cấp của hệ thống CHILILAB và phỏng vấn trực tiếp 262 bà mẹ được chọn
ngẫu nhiên từ 804 bà mẹ (BM) sinh con trong năm 2005 với bộ câu hỏi có cấu trúc, và phỏng vấn
sâu 8 phụ nữ đã nạo phá thai trong 6 tháng đầu năm 2006 tại hộ gia đình. Những kết quả chủ yếu
là: TSGTKS năm 2005 ở đòa bàn là 106,4; nhưng có sự chênh lệnh khá nhiều giữa các xã /thò trấn
và sự khác nhau theo các lần sinh, điều kiện kinh tế (ĐKKT) và nhóm tuổi. Phần lớn các cặp vợ
chồng đều mong muốn có 2 con và có cả trai lẫn gái; ở lần sinh đầu tiên, giới tính của con không
phải là điều quan trọng nhất. Nhưng từ lần sinh thứ 2 trở đi thì tỷ lệ mong con trai có sự khác biệt
lớn giữa những người đã có và chưa có con trai. Có 22,5% BM biết biện pháp sinh con theo ý muốn,
nhưng chỉ có 18,6% trong số này áp dụng. Có 84,4% biết giới tính con trước sinh, tất cả đều bằng
siêu âm (SÂ), và 91% cho rằng không có khó khăn trong việc biết giới tính con khi SÂ. Nghiên cứu
đưa ra một số khuyến nghò:1.Tiếp tục theo dõi vấn đề này trên đòa bàn. 2. Tích cực truyền thông
bình đẳng giới, tập trung vào đối tượng sinh toàn con gái và có ĐKKT khá. 3. Tăng cường giám sát
việc thực hiện nghiêm quy đònh cấm tiết lộ giới tính trẻ khi SÂ.
Từ khóa: tỉ số giới tính khi sinh, siêu âm.
Sex ratio at birth of newborn babies and
relevant factors in Chi Linh district,
Hai Duong province in 2005
This research was conducted in 7 communes/towns that belong to the Demographic- Epidemiological
Surveillance System (DESS) in Chi Linh District (CHILILAB), Hai Duong Province between October
2006 and February 2007. This research was conducted in order to clarify the sex ratio at birth of
newborn babies in Chi Linh District in 2005 and to describe factors that influence the sex ratio with-
in this area. This research involved analysis of a combination of secondary data from the CHILILAB


system, a structured questionnaire given directly to 262 mothers randomly selected from 804 moth-
ers in Chi Linh who gave birth in 2005, in-depth interviews with 8 women who had abortions during
the first 6 months of 2006. According to this research, the sex ratio at birth in 2005 in CHILILAB
was 106.4. This result varied according to frequency of birth-giving, economic conditions and age
groups. Most of couples expected to have two babies - one boy and one girl. At the first delivery, these
couples did not consider the gender of the baby to be very important. But from the second birth, the
proportion of couples who wanted to have baby boy was different from that of couples who already
had a boy. This research found that 22.5% of women know about sex selection methods but only 18.5%
of those women apply these methods. 84.4% of expecting mothers knew the sex of the baby before
birth through ultra-sound and 91.1% found no difficulty in knowing about that when taking ultra-
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 12.2007, Số 9 (9) 41
1. Đặt vấn đề
TSGTKS đựợc tính bằng số trẻ nam sinh sống
trên 100 trẻ nữ sinh sống trong năm. Tỷ số này
thường cao hơn tỷ số giới tính của toàn bộ dân số,
và là yếu tố chủ yếu làm thay đổi cơ cấu giới tính ở
các lứa tuổi và của toàn dân số trong tương lai [2].
Bình thường tỷ số này dao động từ 103-107, muốn
có nhận đònh đầy đủ, chính xác về TSGTKS thì phải
theo dõi số sinh trên đòa bàn rộng, trong nhiều
năm[4]. TSGTKS cao sẽ làm mất cân bằng giới
tính, thừa nam thiếu nữ trong tương lai.
Trên phạm vi toàn thế giới từ 1995-2005
TSGTKS là 105-106. Năm 2005 có 12 nước có
TSGTKS cao hơn 107, chủ yếu ở châu Á và Đông
Âu như: Trung Quốc: 119, Ấn Độ: 108 [4]. Ở Việt
Nam TSGTKS theo tổng điều tra dân số và nhà ở
năm 1989 là 105, 1999 là 107 [2], giai đoạn 2000-
2006 theo điều tra biến động dân số 1/4 hàng năm

dao động từ 104 -110 [4].
Trường Đại học Y tế Công cộng đang vận hành
một hệ thống giám sát dân số, dòch tễ học tại huyện
Chí Linh - Hải Dương (CHILILAB) từ tháng
7/2004 đến nay trên 7 xã /thò trấn (Văn An, An Lạc,
Hoàng Tiến, Lê Lợi, Bến Tắm, Sao đỏ, Phả Lại),
với tổng số dân khoảng 64 000 người. Theo số liệu
báo cáo của CHILILAB, TSGTKS trên đòa bàn giai
đoạn từ tháng 7/2004 đến 6/2005 là 104, nhưng lại
có một số xã /thò trấn có tỉ lệ này rất cao như An
Lạc:153, Văn An:150. Theo nguồn số liệu lưu hàng
năm của Uỷ ban Dân số Gia đình và Trẻ em
(UBDSGĐ&TE) huyện thì TSGTKS trong những
năm 2003-2005 của toàn huyện là rất cao (đều trên
120). Để tìm hiểu thực trạng và xác đònh một số
yếu tố liên quan đến TSGTKS trên đòa bàn, chúng
tôi đã tiến hành nghiên cứu này với mục tiêu cụ thể
là:"Xác đònh TSGTKS năm 2005, tìm hiểu quan
niệm của người dân về việc sinh con trai, con gái
và mô tả một số yếu tố liên quan đến TSGTKS trên
đòa bàn.
2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu (NC) được thiết kế theo phương
pháp mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp NC đònh
lượng, đònh tính và sử dụng số liệu thứ cấp. Đối
tượng là bà mẹ (BM) sinh con trong năm 2005 và
phụ nữ nạo phá thai trong 6 tháng đầu năm 2006.
Thời gian nghiên cứu từ 10/2006 đến 2/2007 trên
đòa bàn CHILILAB. Số liệu thứ cấp về 804 bà mẹ
sinh con năm 2005 được lấy từ dữ liệu của

CHILILAB để tính toán TSGTKS, gồm cả theo lần
sinh, ĐKKT và tuổi mẹ. NC đònh lượng tiến hành
trên 262 BM được lựa chọn ngẫu nhiên trong số các
BM sinh con trong năm 2005 để phỏng vấn bằng bộ
câu hỏi có cấu trúc; số liệu được nhập bằng phần
mềm EpiData 3.1, làm sạch và phân tích bằng phần
mềm SPSS 13.0; dùng phương pháp thống kê mô tả
và phân tích đơn biến, hai biến. NC đònh tính được
thực hiện bằng phỏng vấn sâu 8 người nạo phá thai
trong 6 tháng đầu năm 2006 tại hộ gia đình.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Kết quả phân tích số liệu thứ cấp
3.1.1.Thông tin chung về bà mẹ
Có 42,5% BM dưới 25 tuổi còn 57,5% từ 25 tuổi
trở lên, tuổi thấp nhất là 17, cao nhất là 49, tuổi
trung bình là 25,3. Phần lớn các bà mẹ có nghề
nghiệp là làm ruộng (41%); tiếp đến là buôn bán
/dòch vụ (23,1%); viên chức, công chức (10,7%);
còn lại là các nghề như công nhân, thủ công, nội trợ.
ĐKKT gia đình của BM được phân theo Quintile,
sau đó lại được phân tiếp thành 2 nhóm dưới trung
bình (39,8%) và từ trung bình trở lên (60,2%). Các
BM có học vấn Tiểu học là 5,7%, THCS chiếm
sound. Several recommendations were made from this research such as (1). continuing to follow up
these issues in this area, (2) promoting communication on gender equality (focusing on those cou-
ples having all baby girls and living in good economic conditions), and (3) strengthening the sur-
veillance system that monitors forbidden disclosures of a baby's sex when giving pregnant mothers
an ultra- sound service. Key words: Sex ratio at birth, ultra-sound.
Tác giả
* BS. Hoàng Văn Huỳnh - Học viên lớp cao học 9, Trường Đại học Y tế Công cộng. ĐT 0953 057 597.

Email:
** ThS. Lê Thò Vui Giảng viên Bộ môn Dân số, Trường Đại học Y tế Công cộng. 138 Giảng Võ, Ba Đình, Hà
Nội. Điện thoại: 04-2662331. Email:
42 Tạp chí Y tế Công cộng, 12.2007, Số 9 (9)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
58,8%, THPT là 19,9%, trên THPT là 15,6%. Trong
804 BM thì có 50,5% sinh con lần đầu, 41,2% sinh
lần hai và vẫn còn 8,2% sinh từ lần thứ 3 trở lên.
3.1.2. Tỷ số giới tính khi sinh
TSGTKS chung cả năm 2005 là 106,4. ở lần
sinh đầu là 120,7; lần hai là 80,4; lần ba là 214.
TSGTKS ở nhóm các BM có ĐKKT từ trung bình
trở lên là 112,1; dưới trung bình là 91,7. Nhóm BM
dưới 25 tuổi có TSGTKS là 110,5; còn từ 25 tuổi
trở lên là 103,5.
Ở phạm vi đòa bàn xã /thò trấn thì có 3 nơi rất
cao là Sao Đỏ:120, An Lạc:142, Lê Lợi:120,4.
Nhưng các đòa bàn còn lại đều dưới 100, thấp nhất
là Bến Tắm:75,9.
3.2. Kết quả nghiên cứu đònh lượng và
đònh tính
3.2.1. Quan niệm về sinh con trai, con gái
Mong muốn sinh con trai của BM ở lần sinh đầu
là 26,1%, lần sinh thứ hai tăng lên 35%, và lần sinh
thứ ba là 54%. Trong đó ở lần sinh thứ nhất tỷ lệ
mong muốn con trai của các BM có chồng là con
trưởng hay con một là 28,3% còn có chồng là con
thứ là 23,66% (OR=0,75; P>0,05). Một đối tượng
NC tâm sự "Với em khi có thai lần đầu mong muốn
quan trọng nhất của em là sinh nở được vuông tròn,

có được một đứa con mạnh khỏe để nuôi là em hạnh
phúc lắm rồi, chứ trai hay gái thì không quan
trọng".
Ở lần sinh thứ hai mong muốn con trai của các
BM chưa có con trai là 64,9%; đã có con trai là 9,1
% (OR=18,2. P<0,001). Còn ở lần sinh thứ ba thì tỷ
lệ này là 100% và 7,7%. (OR=13. P<0,001). "Em
không muốn sinh lần thứ 3 nữa nhưng vì chưa có con
trai, mà chồng và bố mẹ chồng động viên rất nhiều
nên đành phải cố" - Đối tượng nghiên cứu sinh con
lần thứ 3 tâm sự.
Lý do muốn sinh con trai để có nếp có tẻ chiếm
37,1%; tiếp đến là chỗ dựa khi về già, bệnh tật:
31,1%; thứ ba là nối dõi tông đường: 25%.
3.2.2. Một số thông tin liên quan khác
Có 22,5% BM cho rằng họ có biết đến biện
pháp sinh con theo ý muốn (BPSCTYM). Ba biện
pháp được BM biết nhiều nhất là: Tính ngày rụng
trứng để giao hợp (32,7%); tính tuổi vợ và tháng thụ
thai (27,4%); chế độ ăn (23,0%). Thông tin mà họ
biết được là từ sách /báo (47,2%); người thân /bạn
bè (40,4%); cán bộ y tế (5%); tivi/đài (6,7%). Có
18,6% các BM đã áp dụng BPSCTYM trong lần
sinh này.
Có 84,4% BM biết giới tính của trẻ trước sinh,
tất cả đều bằng siêu âm. Có 62,8% BM siêu âm ở
cơ sở y tế tư nhân, còn 37,2% siêu âm tại cơ sở y tế
nhà nước. Để biết được giới tính của thai nhi, có
91% BM cho rằng không có khó khăn gì trong việc
hỏi người siêu âm về giới tính của trẻ.

Có 51,9% BM cho là có việc nạo phá thai vì lý
do giới tính ở đòa phương. Một đối tượng NC cho
biết "Em có biết người đã làm như thế. Nhà ấy kinh
tế khá lắm, đã có 2 con gái rồi. Họ đi tận Hà Nội
để phá thai, nhưng họ đều giấu và nói rằng bò sẩy
thai thôi". Một BM khác nói "Ở đòa phương em cũng
có trường hợp như vậy. Em nghó là họ bất đắc dó
phải làm thôi, vì thai lúc đó cũng to rồi, dù sao thì
đó cũng là hòn máu của mình và đã thành hình
người rồi. Nhưng vì chưa có con trai mà lại không
được đẻ lần nữa nên họ đành phải phá đi, chắc là
họ cũng day dứt lắm khi phải làm việc này ".
2.3. Thông tin về dự đònh lần sinh tiếp
Phần lớn các bà mẹ mới có 1 con đều có ý đònh
sinh nữa (90%), vẫn còn 9,2% các bà mẹ đã có đủ
2 con rồi mà vẫn muốn sinh thêm con thứ ba.
Biểu đồ 3. Lý do mong muốn sinh con trai
Biểu đồ 2. TSGTKS theo đòa bàn xã /thò trấn
Biểu đồ 1. TSGTKS theo năm sinh, lần sinh,
ĐKKT và nhóm tuổi
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 12.2007, Số 9 (9) 43
Trong số các BM mới có một con, nếu là con gái
thì có 98,1% muốn sinh tiếp, còn nếu là trai rồi thì
chỉ có 83,6% muốn sinh thêm (OR=10,6. P<0,05).
Trong số các BM có hai con nhưng đều là gái thì
28,1% muốn sinh tiếp, còn tỷ lệ này ở các BM đã
có con trai là 5,8% (OR=6,4. P<0,001).
4. Bàn luận
4.1. Tỷ số giới tính khi sinh

TSGTKS trên đòa bàn CHILIALB năm 2005 là
106,4. Trong đó có hai xã và một thò trấn cao trên
120, các xã /thò trấn còn lại đều dưới 100. TSGTKS
ở lần sinh đầu là 120,7 cao hơn TSGTKS của năm
2005 rất nhiều, nhưng lần sinh thứ hai thì lại chỉ có
80,4; đặc biệt lần sinh thứ ba trở lên thì rất cao (214).
Theo tự nhiên thì xác xuất sinh của trẻ trai và trẻ gái
là xấp xỉ bằng nhau, nên các BM đã sinh lần đầu là
trai thì xác xuất sinh trẻ trai ở lần sinh tiếp theo sẽ
ít đi [4]. Một số NC ở Trung Quốc và Ấn Độ cho rằng
việc lựa chọn giới tính thường xẩy ra từ các lần sinh
sau [4]. Liệu rằng đây có phải là kết quả ảnh hưởng
của sự lựa chọn giới tính ở lần sinh thứ ba trở đi hay
không? Trong khuôn khổ NC này của chúng tôi thì
chưa đủ bằng chứng để trả lời cho câu hỏi này. Hay
phải chăng đó chỉ là một sự ngẫu nhiên?
TSGTKS của nhóm các BM có ĐKKT gia đình
từ trung bình trở lên là 112, 1 cao hơn nhiều so với
nhóm dưới trung bình chỉ có 91,7. Điều này cho thấy
sự ảnh hưởng của yếu tố kinh tế, xã hội tới
TSGTKS. Những người có đời sổng ổn đònh trở lên
thì xu hướng quan tâm đến việc sinh con trai cũng
tăng lên. Nhóm các BM dưới 25 tuổi có TSGTKS là
110,5(cao hơn mức bình thường), còn từ 25 tuổi trở
lên là 103,5 (nằm trong giới hạn bình thường).
Những kết quả trên giống với kết quả của một số
NC ở Ấn Độ và Việt Nam[1,3,4]. Trong NC này
TSGTKS lần đầu là rất cao: 120,7; mà tỷ lệ BM sinh
lần đầu nằm trong nhóm tuổi dưới 25 nhiều hơn, do
vậy có thể giải thích cho việc TSGTKS trong nhóm

BM dưới 25 tuổi lại cao hơn nhóm từ 25 tuổi trở lên.
Mặt khác vấn đề này còn có thể liên quan đến sự
khác nhau về tình trạng sức khoẻ và sinh lý ở hai
nhóm tuổi của các cặp vợ chồng.
4.2. Quan niệm về sinh con trai, con gái
Ở lần sinh đầu tiên mong muốn lớn nhất của các
BM là sinh nở được mẹ tròn con vuông chứ không
phải là giới tính của con, và cũng không có sự khác
biệt về mong muốn giới tính giữa các BM có chồng
là con trưởng, con một với con thứ. Nhưng từ lần
sinh thứ hai trở đi thì có sự khác biệt rõ ràng về
mong muốn sinh con trai giữa những người đã có và
chưa có con trai. Có 9,2% BM sinh con lần thứ ba
và lý do chủ yếu là muốn giải toả áp lực chưa có con
trai khá nặng nề từ phía chồng, gia đình chồng và
cũng một phần từ chính bản thân BM.
Những lý do nhiều nhất để các BM muốn sinh
con trai hơn là con gái là: có nếp có tẻ: (37,1%); có
chỗ dựa khi mắc bệnh tật hay về già (31,1%) và nối
dõi tông đường (25%). Điều này cho thấy quan niệm
phổ biến của người dân cho rằng trách nhiệm nuôi
dưỡng, chăm sóc, lo lắng công việc cha mẹ khi về
già, thờ cúng tổ tiên là của con trai. Mặt khác cũng
phản ảnh hệ thống bảo hiểm xã hội chưa đáp ứng
được nhu cầu của người cao tuổi, nên điều họ lo lắng
cho những năm tháng tuổi già và mong muốn có con
trai để có chỗ dựa cũng là điều dễ hiểu.
4.3. Một số thông tin liên quan khác
Có 22,5% BM biết BPSCTYM. Tuy chưa có cơ
sở để khẳng đònh tính khoa học của những biện pháp

này, nhưng qua tìm hiểu trực tiếp từ các BM và
những tài liệu mà các BM giới thiệu thì thấy rằng
những biện pháp này nhằm tạo điều kiện cho tinh
trùng Y hoặc X gặp trứng sớm hơn, do vậy có thể
làm tăng khả năng thụ thai trai hoặc gái nhiều hơn.
Qua đó cho thấy trong một chừng mực nhất đònh
người dân đã tìm hiểu về vấn đề này. Thông tin về
các BPSCTYM trong cộng đồng chủ yếu qua sách,
tài liệu truyền tay từ người thân và bạn bè. Rất đáng
lưu ý là, mặc dù chỉ có 6,7% qua ti vi/đài và 5,6%
qua cán bộ y tế, nhưng cũng cho thấy các phương
tiện thông tin đại chúng và đặc biệt là cán bộ y tế
cũng là nguồn cung cấp các thông tin này
Có 84,4% BM biết giới tính của trẻ trước sinh,
thấp hơn kết quả NC của Viện khoa học dân số gia
đình và trẻ em năm 2006 (90%)[1], nhưng lại cao
hơn NC của Nguyễn Văn Phái tổng hợp số liệu từ
cuộc điều tra biến dộng dân số trên toàn quốc (năm
2004 là 61%, năm 2006 là 66%)[4]. Tất cả các BM
biết giới tính của con trước sinh đều bằng SÂ. Điều
này cho thấy SÂ là phương tiện phổ biến và gần như
duy nhất cung cấp thông tin về giới tính của trẻ
trước sinh tại đòa phương. Nhà nước đã có quy đònh
cấm tiết lộ giới tính của trẻ khi SÂ nếu không có
yêu cầu cho điều trò. Kết quả NC cho thấy có 91%
BM cho là không có khó khăn về việc này (mặc dù
ở cơ sở nhà nước có khó khăn hơn cơ sở tư nhân)
nhưng nhìn chung các cơ sở SÂ đã không thực hiện
44 Tạp chí Y tế Công cộng, 12.2007, Số 9 (9)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |

nghiêm chỉnh quy đònh này. Với 62, 8 lượt BM đến
SÂ ở cơ sở tư nhân thì cho thấy cơ sở tư nhân là nơi
các BM đến SÂ khá cao ở đòa phương. Có thể điều
này xuất phát từ tính thuận tiện cũng như việc dễ
dàng biết giới tính của trẻ của cơ sở y tế tư nhân.
Đã có nhiều NC ở các nước có TSGTKS cao như
Trung Quốc, Ấn Độ khẳng đònh SÂ chẩn đoán giới
tính sớm và phá thai để lựa chọn giới tính là kỹ
thuật và nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng
mất cân bằng giới tính khi sinh [3],[4]. Trong NC
của chúng tôi chưa thể loại trừ có sai sót khi thu thập
thông tin này (có thể các BM đã nhầm lẫn giữa tình
hình thực tế ở đòa phương và nhận đònh chủ quan của
bản thân), hơn nữa vì chưa có nhiều NC sâu về vấn
đề này ở Việt Nam và đây là vấn đề rất nhạy cảm.
Nên mặc dù có 51,9% BM cho rằng có việc nạo thai
vì lý do giới tính, nhưng chúng tôi chưa thể đưa ra
nhận đònh về mức độ phổ biến của tình trạng này.
Tuy vậy, kết hợp với kết quả NC đònh tính thì có thể
thấy rằng việc nạo phá thai vì lý do giới tính ở đòa
phương không phải là không có, còn về mức độ trầm
trọng như thế nào thì cần phải tìm hiểu sâu hơn để
có thể đưa ra nhận đònh chính xác.
4.4. Thông tin về dự đònh sinh tiếp
Với việc có 90% BM mới có một con muốn sinh
tiếp và trên 90% BM đã có hai con không muốn sinh
tiếp (OR=75; P<0,001), cho thấy đại đa số các BM
muốn mô hình gia đình có 2 con. Nhưng có đến
10,4% BM mới có một con không muốn sinh tiếp,
cũng cho thấy mô hình gia đình một con cũng là một

xu hướng của một bộ phận không nhỏ của những
cặp vợ chồng trẻ hiện nay.
Trong số những BM mới có 1 con mà không
muốn sinh tiếp thì có 90,9% đã có con trai. Còn
những BM đã có 2 con mà chưa có con trai thì có
đến 28,1% muốn sinh tiếp. Đặc biệt vẫn còn 9,2%
BM muốn sinh con lần 3 với lý do chủ yếu là chưa
có con trai, điều này cho thấy có cả trai và gái là
mong mỏi của đa số các cặp vợ chồng.
Lý do muốn sinh con trai hay con gái nữa chủ yếu
vì chưa có con trai: 94% hay chưa có con gái: 97,5%,
một lần nữa khẳng đònh muốn có nếp có tẻ là nguyện
vọng của đại đa số các cặp vợ chồng cũng như lý do
sinh con thứ ba chủ yếu là vì chưa có con trai.
Tóm lại: NC mới chỉ tiến hành trên một đòa bàn
có quy mô dân số nhỏ và chỉ thu thập thông tin về
số sinh trong một năm 2005, nên kết quả về
TSGTKS chỉ có ý nghóa tại thời điểm điều tra, mà
không thể phản ảnh cho tình hình chung trên đòa
bàn. Kết quả TSGTKS của NC cứu này chênh lệch
khá nhiều so với số liệu lưu báo cáo của ngành dân
số và y tế trên đòa bàn. Trong chừng mực nhất đònh
người dân đã tìm hiểu về các biện pháp kỹ thuật để
sinh con theo ý muốn. Lý do chính để các BM mong
sinh được con trai là muốn có nếp có tẻ, chỗ dựa khi
về già và nối dõi tông đường. Việc sinh thêm con
thứ ba chủ yếu là vì chưa có con trai. Việc tiết lộ
giới tính khi SÂ còn khá dễ dàng cả ở cơ sở tư nhân
và nhà nước. Nên tiếp tục theo dõi và tiến hành các
NC sâu hơn về vấn đề này trên đòa bàn cũng như ở

phạm vi quy mô dân số lớn hơn.
Lời cảm ơn:
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Ban điều hành, văn phòng
thực đòa, bộ phận quản lý dữ liệu của CHILILAB đã tạo điều
kiện cho chúng tôi thu thập, sử dụng số liệu phục vụ cho NC.
Xin cảm ơn sự giúp đỡ của TS Phạm Việt Cường, ThS Bùi
Thò Tú Quyên trong quá trình phân tích số liệu. Xin cảm ơn
cán bộ và nhân viên ngành y tế, dân số huyện Chí Linh cùng
các đối tượng nghiên cứu đã tạo điều kiện, giúp đỡ chúng tôi
thu thập số liệu tại cộng đồng.
Tài liệu tham khảo
1. Đoàn Minh Lộc (2006), Báo cáo tóm tắt kểt quả nghiên
cứu mất cân bằng giới tính trong 5 năm qua ở một số đòa
phươn: thực trạng và giải pháp, Viện khoa học dân số gia
đình và trẻ em.
2. Tổng cục thống kê (2001), Kết quả điều tra toàn bộ:
Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 1999, Nhà xuất bản
thống kê.
3. Tìm hiểu vể tỷ số giới tính lúc sinh của Ấn Độ,
/
dspt/2006/So2-59. Uỷ ban dân số gia đình và trẻ em Việt
Nam, xuất bản phẩm. Tạp chí Dân số và phát triển năm
2006. Số 2 (59). Truy cập hồi 22 giờ ngày 26/12/2006.
4. Quỹ dân số Liên hợp quốc; Uỷ ban Dân số, Gia đình và
Trẻ em Việt Nam (2006), Hội thảo chia sẻ kinh nghiệm dự
báo chính sách về giới tính khi sinh.
5. Uỷ ban Dân số Gia đình và Trẻ em tỉnh Hải Dương (2006),
Báo cáo tổng hợp số trẻ em dưới 6 tuổi được cấp thẻ bảo hiểm
y tế.
6. Uỷ ban Dân số Gia đình và Trẻ em huyện Chí Linh (2004,

2005, 2006), Báo cáo công tác dân số gia đình và trẻ em
năm 2003, 2004, 2005.

×