Tải bản đầy đủ (.pdf) (100 trang)

biện pháp nâng cao chất lượng bài tập nghiên cứu khoa học giáo dục của sinh viên hệ cao đẳng sư phạm tiểu học trường đại học an giang

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (816.07 KB, 100 trang )

MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Theo các nhà thống kê, sự phát triển của xã hội loài người vào nửa cuối
thế kỉ 20 đã bằng tổng sự phát triển của xã hội loài người trước đó. Sự nghiên
cứu đó cho thấy tri thức đã là một trong những động lực quan trọng mang tính
quyết đònh sự tồn tại và phát triển xã hội. Xã hội hiện tại đã dần dần hình thành
bộ mặt đặc trưng của nó : xã hội "dựa vào tri thức" [19], [24], [27], [28]. Điều
đó làm cho việc nghiên cứu khoa học, tập dượt nghiên cứu khoa học cho sinh
viên trong hoạt động đào tạo của các trường đại học và cao đẳng ngày càng trở
nên bức thiết.
Nghò quyết Trung ương hai, khóa 8 có nêu : “. . . tiếp tục sắp xếp lại
mạng lưới các trường đại học, cao đẳng và các viện nghiên cứu để gắn đào tạo
với nghiên cứu khoa học . . . coi trọng hơn nữa công tác nghiên cứu khoa học,
nhằm giải đáp những vấn đề về lí luận và thực tiễn giáo dục” (tr.46). Về mặt lí
thuyết, đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc nghiên cứu khoa học, phương
pháp luận nghiên cứu khoa học, phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung và
phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục nói riêng . . . [1], [4], [5], [8], [10],
[11], [12], [14], [15], [20], [21], [22], [33] . . . Những công trình nghiên cứu này
đã được trình bày một cách logic, đầy đủ, có thể giúp người đọc am hiểu và vận
dụng nghiên cứu khoa học vào thực tiễn. Với các công trình nghiên cứu có được,
các tác giả nước ta đã vạch ra được mục đích, yêu cầu, nội dung của việc
nghiên cứu khoa học nói chung và nghiên cứu khoa học giáo dục nói riêng.
Trong các nhà trường đại học và cao đẳng, nghiên cứu khoa học của sinh viên
đã trở thành một nội dung dạy học được quan tâm. Tuy nhiên, trong ứng dụng
và nghiên cứu khoa học vào thực tiễn thì những đúc kết, những công trình

1
nghiên cứu về vấn đề này không nhiều. Chúng ta có thể kể ra như : “Hoạt động
nghiên cứu khoa học sinh viên trong giai đoạn 1990 – 1995 và việc đổi mới
công tác nghiên cứu khoa học sinh viên để góp phần nâng cao chất lượng đào
tạo” (Đại học Kinh tế quốc dân); “Nghiên cứu khoa học của sinh viên là một


biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo” (Học viện kó thuật quân
sự); “Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên trường Đại học Ngoại
thương” (Trường Đại học Ngoại thương) . . .
Mục tiêu, kế hoạch, chương trình cao đẳng đào tạo giáo viên tiểu học
(ban hành theo quyết đònh số 2493/GD-ĐT ngày 25/7/1995 của Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và đào tạo ) đã xác đònh: “Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo
dục” là một học phần trong chương trình đào tạo. Nhằm cụ thể và nhấn mạnh,
công văn số 578/GV kí ngày 25/01/1999 của Vụ Giáo viên đã chỉ đạo, hướng
dẫn việc triển khai công tác nghiên cứu khoa học cho sinh viên sư phạm tiểu
học vào năm cuối trước khi ra trường. Trường Đại học An Giang - trước đó là
trường Cao đẳng sư phạm An Giang – đã được phép đào tạo giáo viên tiểu học
có trình độ cao đẳng sư phạm từ năm học 1996 – 1997 liên tục đến nay đã có
bốn khóa ra trường. Trong bốn khóa học đã đào tạo, Trường Đại học An Giang
đã thực hiện công tác này dưới hình thức cho sinh viên làm bài tập nghiên cứu
khoa học giáo dục (BT.NCKHGD) vào năm cuối trong thời gian cho sinh viên
đi thực tập sư phạm vào các năm học 1998 – 1999, 1999 – 2000, 2000 – 2001,
và 2001-2002. Trong những năm đó, Trường Đại học An Giang đã có nhiều đầu
tư kể cả về kinh phí cho sinh viên thực hiện công tác này. Hoạt động này cũng
đã đạt được những thành tựu nhất đònh, nhất là trong kết quả thực hiện nghiên
cứu khoa học giáo dục của sinh viên. Tóm lại nghiên cứu khoa học giáo dục đã
trở thành một nội dung dạy học trong quá trình đào tạo của sinh viên thuộc hệ

2
cao đẳng sư phạm đào tạo giáo viên tiểu học Trường Đại học An Giang. Tuy
nhiên so với yêu cầu, cũng còn nhiều bất cập : một số sinh viên thực hiện chiếu
lệ; chưa nắm chắc phương pháp nghiên cứu khoa học; lúng túng khi vận dụng
các phương pháp nghiên cứu khoa học vào thực tiễn; hình thức và biện pháp
cùng một số qui đònh chưa xác thực đã không khích lệ, thúc đẩy sinh viên hứng
thú, dồn hết công sức để thực hiện công tác này. Điều đó làm cho sinh viên sau
khi ra trường, thiếu sự vận dụng tri thức và các kó năng nghiên cứu khoa học

cần thiết vào thực tiễn nhà trường tiểu học.
Từ những bức thiết đó về lí luận cũng như thực tiễn và cũng nhằm khai
thác tiềm năng lao động sư phạm này của sinh viên đã thúc đẩy chúng tôi thực
hiện đề tài : “BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯNG BÀI TẬP NGHIÊN
CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC CỦA SINH VIÊN HỆ CAO ĐẲNG SƯ
PHẠM TIỂU HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG” qua đó góp phần cải
biến hiện trạng nghiên cứu khoa học giáo dục của sinh viên và góp phần nâng
cao hiệu quả đào tạo. Đây cũng là công trình được nghiên cứu đầu tiên ở
Trường Đại học An Giang.

2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :
Nghiên cứu, phân tích thực trạng và đề xuất biện pháp về tổ chức quản lí
của nhà trường và biện pháp thực hiện qui trình nghiên cứu khoa học giáo dục
nhằm nâng cao chất lượng BT.NCKHGD của sinh viên hệ cao đẳng sư phạm
đào tạo giáo viên tiểu học của Trường Đại học An Giang.

3. KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU :

3
Quá trình dạy học học phần Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục
cho sinh viên hệ cao đẳng sư phạm đào tạo giáo viên tiểu học của Trường Đại
học An Giang .
4. ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU :
Bài tập nghiên cứu khoa học giáo dục của sinh viên hệ cao đẳng sư phạm
đào tạo giáo viên tiểu học với tư cách là hình thức thực hành của học phần
Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục.

5. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC :
Thực hiện biện pháp về tổ chức quản lí của nhà trường và biện pháp thực
hiện qui trình làm BT.NCKHGD là biện pháp quan trọng để nâng cao chất

lượng BT.NCKHGD của sinh viên hệ cao đẳng sư phạm đào tạo giáo viên tiểu
học Trường Đại học An Giang.

6. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU :
1.Hệ thống hoá cơ sở lí luận về nghiên cứu khoa học, nghiên cứu khoa
học giáo dục nói chung và nghiên cứu khoa học giáo dục của sinh viên hệ đào
tạo cao đẳng sư phạm.
2.Mô tả và phân tích thực trạng tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học
giáo dục qua hình thức làm
BT.NCKHGD của sinh viên hệ cao đẳng sư phạm
đào tạo giáo viên tiểu học của Trường Đại học An Giang.
3.Đề xuất biện pháp về tổ chức quản lí của nhà trường và biện pháp thực
hiện qui trình BT.NCKHGD để hình thành một số kó năng nghiên cứu khoa học
giáo dục cần thiết nhằm nâng cao chất lượng BT.NCKHGD của sinh viên hệ
cao đẳng sư phạm đào tạo giáo viên tiểu học của Trường Đại học An Giang.

4
4. Tiến hành thực nghiệm để xác đònh tính khoa học, khả thi của biện
pháp đề ra.

7. PHẠM VI NGHIÊN CỨU :
- Nội dung: Nghiên cứu việc tổ chức thực hiện BT.NCKHGD của sinh
viên hệ cao đẳng sư phạm đào tạo giáo viên tiểu học Trường Đại học An Giang.
- Thời gian :
+ 4 năm học : 1998 - 1999, 1999 - 2000, 2000 - 2001, 2001 - 2002.
+ Tập trung vào 2 năm học 2000 - 2001 và 2001 - 2002.
8. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :
8.1. Phương pháp luận :
8.1.1. Quan điểm triết học duy vật biện chứng :
Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa phép duy vật và

phép biện chứng trong nhìn nhận thế giới. Phép biện chứng duy vật là sự kết
tinh của các thành tựu khoa học và các tư tưởng triết học nhân loại. Phép duy
vật là sự khẳng đònh vật chất là cái có trước quyết đònh ý thức, ý thức là sự phản
ánh hiện thực khách quan vào bộ não con người. Phép biện chứng trình bày một
cách hệ thống tính biện chứng của thế giới bằng các phạm trù và những qui luật
chung của thế giới tự nhiên và rút ra những quan điểm, những qui tắc chỉ đạo
hoạt động của con người.
Phép biện chứng duy vật bao gồm hai nguyên lí, những phạm cặp phạm
trù và những qui luật cơ bản, chúng vừa là cơ sở lí luận vừa là phương pháp
nhận thức thế giới [20, 66].
Với đề tài ”Biện pháp nâng cao chất lượng bài tập nghiên cứu khoa học
giáo dục của sinh viên hệ đào tạo cao đẳng sư phạm tiểu học trường Đại học An

5
Giang” chúng tôi sử dụng phép biện chứng duy vật nhằm xem xét, nhận thức
vấn đề trong mối quan hệ biện chứng, phát triển, toàn diện lòch sử, cụ thể. Trên
cơ sở đó mà tiến hành nghiên cứu việc làm BT.NCKHGD của sinh viên trong
mối quan hệ với việc đào tạo nghiên cứu khoa học nói riêng và đào tạo các mặt
nói chung. Chúng tôi cũng xem xét vấn đề nghiên cứu trên phương diện đào tạo
nhận thức lí luận và hiệu quả đạt được trong thực hành, hoạt động thực tiễn
trong thời gian thực tập sư phạm. Từ đó có hướng đánh giá, đề xuất hợp lí, có
giá trò về mặt khoa học và thực tiễn.

8.1.2. Quan điểm tiếp cận hệ thống – cấu trúc.
Quan điểm tiếp cận hệ thống – cấu trúc là một luận điểm quan trọng của
phương pháp luận, nó yêu cầu phải xem xét các đối tượng một cách toàn diện
nhiều mặt, nhiều mối quan hệ, trong trạng thái vận động và phát triển, trong
những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể để tìm ra bản chất và qui luật vận động
của đối tượng.
Quan điểm này chỉ dẫn quá trình nghiên cứu các đối tượng phức tạp bằng

phương pháp hệ thống để tìm ra cấu trúc, phát hiện ra tính hệ thống theo qui
luật của cái toàn thể [20, 69].
Thực hiện phương pháp này, chúng tôi một mặt nhằm xác đònh hệ thống
bao trùm vấn đề nghiên cứu như hoạt động đào tạo nghiên cứu khoa học của
sinh viên trên lớp, hoạt động thực tiễn của sinh viên về nghiên cứu khoa học
giáo dục trong thời gian thực tập sư phạm; mặt khác, chúng tôi xác đònh các
thành phần cần có trong việc tổ chức thực hiện BT.NCKHGD cho sinh viên.
Trên cơ sở đó mà xác lập mối liên hệ giữa các thành phần trong hệ thống cũng
như mối quan hệ giữa các hệ thống với nhau.

6
8.1.3. Quan điểm thực tiễn :
Quan điểm thực tiễn là luận điểm quan trọng của phương pháp luận, nó
yêu cầu nghiên cứu khoa học phải bám sát sự phát triển của thực tế sinh động.
Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có tính xã hội – lòch sử của con
người làm biến đổi tự nhiên và xã hội. Diễn biến của hiện thực là diễn biến
khách quan, với những sự kiện đa dạng, phức tạp, phát triển nhiều khuynh
hướng, có những thực tiễn tiên tiến, có những thực tiễn yếu kém và có những
mâu thuẫn, những xu hướng chống đối nhau cần giải quyết khắc phục. Như vậy,
thực tiễn vừa là nguồn gốc, vừa là động lực, vừa là mục tiêu, vừa là tiêu chuẩn
để đánh giá sản phẩm nghiên cứu khoa học [20, 72].
Với quan điểm thực tiễn trong nghiên cứu khoa học, chúng tôi dùng lí
luận có được của vấn đề nghiên cứu như kim chỉ nam, đònh hướng cho việc xem
xét, đánh giá thực tiễn đồng thời dùng thực tiễn làm thước đo để kiểm nghiệm,
đánh giá lí luận. Thực tiễn liên quan đến vấn đề nghiên cứu bao gồm : Hoạt
động học tập nghiên cứu khoa học trên lớp của sinh viên, hoạt động thực hành lí
thuyết đã học, hoạt động nghiên cứu khoa học trong thời gian thực tập sư phạm,
hoạt động viết BT.NCKHGD . . .
8.2. Các phương pháp nghiên cứu văn bản, tư liệu, lưu trữ . . . :
- Nghiên cứu các văn bản, nghò quyết liên quan đến đề tài.

- Nghiên cứu và hệ thống các tài liệu lí luận có liên quan đến đề tài.
8.3. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn :
8.3.1. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm giáo dục :
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu BT.NCKHGD của sinh viên các năm
1999, 2000, 2001, 2002; các báo cáo về công tác nghiên cứu khoa học giáo dục
các năm 1999, 2000, 2001, 2002 của Trường Đại học An Giang; các báo cáo

7
Tổng kết thực tập sư phạm nhằm tìm hiểu thực trạng tổ chức thực hiện
BT.NCKHGD của sinh viên.

8.3.2. Phương pháp quan sát :
Sử dụng phương pháp quan sát tự nhiên để quan sát hoạt động học tập
trên lớp của sinh viên khi học học phần Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo
dục (dự giờ 05 lớp, mỗi lớp 04 tiết gồm 02 tiết lí thuyết và 02 tiết thực hành của
học phần Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục) ; quan sát hoạt động thực
hiện BT.NCKHGD của sinh viên khi đi thực tập sư phạm.
8.3.3. Phương pháp điều tra :
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để tiến hành điều tra khảo sát 180
sinh viên, 10 giảng viên và 57 giáo viên phổ thông (hướng dẫn 57 nhóm sinh
viên của 05 lớp trong thời gian thực tập sư phạm) nhằm đánh giá thực trạng về
nhận thức, thái độ và việc thực hiện BT.NCKHGD.
8.3.4. Phương pháp trò chuyện :
Chọn mẫu theo phương pháp xác xuất ngẫu nhiên đơn giản trong các đối
tượng tiếp xúc có được. Các đối tượng tiếp xúc bao gồm : sinh viên và giảng
viên tâm lí giáo dục Trường Đại học An Giang; giáo viên hướng dẫn phổ thông
và giáo viên hướng dẫn trưởng đoàn thực tập sư phạm; các cán bộ phụ trách thư
viện các trường thực tập sư phạm và cán bộ thư viện của Trường Đại học An
Giang; cán bộ phòng Đào tạo Trường Đại học An Giang nhằm góp phần tìm
hiểu và phân tích thực trạng, tham khảo đề xuất các biện pháp.

8.3.5. Phương pháp nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm giáo dục:
Nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm về việc giảng dạy học phần Phương
pháp nghiên cứu khoa học giáo dục của giáo viên và việc thực hiện

8
BT.NCKHGD của sinh viên nhằm nắm chắc thêm thực tiễn về công tác này và
qua đó có hướng đề xuất xác hợp.
8.3.6. Phương pháp thống kê toán học:
Sử dụng để phân tích thông tin, số liệu thu được từ các phương pháp
nghiên cứu cụ thể, nhất là từ hai phương pháp nghiên cứu sản phẩm, phương
pháp điều tra.
8.3.7. Phương pháp chuyên gia :
Chúng tôi vận dụng phương pháp này để lấy ý kiến của 10 giảng viên Tổ
Tâm lí - Giáo dục của trường về các vấn đề phân tích thực tiễn và những biện
pháp đã đề xuất.

Kết quả : Xem phụ lục 15.
8.3.8. Phương pháp thực nghiệm sư phạm :
Để kiểm nghiệm tính khoa học, khả thi của các biện pháp đã đề xuất,
chúng tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm về qui trình thực hiện BT.NCKHGD
trên nhóm thực nghiệm gồm 90 sinh viên theo cách chọn mẫu ngẫu nhiên hệ
thống (1, 3, 5. . . ). Nhóm đối chứng cũng gồm 90 sinh viên cùng khoá.

Trong các phương pháp nghiên cứu thực tiễn nói trên, các phương pháp
nghiên cứu chủ lực là : điều tra và thực nghiệm .
9. CẤU TRÚC LUẬN VĂN :
Cấu trúc của luận văn gồm phần mở đầu, 2 chương , kết luận và danh
mục tài liệu tham khảo.





9



NỘI DUNG
Chương 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN – THỰC TIỄN.

1. CƠ SỞ LÍ LUẬN :
1.1. Sơ lược lòch sử vấn đề nghiên cứu .
Trên lónh vực nghiên cúu khoa học và quản lí hoạt động nghiên cứu khoa
học nói chung, đã dược nhà nước quan tâm qua việc ban hành một số văn bản
pháp qui như sau :
- Luật (dự thảo 8/1995) khoa học và công nghệ : những qui đònh về hoạt
động khoa học công nghệ và quản lí hoạt động khoa học - công nghệ.
- Nghò đònh 35/HĐBT ngày 28/9/92 về công tác quản lí hoạt động khoa
học - công nghệ.
- Thông tư liên Bộ 195/TTLB ngày 13.11.92 hướng dẫn đăng kí hoạt
động của các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển khoa học.
- Quyết đònh số 324/CT ngày 11/9/92 của Chủ tòch Hội đồng Bộ trưởng
về việc tổ chức lại mạng lưới các cơ quan nghiên cứu khoa học và phát triển
công nghệ.
- Quyết đònh số 419/TTg ngày 21.7.95 của Thủ tướng Chính phủ về cơ
chế quản lí các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.
- Quyết đònh số 362/TTg ngày 30.5.96 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt phương hướng, mục tiêu và nhiệm vụ của hoạt động khoa học - công nghệ
giai đoạn 5 năm 1996 – 2000.

10

- Quyết đònh 363/TTg ngày 30.5.96 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
danh mục các chương trình khoa học - công nghệ và các nhiệm vụ khoa học -
công nghệ trọng điểm giai đoạn 5 năm 1996 – 2000.
- Thông tư liên Bộ số 1678/TTLB ngày 7.10.93 của Bộ KHCN và MT và
y ban KHNN về kế hoạch hóa đầu tư xây dựng cơ bản ngành khoa học. . .
Ngành Giáo dục cũng đã ban hành Quyết đònh số 1686/GD-ĐT ngày
16.5.95 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT về việc thay đổi điều 22 trong bản qui đònh
về công tác NCKH – LĐSX trong các trường đại học. Vụ Giáo viên cũng đã ban
hành công văn số 578/GV kí ngày 25/01/1999 nhằm chỉ đạo, hướng dẫn việc
triển khai công tác nghiên cứu khoa học cho sinh viên sư phạm tiểu học vào
năm cuối trước khi ra trường.
Về mặt lí thuyết, đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc nghiên cứu
khoa học, phương pháp luận nghiên cứu khoa học, phương pháp nghiên cứu
khoa học nói chung và phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục nói riêng . . .
[1], [4], [5], [8], [10], [11], [12], [14], [15], [20], [21], [22], [33] . . . Những công
trình nghiên cứu này khá phong phú và đã được trình bày một cách logic, đầy đủ,
có thể giúp người đọc am hiểu và vận dụng nghiên cứu khoa học vào thực tiễn.
Với các công trình nghiên cứu có được, các tác giả nước ta đã vạch ra được mục
đích, yêu cầu, nội dung của việc nghiên cứu khoa học nói chung và nghiên cứu
khoa học giáo dục nói riêng.
Trong ứng dụng nghiên cứu khoa học vào thực tiễn, công tác nghiên cứu
khoa học và quản lí hoạt động nghiên cứu khoa học tại các trường đại học, cao
đẳng cũng được Bộ giáo dục tổ chức hội nghò tổng kết 10 năm (1975 – 1985) tại
Hà Nội, 8.1985. Hội nghò đã đề cập đến tình hình và đặc điểm hoạt động nghiên

11
cứu khoa học, những thành tích và tồn tại, đề ra một số chủ trương và biện pháp
lớn về công tác nghiên cứu khoa học của ngành giáo dục trong 1986 – 1990.
Ngoài ra một số trường đại học, Trung tâm, Viện cũng có những báo cáo
kinh nghiệm về công tác nghiên cứu khoa học và quản lí nghiên cứu khoa học.

- Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh : Những bài học kinh nghiệm
trong công tác quản lí khoa học công nghệ của phòng Quản lí khoa học.
- Đại học Mỏ – Đòa chất : Một số đặc điểm tình hình hoạt động khoa học
công nghệ 91 – 95 và kinh nghiệm trong việc quản lí đề tài khoa học các cấp
của trường.
- Trung tâm đào tạo Quốc tế về Khoa học vật liệu : Tổng kết hoạt động
khoa học công nghệ 5 năm 1991 –1995 và bồi dưỡng nghiệp vụ quản lí khoa
học công nghệ.
- Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội : chú ý đến
nghiên cứu khoa học – công nghệ phục vụ sự nghiệp đào tạo với chất lượng cao.
- Đại học Bách khoa Hà Nội : Công tác nghiên cứu khoa học và chuyển
giao công nghệ của trung tâm nghiên cứu vật liệu Polyme.
- Đại học Nông nghiệp I – Hà Nội : Nhấn mạnh vai trò của khoa học
công nghệ nông nghiệp, thực trạng, giải pháp và những kiến nghò đối với hoạt
động khoa học công nghệ của trường.
- Đại học Nông lâm Huế : về công tác quản lí các đề tài nghiên cứu khoa
học phục vụ sản xuất.
- Đại học Tây Nguyên : đề cập đến việc đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu
khoa học để phục vụ cho sự phát triển kinh tế – xã hội ở Tây Nguyên.
- Viện Khoa học Giáo dục : Vai trò của việc quản lí công tác nghiên cứu
nhằm đảm bảo chất lượng, hiệu quả nghiên cứu.

12
- Đại học Kó thuật thành phố Hồ Chí Minh : Những đánh giá và kinh
nghiệm về hoạt động khoa học công nghệ, công tác quản lí hoạt động này tại
trường. . .
Những báo cáo kinh nghiệm, những công trình nghiên cứu nói trên đã nói
lên sự quan tâm, nhận thức được về vò trí, vai trò của công tác nghiên cứu khoa
học trong góp phần nâng cao chất lượng đào tạo. Đặc biệt hai công trình nghiên
cứu của :

- Đại học Kinh tế quốc dân : Hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên
trong giai đoạn 1990 – 1995 và việc đổi mới công tác nghiên cứu khoa học sinh
viên góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.
- Học viện Kó thuật quân sự : Nghiên cứu khoa học của sinh viên là một
biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo.
Gần đây Trường Đại học Ngoại thương với “Hoạt động nghiên cứu khoa
học của sinh viên trường Đại học Ngoại thương” cho thấy nghiên cứu đã có xu
hướngï tiếp cận hơn trong phát huy tiềm năng nội tại của sinh viên về nghiên
cứu khoa học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo hơn là những tác động nghiên
cứu khoa học từ bên ngoài nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của sinh viên. Tuy
nhiên, việc nghiên cứu khoa học của sinh viên chưa được các công trình này
xem xét mang tính chỉnh thể như là một nội dung dạy học thuộc quá trình dạy
học ở bậc đại học. Chúng tôi cho rằng chỉ đứng trên quan điểm đó thì mới hình
thành cho sinh viên những kó năng nghiên cứu khoa học cần thiết, cơ bản. Từ đóù
góp phần quan trọng trong nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của sinh
viên cũng như góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo.
Trong nhà trường sư phạm đào tạo giáo viên tiểu học có trình độ cao
đẳng, nghiên cứu khoa học giáo dục đã trở thành một nội dung dạy học được

13
khẳng đònh trong mục tiêu đào tạo ban hành bởi Quyết đònh số 2493/GD-ĐT
ngày 25.7.1995 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Việc tổ chức thực hiện nội dung
dạy học này nếu được đầu tư, sẽ phát huy tiềm năng nghiên cứu khoa học và
tiềm năng lao động sư phạm của sinh viên. Đề tài “BIỆN PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯNG BÀI TẬP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC CỦA SINH
VIÊN HỆ CAO ĐẲNG SƯ PHẠM TIỂU HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN
GIANG” lần đầu tiên được nghiên cứu tại trường Đại học An Giang cũng nhằm
mục đích đó.

1.2. Các khái niệm cơ bản.

1.2.1. Khoa học.
Lòch sử phát triển khoa học từ xưa đến nay đã có nhiều quan niệm khác
nhau về khoa học :
- Aristote cho rằng : “Chỉ có cái tổng quát mới đáng gọi là khoa học”.
- Furie : “Khoa học phải hướng tới cái chân lí tổng quát hoặc hơn nữa là
cái tất yếu về cùng một đối tượng”.
- Cuvrie :”Khoa học là hệ thống những nhận thức và nghiên cứu có
phương pháp nhằm mục đích khám phá ra những qui luật tổng quát về các hiện
tượng” [17 , 40].
- “Khoa học là một hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy được
tích lũy trong quá trình nhận thức trên cơ sở thực tiễn, được thể hiện bằng những
khái niệm, phán đoán, học thuyết” [17, 41].
- “Khoa học là hệ thống tri thức về mọi loại qui luật của vật chất và sự
vận động của vật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội, tư duy” (Pierre

14
Auger : Tendences actuelles de la recherche scientifique, UNESCO, Paris,
1961, tr 17-19) [5, 13].
- “Khoa học là một hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy, về
những qui luật phát triển khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy, hệ thống tri
thức này hình thành trong lòch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn
xã hội” [12, 12].
Từ những quan niệm trên về ‘khoa học’, chúng tôi hoàn toàn thống nhất
với quan niệm của các tác giả :
- Nguyễn Sinh Huy - Trần Trọng Thủy : “Khoa học là toàn bộ hệ thống
kiến thức mà nhân loại đã tích lũy được về những qui luật trong sự phát triển
của thiên nhiên, của xã hội và tư duy, về những biện pháp tác động có kế hoạch
đến thế giới xung quanh đến sự nhận thức và làm biến đổi thế giới đó nhằm
phục vụ lợi ích cho con người” [10, 2].
- Từ điển tiếng Việt : “Khoa học là một hệ thống tri thức tích lũy trong

quá trình lòch sử và được thực tiễn chứng minh, phản ánh qui luật khách quan
của thế giới bên ngoài cũng như của hoạt động tinh thần của con người, giúp
con người có khả năng cải tạo thế giới hiện thực” [37, 526].
Chúng tôi cũng thống nhất với tác giả Phạm Viết Vượng về nội dung của
khoa học bao gồm :
- Những tài liệu về thế giới do quan sát, điều tra, thí nghiệm mà có.
- Những nguyên lí được rút ra dựa trên những sự kiện đã được thực
nghiệm chứng minh.
- Những qui luật, những học thuyết được khái quát bằng tư duy lí luận.
- Những phương pháp nhận thức sáng tạo khoa học.

15
- Những qui trình vận dụng lí thuyết khoa học vào sản xuất và đời sống
xã hội.
1.2.2. Nghiên cứu khoa học.
Theo Vũ Cao Đàm : “Nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội,
hướng vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết, hoặc là phát hiện
bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo
phương pháp mới và phương tiện kó thuật mới để cải tạo thế giới” [5, 20].
Theo Phương Kì Sơn : “Nghiên cứu khoa học là hoạt động nhận thức thế
giới khách quan, là quá trình phát hiện chân lí và vận dụng chúng vào cuộc
sống” [15, 50].
Theo Phạm Viết Vượng : “Bản chất của nghiên cứu khoa học là hoạt
động sáng tạo của các nhà khoa học nhằm nhận thức thế giới, tạo ra hệ thống tri
thức có giá trò dể sử dụng vào cải tạo thế giới” [20, 41].
Chúng tôi thống nhất với các tác giả trên trong quan niệm về ‘nghiên cứu
khoa học’, và từ khái niệm về khoa học và nghiên cứu khoa học, theo chúng tôi
việc nghiên cứu khoa học của sinh viên hệ cao đẳng sư phạm đào tạo giáo viên
tiểu học trong nhà trường sư phạm là chuẩn bò và giúp cho sinh viên có khả
năng thực hiện lao động sư phạm của mình đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của

nhà trường tiểu học một cách sáng tạo sau này.
1.2.3. Bài tập nghiên cứu khoa học.
Hiện nay có bốn hình thức nghiên cứu khoa học được xác đònh trong các
trường lớp đào tạo thuộc hệ thống giáo dục quốc dân nước ta. Đó là :
- Luận án (Tiến só).
- Luận văn (Thạc só và Đại học).
- Khóa luận tốt nghiệp (Đại học).

16
- Bài tập nghiên cứu khoa học.
Những hình thức trên được trình bày từ cao đến thấp, từ khó đến dễ. Có
thể hiểu một cách đại lược ba hình thức đầu làm cơ sở để phân biệt với hình
thức làm bài tập nghiên cứu khoa học :
“Luận án tiến só phải là công trình độc lập. Trên cơ sở nghiên cứu, nó
phải nêu tên và lập luận cho những luận điểm khoa học tạo nên hướng mới có
triển vọng trong lónh vực khoa học tương ứng. Hoặc nó thể hiện được sự tổng
kết về lí thuyết và giải quyết vấn đề khoa học lớn lao có ý nghóa quan trọng đối
với kinh tế, chính trò và văn hóa xã hội” [1, 39].
“Luận văn tốt nghiệp là công trình nghiên cứu khoa học của học sinh
được tiến hành vào năm cuối cùng của khóa học, có giá trò thay thế tất cả các
môn chuyên môn phải thi tốt nghiệp. . . Luận văn tốt nghiệp phải được tác giả
trình bày và bảo vệ trước hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp. Luận văn tốt
nghiệp thường dài từ 40-70 trang” [1, 38].
“Luận văn tốt nghiệp sau đại học có yêu cầu cao hơn luận văn tốt nghiệp
đại học, thường đòi hỏi phải tiến hành thực nghiệm, phải có khối lượng lớn hơn,
thường dài từ 50-100 trang” [1, 39].
”Khóa luận tốt nghiệp là công trình nghiên cứu khoa học của học sinh đại
học ở năm tốt nghiệp có giá trò thay thế một môn thi tốt nghiệp. Yêu cầu đối với
khóa luận tốt nghiệp cao hơn nhiều so với bài tập nghiên cứu. . . và nhất thiết
phải được bảo vệ trước hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp. Khóa luận tốt

nghiệp thường dài từ 30-60 trang” [1, 38].

Về hình thức làm bài tập nghiên cứu khoa học, tác giả Lê Khánh Bằng,
Vũ Cao Đàm đã phân làm hai loại và xác đònh yêu cầu như sau :

17
“Bài tập nghiên cứu là những bài làm, những công trình nghiên cứu chủ
yếu mang tính chất thực hành, tính tập dượt nghiên cứu bước đầu của học sinh
đại học và cao đẳng. Nó gồm một hệ thống bài tập từ lớn đến nhỏ, từ đơn giản
đến phức tạp, từ năm thứ nhất đến năm thứ ba hoặc thứ tư. Có thể có hai loại bài
tập nghiên cứu :
- Các bài tập nghiên cứu sau một bài hoặc một chương nhằm đào sâu, mở
rộng tri thức, hoặc làm căn cứ bước đầu để học một chủ đề nào đó hoặc làm
phong phú thêm bài giảng bằng những tài liệu trong sách báo hay trong thực tế
qua điều tra, tiến hành thử nghiệm . . ." [1, 37].
Trong quá trình làm các bài tập nghiên cứu này, học sinh bước đầu được
bồi dưỡng về cách thức thực hiện một công trình nghiên cứu khoa học theo từng
bước của nó. Đối với những loại bài tập nghiên cứu này, không yêu cầu học sinh
phải có một sự sáng tạo đặc biệt. Thông thường, hệ thống đề tài của loại bài tập
nghiên cứu này do bộ môn hoặc do giáo viên nêu ra và học sinh được tự chọn
một trong số đề tài đó. Cũng có trường hợp, học sinh được chỉ đònh làm theo
những đề tài nhất đònh. Về khối lượng, loại bài tập nghiên cứu này thường dài từ
8 – 15 trang.
- Một loại bài tập nghiên cứu nữa là bài tập nghiên cứu được thực hiện
sau một giáo trình (thường được gọi là bài tập lớn hoặc khóa luận). Yêu cầu đối
với loại bài tập nghiên cứu này cao hơn :
+ Học sinh có thể lựa chọn hoặc cụ thể hóa những đề tài mà khoa
hay tổ bộ môn giao cho.
+ Học sinh phải tự lực lập đề cương nghiên cứu trước khi nhận sự
hướng dẫn của giáo viên.


18
+ Học sinh phải biết vận dụng tổng hợp toàn bộ những tri thức
trong cả giáo trình và các phương pháp nghiên cứu khoa học đã học vào việc
nghiên cứu, xử lí tài liệu và trình bày.
+ Học sinh phải trình bày bài tập nghiên cứu theo đúng hình thức
qui đònh, lời văn phải đúng ngữ pháp, luận văn rõ ràng đảm bảo logic. Khối
lượng thường là 20-40 trang.
Loại bài tập nghiên cứu này thường được tiến hành ở các năm thứ hai và
ba, thường do giáo viên chấm, nhưng cũng có thể tổ chức cho bảo vệ” [1, 38].
Trong hình thức bài tập nghiên cứu, áp dụng trong khi học tập từng học
phần, có tác giả gọi là Bài tập niên luận [17, 50].

Từ những hình thức nghiên cứu khoa học đã trình bày nhất là nhất là hình
thức làm bài tập nghiên cứu khoa học của tác giả Lê Khánh Bằng và Vũ Cao
Đàm, chúng ta có thể hiểu làm BT.NCKHGD của sinh viên hệ cao đẳng sư
phạm đào tạo giáo viên tiểu học là một hình thức nghiên cứu khoa học thấp với
mục đích “Giúp các giáo sinh bước đầu tập vận dụng những hiểu biết về phương
pháp nghiên cứu khoa học giáo dục vào việc nghiên cứu một vấn đề giáo dục cụ
thể nào đó trong thực tế nhà trường tiểu học hiện nay” [26, 1] (xem thêm mục
1.3.4 và1.3.5 chương 1).
1.2.4. Chất lượng.
Theo tác giả Đại từ điển tiếng Việt, chất lượng là :
“1. Cái làm nên phẩm chất, giá trò của con người, sự vật.
2. Cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác với sự vật kia”
[39, 331].

19
Theo “Le Petit Larousse” chất lượng (qualité) được đònh nghóa như sau :
Qualité : “Ce qui fait le mérite de quelqu’un” [42, 841] (cái làm nên phẩm chất

giá trò của một con người.). Đồng ý với đònh nghóa của “Le Petit Larousse” có
các tác giả sau :
Tác giả Từ điển tiếng Việt cho rằng chất lượng là “Cái tạo nên phẩm
chất, giá trò của một con người, một sự vật, sự việc” [38, 200].
Theo tác giả Đào Duy Anh đó là :“Cái phân lượng của thực chất trong
vật thể” [39,156].
Cũng cùng quan điểm này, tác giả Đại từ điển tiếng Việt, ngoài cái cho
chất lượng là cái làm nên phẩm chất, giá trò của con người, sự vật, tác giả còn
bổ sung thêm chất lượng là :
“Cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia”
[40,331].
Trên tinh thần đó, chúng tôi thống nhất với cách đònh nghóa khá đầy đủ,
trên góc độ triết học của tác giả Từ điển Bách khoa Việt Nam như sau :
Chất lượng là “ Phạm trù triết học biểu thò những thuộc tính bản chất của
sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn đònh tương đối của sự vật, phân biệt nó với sự
vật khác. Chất lượng là đặc tính của sự vật. Chất lượng biểu thò ra bên ngoài qua
các thuộc tính. Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật làm một, gắn bó với
sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật. Sự
vật trong khi vẫn còn là bản thân nó thì không thể mất chất lượng của nó. Sự
thay đổi chất lượng kéo theo sự thay đổi của sự vật về căn bản. Chất lượng của
sự vật bao giờ cũng gắn liền với tính qui đònh về số lượng của nó và không thể
tồn tại ngoài tính qui đònh ấy. Mỗi sự vật bao giờ cũng là sự thống nhất của chất
lượng và số lượng” [41, 419].

20
Qua đó chúng tôi thấy, chất lượng có những thuộc tính sau :
1. Chất lượng là thuộc tính cơ bản của sự vật.
2. Chất lượng là cái được dùng để phân biệt về chất giữa sự vật này và sự
vật khác.
3. Chất lượng quan hệ chặt chẽ với số lượng (một thuộc tính khác của sự

vật).
4. Chất lượng vận động sẽ dẫn đến sự thay đổi sự vật về căn bản.

Theo đó, nâng cao chất lượng của một sự vật nào đó là làm cho sự vật đó
phát triển theo chiều hướng tích cực về chất lượng cũng như về số lượng. Như
vậy, nâng cao chất lượng BT.NCKHGD của sinh viên có nghóa là đưa ra những
biện pháp nhằm nâng cao về số lượng, về chất lượng BT.NCKHGD của sinh
viên theo yêu cầu của mục tiêu đào tạo. Điều đó đòi hỏi :
1.Trước hết, cần phải xác đònh được về chất của BT.NCKHGD của sinh
viên.
2. Thứ đến, trên cơ sở xác đònh về chất mà có sự qui đònh về lượng.
3. Trên cơ sở xác đònh về chất lượng và số lượng mà hình thành chuẩn
đánh giá.
Từ đó mà có những biện pháp tác động hữu hiệu để thúc đẩy
BT.NCKHGD của sinh viên phát triển theo chiều hướng thuận lợi, tích cực, đáp
ứng yêu cầu của mục tiêu đào tạo.
1.3. BT. NCKHGD là hình thức thực hành của học phần Phương
pháp nghiên cứu khoa học giáo dục - một nội dung dạy học trong thực
hiện mục tiêu giáo dục.

21
1.3.1. Mục tiêu đào tạo giáo viên tiểu học có trình độ cao đẳng sư
phạm.
Theo Luật Giáo dục ban hành năm 1998 : “Mục tiêu giáo dục là đào tạo
con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm
mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghóa xã hội;
hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp
ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [29, 8].
Cũng theo luật Giáo dục :“Mục tiêu của giáo dục đại học và sau đại học
là đào tạo người học có phẩm chất chính trò, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân

dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ
đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đào tạo trình độ cao đẳng giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn và kó
năng thực hành cơ bản về một ngành nghề, có khả năng giải quyết những vấn
đề thông thường thuộc chuyên ngành được đào tạo” [29, 25].
Trên cơ sở mục tiêu giáo dục chung đã được trình bày, theo quyết đònh số
2493/GD&ĐT ngày 25.7.1995 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì mục
tiêu đào tạo giáo viên tiểu học có trình độ cao đẳng sư phạm được xác đònh như
sau :
“Hệ Cao đẳng đào tạo giáo viên tiểu học tuyển những thanh niên, học
sinh đã tốt nghiệp PTTH và đào tạo trong 3 năm để trở thành giáo viên tiểu học
trình độ CĐSP, có tư tưởng và phẩm chất đạo đức của người giáo viên mới, có
đủ sức khỏe và năng lực giáo dục và dạy học các môn học, các hoạt động giáo
dục ở bậc tiểu học, có một số kó năng NCKHGD, đồng thời được trang bò kiến
thức và kó năng sâu hơn về một, hoặc hai môn chuyên chọn, để sau này trở
thành giáo viên nòng cốt về các môn học này ở trường tiểu học” [30, 1].


22
1.3.2. Vò trí của việc nghiên cứu khoa học giáo dục.
Vò trí, vai trò của công tác nghiên cứu khoa học được Đảng và nhà nước
xem trọng và được khẳng đònh trong điều 15 Luật Giáo dục ban hành năm 1998 :
1. Nhà nước tạo điều kiện cho nhà trường tổ chức nghiên cứu, ứng dụng,
phổ biến khoa học, công nghệ; kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản
xuất nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và phục vụ xã hội, từng bước thực hiện
vai trò trung tâm văn hóa, khoa học, công nghệ của đòa phương hoặc cả nước.
2. Trường cao đẳng, trường đại học, viện nghiên cứu khoa học, cơ sở sản
xuất có trách nhiệm phối hợp trong việc đào tạo, nghiên cứu khoa học và
chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển kinh tế xã hội.
3. Nhà nước có chính sách ưu tiên phát triển nghiên cứu, ứng dụng và phổ

biến khoa học giáo dục. Các chủ trương, chính sách về giáo dục phải được xây
dựng trên cơ sở kết quả nghiên cứu khoa học giáo dục, phù hợp với thực tiễn
Việt Nam” [29, 13-14].

1.3.3. Ý nghóa của việc nghiên cứu khoa học giáo dục.
Nghiên cứu khoa học giáo dục có ý nghóa quan trọng trong đào tạo sinh
viên các trường Đại học, Cao dẳng. Tài liệu biên soạn theo chương trình chi tiết,
đã được vụ Đại học thông qua [22] đã nhấn mạnh :
1. “ . . . Khoa học giáo dục là một bộ phận của các khoa học về con người.
Nghiên cứu khoa học giáo dục là nghiên cứu bản chất, qui luật của giáo dục
nhằm phát triển, bồi dưỡng tiềm năng trí tuệ của con người. Kết quả nghiên cứu
giáo dục trực tiếp quyết đònh thành bại sự nghiệp giáo dục của một đất nước”
[22, 10].
2. “Nghiên cứu khoa học nói chung, trong đó có khoa học giáo dục, đều
nhắm tới việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào giải quyết những vấn đề

23
của thực tiễn. Nghiên cứu và ứng dụng là hai khâu của một chu trình khép kín.
Nghiên cứu để ứng dụng và ứng dụng kết quả khoa học sẽ làm cho khoa học
phát triển và thực tiễn được cải tạo. Nghiên cứu khoa học giáo dục cũng nhằm
tới mục đích tối cao là giải quyết các hiện thực giáo dục, làm cho sự nghiệp giáo
dục của nước ta phát triển tốt hơn, chất lượng giáo dục được nâng cao hơn để
góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội” [22. 12].

1.3.4. Mục đích yêu cầu của học phần Phương pháp nghiên cứu khoa
học giáo dục.
Theo chương trình cao đẳng sư phạm đào tạo giáo viên tiểu học, mục
đích yêu cầu của học phần Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục là :
1. Giúp giáo sinh nắm được các phương pháp nghiên cứu khoa học giáo
dục, biết cách thiết kế, tổ chức và thực thi một đề tài nghiên cứu khoa học về

giáo dục.
2. Giúp các giáo sinh bước đầu tập vận dụng những hiểu biết về phương
pháp nghiên cứu khoa học giáo dục vào việc nghiên cứu một vấn đề giáo dục cụ
thể nào đó trong thực tế nhà trường tiểu học hiện nay.
3. Trên cơ sở đó, giúp các giáo sinh bước đầu hình thành các kó năng thiết
kế, tổ chức và thực thi một đề tài nghiên cứu nhỏ về khoa học giáo dục [26, 1].
1.3.5. Nội dung chương trình học phần Phương pháp nghiên cứu khoa
học giáo dục.
Quyết đònh số 2493/GD&ĐT ngày 25.7.1995 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo về việc ban hành Chương trình Phương pháp nghiên cứu khoa học
giáo dục cho hệ cao đẳng đào tạo giáo viên tiểu học xác đònh :
I.Mục đích yêu cầu : (xem 1.3.4 chương 1).

24
II. Kế hoạch thời gian : 2 đơn vò học trình : 01 lí thuyết và 01 thực hành.
III. Nội dung chương trình :
A.Phần lí thuyết : (15 tiết)
1. Việc chọn đề tài nghiên cứu về khoa học giáo dục :
- Các loại đề tài.
- Cách chọn đề tài.
2. Việc vạch đề cương nghiên cứu :
- Lí do chọn đề tài và nhiệm vụ nghiên cứu.
- Đối tượng, cơ sở và phương pháp nghiên cứu.
- Dàn ý nội dung nghiên cứu.
- Kế hoạch thời gian nghiên cứu.
3. Việc vận dụng phương pháp nghiên cứu :
(Phần này đi sâu về mặt kó thuật thực hiện các phương pháp)
- Quan sát khách quan.
- Tổng kết kinh nghiệm tiên tiến.
- Thực nghiệm khoa học.

+ Thực nghiệm thăm dò,
+ Thực nghiệm xét nghiệm.
+ Thực nghiệm đònh tính và đònh lượng.
+ Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm.
+ Thực nghiệm tự nhiên.
- Đọc sách và tài liệu.
- Trò chuyện.
- Điều tra.
- Nghiên cứu sản phẩm hoạt động.

25

×