Tải bản đầy đủ (.pdf) (95 trang)

Khóa luận tốt nghiệp văn học cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn sau 1975

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.08 MB, 95 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN

KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC

CÁCH TÂN NGHỆ THUẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN SAU 1975

TRẦN THỊ THÚY AN

Hậu Giang, ngày 15 tháng 05 năm 2013


TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN

KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC

CÁCH TÂN NGHỆ THUẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN SAU 1975

Giáo viên hướng dẫn :
Nguyễn Thị Mỹ Nhung

Sinh viên thực hiện:
Trần Thị Thúy An


Hậu Giang, ngày 15 tháng 05 năm 201


LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn một cách hoàn chỉnh, đó khơng chỉ là cơng sức của chính
tơi mà đó cịn là sự nhiệt tình ủng hộ, giúp đỡ của thầy cơ, gia đình, b ạn bè trong suốt q
trình học tập và nghiên cứu.
Trước hết tơi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, quý thầy cô trong Khoa Khoa
học Cơ bản và thầy cơ ở các phịng ban khác, cũng như quý th ầy cô thỉnh giảng đã t ạo
điều kiện thuận lợi, tận tình giảng dạy tơi trong suốt bốn năm qua. Với những kiến thức
có được đó khơng chỉ giúp tơi hồn thành luận văn mà cịn là hành trang v ững chắc để tơi
bước vào đời.
Trong suốt q trình nghiên cứu để hồn thành luận văn tôi đã nhận được sự giúp
đỡ, hướng dẫn nhiệt tình từ Th.s Nguyễn Thị Mỹ Nhung. Một lần nữa tôi xin gởi lời biết
ơn chân thành, sâu sắc đến cơ.
Đồng thời, tơi xin bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc đến gia đình. Nơi đã sinh thành, ni
dưỡng và tạo mọi điều kiện vật chất, tinh thần để giúp tơi trong q trình nghiên cứu.
Cảm ơn bạn bè đã h ỗ trợ, ủng hộ và động viên, giúp đỡ tơi trong q trình học tập
và thực hiện luận văn.
Cuối cùng, tơi xin chúc thầy cơ, gia đình, bạn bè thật nhiều sức khỏe.

Sinh viên thực hiện
(ký và ghi rõ họ tên)

Trần Thị Thúy An


LỜI CAM ĐOAN


Tôi xin cam đoan rằng đề tài này là do chính tơi thực hiện, các số liệu thu thập và
kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất cứ đề tài nghiên
cứu khoa học nào.

Sinh viên thực hiện
(ký và ghi rõ họ tên)

Trần Thị Thúy An


MỤC LỤC
TRANG
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài .................................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ....................................................................................................... 1
3. Mục đích, yêu cầu ................................................................................................. 3
4. Phạm vi nghiên cứu .............................................................................................. 4
5. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................................... 4
Chương I : MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Bối cảnh lịch sử xã hội ....................................................................................... 5
1.2. Vài nét về truyện ngắn sau 1975 ........................................................................ 8
1.2.1 Diện mạo của truyện ngắn .................................................................... 8
1.2.2. Thành tựu của truyện ngắn ................................................................. 14
1.3. Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn ..................................................................... 15
Chương II : NHỮNG ĐỔI MỚI Ở PHƯƠNG DIỆN CỐT TRUYỆN
VÀ NHÂN VẬT
2.1. Cốt truyện ......................................................................................................... 19
2.1.1. Cốt truyện đang xen nhiều mạch truyện ……......................................20
2.1.2. Cốt truyện có cấu trúc lỏng lẻo ………..……......................................25
2.2.3. Cốt truyện giả thể loại ....................................................................... 29

2.2. Nhân vật ........................................................................................................... 32
2.2.1. Nhân vật tự nhận thức ...................................................................... 34
2.2.2. Nhân vật cô đơn, lạc lõng ................................................................. 39
2.2.3. Nhân vật tìm kiếm ............................................................................ 43
Chương III : NHỮNG ĐỔI MỚI TRONG NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT,
GIỌNG ĐIỆU VÀ NGƠN NGỮ
3.1. Điểm nhìn trần thuật ...................................................................................... 47
3.1.1. Trần thuật ngôi thứ nhất .................................................................... 48
3.1.2. Trần thuật bằng dòng ký ức nội tâm .................................................. 52
3.1.3 Đa dạng trong điểm nhìn trần thuật .................................................... 56
3.2. Giọng điệu ..................................................................................................... 63
3.2.1. Giọng điệu hài hước .......................................................................... 65
3.2.2. Giọng điệu triết lý .............................................................................. 68
3.3. Ngôn ngữ ........................................................................................................ 72
3.3.1. Ngôn ngữ đời thường ........................................................................ 73
3.3.2. Ngôn ngữ tăng cường tính tốc độ, thơng tin triết luận ....................... 76
3.3.3 Dấu ấn vùng miền ............................................................................... 80
KẾT LUẬN ............................................................................................................... 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 88


Cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn sau 1975

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sau Đại thắng Mùa Xuân năm 1975, lịch sử Việt Nam đã bước vào thời kỳ mới,
thời kỳ đất nước độc lập, thống nhất. Dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, xây
dựng cuộc sống công bằng, dân chủ, ấm no, hạnh phúc. Đất nước ta phải vượt qua nhiều
khó khăn và thử thách để đứng vững và tạo được những biến đổi to lớn, tồn diện, sâu
sắc, đặc biệt từ khi thực hiện cơng cuộc đổi mới vào năm 1986. Trong công cuộc đổi mới

toàn diện do Đảng khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội Đảng lần thứ VI ( 12/1986) thì đổi
mới văn học cũng là một yêu cầu cấp thiết. Dưới sự lãnh đạo kịp thời và đúng đắn của
Đảng, tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước và nhân đạo, nền văn học Cách mạng đã
từng bước chuyển mình để phù hợp với những điều kiện và quy luật sáng tạo mới hầu
đáp ứng thỏa đáng nhất nhu cầu bức thiết của đời sống tâm hồn dân tộc trong giai đoạn
mới. Là thể loại năng động – truyện ngắn, với sự đóng góp khơng nhỏ cả về số lượng lẫn
chất lượng đã b ắt kịp những chuyển biến của đời sống hơm nay. Truyện ngắn gần như đã
độc chiếm tồn bộ văn đàn, hằng ngày trên các báo và các tạp chí có trên dưới hai mươi
truyện ngắn được in. Thực tế ấy đã kích thích mạnh đến việc sáng tác, phê bình - lý luận
về truyện ngắn những năm gần đây. Nhiều cuộc thi sáng tác truyện ngắn được khởi
xướng. Nhiều cuộc hội thảo đã đư ợc mở ra và nhiều ý kiến có khi trái ngược nhau cũng
đã đư ợc trình bày. Đi ều này chứng tỏ, truyện ngắn đang là thể loại được các nhà văn
quan tâm, nỗ lực cách tân bậc nhất. Thể loại này đã có những thay đổi quan trọng khơng
chỉ ở nội dung mà cịn ở phương diện nghệ thuật. Chính vì điều đó đã giúp tơi lựa chọn
đề tài Những cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975. Tìm hiểu truyện
ngắn của các nhà văn thời đổi mới trong tiến trình phát triển của văn học, rút ra những
cách tân nghệ thuật của truyện ngắn là điều cần thiết nhằm góp phần tìm hiểu văn học nói
chung và truyện ngắn Việt Nam đương đại nói riêng. Và đây cũng là dịp để tôi trau dồi,
cũng c ố hơn về kiến thức, tiện cho việc nghiên cứu chuyên sâu sau này.
2. Lịch sử vấn đề
Những năm gần đây, các công trình nghiên cứu, các bài viết về những đổi mới nghệ
thuật trong văn học Việt Nam sau 1975 nói chung và trong truyện ngắn Việt Nam thời kỳ
đổi mới nói riêng khá phong phú nhưng chưa thật sự bao quát. Về hình thức nghệ thuật
của truyện ngắn cũng có rất nhiều ý kiến. Tuy nhiên, mỗi ý kiến bước đầu chỉ đưa ra sự
1
GVHD : Nguyễn Thị Mỹ Nhung

SVTH : Trần Thị Thúy An



Cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn sau 1975

đánh giá về một hay một vài phương diện nghệ thuật. Mặc dù vậy, có thể dẫn ra những
cơng trình nghiên cứu những bài viết tiêu biểu bước đầu đề cập, khơi gợi đến vấn đề này:
Tác giả Bích Thu trong bài “Những thành tựu của truyện ngắn sau 1975” (Tạp
chí Văn học tháng 9 - 1996) cho rằng: “Trong một thời gian không dài truyện ngắn đã
làm được nhiều vấn đề mà tiểu thuyết chưa kịp làm, đã tạo ra nhiều phong cách sáng tạo
có giọng điệu riêng. Xét trong hệ thống chung của các loại hình văn xi, nghệ thuật
truyện ngắn đã đạt được những thành tựu đáng kể trong nghệ thuật xây dựng cốt truyện,
trong cách nhìn nghệ thuật về con người và trong sáng tạo ngôn từ”. Theo tác giả,
“truyện ngắn có xu hướng tự nới mở, đa dạng hơn trong cách thức diễn đạt… Có sự
tác động, hồ trộn giữa ngơn ngữ tác giả và ngơn ngữ người kể truyện”. Lý giải về
những thay đổi này, theo tác giả là “do những biến động khác nhau trong đời sống xã
hội, yêu cầu của thời đại, tính chất phức tạp của cuộc sống, sự đa dạng của tính cách
con người, thị hiếu thẩm mỹ của cơng chúng địi hỏi nhà văn phải tìm tịi những phương
thức thể hiện nghệ thuật tương ứng với một thời kỳ đang chuyển biến”[48,tr.32-36].
Chính những nhu cầu mới của con người khiến các thể loại của văn học có sự vận động
và phát triển mà trong đó truyện ngắn có vai trị quan trọng, là loại hình nghệ thuật đáp
ứng nhanh những chuyển biến của văn học từ thời chiến sang thời bình khi quy luật
chiến tranh đã hết hiệu lực.
Trong bài “Văn học Việt Nam sau 1975 Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy”
(Nxb Giáo dục. 2006), khi đi sâu vào nghệ thuật trần thuật của văn xi nói chung truyện
ngắn nói riêng tác giả Nguyễn Văn Long khẳng định: “Từ bỏ sự áp đặt một quan điểm
được cho là đúng đắn nhất vì đó là quan điểm của cộng đồng, ngày nay người viết có
thể đưa ra nhiều quan điểm khác nhau, chính kiến khác nhau. Để làm được điều đó, cách
tốt nhất là chuyển dịch điểm nhìn vào nhiều nhân vật để mỗi nhân vật có thể tự nói lên
quan điểm, thái độ của mình và để cho các ý thức cùng có quyền phát ngơn, cùng đối
thoại".. Bên cạnh đó “sự thay đổi vai kể, cách đưa truyện lồng trong truyện, sự đảo
ngược và xen kẽ các tình tiết, sự việc không theo một thời gian duy nhấ, tất cả những thủ
pháp ấy đều nhằm tạo ra được hiệu quả nghệ thuật mới”.[29, tr.20]. Tất cả những thủ

pháp ấy đều nhằm tạo ra một hiệu quả nghệ thuật mới để đáp ứng xu thế của thời đại.
Đồng thời trong bài viết này tác giả Nguyễn Văn Long cũng đề cập đến việc đổi mới
ngôn ngữ trong văn xuôi hiện đại nói chung và truyện ngắn nói riêng. Theo ông: “Khi văn
2
GVHD : Nguyễn Thị Mỹ Nhung

SVTH : Trần Thị Thúy An


Cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn sau 1975

xuôi tiếp cận với đời sống ở cự li gần chứ không phải qua một khoảng cách sử thi tuyệt
đối, với thái độ thân mật suồng sã chứ khơng phải tơn kính, thì hệ lời phải thay đổi, từ
thứ ngơn ngữ trang trọng, chuẩn mực, chuyển sang thứ ngôn ngữ đời thường, đậm tính
khẩu ngữ, thơng tục”[29,tr.22]
Tác giả Nguyễn Thị Minh Nguyệt với “Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975 –
1985” (luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, 2009)
đã ch ỉ ra rõ những nét mới trong nghệ thuật truyện ngắn Việt Nam sau 1975. Theo tác
giả: “Truyện ngắn giai đoạn 1975 – 1985 ngày càng xa dần lối kể lể dài dòng mà cơ đúc
hơn trong phương thức biểu hiện, vai trị của cốt truyện chặt chẽ gây cấn có xu hướng
nhường chỗ cho những cốt truyện tâm lý… Truyện ngắn đang mở ra những con đường
giao tiếp cởi mở hơn với độc giả. Nhà văn không phải là người độc tôn chân lý phán
truyền mà tăng cường yếu tố đối thoại với người đọc, những sự phức hợp của giọng
điệu.[40, tr. 113].
Tác giả Nguyễn Thị Bình trong Văn xi Việt Nam 1975-1995 Những đổi mới cơ
bản (Nxb Giáo dục) nhận xét: “Quan sát đại thể, dường như mười năm đầu sau khi cuộc
chiến tranh chống Mĩ kết thúc, văn xuôi nước ta mang giọng trần thuật chủ đạo là trầm
tĩnh, khách quan. T ừ khoảng giữa thập kĩ tám mươi, n ỗi lên giọng phê phán, phân tích xã
hội với sự phát triển ồ ạt của dòng văn học chống tiêu cực. Giọng điệu này chứa đựng
nhiệt tình sơi nổi, nhu cầu đối thoại ráo riết về các vấn đề xã hội mà ý thức công dân vừa

thức tỉnh theo tinh thần dân chủ đổi mới. Sau đó giọng phê phán trầm xuống, hòa đồng
trong rất nhiều giọng khác. Giọng điệu văn xuôi mang nhiều khắc khoải, nhiều chiêm
nghiệm, tự bạch và tự vấn về thế sự nhân sinh. Từ thập kỉ chín mươi, giọng giễu nhại và
hoại nghi chiếm ưu thế” [9, tr.187]. Cũng trong bài viết này khi nói đến ngôn ngữ tác giả
đã nh ận định: “Chưa bao giờ ngôn ngữ văn chương gần với ngôn ngữ sinh hoạt-thế sự
đến thế. Chưa bao giờ trong văn chương (kể cả thơ, kịch, phim) những câu chửi thề, chửi
tục, lối nói trần trụi, bụi bặn, dân dã xuất hiện nhiều đến thế”[9,tr.173]
Bên cạnh các ý kiến trên là những bài viết đưa ra nhận định, đánh giá của các nhà
nghiên cứu về tình hình truyện ngắn cũng như văn xi Vi ệt Nam sau 1975, đặc biệt từ
khi thực hiện công trình đổi mới (1986) trở lại đây. Những bài viết đáng chú ý gồm:
“Các kiểu cấu trúc của truyện ngắn hôm nay” của tác giả Lê Thị Hường; “Giọng và
giọng điệu trong văn xuôi hiện đại” của Lê Huy Bắc; “Văn xuôi từ 1975 đến nay – Một
3
GVHD : Nguyễn Thị Mỹ Nhung

SVTH : Trần Thị Thúy An


Cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn sau 1975

cái nhìn khái quát”; Những đổi mới văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975 – khảo sát
trên những nét lớn” của Nguyễn Thị Bình, …Qua những bài viết này, tác giả đã đưa ra
nhiều nhận định về truyện ngắn cũng như v ề văn học. Nhìn chung các ý kiến đều thống
nhất: văn học nghệ thuật nói chung và truyện ngắn Việt Nam thời đổi mới nói riêng đang
có những nét đổi mới về nghệ thuật cũng như khuynh hư ớng sáng tác của các nhà văn.
3. Mục đích yêu cầu
Đi sâu vào tìm hiểu những cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn Việt Nam sau
1975 như cốt truyện, nhân vật, nghệ thuật trần thuật, giọng điệu, ngơn ngữ,…Tơi hy vọng
góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu văn chương nghệ thuật trong thời đại mới.
4. Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tìm hiểu, khảo sát một số truyện ngắn Việt Nam sau 1975 của tác giả
Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Khải, Ma Văn
Kháng, Phan Thị Vàng Anh, Dương Thu Hương, Vũ Tú Nam,…
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp phân tích - tổng hợp
Để thực hiện đề tài này tơi sử dung phương pháp phân tích tác phẩm, nhân vật, tình
tiết cụ thể. Từ đó tổng hợp những đặc điểm nghệ thuật cũng như nh ững cách tân nghệ
thuật trong truyện ngắn thời kỳ đổi mới.
5.2 Phương pháp so sánh
Với phương pháp này giúp tôi làm sáng tỏ những khác biệt về mặt nghệ thuật của
truyện ngắn giai đoạn sau 1975 so với các truyện ngắn giai đoạn trước.
5.3 Phướng pháp hệ thống
Ở luận văn này tơi sử dụng phương pháp hệ thống trong q trình nghiên cứu để
tạo sự logic chặt chẽ khoa học.

4
GVHD : Nguyễn Thị Mỹ Nhung

SVTH : Trần Thị Thúy An


Cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn sau 1975

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Bối cảnh lịch sử, xã hội
Năm 1975, với thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, lịch sử lại sang
trang: đất nước hoàn toàn thống nhất. Khơng cịn nữa tiếng bom, tiếng súng, nhân dân cả
nước khẩn trương bắt tay vào công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh
tế, ổn định đời sống. Cả nước hào hứng bước vào công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa

(XHCN). Nhưng công cuộc kiến thiết đất nước ở thời bình lại nảy sinh nhiều thách thức,
khó khăn: Đường lối lãnh đạo của Đảng thời kỳ này đã lộ rõ khá nhiều bất cập, chủ quan
trong đường lối, chính sách và chỉ đạo thực hiện, cơ chế quản lý tập trung, bao cấp với bộ
máy hành chính cồng kềnh trở thành lực cản đáng kể đối với sự phát triển của đất nước.
Hậu quả là đất nước phải đối mặt với nguy cơ khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng.
Đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn: nhiều lao động chưa có việc làm; nhiều nhu
cầu chính đáng, tối thiểu của nhân dân về mặt vật chất và văn hóa chưa được đảm bảo.
Thêm vào đó, tình hình quốc tế vào những năm cuối thập niên 80 đã diễn biến ngày càng
xấu đi, nhiều nước trong phe xã hội chủ nghĩa lâm vào tình tr ạng khủng hoảng trầm trọng
rồi tan rã. Lợi dụng tình hình này, các thế lực thù địch quốc tế ra sức tiến hành cuộc phản
kích nhằm triệt tiêu hệ thống xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam. Từ tháng 5/1975
đến 1977, tại biên giới phía Tây Nam tập đồn Pơn Pốt – Iêng Xari đỗ bộ xâm lược nhiều
vùng lãnh thổ nước ta từ Hà Tiên đến Tây Ninh. Ở biên giới phía Bắc vào tháng 2/1975
Trung Quốc đã mở cuộc tấn công nước ta dọc theo biên giới từ Móng Cái đến Lai Châu.
Tuy nhiên bằng ý chí quyết tâm giữ vững nền độc lập bảo vệ nước nhà quân dân ta đã
đoàn kết chiến đấu buộc địch phải rút lui. Dù vẫn giữ vững hệ thống XHCN nhưng trước
thực trạng lộng quyền, tham nhũng trong bộ máy nhà nước đã khi ến nhân dân giảm lòng
tin đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước. Đúng như nhận xét của
nhà văn Nguyễn Khải: “Chiến tranh ồn ào, náo động mà lại có cái yên tĩnh c ủa nó. Hịa
bình n tĩnh, thanh bình mà l ại chứa chấp những sống ngầm, những gió xốy bên trong.
Nhiều người khơng chết trong nhà tù, trên trận địa trong chiến tranh mà lại chết trong ao
tù trưởng giả khi cả nước đã giành đư ợc tự do và độc lập”. [40,tr.26]
Trước thực trạng đó, Đảng đã dũng cảm đối diện với sự thật, đã phát huy cao độ ý
chí quyết tâm tìm tịi, sáng tạo và đề ra những quyết sách, những giải pháp khắc phục hữu
5
GVHD : Nguyễn Thị Mỹ Nhung

SVTH : Trần Thị Thúy An



Cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn sau 1975

hiệu. Đại hội Đảng lần thứ VI (tháng 12/1986) đã diễn ra trên tinh thần đó. Với tư tưởng
chỉ đạo cốt lõi là “lấy dân làm gốc, giải phóng mọi năng lực sản xuất, khai thác và sử
dụng hiệu quả mọi tiềm năng của đất nước; phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và
hoạt động theo các quy luật khách quan; nhanh chống sửa đổi hoặc bãi bỏ những chủ
trương, chính sách khơng phù hợp với lịng dân”[13, tr.3], một lần nữa Đảng lại chứng tỏ
bản lĩnh chính trị và sứ mạng lịch sử trọng đại đối với đất nước, dân tộc. Từng bước,
uyển chuyển khéo léo mà kiên định chắc chắn, Đảng đã lãnh đạo thực hiện thành công
công cuộc đổi mới toàn diện, giữ vững định hướng XHCN, đã mang đ ến cho Cách mạng
nước ta nguồn sức mạnh mới. Sau những năm vận hành theo cơ chế thị trường từ chỗ
thiếu ăn, lương thực, thực phẩm đã đáp ứng được nhu cầu trong nước; hàng hóa trên thị
trường đa dạng và phong phú, tiến bộ về mẫu mã và chất lượng; từ một nước đói nghèo,
nước ta đã tr ở thành nước xuất khẩu gạo; kinh tế đối ngoại phát triển mạnh,… Đời sống
vật chất ngày càng được nâng cao.Về cơ bản, nước ta đã thoát khỏi tình trạng khủng
hoảng và từng bước vững chắc tiến lên theo định hướng XHCN để xây dựng một nước
Việt Nam giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Trong cơng cuộc đổi mới tồn diện do Đảng khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội
Đảng lần thứ VI thì đổi mới văn học cũng là m ột yêu cầu cấp thiết. Tuy nhiên, cho đến
khoảng những năm 1980 nền văn học cơ bản vẫn tiếp tục phát triển theo quán tính của
văn học thời chiến. Đề tài về chiến tranh và người lính vẫn là đề tài cơ bản của nhiều
sáng tác văn học, các sáng tác vẫn thể hiện nguyên tắc tư duy nghệ thuật của nền văn học
sử thi. Trong khi đó, con người trong cuộc sống thời bình có những mối quan tâm, lo toan
mới và tất yếu nảy sinh những nhu cầu giãi bày, thư ởng thức mới. Sự chảy theo quán tính
này đã dẫn đến tình trạng mất độc giả. Nhà văn Nguyên Ngọc đã từng thừa nhận: càng
viết, tay nghề càng cao, nhưng những trang văn của ơng thì hình như càng ngày càng mất
dần độc giả. Và thế là từ sau năm 1980 khuynh hướng sử thi có xu hướng co hẹp lại
nhường chỗ cho khuynh hướng thế sự đời tư: đạo đức con người, những bức xúc của đời
sống kinh tế và cả nhu cầu xem xét lại một số vấn đề của thời kì chiến tranh, nhu cầu
hạnh phúc riêng tư của con người,… Đó là hướng nhìn sâu vào hiện thực.

Sự đổi mới bắt đầu từ văn học dịch. Suốt thời gian dài, từ sau Cách mạng tháng
Tám cho đến năm 1975, dân ta chỉ được tiếp xúc với nền văn học cổ điển châu Âu qua
một số đỉnh cao từ thế kỉ XIX trở về trước. Văn học nước ngoài đương đại được giới
6
GVHD : Nguyễn Thị Mỹ Nhung

SVTH : Trần Thị Thúy An


Cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn sau 1975

thiệu ở Việt Nam giới hạn ở sáng tác của các nước trong phe XHCN. Sau năm 1975, hoạt
động dịch và giới thiệu nền văn học đương đại Âu – Mỹ diễn ra sôi nổi. Hầu hết những
tác phẩm đạt giải Nobel, những tác phẩm ưu tú của các tác gia đương đại thuộc các
trường phái nghệ thuật khác nhau như: tượng trưng , siêu thực, trường phái hiện đại,…đã
được dịch ra tiếng Việt, và bày bán ở khắp các cửa hàng sách. Mảng văn học dịch này có
tác động vơ cùng lớn tới quá trình đổi mới văn học Việt Nam. Nó góp phần làm thay đổi
thị hiếu nghệ thuật của đông đảo độc giả, đồng thời khiến cho các nhà văn càng nhận
thức rõ hơn sự cần thiết của việc thay đổi cách viết.
Có thể nói, trong khoảng thời gian đầu từ 1975 đến 1985 thì trong lĩnh vực sáng tác,
khuynh hướng đổi mới chưa trở thành một phong trào rầm rộ. Bằng chứng cụ thể là chưa
thấy xuất hiện những cây bút trẻ có khuynh hướng đổi mới. Những nhà văn tiên phong
trong giai đoạn này có thể kể đến như Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê Lựu,
Nguyễn Mạnh Tuấn,…
Đến sau 1986 thì cơng cuộc cách tân trở nên sôi nổi. Trong mọi lĩnh vực nghệ thuật,
từ văn học, hội họa, âm nhạc, cho đến sân khấu điện ảnh, sự đổi mới diễn ra vô cùng
quyết liệt. Văn học dịch vẫn tiếp tục phát triển và phát huy tác dụng. Nhưng giờ đây, có
thể nói thành tựu nỗi bật của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới được kết tinh ở truyện
ngắn và tiểu thuyết. Sự tìm tịi đổi mới khơng chỉ ở các nhà văn đã khẳng định được chỗ
đứng của mình trong lịng đọc giả như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Lê Lựu,

Nguyễn Khắc Trường…., mà còn ở nhiều tác giả khác xuất hiện trong thời kỳ này, tiêu
biểu là Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Lại Văn Long, Dương Hướng, Bảo Ninh,….
Cùng khơng ít tác phẩm xuất hiện đã tạo nên tiếng vang lớn trên văn đàn và gợi cho
nguời đọc bao điều suy ngẫm như Phiên chợ Giát, Thời xa vắng, Tướng về hưu, Nỗi
buồn chiến tranh…Các sáng tác này đã t ạo nên diện mạo vừa độc đáo, vừa đa dạng của
văn học Việt Nam ở thời kỳ cách tân văn học.
Ở chặng đường văn học này vẫn tiếp tục có những tên tuổi mới xuất hiện như Phạm
Thị Hoài, Lê Thị Minh Khuê, Phan Thị Vàng Anh,….và còn nhiều tác phẩm đặt ra nhiều
vấn đề từ cách nhìn, cách tư duy nghệ thuật mới mà người đọc rất quan tâm như Mảnh
đất lắm người nhiều ma của nguyễn Khắc Trường, Bước qua lời nguyền của Tại Duy
Anh, Bến không chồng của Dương Hướng, Kẻ sát nhân lương thiện của Lại Văn Long,…
7
GVHD : Nguyễn Thị Mỹ Nhung

SVTH : Trần Thị Thúy An


Cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn sau 1975

1.2 Vài nét về truyện ngắn sau 1975
1.2.1 Diện mạo của truyện ngắn
Sau ngày miền Nam hồn tồn giải phóng, đất nước thống nhất, cả dân tộc Việt
Nam từng bước vượt lên những gian truân thử thách trên chặng đường lịch sử mới để làm
nên những thay đổi toàn diện, sâu sắc, nhất là từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI. Dưới sự
lãnh đạo của Đảng, cả dân tộc cùng chung tay đoàn kết xây đắp và bảo vệ cuộc đời mới,
một tầm thế mới cho Tổ Quốc trên trường quốc tế. Bắt nguồn từ hiện thực đời sống đó,
văn học Việt Nam từ sau 1975 mà tiêu biểu là thể loại truyện ngắn đã chuyển mình qua
một bước ngoặt mới – chuyển đổi trong quan niệm nghệ thuật về hiện thực, con người.
Quan niệm về hiện thực thể hiện sự khám phá, sự lí giải, trình độ chiếm lĩnh hiện
thực của nhà văn. Và mỗi người thường có một vùng đối tượng thẩm mĩ riêng mà tự nó

đã ghi đậm dấu ấn của chủ thể sáng tác.
Chiến tranh, đó là một hoàn cảnh đặc biệt. Đời sống của con người phải chịu đựng
quy định nghiệt ngã của chiến tranh. Sự sáng tạo nghệ thuật của nhà văn khơng thể nằm
ngồi quy luật đó. Phản ánh và phục vụ cuộc sống có thể xem đó là nguyên tắc sinh tử
của văn học nghệ thuật.“Cuộc đời là nơi xuất phát cũng là nơi đi t ới của văn học” (Tố
Hữu). Do ra đời trong hoàn cảnh chiến tranh, do yêu cầu của cách mạng, văn học cần
phải nhanh chóng đáp ứng kịp thời nhu cầu của đời sống chiến đấu, và để phục vụ tốt
nhất cho việc khơi gợi lòng yêu nư ớc, kêu gọi đoàn kết chiến đấu, ngợi ca chủ nghĩa anh
hùng Cách mạng, văn chương giai đoạn 1945- 1975 phản ánh hiện thực bằng cái nhìn
đậm màu sắc của khuynh hướng sử thi và dào dạt cảm hứng lãnh mạn. Hiện thực được
phản ánh trong tác phẩm chủ yếu là hiện thực chiến tranh. Đó là một hiện thực vận động
xi chiều và nhìn chung rất lạc quan. Cảm quan của người nghệ sĩ thư ờng có khuynh
hướng trừu tượng hóa, lướt qua những mảng tối, những gốc khuất để tập trung ghi nhận
và thể hiện phần chói sáng, cao cả, hào hùng của đời sống chiến tranh. Hiện thực tàn
khốc qua cái nhìn lãng mạn và ngịi bút có phần thi vị hóa, lý tư ởng hóa như được thăng
hoa“ Đường ra trận mùa này đẹp lắm” ( Phạm Tiến Duật), “Cuộc đời đẹp nhất là trên
trận tuyến đánh quân thù” (Lê Mã Lương).
Khi chiến tranh qua đi, cuộc sống trở lại bình thường, con người trở về với bao bộn
bề lo toan trong cuộc mưu sinh thì lẽ dĩ nhiên văn chương cũng tr ở về với chức năng của
8
GVHD : Nguyễn Thị Mỹ Nhung

SVTH : Trần Thị Thúy An


Cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn sau 1975

nó. Yêu cầu đặt ra cho các nhà văn ở vào chặng đường này là mô tả hiện thực như thế
nào cho hợp lí trong điều kiện đất nước thống nhất và nhu cầu thẩm mĩ của độc giả. Văn
học cần một quan niệm toàn diện, đa chiều hơn về hiện thực bởi hiện thực là một chỉnh

thể vẹn toàn, bất khả phân chia. Ln có sự đan xen đến bộn bề phức tạp của nhiều mặt
đối lập: niềm vui và nỗi buồn, ánh sáng và bóng tối, cao cả và thấp hèn, thiện và ác, tích
cực và tiêu cực,…trong đời sống xã hội và trong mỗi con người.
Sau 1975, các nhà văn khơng chỉ dừng lại ở phản ánh mà cịn nghiền ngẫm hiện
thực. Trước đây, hồn cảnh chiến tranh khơng cho phép họ đi sâu vào từng ngỏ nghách
tâm hồn con người để thể hiện trọn vẹn những cung bậc cảm xúc, khám phá tận cùng sự
phức tạp, bề bộn, ngổn ngang của đời sống. Giờ đây, do yêu cầu của thời đại, do nhu cầu
tự thân của hoạt động sáng tạo, hiện thực đời sống đi vào văn chương vẹn nguyên sự đa
chiều của nó, được soi sáng, cày xới cả những phần khuất lấp, mờ tối. Nhà văn Nguyễn
Khải đã khẳng định: “tơi thích cái hơm nay, cái hơm nay ngỗn ngang bề bộn, bóng tối và
ánh sáng, màu đỏ với màu đen, đầy rẫy những biến động bất ngờ - đấy mới thực là mảnh
đất phì nhiêu cho các cây bút thả sức khai vỡ”[13, tr.7]. Biên độ hiện thực ngày càng
được mở rộng. Cuộc sống được phản ánh vào trong tác phẩm không chỉ là phần anh hùng
cao cả mà cịn thấm thía nỗi buồn, vừa nhân hậu ấm áp vừa nhếch nhác lấm lem. Nhà văn
có thể đi đến những miền khuất, những mặt trái của đời sống với chiều sâu tâm linh con
người.
Nhìn lại những sáng tác trong chiến tranh, chúng ta nhận thấy văn học đã cố gắng
bám sát cuộc sống chiến đấu oanh liệt của dân tộc. Điểm mạnh trong những sáng tác
của họ là giàu tính thời sự, có sức động viên và cổ vũ lớn lao. Tuy nhiên sau chiến
tranh xuất hiện những yêu cầu mới, “yêu cầu tái hiện lịch sử phải gắn liền với đòi hỏi
đi sâu vào số phận và diễn biến của con người; viết về cuộc chiến tranh hôm qua phải
đặt trong tương quan với những yêu cầu của cuộc sống hôm nay” [28,tr.209]. Chiến
tranh giờ đây đã đư ợc nhìn theo cái nhìn đa chi ều, tồn diện, trong đó có những phẩm
chất anh hùng sáng ngời của người lính nhưng cũng có những kẻ hèn nhát, sợ chết,
phản bội hay gắng gỏi leo lên những bậc thang địa vị, có cả những hi sinh mất mát,
những tổn thất của quân ta, chứ không đơn thuần chỉ là những chiến thắng vẻ vang như
trước đây. Mô tả chiến tranh thường song hành với việc miêu tả số phận, tích cách con
người. Chiến tranh nhiều lúc chỉ là cái nền để nhân vật bộc lộ tính cách của mình.
9
GVHD : Nguyễn Thị Mỹ Nhung


SVTH : Trần Thị Thúy An


Cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn sau 1975

Truyện ngắn Hai người trở lại trung đoàn của nhà văn Thái Bá Lợi đã th ể hiện rõ
nét những vấn đề này. Trong truyện nhân vật Trí vừa là một con người dũng cảm,
thông minh trong chiến trận nhưng lại là kẻ thủ đoạn trong tình u. Song khi có được
tình u thì sẵn sàng rũ bỏ nó, rũ bỏ cả đứa con mình để leo lên địa vị trung đồn
trưởng. Bối cảnh chiến tranh ở truyện ngắn này khơng cịn chiếm địa vị độc tôn mà
luôn song hành, đan xen với hành trình đi tìm hạnh phúc của các nhân vật. Có khi bối
cảnh chiến tranh chỉ là nền tảng để tác giả bộc lộ tư tưởng, nhận thức. Người đọc có thể
thấy được điều này thơng qua truyện ngắn Năm tháng đi qua của Nguyễn Thị Như
Trang. Trong truyện nữ phóng viên Ngun Bình khi đến với mặt trận Tây Nam, đến
với những người lính dũng cảm mà giản dị, khiêm nhường lại giúp chị nhận ra ý
nghĩa đích thực của cuộc đời. Là một phóng viên sống ở Hà nội, chị luôn khao khát
được nếm trải nỗi vất vả của những chuyến đi thực tế, hoà cái riêng của mình vào
ngàn mảnh đời chung để tạo nên những trang viết. Nhưng Văn, người yêu của chị, một
nhà thơ trầm ngâm đi trên hè phố Hà Nội với những câu thơ viết về nỗi đau khổ, lại
khơng đồng tình với suy nghĩ đó. Khi chứng kiến sự hi sinh của những người lính trong
lịng chị cứ day dứt một câu hỏi Sống như thế tơi sẽ có ích gì cho cuộc đời này? Và hình
ảnh của Văn bỗng nhồ đi rất nhanh. Như vậy, chiến tranh không chỉ là thước đo giá trị
con người mà đồng thời cũng giúp con người nhận thức về cuộc sống và sống có ý
nghĩa hơn.
Song song với hiện thực chiến tranh là hiện thực về cuộc sống thường nhật sau
cuộc chiến. Từ những năm 80 trở đi vùng hiện thưc thế sự, đời tư này chiếm một vị
trí ngày càng quan trọng hơn trong đời sống văn xuôi. Tiếp cận đời sống ở bình diện
sinh hoạt thế sự, những sáng tác văn xi của Lê Minh Khuê Trong tập truyện ngắn
được giải thưởng của hội nhà văn Việt Nam năm 1987 Một chiều xa thành phố, Lê

Minh Khuê đã phản ánh khá tinh tế sự chuyển động lúc âm thầm, lúc mạnh mẽ
trong đời sống tinh thần của con người thời đại. Con người bị cuốn vào cơn lũ của đời
sống tiện nghi, của tâm lí tiêu dùng, của thói lãnh cảm với quá khứ, với đồng loại.
Trong truyện Một chiều xa thành phố từ một cơ gái nhiệt tình, hăm hở Tân trở thành
kẻ hưởng thụ và ích kỷ bởi sự nhập cuộc với hiện tại cuồng nhiệt. Cô sống thờ ơ với
bạn cũ, cố chạy theo lối sống vật chất, khiến cho chồng cô phải thốt lên một cách khinh
bỉ cái nông cạn của người đàn bà cũng như một thứ tội ác.[37, tr.29]. Sự phê phán của
10
GVHD : Nguyễn Thị Mỹ Nhung

SVTH : Trần Thị Thúy An


Cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn sau 1975

nhà văn với những thói hư tật xấu ấy của con người nhẹ nhàng mà thấm thía. Văn xi
sau 1975 trở lại với hiện thực đời thường, chọn những con người, những việc bình
thường đặt nó vào quỹ đạo quan sát để làm giàu thêm cho nhận thức và sinh hoạt tinh
thần con người trong cuộc sống thời bình.
Bên cạnh việc đổi mới quan niệm về hiện thực truyện ngắn Việt Nam sau 1975 cịn
có sự chuyển đổi trong quan niệm nghệ thuật về con người. Ở bất kỳ nền văn học nào,
con người cũng là đối tượng trung tâm của phản ánh hiện thực. Quan niệm về con người
trong văn học là quan niệm nghệ thuật được nhà văn nhận thức và phản ánh trên cơ sở
hiện thực. Theo thi pháp học: “Quan niệm nghệ thuật về con người là sự lý giải, cắt
nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hố thân thành các ngun tắc, phương tiện,
biện pháp hình thức để thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và
thẩm mỹ cho các hiện tượng nhân vật trong đó”[43, tr.43].
Tìm hiểu nghệ thuật về con người tức là tìm hiểu cách nhìn, chiều sâu của sự khám
phá, sự lý giải, trình độ chiếm lĩnh con người của nhà văn. Quan niệm nghệ thuật về con
người là cốt lõi tinh thần, là phương diện có tầm quan trọng hàng đầu để xác định những

đặc trưng cơ bản, xác định trình độ, tài năng, sự đóng góp của nhà văn cho văn học và
đời sống. Quan niệm về con người liên quan đến toàn bộ quá trình sáng tạo của nhà văn,
đến tất cả các yếu tố nội dung và hình thức của tác phẩm. Nó đánh dấu sự thay đổi đáng
kể của hệ hình tư duy trong sáng tác của nhà văn. Theo Trần Đình Sử: “Chừng nào
chưa có sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người, thì sự tái hiện các hiện
tượng đời sống khác nhau chỉ có ý nghĩa mở rộng về lượng trên cùng một chiều
sâu”[41,tr.98].
Lịch sử văn học là lịch sử của những quan niệm khác nhau về con người. Văn học
Trung đại có con người vơ ngã. Văn h ọc 1930 - 1945 là những con người bản ngã. Văn
học 1945-1975 do chiến tranh nên văn học quan tâm đến con người quần chúng, sử thi và
anh hùng ca. Hình tư ợng trung tâm trong văn học giai đoạn này là người chiến sĩ – những
người xả thân vì lí tưởng, gắn bó hết mình với sự nghiệp cách mạng, với quê hương đất
nước. Hầu như suy nghĩ và hành đ ộng của họ đều thuộc về, hướng về Tổ quốc và dân tộc.
Do tính chất căng thẳng, khốc liệt của chiến tranh, con người có xu hướng hướng ngoại
rõ nét hơn. Trong khơng khí hồnh tráng với tiếng đạn bom, với lời hiệu triệu và tiếng
thét xung phong hào hùng thì những cái riêng tư trở thành nhỏ bé trước cái chung vĩ đại
11
GVHD : Nguyễn Thị Mỹ Nhung

SVTH : Trần Thị Thúy An


Cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn sau 1975

và khó được chấp nhận, hoặc có thể thì những tình cảm cá nhân, gia đình phải được đặt
trong mối quan hệ với tình yêu Tổ quốc, tình cảm đối với Đảng và cách mạng.
Sau 1975 đất nước hồ bình, đ ổi mới, nhân tố con người được nhấn mạnh, giá trị trị
con người được tôn trọng, tạo nên sự thức tỉnh mạnh mẽ của ý thức cá nhân. Định hướng
của Đảng về quan niệm nghệ thuật về con người đã t ạo tiền đề cho sự chuyển biến căn
bản của văn xi sau 1975. Nếu như điểm dừng, đích đến của văn học nói chung và văn

xi Việt Nam trước 1975 là các sự kiện của lịch sử, chính trị. Thì sau 1975 có sự thay
đổi căn bản, đó khơng cịn là các sự kiện lịch sử chính trị nữa mà là con người. Cơ cấu
thành phần nhân vật trong văn xi cũng có sự thay đổi rõ rệt : trước 1975 thường xuất
hiện những nhân vật tập thể, đám đông, nếu có xuất hiện con người cá nhân thì cũng ch ỉ
là những con người cá nhân nhân danh tập thể, nhân danh cộng đồng. Đó là Tnu, chú bé
Heng trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyên Ngọc, hay Nguyệt trong truyện ngắn
Mãnh trăng cuối rừng của nhà văn Nguyễn Minh Châu…Còn văn học sau 1975 là là
những nhân vật cá thể với cuộc sống đời tư phức tạp, đa diện và nhiều mâu thuẫn. Số
phận con người trong văn học trước 1975 trùng với lịch sử dân tộc cịn sau 1975 có sự
vênh lệch, so le, lịch sử thì phát triển cịn con người thì thất bại, cơ đơn lạc lõng trước
cuộc đời: Chẳng hạn như trong truyện ngắn Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp, bề
ngồi đó là một gia đình hạnh phúc nhưng bên trong lại là sự tẻ nhạt, là một khối cô đơn
bởi mỗi thành viên trong gia đình đ ều có một thế giới riêng: vợ ngoại tình, chồng nhu
nhược, người bố trong thời chiến ông là một người tướng giỏi nhưng trong thời bình ơng
khó có thể hịa nhập với cuộc sống thực tại, lại như một người lãnh đạo bù nhìn bởi chính
ơng cũng là m ột khối cơ đơn trong gia đình đó. Người đọc cũng b ắt gặp được vấn đề này
thông qua truyện ngắn Những bông bần li của Dương Thu Hương, trong truyện Khang chồng Ngân là một người luôn thờ ơ trước mọi vấn đề xã hội, hằng ngày anh vùi vào
cơng việc kiếm tiền. Cịn Ngân dù có một cuộc sống đủ đầy vật chất nhưng Ngân lại
khơng tìm thấy được hạnh phúc trong sự đủ đầy đó. Chị cơ đơn, lạc lõng trong chính ngơi
nhà của mình. Văn học sau 1975 cũng quan tâm đến phương diện con người tự nhiên một phương diện của con người cá nhân. Đó là con người với những khát vọng riêng tư,
những dục vọng bản năng như: làm giàu, hưởng thụ, tình dục...
Ngồi ra với quan niệm mới mẻ về con người và cuộc đời trên nền tảng của những
suy tư, nghiền ngẫm có chiều sâu, nhiều nhà văn cùng với đứa con tinh thần của mình đã
12
GVHD : Nguyễn Thị Mỹ Nhung

SVTH : Trần Thị Thúy An


Cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn sau 1975


đem đến cho người đọc cái nhìn sâu hơn về con người, làm xuất hiện kiểu người khơng
bao giờ trùng khít với chính mình (Bakhtine). Đó là người đàn bà làng chài trong
truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu, dù thường xuyên
bị chồng đánh đập tàn nhẫn nhưng chị vẫn lạy “xin toà đừng bắt con bỏ nó”. Đi tìm
câu trả lời cho nghịch lý ấy, nhà văn hướng người đọc đến một sự thật: “Đám đàn bà
làng chài ở thuyền chúng tơi cần phải có một người đàn ông để chèo chống khi phong
ba, để cùng làm ăn nuôi nấng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông
trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con đến khi khôn lớn cho lên phải gánh
lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho
mình như ở trên đất được”[10,tr344]. Thực ra người đàn bà ấy đã không hề cam chịu
một cách vô lý, nông nổi, ngờ nghệch mà ngược lại chị là người rất sâu sắc, thấu hiểu
lẽ đời. Người phụ nữ này có một cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ nhưng biết chắt chiu
những hạnh phúc đời thường. Sống cam chịu và kín đáo, hiểu sâu sắc lẽ đời nhưng chị
khơng để lộ điều đó ra bên ngồi. Một người phụ nữ có ngoại hình xấu xí, thơ kệch
nhưng tâm hồn đẹp đẽ và vẫn mang bóng dáng của người phụ nữ Việt Nam nhân
hậu, bao dung, giàu đức hy sinh và lòng vị tha. ở những truyện ngắn như thế Nguyễn
Minh Châu đã chạm vào chiều sâu của lòng nhân bản ở con người.
Từ một nền văn học phản ánh con người trong mối quan hệ cộng đồng, văn học sau
1975 chuyển sang phản ánh con người cá nhân, con người bản ngã, con ngư ời đời tư, con
người với vô số bi kịch trong mối quan hệ đa chiều của nó. Trong thời kỳ đổi mới khi văn
học được chú tâm quan sát và thể hiện bằng cảm hứng đạo đức, thế sự thì con người hiện
ra như một cá thể phức tạp, có số phận riêng với tất cả tinh thần, nội tâm, tiềm thức, bản
năng.... “con người là người với sự hèn hạ và cao quý của con người” (Thạch Lam). Con
người trong giai đoạn này không chỉ biết xả thân mà còn tự bồi đắp phẩm cách và ý thức
cá nhân. Khi nhà văn đặt con người trong mối quan hệ muôn mặt của đời thường, trong
cái chung và cái riêng, trong tư tưởng tình cảm, trong đời sống tự nhiên, bản năng, trong
khát vọng cao cả và dục vọng tầm thường, cả trong mối quan hệ với tự nhiên, xã hội và
chính mình. Có thể nói các nhà văn đã có những nhận thức mới về con người. Trước
1975 nhà văn chỉ ca ngợi con người nhất phiến, một chiều (tốt đẹp, cao thượng ...) nhưng

sau 1975 văn học đã trở về với giá trị nhân bản của con người. Nhà văn nhìn con người từ
nhiều toạ độ, nhiều chiều, đa nhân cách, vừa có "rồng phượng lẫn rắn rít, thiên thần và
13
GVHD : Nguyễn Thị Mỹ Nhung

SVTH : Trần Thị Thúy An


Cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn sau 1975

ác quỷ" và nhìn chung, nó tồn diện và sâu sắc hơn. Điều này phản ánh sự thức tỉnh ngày
càng cao của nhà văn về con người cá nhân. Họ đi sâu khám phá thế giới nội tâm của con
người, tạo ra một thế giới nhân vật đa dạng, có đời sống tâm lí phức tạp, vừa gần gũi d ễ
hiểu vừa mênh mơng đầy bí ẩn.
1.2.2 Thành tựu của truyện ngắn
Trong sự phát triển của nền văn học Việt Nam hiện đại từ sau cách mạng tháng
Tám, cùng với thơ, tiểu thuyết truyện ngắn cũng phát triển trong đà đổi mới và gặt hái
được những thành tựu đáng kể. Lúc này truyện ngắn được xem là thể loại có bước đột
phá và là lực lượng xung kích của văn học.
Tiếp nối những thành công đã g ặt hái được của truyện ngắn trong giai đoạn kháng
chiến, sau những năm 1975 thể tài này vẫn tiếp tục phát triển. Số lượng truyện ngắn tăng
nhanh, các đầu sách về truyện ngắn chiếm tỷ lệ lớn trong số lượng xuất bản hằng năm
của các nhà xuất bản Hội nhà văn, Phụ nữ, Thanh niên, Văn nghệ, Quân đội nhân dân,
Công an nhân dân, chưa kể đến các nhà xuất bản địa phương như TP HCM, Hải Phịng,
Đà Nẵng, Đồng Nai…Thật khó có thể thống kê một cách chính xác về số lượng truyện
ngắn đã in trên các báo văn nghệ từ trung ương đến địa phương, các tuyển tập truyện
ngắn của các nhà xuất bản.
Thành tựu của truyện ngắn Việt Nam cũng được đánh dấu bởi sự hình thành và
khẳng định của những phong cách cá nhân. Hơn bất cứ thể loại nào, trong truyện ngắn
dấu ấn cá nhân của người viết để lại rất rõ nét.

Giai đoạn 1975 – 1985 ngoài những tên tuổi như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải,
Nguyễn Mạnh Tuấn,… với những phong cách nghệ thuật riêng cịn có lối viết chặt chẽ,
khúc triết của Bùi Hiển, Nguyễn Kiên, Nguyễn Thành Long...Có lối viết giản dị, giàu
chi tiết hiện thực nhưng cũng chú ý tới việc khai thác tâm lí nhân vật như trong
truyện của Vũ Tú Nam, Ma Văn Kháng, Vũ Thị Thường, Xn Thiều, Triệu Bơn... Lại
có lối viết chú trọng đến việc xây dựng những cốt truyện hấp dẫn với nhưng tình huống
giàu kịch tính, bất ngờ như Nguyễn Quang Sáng, Lê Minh Khuê,…
Nhiều tác giả trưởng thành từ trong chiến tranh tiếp tục khẳng định phong cách
riêng nhưng có sự chuyển biến trong cách viết do quan niệm về hiện thực và con người
đã thay đổi. Ma Văn kháng chuyển từ vùng hiện thực miền núi sang cuộc sống thị
thành. Ngòi bút của nhà văn cố gắng len lỏi vào các ngóc ngách của đời sống để khám
14
GVHD : Nguyễn Thị Mỹ Nhung

SVTH : Trần Thị Thúy An


Cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn sau 1975

phá cái phong phú, phức tạp của lòng người và lẽ đời với tất cả các cung bậc buồn vui,
lo âu, hi vọng của mỗi số phận. Để từ đó vang lên khát vọng phải bảo tồn cho được cái
khả năng yêu thương đồng loại, cái mầm nhân bản trong mỗi con người. Nguyễn Minh
Châu chuyển hướng khai thác từ hiện thực chiến tranh sang cuộc sống đời thường. Ông
được coi là người mở đường tinh anh và tài hoa với hai tập truyện ngắn Người đàn bà
trên chuyến tàu tốc hành (1983) và Bến quê (1985). Truyện ngắn của hai tác giả này
làm loé lên tính chất phong phú đa dạng, phức tạp của cuộc sống sau chiến tranh.
Tiếp nối những thành công của thế hệ nhà văn tiên phong cần phải kể đến sự xuất
hiện và khẳng định của một loạt cây bút mới như : Chu Lai, Thái Bá Lợi, Xuân Đức,
Khuất Quang Thuỵ, Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Thị Như Trang, Trung Trung
Đỉnh…Thế hệ này đã đem vào trong văn xuôi, đặc biệt ở những tác phẩm viết về chiến

tranh, sự từng trải, những kinh nghiệm cá nhân của mình và của thế hệ mình đã tích luỹ
trong những năm chiến đấu. Những cây bút nữ khác như Thuỳ Linh, Lí Lan, Trần Thuỳ
Mai, Phạm Thị Minh Thư cũng đã tạo được những dấu ấn riêng ở dòng truyện ngắn trữ
tình.
Trong quãng thời gian từ 1986 đến nay, các cuộc thi truyện ngắn tăng lên nhiều,
đây cũng là cơ h ội xuất hiện nhiều tên tuổi mới như: Phạm Thị Hoài, Phan Thị Vàng
Anh, Võ Thị Hảo, Y Ban, Phạm Ngọc Tiến, Từ Nguyên Tĩnh, Lưu Minh Sơn,…
Điểm qua các tập truyện ngắn Ánh trăng, Bến trần gian, truyện ngắn hay dễ dàng
liệt kê được hàng trăm tác giả với hàng trăm truyện ngắn. Trong số đó có các tác giả tiêu
biểu cùng với những tác phẩm gây chú ý của bạn đọc như: Phan Thị Vàng Anh với Hoa
muộn; Nguyễn Thị Thu Huệ với Hậu thiên đường, Mùa đông ấm áp; Lưu Sơn Minh với
Duyên nghiệp, Bến trần gian; Nguyễn Thế Tường với Hồi ức một binh nhì, Một chuyện
đau lịng…
Q trình đổi mới và phát triển truyện ngắn bước đầu đã tạo nên một khơng khí vui
tươi và hứa hẹn nhiều triển vọng. Sự đan cài của nhiều lớp nhà văn nhiều phong cách,
nhiều cá tính nghệ thuật khác nhau đã tạo ra cho truyện ngắn sau 1975 một diện mạo
mới.
1.3 Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn
Nói đến nghệ thuật của truyện ngắn thứ nhất cần phải nói đến cốt truyện. Khái niệm
cốt truyện là một phạm trù đa dạng và đầy biến động. Bởi “Cốt truyện là một hệ thống
15
GVHD : Nguyễn Thị Mỹ Nhung

SVTH : Trần Thị Thúy An


Cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn sau 1975

các sự kiện phản ánh những diễn biến của cuộc sống và nhất là các xung đột xã hội một
cách nghệ thuật, qua đó các tính cách hình thành và phát triển trong những mối quan

hệ qua lại của chúng nhằm làm sáng tỏ chủ đề và tư tưởng tác phẩm” [41,tr,81].
Trong Từ điển thuật ngữ văn học có một khái niệm rõ hơn về cốt truyện trong
truyện ngắn như sau: “Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong thời gian khơng
gian hạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì đó sâu sắc về cuộc đời
và tình ngư ời”[15, tr.371]
Cốt truyện được chia thành 3 phần: mở đầu, cao trào và kết thúc. Tuy nhiên không
phải lúc nào viết truyện ngắn nhất thiết phải đầy đủ 3 phần. Cốt truyện diễn ra trong một
không gian, thời gian hạn chế. Nhà văn có thể đảo lộn, thay đổi trật tự thời gian hay vị trí
khơng gian theo ý đồ nghệ thuật của mình. Có cốt truyện nghiêng về hành động, có cốt
truyện nghiêng về tâm lý,…Và mỗi nhà văn có cách sáng tạo cốt truyện riêng theo sở
trường của mình.
Đánh giá về vai trị của cốt truyện, nhiều nhà văn lớn đã từng khẳng định tầm
quan trọng của nó trong hoạt động sáng tạo tác phẩm.
Goeth (văn hào Đức) từng coi cốt truyện là thành phần khơng thể thiếu được của
văn học: “cịn gì quan trọng hơn cốt truyện và nếu thiếu nó thì cả một nền nghệ thuật sẽ
cịn ra gì nữa? Nếu cốt truyện khơng dùng được thì tài năng sẽ bị lãng phí vơ ích” [12,
tr.26].
Mơ ơm – nhà văn viết truyện ngắn Anh khẳng định “Nhà văn sống bằng cốt truyện,
y như họa sĩ sống bằng màu và bút vẽ vậy” [35,tr.194].
A.Tônxtôi cũng cho r ằng “Cần tìm cho được cốt truyện. Đôi khi chỉ xảy ra chốc
lát vài giây thôi, nhưng giống như một thứ thuốc thử đậm đặc, những cốt truyện hay có
khả năng khiến cho những tư tưởng, những quan sát và những hiểu biết đang chồng chất
hỗn loạn hiện ra thành lớp lang rành mạch. Những cốt truyện cở đó là cả một tìm tịi,
một phát hiện” [35, tr.98].
Một khía cạnh nữa cũng là nét đặc trưng thứ hai của truyện ngắn đó là nhân vât. Đối
với phương thức tự sự, vai trò của nhân vật được xác định là thành phần then chốt, là yếu
tố trung tâm để nhà văn thể hiện đề tài, chủ đề và tư tưởng của tác phẩm, bởi đó là hình
thức cơ bản để qua đó văn học miêu tả thế giới nghệ thuật một cách hình tượng.
16
GVHD : Nguyễn Thị Mỹ Nhung


SVTH : Trần Thị Thúy An


Cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn sau 1975

Đồng thời cũng là yếu tố cơ bản nhất trong tác phẩm văn học tiêu điểm để bộc lộ
chủ đề và tư tưởng chủ đề, và đến lược mình nó lạo được các yếu tố có tính chất hình thái
của tác phẩm tập trung khắc họa nhân vật, do đó là nơi tập trung giá trị tư tưởng – nghệ
thuật của tác phẩm văn học. Chức năng của nhân vật là tái hiện được cuộc sống mn
hình vạn trạng, khơng có nhân vật nhà văn không thể khái quát được quy luật sống của
con người. Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì: “Nhân vật trong truyện ngắn thường là
hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hôi, ý thức xã hội, hoặc trạng thái tồn tại của
con người”[15, tr.371]. Trong truyện ngắn mỗi nhân vật chỉ thể hiện về một phương diện
nào đó, một khía cạnh nào đó trong cuộc đời. Và mỗi cây bút viết truyện ngắn nỗi tiếng,
ở mỗi tác phẩm thành cơng đều có kiểu nhân vật riêng, nhân vật điển hình, mỗi nhân vật
được sáng tạo ra để thể hiện nhận thức của tác giả về một cá nhân, một loại người nào
đó, hay một vấn đề của hiện thực. Bởi lẽ, “Nhân vật là thuật ngữ chỉ hình tượng nghệ
thuật, một trong những dấu hiệu chỉ sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật
ngôn từ. Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi cịn là các con vật, các lồi cây,
các sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống con người” [5, tr.642].
Nhiều nhà văn cho rằng, nhân vật là trụ cột của các sáng tác, phải được chuẩn bị
đầu tiên, vì nhân vật là người sứ giả truyền đi cái thế giới quan, cái nhân sinh quan của
mình… Theo Nguyễn Tuân, cuộc sống của con nguời gắn bó chặt chẽ với hình tượng
nhân vật trong tác phẩm, nhân vật là “nơi duy nhất tập trung hết thảy trong sáng tác”,
“chỉ có nhân vật mới kiểm tra được cốt truyện, nhân vật mới có quyền chi phối ý chính, ý
phụ” [37, tr.181]
Truyện ngắn hiện đại vận dụng khá đa dạng những phương thức nghệ thuật.
Trong những phương thức nghệ thuật ấy không thể không nhắc đến giọng điệu.
Theo từ điển thuật ngữ văn học thì: “Giọng điệu là thái độ, tình cảm, lập trường

tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả thể hiện trong
lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ
xa, gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm…Giọng điệu
phản ánh lập trường xã hội, thái độ tình cảm và thị hiếu thẫm mỹ của tác giả, có
vai trị rất lớn trong việc tạo nên phong cách nhà văn và tác dụng truyền cảm
cho người đọc. Thiếu một giọng điệu nhất định, nhà văn chưa thể viết ra một tác
17
GVHD : Nguyễn Thị Mỹ Nhung

SVTH : Trần Thị Thúy An


Cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn sau 1975

phẩm, mặc dù đã có đ ủ tài liệu và sắp xếp xong hệ thống nhân vật.” [15, tr.134135].
Vì vậy có thể nói ngồi cốt truyện, nhân vật thì giọng điệu là một trong
những yếu tố đặc trưng trong tác phẩm tự sự. Nó giúp cho người đọc nhận ra
giọng điệu của tác giả, đồng thời là thước đo chuẩn mực đánh giá tài năng nghệ
thuật của nhà văn.
Văn học là nghệ thuật ngôn từ. Nhà văn sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện để xây
dựng hình tượng nghệ thuật. Vì vậy ngơn ngữ có vai trị quan trọng tạo nên tính
đặc sắc của một tác phẩm văn học, đồng thời cũng góp phẩn làm nên nét cá tính
riêng trong sáng tạo nghệ thuật của tác giả.
Theo từ điển thuật ngữ văn học thì: “Ngơn ngữ là cơng cụ, là chất liệu cơ bản của
văn học,…ngôn ngữ văn học là một trong những yếu tố quan trọng thể hiện cá tính sáng
tạo, phong cách, tài năng của nhà văn…” [15, tr.215].
Truyện ngắn hiện đại vận dụng khá đa dạng những phương thức nghệ thuật, trong
những phương thức đó khơng thể khơng nhắc đến ngôn ngữ. Ngôn ngữ của truyện ngắn
là phương tiện, là công cụ để bộc lộ tư tưởng của tác phẩm, đồng thời cũng góp phần làm
nên nét cá tính trong sáng tạo nghệ thuật của tác giả. Người viết văn phải là người có vốn

ngơn ngữ và từ vựng phong phú thì mới có thể làm cho tác phẩm của mình có giá trị nội
dung và nghệ thuật. Quan trọng hơn người viết truyện ngắn cần phải lựa chọn, chắt lọc
vốn ngơn ngữ của mình càng nhiều hơn.
Như vậy, ngôn ngữ của truyện ngắn phải mang sức sống cho tác phẩm, nó phải thật
sinh động để diễn tả hết những ý nghĩa c ủa chủ đề tư tưởng và nhân vật. Ngôn ngữ trong
truyện ngắn phải là ngôn ngữ cơ đọng, chính xác, trong sáng, thể hiện phong cách riêng
của mình. Qua lớp ngơn ngữ người đọc có thể nhận ra phong cách của nhà văn.
Nhìn chung, truyện ngắn Việt Nam sau 1975 đã đi trọn một chặng đường. Chặng
đường ấy gắn liền với sự kiện chính trị trọng đại: Đại hội Đảng lần thứ VI quyết định cho
công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Sau 1975 hiện thực đời sống đã khác trước vì vậy
cần phải có cách tiếp cận phù hợp. Đồng thời để đáp ứng thị hiếu của độc giả tư duy nghệ
thuật đã thay đ ổi. Ngồi ra trong giai đoạn này có thể nói truyện ngắn đã đ ạt được rất
nhiều thành tựu trong đó có sự xuất hiện của rất nhiều cây bút với những tác phẩm tạo
được tiếng vang trên văn đàn.
18
GVHD : Nguyễn Thị Mỹ Nhung

SVTH : Trần Thị Thúy An


Cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn sau 1975

Chương 2:
NHỮNG ĐỔI MỚI Ở PHƯƠNG DIỆN
CỐT TRUYỆN VÀ NHÂN VẬT
2.1 Cốt truyện
Trong hoạt động sáng tác, mỗi nhà văn có những cách thức khác để tiếp cận hiện
thực. Nếu nhà thơ trữ tình bộc lộ những xúc động và tâm trạng qua việc xác lập và triển
khai tứ thơ thì tác giả tự sự và kịch thể hiện tư tưởng tình cảm của mình thơng qua các hệ
thống biến cố tạo thành cốt truyện trong tác phẩm.

Cốt truyện là toàn bộ những sự kiện được nhà văn kể trong văn bản tự sự mà người
đọc có thể kể lại. Nó cịn là sự sắp xếp thẩm mĩ, không tuân theo tr ật tự biên niên của sự
kiện và quan hệ nhân quả nghiêm ngặt, thống nhất theo ý đồ chủ quan của người kể về
những sự kiện của một câu chuyện nào đó, nhằm mục đích nêu bật được tư tưởng chủ đề
và tạo sức hấp dẫn tối đa tới người đọc. Cốt truyện là yếu tố quan trọng bậc nhất, khơng
thể thiếu trong bất kì một hình thức tự sự nào. Loại bỏ cốt truyện, văn bản tự sự lập tức
chuyển sang dạng văn bản khác. Trong tác phẩm tự sự, cốt truyện là cái khung để đỡ cho
toàn bộ tịa nhà nghệ thuật ngơn từ đứng vững. Cùng với các yếu tố nghệ thuật khác, cốt
truyện cũng giữ vai trị khơng nhỏ trong việc tiếp cận hiện thực của nhà văn và sự vận
động thay đổi trong sự phát triển chung của thể loại truyện ngắn nói riêng và loại hình tự
sự nói chung.
Trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975, cốt truyện rất được xem trọng. Nó
là phương diện chính để thể hiện cuộc sống và nghiên cứu tính cách nghệ thuật. Do đặc
thù hồn cảnh nên truyện ngắn trong chiến tranh dựa trên hai tuyến mâu thuẫn địch – ta,
tối – xấu, tích cực – tiêu cực với âm hưởng chủ đạo là ngợi ca và khẳng định.
Nhưng từ khi chiến tranh kết thúc, nhất là từ giữa những năm 1980 trở đi, khi văn
học trở lại với cuộc sống thường nhật thì cái tạo nên sự hấp dẫn cho truyện ngắn không
chỉ là những cốt truyện rạch rịi với những tình huống li kì, với độ căng của những cảnh
ngộ éo le hay khốc liệt mà ở chỗ truyện ngắn đi vào những tình huống bình thường, đi
vào chiều sâu tâm hồn con người. Ở đây người đọc có thể bắt gặp những cốt truyện giàu
kịch tính nhưng cũng có nh ững cốt truyện giàu tâm trạng. Có truyện kết cấu cốt truyện rõ
ràng cũng có truyện có cấu trúc lỏng lẻo, lắp ghép với kết thúc mở. Trong cốt truyện
cũng có sự tham gia của những yếu tố huyền ảo, tâm linh…
19
GVHD : Nguyễn Thị Mỹ Nhung

SVTH : Trần Thị Thúy An


Cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn sau 1975


2.1.1 Cốt truyện đan xen nhiều mạch truyện
Cốt truyện đan xen nhiều mạch truyện là nghệ thuật kể chuyện trượt ra ngoài mọi
quy ước của thể loại. Viết theo xu hướng này, truyện được hình thành bởi cách lắp ghép
các mảng cốt truyện, là hình thức kéo dài truyện, chuyện nọ kéo sang chuyện kia hoặc
gối lên nhau thành các lớp truyện hoặc chuỗi truyện nhiều khi khá phức tạp. Các tình
huống rời rạc, tưởng như không ăn nhập với nhau lại đựơc sâu chuỗi trong mạch ngầm
của văn bản. Diễn biến của câu truyện cũng khơng theo trình tự tuyến tính của thời
gian, không gian mà đảo ngược theo ý đồ của nhà văn. Và một đặc điểm đáng lưu ý ở
những tác phẩm có kết cấu này là những câu chuyện trong một truyện không tách rời mà
luôn được đan xen vào nhau một cách rất linh hoạt, tự nhiên, tạo cho người đọc nhiều ấn
tượng về sự chân thực của những chuyện được kể, đưa họ lại gần với thế giới nghệ thuật
của các tác phẩm hơn, đồng thời tạo sự sinh động cho truyện. Mặt khác sự đan xen nhiều
câu chuyện vào nhau là một cách tạo sự thay đổi về điểm nhìn, góp phần làm cho nhân
vật được xem xét dưới nhiều góc độ và được xây dựng một cách tự nhiên hơn.
Dạng thức cốt truyện đan xen nhiều mạch truyện không phải một dạng kết cấu mới
lạ đối với loại hình tự sự. Kết cấu này đã đi vào truy ện ngắn Việt Nam từ những năm đầu
của thế kỉ XX. Tác phẩm đầu tiên cần kể tới là truyện “Thầy Lazarô Phiền” của Nguyễn
Trọng Quản. Trong truyện Thầy Lazarơ Phiền có tới 2 chuyện: chuyện thứ nhất là của
nhân vật “tôi” kể cho bạn đọc nghe việc mình đã g ặp thầy Phiền như thế nào, thầy Phiền
đã kể lại chuyện đời mình cho nhân vật “tôi” nghe ra sao, nhân vật “tôi” đã biết được kết
cục cuộc đời thầy thế nào…. Chuyện thứ hai là của thầy Phiền kể cho nhân vật “tôi” nghe
việc thầy đã lấy được một người vợ đáng yêu như thế nào, thầy đã nghi ng ờ và tìm cách
giết vợ, để rồi giờ đây đớn đau và hối hận ra sao ….Và dạng thức này cũng đã đi vào
trong truyện ngắn Vũ Trọng Phụng những giá trị riêng của nó. “Lở lời”, “Cái ghen đàn
ơng”, “Bà lão lịa”… là những truyện ngắn được kết cấu theo dạng thức này.
Trong truyện ngắn “Cái ghen đàn ông”, tác giả đã l ấy một câu chuyện khác đưa vào
cuộc trò chuyện giữa các nhân vật và lẫn trong câu chuyện giữa Giao Đài, Lê Văn Thư và
mấy người bạn là chuyện đời bi đát của vợ chồng giáo Hiển.
Đến giai đoạn sau 1975 thì phải nói đến nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Truyện ngắn

Nguyễn Huy Thiệp rất nhiều chi tiết, tình tiết. Mỗi nhân vật trong tác phẩm có thể đều tạo
ra một đường dây sự kiện riêng, một mạch truyện riêng. Truyện ngắn “Tướng về hưu”
20
GVHD : Nguyễn Thị Mỹ Nhung

SVTH : Trần Thị Thúy An


×