Tải bản đầy đủ (.pdf) (15 trang)

Nghiên cứu khoa học " Điều tra đánh giá thực trạng canh tác nương rẫy các tỉnh tây nguyên (1998-1999) " doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (209.6 KB, 15 trang )

Điều tra đánh giá thực trạng canh tác nương rẫy các tỉnh tây nguyên (1998-1999)
Đỗ Đình Sâm,
Phạm Đình Tam, Nguyễn Trọng Khôi
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam

Tây Nguyên là vùng có diện tích rừng tự nhiên lớn nhất cả nước, chiếm khoảng
30% diện tích rừng tồn quốc, là đầu nguồn của nhiều con sông lớn chảy xuống
miền Trung, Đông Nam bộ và Mê Kông, là nhân tố quan trọng bảo đảm cân bằng
sinh thái để phát triển kinh tế xã hội trong vùng cũng như cả nước. Đây cũng là
vùng kinh tế giàu tiềm năng về phát triển cây công nghiệp, chăn nuôi đại gia súc
và nghề rừng.
Nhưng từ sau ngày giải phóng đến nay, diện tích rừng tự nhiên của Tây Ngun bị
giảm sút nhanh chóng. Bình qn hàng năm mất khoảng 25-27 nghìn ha, là vùng
có diện tích rừng bị mất lớn nhất so với các vùng khác trong cả nước. Một trong
những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là nạn phá rừng làm nương rẫy
của đồng bào dân tộc thiểu số.
Tây Nguyên có khoảng 1.081.088 người, 191.267 hộ là người dân tộc thiểu số bản
địa, chiếm khoảng 32,3% dân số toàn vùng, cộng thêm một bộ phận không nhỏ
dân di cư tự do từ các tỉnh phía Bắc. Hầu hết trong số này đều sống trong rừng và
quanh rừng, cuộc sống của họ dựa vào chặt đốt rừng làm nương rẫy, vốn là tập
quán lâu đời của họ. Phương thức canh tác này đã không đem lại cho đồng bào
cuộc sống ấm no mà còn phá hủy nguồn tài nguyên rừng quý báu của Tây Nguyên.
Mặc dù từ sau năm 1975 đến nay đã có nhiều dự án vận động định canh định cư,
nhưng chưa đạt được kết quả mong muốn. Nạn du canh du cư vẫn tiếp diễn, rừng


tự nhiên hàng năm vẫn bị giảm sút cả về số lượng và chất lượng. Do vậy, việc tìm
kiếm các giải pháp để bảo vệ rừng tự nhiên ở Tây Nguyên là vấn đề hết sức cấp
thiết.
Từ thực tế đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phê duyệt dự án:"Điều
tra, đánh giá thực trạng ảnh hưởng của phương thức canh tác nương rẫy đến việc


bảo vệ rừng tự nhiên ở Tây Nguyên, nhằm đề xuất các giải pháp kinh tế kỹ thuật
hạn chế canh tác nương rẫy góp phần bảo vệ và phục hồi rừng ở Tây Nguyên".
I. Mục tiêu, nội dung và phương pháp điều tra
1. Mục tiêu
- Nắm được thực trạng tình hình sản xuất nương rẫy ở Tây Nguyên nhằm định ra
các chiến lược hạn chế canh tác nương rẫy góp phần bảo vệ và phục hồi rừng.
- Xác định mức độ ảnh hưởng của phương thức canh tác nương rẫy đến sự suy
giảm rừng tự nhiên, từ đó đề xuất các giải pháp kinh tế kỹ thuật phục hồi rừng và
ổn định đời sống cộng đồng dân cư trong rừng và gần rừng.
2. Nội dung
- Điều tra thực trạng sản xuất nương rẫy và các giải pháp canh tác hiện nay tại các
vùng dân tộc chủ yếu của 4 tỉnh Tây Nguyên: Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk và Lâm
Đồng.
- Điều tra kinh tế hộ gia đình.
- Điều tra đánh giá tình hình phục hồi rừng sau nương rẫy.
- Điều tra tình hình thực hiện chính sách Nhà nước có liên quan đến nương rẫy và
bảo vệ rừng.


3. Phương pháp điều tra
- Tham khảo các tài liệu, bản đồ có sẵn của vùng Tây Nguyên từ trước đến nay.
- Sử dụng phương pháp điều tra đánh giá nhanh nông thôn RRA và PRA để điều
tra đánh giá về tập quán canh tác của đồng bào, đặc điểm kinh tế hộ gia đình và
tình hình thực hiện chính sách của các địa phương.
- Sử dụng phương pháp điển hình để lựa chọn đối tượng và quy mơ điều tra.
- ứng dụng phương pháp điều tra theo tuyến để khoanh vẽ sơ đồ phân bố rẫy tại
thực địa và sử dụng chương trình MAPINFOR trên máy vi tính để tính tốn diện
tích các loại.
- ứng dụng phương pháp lập ơ tiêu chuẩn điển hình có diện tích 500m2 để điều tra
tình hình tái sinh phục hồi rừng sau nương rẫy.

- Việc tính tốn thu nhập và phân loại đối tượng hộ được thống nhất như sau:
+ Thu nhập được tính bình qn theo đầu người quy thóc.
+ Phân loại đối tượng hộ dựa vào tiêu chuẩn của Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội.
II. Kết quả thực hiện dự án
1. Đánh giá chung về đặc điểm KTXH vùng dự án
* Tiềm năng
- Tây Nguyên là một vùng kinh tế có thế mạnh về đất đai, bình qn diện tích đất
đai là 1,87ha/ người, cao hơn nhiều so với bình quân của cả nước (0,46 ha/ người).


Đất đai màu mỡ, cộng thêm khí hậu ơn hồ thuận lợi cho việc phát triển cây công
nghiệp, cây ăn quả và rau xanh.
- Tây Nguyên là vùng có diện tích rừng tự nhiên và trữ lượng gỗ lớn nhất cả nước.
Động thực vật rừng rất đa dạng và phong phú, nhiều lồi q hiếm được ghi trong
sách đỏ Việt Nam.
- Hệ thống giao thông ở Tây Nguyên rất thuận lợi, với 3 sân bay, các quốc lộ 14,
19, 20, 26, 27, 28 cùng với các tỉnh lộ, huyện lộ và các đường liên thôn, liên xã
dầy đặc đã nối liền Tây Nguyên với mọi miền của Tổ quốc.
* Hạn chế
- Tây Ngun có đến 37 dân tộc ít người chiếm khoảng 1/ 3 dân số tồn vùng,
trình độ dân trí thấp. Có nhiều bn, nhiều xã hầu như khơng có phụ nữ dân tộc
nào biết nói tiếng phổ thơng, rất nhiều xã khơng có các trường trung học cơ sở.
Nhiều hủ tục, tập quán lạc hậu làm hạn chế đến việc tiếp thu các tiến bộ KHKT.
- Tỉ lệ tăng dân số được xếp vào loại lớn nhất của cả nước (3,5%/ năm), trong đó
tăng tự nhiên khoảng 2% còn lại là tăng cơ học. Việc tăng dân số quá nhanh gây
nên sức ép đến tài nguyên thiên nhiên, rừng bị tàn phá nghiêm trọng làm ảnh
hưởng xấu đến môi trường sinh thái.
2. Thực trạng canh tác nương rẫy
* Hiện trạng sử dụng đất vùng dự án

Dự án đã điều tra tổng quát tại 4 tỉnh, 8 huyện và tiến hành điều tra kỹ tại 16 xã
đại diện cho 8 dân tộc bản địa có dân số đơng nhất của các tỉnh Tây Nguyên. Kết
quả được tổng hợp trong biểu 1 dưới đây:
Biểu 1. Hiện trạng sử dụng đất


TT Địa phơng Tổng diện Đất lâm nghiệp Đất nông nghiệp Đất khác
tích
đấtTN(ha)

Diện

% so

% so

tích

tích

Diện

với

với

Diệntích % so
với
(ha)


I

Tg.số

868.152

89,85 53.594

5,55

44454

4,6

8.710

34.09

39,14 666

7,65

4.635

53,21

6.810

2.151


31,59 725

10,64 3.934

57,77

9.178

8.644

94,18 351

3,82

183

1,99

17.107

8.896

52,0

3,24

7656

44,7


Kon Tum 966.200

01 XÃ Dak

(ha)

Tg.số

(ha)

Tg.số

Roong

02 XÃ Dak
Môn

03 XÃ Dak


04 X· Ngäc

555



II

Gia Lai


1.597.000 850.508

05 X· IA PhÝ 6.200

140

53,26 267.985 16,78 438.507

27,4

2,26

70,27

1.703

27,47 4.357


06 X· IA

23.611

5.736

24,24 1.174

4,96

16.751


70,8

07 X· Kroong 2.6321

20.600

78,26 1.087

4,13

4.634

17,6

08 X· T¬

8.042

78,8

12,42 896

M'nông

10.206

1.268

8,78


Tung

III Đăk Lắk

1.953.500 1.214.286 62,16 392.336 20,08 346.878

17,76

09 XÃ Ea

12.118

4.463

36,83 4.816

39,74 2.839

23,43

10 XÃ Ea Tul 5.600

0

0

70,0

1.680


30,0

11 XÃ Đăk Ha 24,009

20.639

85,96 582

2,42

2.789

11,6

12 XÃ Quảng 52.633

45.465

86,38 566

1,07

6.602

12,54

664.400

66,69 145.517 14,61 186.303


18,7

22815

91,92 715

5,20

Mdroh

3.920

Sơn

IV Lâm

996.220

đồng

13 XÃ Đạ Sar 24.820

2,88

1.290


14 XÃ Đạ


14,560

12.233

84,02 972

6,67

1.356

9,31

15.980

11.646

72,88 1.975

12,36 2.359

14,76

26.410

22.341

84,59 545

2,06


13,34

Tông

15 XÃ Phi
Liêng

16 XÃ Léc

3.524

B¾c

- Phân bố diện tích đất tự nhiên giữa 4 tỉnh có sự khác nhau khá lớn. Đắk Lắk là
tỉnh có diện tích lớn nhất (1.953.500 ha), tiếp đó đến Gia Lai (1.597.000 ha), Lâm
Đồng và Kon Tum là 2 tỉnh có diện tích tự nhiên ít nhất vùng Tây Nguyên, tổng
diện tích tự nhiên của 2 tỉnh này chỉ bằng của tỉnh Đắk Lắk. Diện tích đất đai bình
qn của tồn vùng là 1,44 ha/ người, trong đó tỉnh Kon Tum là 3,82 ha/ người,
Gia Lai 1,79 ha/ người, Đắk Lắk là 1,18 ha/ người và thấp nhất là Lâm Đồng 0,97
ha/ người.
- Đất lâm nghiệp chiếm tỉ lệ khá lớn trong tổng diện tích tự nhiên (68,27%), trong
đó lớn nhất là tỉnh Kon Tum (89,85%) và thấp nhất là Gia Lai (53,26%).
- Đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ thấp (15,6%), trong đó Kon Tum: 5,55%, Lâm
Đồng: 14,61%, Gia Lai: 16,78% và cao nhất là tỉnh Đắk Lắk: 20,08%.
- Kết quả điều tra tại 16 xã điển hình cho thấy chênh lệch diện tích đất tự nhiên
giữa xã lớn nhất so với xã bé nhất là gần 10 lần. Bình qn diện tích đất tự nhiên
tính theo đầu người của các xã điều tra biến động từ 0,66 ha đến 11,76 ha. Tỷ lệ


các loại đất cũng có chung đặc điểm: Đất lâm nghiệp lớn (trên 50%), đất nông

nghiệp chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ (bình qn 14,13%). Ngồi ra, hầu hết các xã đều có
một diện tích đất hoang hố, chưa được sử dụng, bình quân chiếm khoảng 32%
quỹ đất của xã. Số diện tích này đang được các địa phương quy hoạch sử dụng cho
mục đích nơng nghiệp hoặc khoanh ni phục hồi rừng.
* Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp ở các xã vùng dự án
Biểu 2.Cơ cấu sử dụng t nụng nghip ca cỏc xó iu tra

TT Địa ph- Tổng
ơng

Ruộng và màu Nơng rẫy (ha) Cây CN lâu Cây khác (ha)
(ha)

năm (ha)

số
(ha)

Diện

% so Diện

% so Diện

% so Diện

% so

với


với TS tÝch

víi

víi
tÝch

tỉng

tÝch



tÝch

TS

TS

1

Kroong 1087,10 260,85 24.00 752,96 69,27 73,24

6,74 0

2

T¬ Tung 1268

276


21,77 761,30 60,04 0

0

3

Ia phÝ

209,5

12,3 438,5

61,94 0

0

4

M'Nong 1174

447

38,07 454,00 38,67 273

23,25 0

0

1703


25,75 1055

0

230,70 18,19


5

Ngọc Tụ 554,50 87,50

15,78 377

16,23 0

0

6

Đắc Hà 351

11,60

3,30 319,40 91

20

5,70 0


0

7

Đắc

172,50 25,90 407,50 61,18 86

12,91 0

0

724,40 132,50 18,29 360,50 49,77 231,40 31,94 0

0

666

67,99 90

Kroong

8

Đắc
Môn

9

Đắc


4815,50 1005,50 20,88 2387,50 49,58 832,80 17,29 589,70 12,25

Mđroh

10 Đắc Tul 3920,00 5,50

0,14 56,50

1,44 2750,50 70,17 1107,50 28,25

11 Đắc Hà 564,50 0

0

302,0

53,50 262,5

46,50 0

0

12 Quảng

0

722,50 57,94 524,50 42,06 0

0


1247

0

Sơn

13 Dạ Sa

696,50 319

44,82 160,80 23,10 173,60 24,94 42,80

14 Đạ Tông 971,50 306,80 31,58 23,80

6,15

2,45 372,70 38,36 268,20 27,61


15 Phi liªng 1975,40 38,70

1,96 147

7,44 886,50 44,88 903,27 45,72

16 Lộc Bắc 545,20 73

1,39 35,50


6,51 436,70 80,10 0

0

16,19

41,64

9,60

Bình

32,57

quân

Nhn xột:
Tõy Nguyờn có 4 loại hình sử dụng đất nơng nghiệp chủ yếu: canh tác lúa nước và
hoa màu, canh tác nương rẫy, trồng cây cơng nghiệp dài ngày. Ngồi ra, ở một số
xã gần đường, gần đơ thị, người dân có trình độ dân trí cao ... thì có thêm diện tích
đất vườn để trồng cây ăn quả, rau xanh ..vv... Đặc trưng của các loại hình sử dụng
đất của các xã có thể tóm tắt như sau:
+ Về lúa nước và màu:
Hầu hết diện tích này phân bố ở những nơi bằng phẳng, nơi có độ dốc dưới 50, đất
tốt và có điều kiện giữ nước (ít nhất là trong mùa mưa). Nhìn chung số diện tích
này chiếm tỷ lệ thấp trong tổng số đất nông nghiệp. Tỷ lệ diện tích lúa nước và
màu biến động từ 0,14 % - 45,82 %, bình quân chung là 16,19% so với đất nơng
nghiệp. Tuy diện tích lúa nước khơng lớn nhưng loại hình sản xuất này vẫn mang
tính bền vững cao, là nguồn cung cấp lương thực cần thiết tại chỗ cho người dân.
+ Về canh tác nương rẫy:



Đây là kiểu sử dụng đất chủ yếu của đồng bào dân tộc thiểu số. Theo biểu 2 thì tỷ
lệ đất đang làm nương rẫy so với diện tích đất nơng nghiệp bình qn chiếm
41,64%, gấp 2,5 lần đất ruộng lúa và màu. Trong đó bình qn của các xã thuộc
tỉnh Kon Tum là 67,5%, các xã thuộc tỉnh Gia Lai là 48,43%, các xã thuộc tỉnh
Đắk Lắk là 40,97% và thấp nhất là tỉnh Lâm Đồng 9,71%. Kết quả điều tra cũng
cho thấy tỷ lệ đất nương rẫy ở các xã thuộc 2 tỉnh Bắc Tây Nguyên cao hơn 2 tỉnh
Nam Tây Nguyên, chênh lệch giữa 2 vùng là 2,3 lần. Hầu hết các xã có diện tích
nương rẫy nhiều đều là những xã có quỹ đất lớn đặc biệt là đất lâm nghiệp, các xã
vùng sâu vùng xa, trình độ canh tác của người dân cịn lạc hậu và việc chuyển đổi
cơ cấu cây trồng còn yếu.
+ Về cây công nghiệp:
Cây công nghiệp chủ yếu là cà phê. Theo thống kê của các Sở Nông nghiệp và
Phát triển nơng thơn các tỉnh Tây Ngun, diện tích cà phê hiện nay ở Gia Lai đã
lên đến 86.100 ha, chiếm 32% tổng số đất nông nghiệp và ở Đắk Lắk là 164.988
ha cà phê, chiếm 42% tổng diện tích đất nơng nghiệp. Chỉ tính trong 3 năm từ
1995-1997 ở Đắk Lắk diện tích cà phê đã tăng lên 33.869 ha, bình quân mỗi năm
tăng 11.289 ha và ở Gia Lai tăng 26.856 ha, bình quân mỗi năm tăng 8.932 ha.
Qua số liệu điều tra của 16 xã thì bình quân diện tích cây cơng nghiệp chiếm
32,57%. Các xã thuộc tỉnh Đắk Lắk có diện tích trồng cây cơng nghiệp nhiều nhất
(47,07% so với đất nông nghiệp) và các xã của tỉnh Kon Tum có tỷ lệ diện tích
trồng cây cơng nghiệp dài ngày thấp nhất (16,7% so với đất nông nghiệp)
* Thực trạng nương rẫy vùng điều tra
Tổng hợp số liệu từ các nguồn kết hợp tính tốn trên cơ sở các số liệu dự án đã
điều tra cho thấy như sau:
+ Diện tích đất nương rẫy:


- Tồn vùng Tây Ngun hiện có 198.245 ha nương rẫy đang canh tác, trong đó

tỉnh Kon Tum là 18.923 ha, tỉnh Gia Lai có 49.650 ha, tỉnh Đắc Lắk có 87.704 ha
và tỉnh Lâm Đồng có 42.939 ha; ngồi ra, cịn có khoảng 400 ngàn ha đất để ln
canh và như vậy tổng diện tích sử dụng cho nương rẫy hàng năm xấp xỉ 600 ngàn
ha. Hầu hết diện tích này đều phải lấy trong quỹ đất lâm nghiệp.
- Qua tổng hợp số liệu điều tra ngoại nghiệp của 16 xã cho thấy diện tích nương
rẫy bình qn đầu người tính cho 1 hộ là 0,624ha và 1 khẩu là 0,108 ha chiếm
40,75% diện tích canh tác nơng nghiệp, thấp hơn bình qn chung của tồn quốc
thời kỳ 1991-1995 (0,110 ha/ người), của Tây Nguyên (0,109 ha/ người) và của
Tây Bắc (0,148 ha/ người). Tỷ lệ diện tích đất nương rẫy so với đất nông nghiệp
của các xã thuộc 2 tỉnh Bắc Tây Nguyên cao hơn các xã thuộc 2 tỉnh Nam Tây
Ngun. Bình qn các xã phía Bắc chiếm khoảng 60%, các xã phía Namchiếm
28,6%.
+ Biến động diện tích nương rẫy:
Diện tích canh tác nương rẫy ở các tỉnh Tây Nguyên vẫn có chiều hướng tăng dần
trong khoảng 10 năm trở lại đây. Theo thống kê của Viện Điều tra Quy hoạch
rừng, Tổng Cục địa chính và Chi cục Kiểm lâm các tỉnh thì ở Gia Lai năm 1993 có
23.398 ha đất nương rẫy, năm 1997 có 69.213 ha, tăng 45.815 ha, trung bình mỗi
năm tăng 11.400 ha. Tỉnh Kon Tum 1993 có 8.000 ha nương rẫy nhưng đến năm
1997 tăng lên 15.117 ha, bình quân mỗi năm tăng 1.779 ha. Tỉnh Đắk Lắk năm
1993 có 47.785 đến năm 1997 có 84.033 ha, mỗi năm tăng 9.074 ha. Nhưng mấy
năm gần đây, điều tra thực tế tại một số huyện và xã điển hình cho thấy diện tích
nương rẫy có chiều hướng khơng tăng hoặc tăng khơng đáng kể.

Biểu 3. Diễn biến nương rẫy ở một số huyện, xã điều tra


TT Địa phơng

Diện tích nơng rẫy qua các năm (ha)


Tăng giảm
(ha)

1995

1

H.K.Bang(Gia

1996

1997

1998

so với 95

7.371,2

7.771,2

9.158,14

7.348,21

- 22,99

2.653,4

2.631,5


2.605,1

2.081,62

- 571,78

7.625

7.071

6.375

6.350

- 1.275

Lai)

2

H.Đắkglei (Kon
Tum)

3

H.CMgar (Đắk
Lắk)

1


XÃ K.roong

1.001,

1.210,3

1.028,4

1.028,4

+ 27,4

2

X.Tơ Tung

1.050

821,

797

761,3

- 288,7

3

X.Đắk Kroong


235,5

228,0

215,5

211,

- 24,5

4

X,Đắk Môn

185,0

197,5

203

203,0

+ 18,0

5

X.Đạ Sa

271,6


260,0

260,0

260,8

- 10,80


+ Một số đặc điểm canh tác nương rẫy:
- Chukỳ canh tác:
Chukỳ canh tác rẫy của các dân tộc trong vùng điều tra có đặc điểm là thời gian
canh tác ngắn, thời gian bỏ hóa dài. Trước đây thời gian bỏ hóa thường kéo dài 10
- 15 năm, nhưng gần đây phần lớn chỉ 3 - 5 năm và đang có xu hướng rút ngắn
dần, thậm chí một số nơi khơng cịn thời gian bỏ hóa.
- Phương thức canh tác rẫy:
Hầu hết các dân tộc Tây Nguyên đều có tập quán canh tác nương rẫy với phương
thức chủ yếu là phát - đốt - chọc lỗ - bỏ hạt- làm cỏ và thu hoạch. Khác với người
H’mông, người Thái ở các tỉnh phía Bắc, dụng cụ sản xuất của các dân tộc Tây
Nguyên hết sức thô sơ, đơn giản. Riêng chỉ có dân tộc Gia Rai ở Chư Pảh, dân tộc
Bahnar ở Kbang, dân tộc Châu Mạ, Cơ ho huyện Lạc Dương đã biết cày bừa. Một
số các dân tộc ngày nay đều đã biết luân canh nối tiếp cây sắn trên đất đã canh tác
bạc màu sau 1-2 vụ lúa hay ngô như người Xê Đăng, Giẻ Triêng ở Kon Tum, hoặc
trồng xen cây đậu, lạc với ngô như người Êđê ở CưMgar.
- Năng suất 1 số loại cây trồng chính trên nương:
Nhìn chung năng suất bình qn của một số lồi cây trồng chính trên nương ở Tây
Ngun cao hơn so với các tỉnh vùng núi phía Bắc (năng suất lúa nương địa
phương ở Lai Châu là 0,9-1,0 tấn/ ha, ở Sơn La là 0,8-0,9 tấn/ ha, ở Hồ Bình 0,70,8 tấn/ ha). Tuy nhiên, hầu hết người dân tộc vẫn duy trì lối canh tác quảng canh,
ít áp dụng các giống mới. Qua điều tra 16 xã mới có 5/ 16 xã (chiếm 31%) đã áp

dụng một số giống mới vào sản xuất như: lúa tẻ Thái Lan, ngơ lai (ĐK88, Q2,
TSB1,...), các loại đậu có năng suất cao (ĐX3, ĐT84,...), nhưng nếu tính số hộ áp
dụng giống mới vào sản xuất trên nương chỉ mới có khoảng 15-20% tổng số. Năng


suất các loại nương ở những vùng có sử dụng giống mới cao hơn từ 1,5 đến 2,5 lần
các giống địa phương.
3. Kết quả điều tra về đặc điểm kinh kế hộ gia đình
* Cơ cấu thu nhập
Các nguồn thu nhập của người dân chủ yếu là từ làm ruộng; nương rẫy; trồng cây
công nghiệp; chăn nuôi; lương, phụ cấp xã hội và các khoản khác như dịch vụ, làm
rừng..vv....
- Bình quân thu nhập được phân bổ cho các nguồn: canh tác lúa nước chiếm
14,66%, canh tác nương rẫy 26,58%, trồng cây công nghiệp 33,37%, chăn nuôi
6,02% và các khoản thu còn lại chiếm 19,37%. Như vậy, nguồn thu nhập từ cây
công nghiệp và nương rẫy đang chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn thu của các
xã (xấp xỉ 60%).
- Hai tiểu vùng Bắc và Nam Tây Nguyên có cơ cấu thu nhập khác nhau: các tỉnh
Bắc Tây Nguyên thu nhập chủ yếu từ hai nguồn canh tác nương rẫy và lúa nước
(chiếm 67,68%), trong đó thu nhập từ nương rẫy chiếm tỷ trọng lớn nhất trong
tổng nguồn thu (45,23%).



×