Tải bản đầy đủ (.doc) (72 trang)

So sánh cơ hội, thách thức xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ của Việt Nam khi gia nhập WTO và ký hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (508.38 KB, 72 trang )

Đề án môn học GVHD: PGS.TS Nguyễn Thuờng
Lạng
LỜI CAM ĐOAN
Tên tác giả là Phan Minh Đạt - Sinh viên lớp Kinh tế quốc tế 52E – Mã số
sinh viên CQ528154 xin cam đoan chuyên đề với đề tài “So sánh cơ hội, thách thức
xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ của Việt Nam khi gia nhập WTO và ký hiệp
định đối tác xuyên Thái Bình Dương” là công trình nghiên cứu riêng của tác giả
dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Nguyễn Như Bình. Các thông tin thứ cấp sử dụng
trong chuyên đề là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng.
Tác giả xin chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan này!
Tác giả
Phan Minh Đạt
Phan Minh Đạt
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tác giả xin gửi đến thầy PGS.TS. Nguyên Như Bình lời cảm ơn
chân thành và sâu sắc nhất. Nhờ sự hỗ trợ, chỉ dẫn tận tình cùng với những định
hướng đúng đắn giúp tác giả hoàn thiện tốt chuyên đề này. Tác giả chúc Thầy và gia
đình luôn mạnh khỏe, chúc Thầy thành công hơn trên sự nghiệp công tác giảng dạy
và nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Tập đoàn
Vinatex hỗ trợ tôi tìm số liệu để hoàn thành đề án.
Tôi xin chân thành cảm ơn Tổng giám đốc trưởng ban đầu tư chú Cao Hữu
Hiéu, TS.Nguyễn Thị Bích Phượng, chị Dương Thị Thu Hằng cùng các bạn trong
nhóm chuyên đề đã hỗ trợ và đóng góp những ý kiến quí báu giúp tôi hoàn thành
chuyên đê.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà nội, ngày 15 tháng 05 năm 2013
Tác giả
Phan Minh Đạt
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
MỤC LỤC
Trang bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục hình
Danh mục đồ thị
Bilateral Trade Agreement 4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
Các ký
hiệu viết
tắt
Nghĩa đầy đủ
Tiếng Anh Tiếng Việt
TPP
Trans-Pacific Strategic
Economic Partnership
Agreement
Hiệp định Đối tác Kinh tế
Chiến lược xuyên Thái Bình
Dương
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại thế giới
EU European Union Liên minh Châu Âu
USD The United States of Dollar Đô la Mỹ
AFTA ASEAN Free Trade Area
Khu vực Mậu dịch Tự do

ASEAN
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
FTA Free trade agreement Hiệp định thương mại tự do
BTA
Bilateral Trade Agreement
Hiệp định Thương mại Song
phương Việt-Mỹ
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bilateral Trade Agreement 4
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Dệt may được coi là một trong những ngành trọng điểm của nền công nghiệp
Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngành dệt may
Việt Nam hiện nay đang được xem là ngành sản xuất mũi nhọn và có tiềm lực phát
triển khá mạnh. Cho đến nay, sản phẩm dệt may Việt Nam đã đắp ứng được phần
lớn nhu cầu trong nước và có khả năng xuất khẩu lớn sang các thị trường khó tính
như EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ…Việc xuất khẩu hang dệt may đã đem lại một khoản
ngoại tệ rất đáng kể. Với những lợi thế riêng biệt như vốnđầu tư không lớn, thời
gian thu hồi vốn nhanh, thu hút nhiều lao động và có nhiều điều kiện mở rộng thị
trường trong và ngoài nước, ngành dệt may Việt Nam có một vị trí rất quan trong
đối với nền kinh tế như tạo công ăn việc làm và đem lại kim ngạch xuất khẩu lớn.
Trong thời đại ngày nay, toàn cầu hóa và hội nhập nền kinh tế đang là xu
hướng phát triển chung mang tính tất yếu khách quan. Không nằm ngoài quy luật

trên, Việt Nam- một trong những nước có trình độ phát triển kinh tế thấp coi xuất
khẩu là giải pháp giúp nền kinh tế phát triển nhanh chóng, góp phần rút ngắn
khoảng cách chênh lệch với các quốc gia phát triển trên thế giới.
Năm 2006 Việt Nam gia nhập WTO đã tạo ra những cơ hội xen lẫn thách
thức mới. Với những ưu thế của mình và phát huy những thế mạnh sẵn có trong
nước ngành dệt may thực sự đã có những thành tựu quan trọng. Gia nhập WTO
giúp ngành dệt may Việt Nam có được những ưu, cơ hội để mở rộng thị trường xuất
khẩu đặc biệt là thị trường Hoa Kỳ.
Ngoài ra Việt Nam đang trong giai đoạn hoàn thành trong việc ký kết hiệp
đinh tự do xuyên Thái Bình Dương (TPP). Đây là hiệp định thương mai tự do khu
vự có thể đem lại những cơ hội lớn chi Việt Nam trong việc kết nối nền kinh tế của
mình với Hoa Kỳ và các thành viên TPP khác.
Tuy nhiên cùng với việc gia nhập WTO ngành dệt may Việt Nam phải đối
mặt với nguy cơ của nhiều tranh chấp thương mại quốc tế,nguy cơ kiện chống bán
phá giá.Cón đứng trước việc gia nhập TPP sẽ gây ra sức ép thay đổi chính sách
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
trong nước, cho phép các nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận đối với một số vực tạo nên
áp lực cạnh tranh cao hơn .Vậy cụ thể sau khi gia nhập WTO ngành dệt may nước
ta đã tận dụng được những cơ hội thuận lợi gì để phát triển và phải đối mặt với
những thách thức, khác phục những khó khăn ra sao ? Những cơ hôi và thách thức
gì khi Việt Nam ký kết thành công hiệp đinh tự do xuyên Thái Bình Dương. Đó là
một vấn đề cấp thiết trong giao đoạn hiện nay cần được tìm hiểu và nghiên cứu.
Chính từ những lý do trên, đề tài “ So sánh cơ hội, thách thức xuất khẩu
hàng dệt may sang Hoa Kỳ của Việt Nam khi gia nhập WTO và ký hiệp định đối
tác xuyên Thái Bình Dương” đã được lựa chọn nghiên cứu.
Với đề tài trên, em mong rằng bài nghiên cứu có thể đưa ra được một cái
nhìn tổng quan nhất về thực trạng xuất khẩu hang dệt may sang Hoa KỲ trước và
sau khi gia nhập WTO cùng với những cơ hội thách thức sắp tới khi ký hiệp định

đối tác xuyên Thái Bình Dương.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu cơ hội và thách thức của hoạt động xuất
khẩu dệt may sang Hoa Ký khi gia nhập WTO cà ký kết hiệp đinh TPP
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu thực trạng xuất khẩu ngành
dệt may sang thị trường Hoa Kỳ trước và sau khi gia nhập WTO, những quyền
lợi và hạn chế khi ký kết hiệp định xuyên Tháo Bình Dương.
3. Kết cấu của đề tài:
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội
dung của chuyên đề được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Thực trạng ngành dệt may Việt Nam , hiệp định TPP và quy định
WTO đối với ngành dệt may.
Chương 2: Đánh giá cơ hội và thách thức của ngành dệt may Việt Nam xuất
khẩu sang thị trường Hoa Kỳ khi gia nhập WTO và ký kết hiệp định TPP.
Chương 3: Giải pháp tăng cướng năng lực cạnh tranh và đẩy mạnh xuất
khẩu dệt may sang Hoa Kỳ khi ký kết Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương
CHƯƠNG 1
THỰC TRẠNG NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM, HIỆP ĐỊNH TPP
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
VÀ QUY ĐỊNH WTO ĐỐI VỚI NGÀNH DỆT MAY
1.1. Thực trang xuất khẩu dệt may Việt Nam giai đoạn 2009 - 2014
1.1.1. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
Hiện nay, Việt Nam đang trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế, tự do hóa
thương mại, xuất khẩu đóng một vai trò quan trọng trong việc khai thác lợi thế của
quốc gia, tạo nguồn thu ngoại tệ cho đất nước. Trong đó, ngành dệt may Việt Nam
với thế mạnh về nhân công, vị trí địa lý đang là một ngành công nghiệp có vai trò
quan trọng trong chiến lược xuất khẩu hàng hóa của nước ta ra thị trường thế giới.
Với tốc độ tăng trưởng khá cao, ngành dệt may đã có những đóng góp to lớn vào

tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và tăng trưởng kinh tế nước nhà.
Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
Đơn vị: tỷ USD
Tăng so với năm trước(%) Kim ngạch xuất khẩuNăm
-9.062009
2311.12010
2413.82011
7.515.092012
16.28202013
19.32.94T3/2014
(Nguồn: Tổng cục hải quan)
Từ bảng số liệu kim ngạch trên, ta có thể thấy kim ngach xuất khẩu hàng dệt
may của Việt Nam liên tục tăng trong những năm gần đây. Năm sau luôn cao hơn
năm trước, tuy mức tăng không giống nhau qua từng giai đoạn nhưng động thái
tăng trưởng liên tục đã cho thấy xu hướng phát triển xuất khẩu dệt may Việt Nam
ổn định hơn hẳn so với tình hình xuất khẩu dệt may của thế giới.
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
Biểu đồ 1: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam những năm qua
(Nguồn: Tổng cục hải quan)
Nhận thấy trong giai đoạn 2009 - 2013 kim ngạch có xu hướng tăng mạnh,
kim ngạch tăng từ 9.06 tỷ USD lên tới 20 tỷ USD, tăng 54,7%. Có sự tăng trưởng
mạnh như vậy là vì ngành dệt may đang tăng tốc đón đầu TPP. Việt Nam đang
trong giai đoạn ký kết đàm phán hiệp đinh đối tác xuyên Thái Bình Dương, điều
này khiến dệt may nước ngoài đổ xô vào Việt Nam, đầu tư nước ngoài và trong
nước vào những ngành có kim ngạch hàng đầu đang tăng lên nhanh.
Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may năm 2009 đạt 9.06 tỷ USD, là
ngành có kim ngach xuất khẩu lớn nhất cả nước. Nhưng so với tổng kim ngạch dệt
may của cả thế giới thì chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ khoảng 1.6%.kim ngạch nhập

khẩu hàng dệt may của Hoa Kỳ năm 2009 lên tới 86,7 tỷ USD và xuất khẩu hàng
dệt may của Việt Nam vào thị trường này cũng chỉ chiếm 5,8% trị giá nhập khẩu
hàng dệt may của Hoa Kỳ.
Năm 2010 tuy có nhiều khó khăn như giá nguyên liệu đầu vào tăng cao, giá
bông, sợi tăng hơn 2 lần so với cùng ký năm 2009, lao động khó tuyển dụng, lãi
suất ngân hàng tăng cao nhưng sản xuất của ngành vẫn tăng trưởng so với cùng kỳ,
lim ngạch xuất khẩu cả năm đạt 11.1 tỷ USD, tăng 23 % so với năm 2009. Nguyên
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
ngân của sự tăng trưởng nêu trên là do sự phục hồi nền kinh tế thế giới sau khủng
hoảng và sự dịch chuyển các đơn hàng từ Trung Quốc sang Việt Nam. Năm 2010
sản phẩm dệt may của Việt Nam đã tiếp cận với thị trường mới là Đài Loan, Hàn
Quốc, các nước ASEAN. Sản phẩm sợi cũng đã thâm nhập vào thị trường Thổ Nhĩ
Kỳ, Brazil.
Trong xu hướng tăng trưởng liên tục đó, nổi bật là năm 2011: tăng 24% từ
11,1 tỷ USD năm 2010 lên 13,8 tỷ USD và năm 2013 đạt kim ngạch 20 tỷ USD,
tăng 4,91 tỷ USD so với năm 2012. Đó là những dấu hiêu khả quan thể hiện những
chuẩn bị của Việt Nam cho việc ký kết hiệp định TPP. Trong đàm phán TPP có 2
thị trường hết sức quan trọng là Hoa Kỳ với tổng kim ngach xuất khẩu dệt may Việt
Nam chiếm 43% và Nhật Bản là 12%. Do đó, giai đoạn đàm phán TPP góp phần
thúc đẩy đầu tư vào nguyên liệu, các chỉ tiêu về xuất siêu, để tận dụng hiệu quả cao
nhất từ TPP sắp tới.
Năm 2011 kim ngạch dệt may đạt 13.8 tỷ USD, xuất khẩu tơ sợi các loại ước
tính 1.8 tỷ USD. Tổng kim ngạch xuất khẩu của dệt may và tơ sợi đạt 15.6 tỷ USD,
tăng gần 38% so với năm 2010. Với kết quả như trên, ngành tiếp tục giữ vị trí số 1
trong hoạt động xuất khẩu cả nước. Năm 2011 có một điểm đáng chú ý là đã suất
siêu 605 tỷ USD. Sự tăng tưởng đáng vui này là nhờ tận dụng tốt các cơ hội từ các
Hiệp định thương mại tự do FFTA mang lại đẻ đẩy mạnh xuất khẩu sang một số thị
trường tiềm năng như: Hàn Quốc, Canada, Trung Đông… Năm 2011, nước ta đã

xuất khẩu dệt may vào thịt rường này đạt kim ngach 904 triệu USD tương đương
với mức tăng trưởng 109%
Năm 2012 kim ngạch hàng dệt may của Việt Nam đạt 15.1 tỷ USD, tăng
7.5% so với năm 2011, chiếm 13% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước và cao
hơn so vơi nhòm hàng xuất khẩu có kim ngạch lớn thứ 2 tới 2,38 tỷ USD.
Năm 2013, kim ngach xuất khẩu dệt may toàn ngành đạt 20 tỷ USD, tăng
16,28 % so với năm 2012, duy trì tốc độ tăng trưởng 18% vượt trên 1 tỷ USDso với
mục tiêu dặt ra ban đầu. Trong đó xuất khẩu xơ, sợi dệt các loại ước đạt 2.132 tỷ
USD; xuất khẩu hàng dệt và may mặc ước đạt 17.89 tỷ USD. Một trong những lý
do cơ bản tạo nên kết quả của ngành dệt may năm 2013 là đã xác định đúng tính
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
chất tín hiệu của thị trường. Ngành dệt may Việt Nam đang bắt dần với tín hiệu về
hợp tác quốc tế, tín hiệu về chuyển dịch dòng chảy chuỗi cung ứng toàn cầu về phía
Việt Nam, ngành dệt may đã chuẩn bị tổ chức sản xuất phù hợp và tận dụng tốt
được cơ hội nhập.
Tháng 2/2014 sản phẩm dệt may của cả xuất khẩu đạt 1.05 tỷ USD, tăng tới
14.92% so với tháng 2/2013 nhưng giảm 45.1% so với những tháng cuối năm 2013.
Ngành dệt may đã xuất khẩu 2.94 tỷ USD, tăng 17.92% so với cùng kỳ. SỰ gia tăng
nhanh chóng về kim ngạch của ngành dệt may là do các doanh nghiệp trong ngành
đã tận dụng được ưu đãi thuế quan theo quy định mới của Liên minh châu Âu. Theo
tập đoàn dệt may Việt Nam (Vinatex), nhiều doanh nghiệp trong ngành đã có được
đơn hàng đến hết quý II và quý III/2014, đáng chú ý ngành Dệt may cũng đã khởi
công một số dự án đầu tư lớn nhằm mở rộng quy mô sản xuất, bắt nhịp với Hiệp
định TPP.
1.1.2. Thị trường xuất khẩu chính của ngành dệt may Việt Nam
Thị trường xuất khẩu của ngành dệt may hiện nay khoảng hơn 120 quốc gia
và vùng lãnh thổ, đặc biệt là một số thi trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản. Sau
khi ký kết hiệp định thương mai Việt - Mỹ, hiệp định BTA có hiệu lực năm 2002,

đặc biệt khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO và đang trong giai
đoạn hoàn thành ký kết hiệp định TPP, thị trường và thị phần xuất khẩu hàng dệt
may của Viêt Nam ngày càng được mở rộn và phát triển. Trong đó thị trường Hoa
Kỳ luôn là thị trường tiềm năng hàng đầu của Việt Nam. Bên cạnh đó còn có các thị
trường của các nước Trung Đông, Đài Loan, Canada, Hàn Quốc….
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
Bảng 1.2: Kim ngạch xuất khẩu dệt may sang một số thị trường.
ĐVT: triệu USD
20132012201120102009
Thị trường
8692 7226 6882 60794983
Hoa Kỳ
43.4647.8849.0154.76
54.22Tỷ trọng
27522456 257618211644
EU
13.7616.2718.3416.4117.89Tỷ trọng
24241974169616671388
Nhật Bản
12.1213.0812.07915.215.1
Tỷ trọng
61323434288615331175
Các nước khác
30.6722.7720.5813.8112.79
Tỷ trọng
(Nguồn: Tổng cục hải quan)
Bảng trên cho thấy kim ngạch xuất khẩu dệt may sang thị trường Hoa Kỳ
luôn chiếm tỷ trong cao nhất. Thể hiện trong bảng là 3 thị trường tiềm năng và có

kim ngạch xuất khẩu dệt may lớn nhất của Việt Nam. Năm 2009 tỷ trong xuất khẩu
dệt may nước ta vào Mỹ và EU đều giảm, Mỹ chiếm 54.2% và EU chiếm 17.89%.
Xuất khẩu dệt may năm 2009 hầu hết sang các nước không có gì biến động nhiều
ngoài việc mở rộng thêm được 4 thị trường mới đó là Mehico, Cuba, Ai cập,
Panama.
Nhật Bản, năm 2010, với việc được hưởng chính sách uuw đãi thuế từ Hiệp
định Đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật bản, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của
nước ta sang Nhật tăng đáng kể. Với 11% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, tốc độ
tăng bình quân 12%/năm. Năm 2010, năm đầu tiên Việt Nam được hưởng ưu đãi
thuế ở mức 0% theo Hiệp định Đối tác kinh tế VIệt Nam - Nhật Bản (VJEPA), xuất
khẩu dệt may của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản đã tăng 20% so với năm
2009. Nhật Bản được biết đến là một thị trường khó tính với nhiều quy định khắt
khe về chất lượng hàng hóa, trong khi nhiều ngành và doanh nghiệp trong nước
chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn mà nguyên nhân chủ yếu là thiếu thông tin và
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
kinh nghiệm.
Biểu đồ 2: Kim ngạch xuất khẩu dệt may sang các thị trường trọng điểm
(Nguồn: Tổng cục hải quan)
Năm 2011, kim ngạch xuất khẩu sang 3 thị trường Mỹ EU, Nhật bản vẫn
dẫn đầu với tổng kim ngạch vào 3 thị trường là hơn 11,1 tỷ USD chiếm 80% tổng
kim ngạch xuất khẩu. Điểm nổi bật trong hoạy động ngoại thương của ngành dệt
may VIệt Nam đó là suất siêu 6.5 tỷ USD. Năm 2011, tận dụng Hiệp định thương
mại FTA đã đẩy mạnh xuất khẩu sang một số thị trường tiềm năng như: Hàn Quốc,
Canada, Trung Đông… Kim ngạch xuất khẩu dệt may vào thị trường này đã đạt kim
ngạch 904 triệu USD tương đương mức thăng trưởng 109%.
Năm 2012 thị phần hàng dệt may Việt Nam tại Hoa Kỳ chiếm khoảng 7.6%
với kim ngạch xuất khẩu đạt 7226. Hoa Kỳ nhập khẩu hàng dệt may từ tất cả nước
trên thế giới giảm nhẹ (0.4%) nhưng nhập khẩu nhóm hàng này từ Việt Nam văn

tăng hơn 8% so với năm trước. Xuất khẩu dệt may Việt nam sang các thị trường lớn
vẫn tăng trưởng ổn định, nhập khẩu dệt may vào thị trường Mỹ năm này giảm 0.5%
nhưng nhập khẩu từ Việt Nam vẫn tăng 9.2%. Nhập khẩu vào Nhật Bản tăng 8%
nhưng nhập khẩu từ Việt Nam tăng mạnh 19.3%. Điều này cho thấy dệt may của
Việt Nam ngày càng khẳng định uy tín và vị trí của ngành dệt may trên thị trường
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
quốc tế.
Trong đó, Hoa Kỳ vần luô là thị trường dẫn đầu về nhập khẩu hàng dệt may
Việt Nam với kim ngạch đạt hơn 7.2 tỷ USD, chiếm 47.8% tổng kim ngạch xuất
khẩu dệt may của cả nước. Đồng thời trong số các nhóm hàng của Việt Nam xuất
sang thị trường Hoa Kỳ thì hàng dệt may dẫn đầu với tỷ trong chiếm 37.9% trong
tổng kim ngạch xuất khẩu Việt Nam sang Hoa Kỳ.
Bản 1.3: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ
năm 2011 - 2012
Chỉ tiêu Năm
2011
Năm
2012
Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa
Kỳ (Tỷ USD)
(A) 6,88 7,46
Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may cả nước (Tỷ
USD)
(B) 14,04 15,09
Tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu dệt
may cả nước (%)
(C)=(A/B)
*100

49,0 49,4
Tổng kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ (Tỷ
USD)
(D) 16,93 19,67
Tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả
nước sang Hoa Kỳ (%)
(E)=(A/D)
*100
40,7 37,9
(Nguồn: Bộ Công Thương)
Trong năm 2012 có sự sụt giảm xuất khẩu sang thị trường EU do ảnh hưởng
của khủng hoảng kinh tế. Đây có thể coi là 1 năm khó khăn do ảnh hưởng của
khủng hoảng kinh tế thế giới cũng gây ra những suy giảm nhất định trong xuất khẩu
hàng dệt may nói riêng và xuất khẩu Việt Nam nói chung.Khủng hoảng kinh tế làm
cho các nước thắt chặt chi tiêu, giảm nhập khẩu, các doanh nghiệp trong nước cũng
gặp khó khăn trong việc tiếp cận và mở rộng thị trường. Tuy nhiên Việt Nam vẫn
duy trì là nhà cung cấp thứ 3 vào Mỹ về khối lượng và đứng thứ 2 về giá trị, với thị
phần năm 2012 chiếm khoảng 7.5% tăng so với 7.1% năm 2011.
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
Năm 2013 xuất khẩu dệt may sang HOa Kỳ tăng trưởng 14.3% đạt hơn 8.6
tỷ USD, chiếm khoảng 8%- 9% thị phần tiêu thụ tại Hoa Kỳ. Dệt may đóng góp
giá trị rất lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, chiếm ⅓ tổng kim
ngạch trong năm 25 tỷ USD xuất khẩu vào Hoa Kỳ trong năm 2013. Ở các thị
trường lớn khác, dệt may nước ta cũng có nhiều thuận lợi và tăng trưởng đáng
kể. EU tăng trưởng 0.5% Hàn Quốc tăng 9%, Nhật Bản giảm 0.5% nhưng xuất
khẩu dệt may của Việt Nam vào các thịt rường này vẫn ở mức khá cao. Trong
năm 2013, thị trường EU đạt gần 2.7 tỷ USD tăng 8.8%. Nhật Bản đạt hơn 2.4 tỷ
USD tăng trên 20%.

Bảng 1.4: Xuất khẩu hàng dệt may 2 tháng đầu năm 2014
ĐVT: USD

Thị trường

T2/2014

2T/2014

T2/2014 so
T2/2013(%)
2T/2014
so cùng
kỳ(%)
Tổng kim
ngạch
1.045.116.21
0
2.936.917.286 +14,92 +17,92
Hoa Kỳ 487.424.197 1.435.538.550 +4,86 +15,00
Nhật Bản 152.043.372 379.366.050 +24,15 +14,80
Hàn Quốc 114.022.305 278.098.464 +33,85 +34,74
Đức 31.192.525 106.783.338 +2,72 +11,99
Tây Ban Nha 30.128.821 99.159.959 +23,30 +60,60
Anh 27.208.547 74.697.510 +28,85 +21,50
Canada 17.053.024 57.352.292 +22,11 +26,41
(Nguồn: Bộ Công Thương )
Hoa Kỳ là thị trường chủ đạo, hàng đầu của ngành dệt may Việt Nam, tiêu
thụ nhiều nhất sản phẩm dệt may của Việt Nam. Riêng tháng 2 vừa qua xuất khẩu
sang Hoa Kỳ đạt 487.42 triệu USD, đưa kim ngach cả 2 tháng đầu năm lên 1.43 tỷ

USD, chiếm 48.88% trong tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may cả nước, tăng 15% so
với 2 tháng đầu năm 2013.
Sau thị trường Hoa Kỳ là Nhật Bản chiếm 12.92% tổng kim ngạch, với
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
379.37 triệu USD, tăng 14.8%. TIếp đến là thị trường Hàn Quốc chiếm 9.47%, đạt
278.1 triệu USD, tăng 34.74%, thị trường Đức chiếm 3.64%, đạt 106.78 triệu USD,
tăng 11.99%
Xuất khẩu hàng dệt may sang hầu hết các thị trường trong 2 tháng đầu năm
đều đạt mức tăng trưởng dương so với cùng kỳ năm trước, trong đó tất cả các thị
trường lớn đều tawngt rưởng, nổi bật là xuất khẩu hàng dệt may sang Nigieria đạt
mức tăng rất mạnh tới 651.03% đạt 9.98 triệu USD. Một số thị trường khác cũng
tăng manh nhập khẩu hàng dệt may từ Việt Nam như: Ba Lan tăng 117.34%, đạt
7.38 triệu USD; U.A.E tăng 104.66^ đạt 14.64 triệu USD, Mexico tăng 93.28% đạt
21.26 triệu USD; Ấn Độ tăng 75%, đạt 5.36 triệu USD.
1.1.3. Thành tựu
Theo phân tích vè thực trang hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
trong thời gian qua, giai đoạn 2009 - 2013 ta thấy được xu hướng tăng trưởng của
ngành dệt may rất rõ ràng. Từ đó có thế rú ra một số thành công mà ngành dệt may
đạt được:
Đầu tiên, ta thấy rõ được sự tăng trưởng không ngừng của kim ngạch xuất
khẩu dệt may Việt Nam sang thị trường nước nào có tốc độ tăng trưởng bình quân
cao. Đặc biệt. trong năm 2013 và 2 tháng đầu năm 2014 ngành dệt may có những
dấu hiệu tăng trưởng mạnh. Có sự tăng trưởng mạnh như vậy là do toàn ngành đang
chạy đua để đón đầu hiệp định TPP. Từ bảng số liệu giai đoan 2009 - 2013 kim
ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam tăng bình quân khoảng 20%/năm.
Trước đó, giai đoạn 2002- 2006, xuất khẩu dệt may Việt Nam sang thịt
rường Hoa Kỳ có sự tăng trưởng mạnh, nguyên nhân chủ yếu là do Hiệp định BTA
có hiệu lực, các doanh nghiệp đã tập trung vào thị trường Hoa Kỳ. Tuy nhiên tốc độ

xuất khẩu sang các nước khác cũng tăng nhưng không rõ bằng thị trường Hoa Kỳ.
Tính chung cho cả ngành dệt may xuất khẩu dệt may đạt 15.8 tỷ USD tăng
12% và giữ tốc đọ tăng trưởng 15% năm 2012, đây là một kỳ tích của dệt may Việt
Nam. Năm 2012 tuy khủng hoảng kinh tế ảnh hưởng đến các doanh nghiệp dệt may
trong nước nhưng xuất khẩu dệt may sang các thị trường lớn vẫn ổn định thậm trí
còn tăng chậm. Điều này khẳng định uy tín và khả năng cạnh tranh cao của dệt may
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
Việt Nam trên thị trường thế giới.
Dệt may Việt Nam đã vượt qua được khó khăn nhờ những bước đi đúng đắn,
tận dụng tốt các hiệp đinh như BTA và những cư hội khi gia nhập WTO. Ta thấy
được năng lực cạnh tranh tốt, phát triển thị trường ngách hợp lý và đã lấn được thị
phần của những thị trường xuất khẩu. Năm 2013 tuy có nhiều bất ổn, nhưng dệt
may Việt Nam dự kiến xuât khẩu từ 18.8- 19.2 tỷ.
Trong khối các nước xuất khẩu dệt may, năm 2013, với tốc độ tăng 18% Việt
Nam là quốc gia có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu lớn nhất. Trong số 20 tỷ USD kim
ngạch xuất khẩu, 19,7 tỷ USD là hàng dệt may và xơ sợi.
Ngành dệt may Việt Nam cũng đang có những bước chuẩn bị cho chiến lược
gia nhập TPP. Trong 12 quốc gia TPP gồm cả VIệt Nam, có tới 2 thị trường lớn của
ngành dệt may là Mỹ và Nhật: 43% kim ngạch xuất khẩu, có tới 60% kim ngạch
xuất khẩu của dệt may Việt Nam được xuất khẩu vào các nước trong khối TPP
Hoạt động xuất khẩu hàng dệt may cũng góp phần vào phát triển sản xuất và
giải quyết việc làm. Năm 2012, tỉ lệ nội địa hóa của dệt may Việt Nam đã lên tới
47%, phần lớn người Việt Nam đã tín nhiệm hàng Việt Nam.
Năm 2013 kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 19 tỷ USD đã tạo thêm đươc khoảng
200.000 chỗ làm mới.
Kết quả sản xuất kinh doanh của ngành dệt may cũng đạt được những thành
tựu lớn như doanh thu Vinatex đạt 40.789 tỷ đồng tăng 16%, kim ngach xuất khẩu
đạt 2.602 tỷ USD tăng 16% năm 2012. Năm 2013, kim ngạch xuất khẩu của tập

đoàn đạt 2.9 tỷ USD chỉ nhập khẩu 1.2 tỷ USD nguyên phụ liệu cho sản xuất, nên
có đến 1.8 tỷ USD là của Vinatex.
Trong những năm gần đây, cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam luôn
ở trang thái xuất siêu với một số thị trường như Nhật Bản… Xuất khẩu dệt may
đang góp phần không nhỏ vào việc ổn định và phát triển sản xuất. Ngành dệt may
đã giải quyết hàng nghìn việc làm cho công nhân, tăng kim ngạch xuất khẩu, phát
triển nền kinh tế quóc dân. Năm 2013, đã có thêm gần 200.000 việc làm mới do
ngành sản xuất dệt may tạo ra với thu nhập bình quân của ngành dệt may khoảng
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
4.5 triệu/người/tháng, nhiều đơn vị đạt tới 6.4 triệu/người/tháng. Nhiều doanh
nghiệp đang có mức thu tăng trên 12% trong đó rất nhiều doanh nghiệp tăng 16%.
Một điểm đáng chú ý trong năm 2013 vừa qua, Việt Nam lần đầu tiên xuất
khẩu nguyên phụ liệu dệt may. Không còn như trước đây, những phụ liệu phải nhập
từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Bangladesh và một số quốc gia khác, thì năm qua hoàn
toanflaays từ nguồn sản xuất trong nước. Khi sử dụng phụ liệu trong nước, vừa
giảm chi phí vận chuyển, vừa uyển chuyển trong giao dịch. Quy mô sử dụng các
loại nguyên liệu của Việt Nam đã đạt gần 10 tỷ USD.
Năm 2013, các doanh nghiệp dệt may đã có chuyển biến về chất, các đơn vị
có tỷ lệ hàng sản xuất nhờ mua nguyên liệu, tự sản xuất và bán hàng trực tiếp không
qua trung gian từ 80% trở lên. Không còn gia công thuê như trước. Các doanh
nghiệp liên tục quảng bá doanh nghiệp, giới thiệu sản phẩm nên hầu hết các doanh
nghiệp lớn hiện nay đang chuyển việc sản xuất hàng dưới hình thức gia công sang
hình thức sản xuất theo đơn đặt hàng.
Ví dụ, Công ty cổ phần dệt may 29-3 có quy mô sản xuất không lớn nhưng
sau nhiều năm đổi mới công nghệ, giữ vững uy tín với khách hàng nên luôn có tăng
trưởng, đặc biệt là thị trường Mỹ, EU.
1.1.4. Hạn chế
Ngoài những thành công lớn trong thời gian qua thì vẫn còn những hạn chế

chung trong ngành dệt may Việt Nam. Trước tiên là vấn đề nguyên phụ liệu nhập
khẩu của Việt Nam chủ yếu vẫn từ nước ngoài. Tuy xuất khẩu dệt may có thể đạt
ngưỡng 20 tỷ USD trước khi ký kết các Hiệp định như TPP, nhưng quy mô sử dụng
các loại nguyên liệu của Việt Nam chỉ đạt 10 tỷ USD. Đây là một con số nhỏ, chưa
đủ hấp dẫn, chiển vọng để các doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất nguyên liệu. Bên
cạnh đó là chất lượng của nguyên phụ liệu có nguồn gốc trong nước, nguyên phụ
liệu từ trong nước vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của cả thị trường sản xuất và
xuất khẩu.
Tỷ lệ nội địa hóa hiện nay đã đạt trên 50%, đây là 1 tỷ lệ đáng mừng đã góp
phần hạn chế nhập siêu từ Trung Quốc. Nhưng so với yêu cầu của Hiệp định TPP
mà Việt Nam đang trên con đường hoàn thiện, thì là một con số thấp. Vậy nên việc
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
nhập khẩu nguyên phụ liệu sẽ là một hạn chế rất lớn khi Việt Nam gia nhập TPP.
Khi đó, dệt may Việt Nam sẽ gặp phải rào cản về chứng minh hàng hóa xuất khẩu
có xuất xứ nguyên liệu trong nước.
Phương thức gia công của ngành dệt may Việt Nam vẫn phụ thuộc nhiều vào
nước ngoài, trung gian nên giá trị xuất khẩu đem lại không phát huy hết tiềm năng
của ngành. Ngành thiết kế, mẫu mã chưa thực sự phát triển và có tên tuổi để có thể
cạnh tranh với thị trường quốc tế, Việt Nam cần củng cố và nâng cao hơn về thời
trang. Trên thực tế, hiện nay, tỷ trọng hàng dệt may xuất khẩu của nước ta trên thị
trường Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản đều còn quá nhỏ và không thuộc hàng hóa cao cấp
nên mẫu mã và kiểu dáng vẫn theo một khuân.
Khả năng cạnh tranh và đáp ưng các tiêu chuẩn quốc tế của Việt Nam chưa
thực sự cao. Số doanh nghiệp trong nước đạt được chứng chỉ ISO 9000, SA 8000,
ISO 14000 chưa thực sự nhiều. Đây cũng là một thách thức không nhỏ trong việc
đồng bộ hóa ngành dệt may trong nước, đáp ứng các rào cản quốc tế, tận dụng các
cơ hội khi kí kết hiệp định TPP sắp tới.
1.2.Những vấn đề hiện nay của ngành dệt may Việt Nam liên quan đến xuất khẩu

Trong những năm qua hoạt động xuất khẩu dệt may của Việt Nam đã đạt
được những thành công lớn như năm 2013 kim ngạch xuất khẩu đạt 20.4 tỷ USD,
tăng 18% so với năm 2012. Việt Nam đang chuẩn bị cho những cơ hội mà TPP
mang lại, ngành dệt may có thể đạt kim ngạch lên đến 25 tỷ USD năm trước năm
2020 và nâng tỷ kệ nội địa hóa lên mức 70- 75% thay vì 45% như hiện nay. Tuy
nhiên vẫn còn những vấn đề trong xuất khẩu dệt may của Việt Nam như về hình
thức xuất khẩu, hàm lượng giá trị gia tăng còn thấp, vấn đề về xây dựng thương
hiệu và bảo vệ thương hiệu trên thị trường nước ngoài….
1.2.1 Hình thức xuất khẩu
1.2.1.1 Gia công xuất khẩu
Đây là phương thức kinh doanh quốc tế, bên đặt gia công chịu trách nhiệm
cung cấp toàn bộ vải và phụ liệu cho bên nhận gia công theo định mức tiêu hao
nguyên liệu, còn bên nhận gia công có nghĩa vụ tiến hành sản xuất để giao lại sản
phẩm và được nhận tiền. HÌnh thức gia công xuất khẩu là hình thức xuất khẩu chủ
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
yếu của ngành dệt may Việt Nam trước đây, chiếm 80% tỏng kim ngạch xuất khẩu
dệt may hàng năm. Hình thức này khiến Việt Nam thu được lợi nhuận thấp hơn
nhiều so với tiềm năng của ngành dệt may.
Phương thức này khiến Việt Nam rơi vào tình trạng bị động, hoàn toàn phụ
thuộc phía nước ngoài về nguyên liệu. Khiến các doanh nghiệp trong nước không
có cơ hội cọ xát, tự chủ trên thị trường quốc tế. Đây là một hạn chế khiến các doanh
nghiệp không được tiếp cận với các thủ tục, rào cản và yêu cầu khi tự xuất khẩu
sang thị trường quốc tế. Không có điều kiện khảo sát tực tế, quảng bá và tạo dựng
tên tuổi của ngành dệt may trên thị trường thế giới.
1.2.1.2 Xuất khẩu trực tiếp
Phương thức xuất khẩu trực tiếp hay còn gọi là tự doanh là phương thức
chiến lược của ngành dệt may Việt Nam đang muốn hướng tới để tự chủ trong xuất
khẩu và sản xuất. Các doanh nghiệp Việt Nam đang cố găng để tăng tỷ trong của

phương thức này giúp đêm lại luôn nhuận tối đa, tận dụng hoàn toàn tiềm năng của
ngành dệt may.
Tuy nhiên trong phương thức này sẽ khiến các doanh nghiệp gặp những khó
khăn như phải tự đầu tư tìm nguồn cho nguyên liệu đầu vào, trong khi ngành
nguyên liệu phụ trơ của Việt nam còn yếu. Doanh nghiệp phải tự chịu độ rủi ro khi
xuất khẩu, phải tự nghiên cứ và tìm hiều thủ tục, yêu cầu của nước nhập khẩu.
Vậy nhưng phương thức xuất khẩu trực tiếp sẽ giúp các doanh nghiệp trong
nước tự chủ hơn trong sản xuất và xuất khẩu, giúp các doanh nghiệp tạo tiền đề để
phát triển với xu thế ngày càng hội nhập của nước ta.
1.2.2 Năng lực cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu
Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường quốc tế
đặc biết các thị trường trọng điểm như Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU ngày càng gia tăng
và tương đối ổn định trong các năm qua. Thị phần hàng dệt may của Việt Nam cũng
tăng mạnh, điều này cho thấy uy tín của doanh nghiệp cũng như chất lượng và
thương hiệu sản phẩm dệt may Việt Nam đã và đang ngay càng có chỗ đứng nhất
định trên thị trường thế giới. Hệ thống máy móc thiết bị cũng được cải tiến và đầu
tư nhiều hơn, có khả năng sản xuất các loại sản phẩm phức tạp, chất lượng cao đáp
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
ứng đượ phần lớn khách hàng khó tính, điều này góp phần không nhỏ trong việc
nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế về giá và chất lượng sản phẩm.
Bên cạnh những cải thiện, thành công nêu trên thì vẫn còn tồn tại những vấn
đề trong năng lực cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam. Quy mô xuất
khẩu nhỏ, công tác thiết kế, phát triển sản phẩm mới chưa được quan tâm nhiều.
Một thực trạng cho thấy quy mô xuất khẩu ngành dệt may còn nhỏ lẻ, EU là một
thịt rường tiềm năng với 28 thành viên nhưng mới chỉ nhập khẩu 20% hàng dệt may
từ Việt Nam. Quy mô xuất khẩu sang các thị trường quốc tế chưa thực sự đồng đều
và chất lượng cũng chưa có tính ổn định cao.
Cơ cấu xuát khẩu hàng dệt may của Việt Nam còn nhiều bất cập, khả năng

và trình độ tiếp thị sản phẩm còn yếu. Các doanh nghiệp chưa nắm bắt được cơ hội,
kém hiểu biết về luật lệ của những thị trường khó tính. Chi phí sản xuất lớn, thời
gian giao hàng và dịch vụ khách hàng còn kém, điều này ảnh hưởng đến giá thành
sản phẩm còn cao là yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh với hàng nội địa các
nước nhập khẩu. Tuy có nguồn lao động dồi dào những chất lượng còn hạn chế, ý
thức tuân thủ các tiêu chuẩn lao động của doanh nghiệp chưa cao. Khoảng 70% các
doanh nghiệp dệt may không đáp ứng được các yêu cầu về quy pham lao động của
khách hàng quốc tế, một số quy định về thời gian lao động, độ tuổi lao động và
trình độ tay nghề của lao động. Điều này ảnh hưởng đến việc phát triển sản xuất,
mở rộng kinh doanh của các doanh nghiệp, khiến các doanh nghiệp xuất khẩu.
Chưa thực sự có những biện pháp nâng cao và thu hút lao động trong ngành dệt
may.
Vấn đề trình độ công nghệ còn thấp, không đồng đều, việc ứng dụng công
nghệ thông tin vào hoạt động sản xuất kinh doanh còn hạn chế. Các thiết bị phục vụ
ngành dệt my hầu hết đã sử dụng trên 25 năm không những gây lãng phí nguyên
liệu và sức lao động mà còn ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm đặc biệt là sản
phẩm phục vụ xuất khẩu. Trình độ kéo sợi, vải lạc hậu hơn so với các nước tiên
tiến, chỉ số ít doanh nghiệp được khảo sát áp dụng tham gia đấu giá và mua bán ứng
dụng phần mềm hoạch định nguồn nhân lực doanh nghiệp thì chưa có doanh nghiệp
nào áp dụng. Điều này ảnh hưởng lớn đến chất lượng sản phẩm, giá trị và năng suât
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
sản xuất và trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của hàng dệt may trên thị
trường quốc tế.
Giá trị nhập siêu của Việt nam tương đối lớn đối với các mặt hàng vải trong
những năm qua do chất lượng và chủng lại sản phẩm Dệt của Việt Nam chưa đáp
ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp trong nước. Điều này phản ánh một phần
chính sách hạn chế nhập khẩu các sản phẩm may vào Việt Nam và các biện pháp ưu
đĩ xuất khẩu cho các doanh nghiệp xuất khẩu may mặc.

Biểu đồ 2: Cơ cấu nhập khẩu vào ngành Dệt may Việt Nam
(Nguồn: VITAS, HBBS)
Vấn đề về tỷ lên nồi địa hóa cửa Việt Nam còn thấp, công nghiệp phụ trợ
kém, hình thức xuất khẩu đơn giản. Do công nghiệp phụ trợ phát triển kém nên
ngành dệt may Việt Nam gần như phụ thuộc vào thị trường thế giới vả xuất khẩu
lẫn nhập khẩu. Việt Nam đang nhập khẩu khoảng 70%-80% nguyên liệu chủ yếu từ
Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan hoặc Hồng Công. Hiện nay ngoài lao động rẻ còn
lại đều phải nhập khẩu với tỷ lệ 100% máy móc thiết bị,phụ tùng, 100% xơ sợi hóa
học, 90% bông xơ thiên nhiêu chủ yếu nhập từ Mỹ. Điều này khiến ngành dệt may
gặp nhiều khó khắn trong việc đáp ứng các yêu cầu về nguồn gốc xuât xứ khi gia
nhập TPP.
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
1.2.3 Một số vấn đề khác
Ngoài ra ngành dệt may còn một số những vấn đề hạn chế trong xuật khẩu
như:
Thứ nhất, cơ cấu mặt hàng ngành dệt may xuất khẩu sang thịt rường nước
ngoài chưa phong phú, đa dạng, chất lượng chưa đồng đêu.Hàng dệt may Việt Nam
xuất khẩu sang thị trường nước ngoài chủ yếu vẫn có chất lượng trung bình, thị
phần chủ yếu là phục vụ tầng lớp khách hàng trung lưu và thaaos hơn. Đối với mặt
hàng xa xỉ, có chất lượng cao thì chung ta chưa thể đáp ứng, cạnh tranh với những
thương hiệu nổi tiếng trên thế giới.
Thứ hai, doanh nghiệp còn hạn chế trong việc tìm hiểu về thị trường nước
ngoài và các vấn đề thương mại, phi thương mai quốc tế. Nhiều doanh nghiệp khi
xuất khẩu trực tiếp sang Hoa Kỳ, EU nhưng hay gặp phải những vấn đề về rào cản
kỹ thuật. Chủ yếu khi xuất khẩu sang thị trường quốc tế phải qua trung gian nên
làm giảm giá trị hàng hóa xuất khẩu. Thông tin về đối thủ cạnh tranh dường như
chưa được cung cấp đầy đủ hoặc các doanh nghiệp chưa thu thập và xử lý thông tin
thi trường một cách hiệu quả nhất.

Thứ ba, vấn đề từ quy chế kinh tế thị trường mà Việt Nam xuất khẩu sang.
Các thị trường mà Việt Nam xuất khẩu chủ yếu là những nền kinh tế phi thị trường.
Họ luôn có những biện pháp nhằm nảo vệ ngành, doanh nghiệp trong nước trước.
Những quy chế nền kinh tế phi thị trường tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong
nước dễ dàng thắng các vụ kiện bán phá giá, áp đặt thuế chống bán phá giá cao với
các doanh nghiệp Việt Nam. Ngoài ra còn có những quy định về xuât xứ như của
Mỹ áp dụng cho các mặt hàng xuất khẩu vào thị trường nước họ.
Thứ tư, chi phí sản xuất ở Việt Nam chưa thực sự là mức cạnh tranh hợp lý
so với các thị trường may mặc khác. Các doanh nghiệp dệt may gặp chi phí sản xuất
cao do các dịch vụ hạ tầng ở Việt Nam còn chưa được cung ứng hiệu quả. Mặc dù
tính cạnh tranh cao hơn và giá thấp hơn nhưng Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với
tình trạng chi phí sản xuất tăng, trong khi lạm phát luôn ở mức cao. Tuy là nước có
nguyên nhân công dồi dào, nguồn nhân lực giá rẻ nhưng chi phí giao thông, chi phí
nhập khẩu vẫn còn cao. So sánh chi phí sản xuất ngành may mặc ở Việt Nam với
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
Thái Lan và Trung quốc thì vẫn cao hơn khoảng 12% - 13%.
Nhìn một cách tổng quát, ngành dệt may Việt Nam còn phải đối mặt với
nhiều vấn đề đối với phát triển xuất khẩu, nhằm tận dụng các cơ hội từ việc Việt
Nam đang trên con đường hoàn thiện hiệp đinh TPP. Những vấn đề nêu trên không
chỉ năm ở môi trường chính sách còn nhiều bất cập, tiến trình phát triển công
nghiệp phụ trợ mà còn ở nội tại doanh nghiệp còn nhiều hạn chế. Việt Nam thực sự
cần xử lý những vấn đề này một cách kiên quyết hiệu quả và nhanh chóng để đón
nhận những cơ hôi khi kí kết hiệp đinh TPP. Ngành dệt may cần tập trung giải
quyết các hạn chế vẫn còn tồn tại để đón đầu TPP, tận dụng những cơ hội lớn của
hiệp định mang lại.
1.3. Những nội dung đàm phán trong Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương
Hiệp định Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement viết tắt
là TPP, là hiệp định Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương. Khởi nguốn là Hiệp

định Đối tác kinh tế chặt chẽ hơn do nguyên thủ 3 nước Chile, New Zealand và
Singapore phát động đàm nhân dịp Hội nghị Cấp cao APEC 2002 tổ chức tại
Mexico. Tháng 4 năm 2005, Brunei xin gia nhập với tư cách thành viên sáng lập
trước khi vòng đàm phán cuối cùng kết thúc.
TPP là hiệp định mang tính mở, tự do hóa giữa các nước thành viên của tổ
chức. Hiệp đinh được hình thành với những nội dung chính sau:
Hiệp định TPP có phạm vi điều chỉnh rộng, bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ
(chưa bao gồm dịch vụ tài chính do được đàm phán sau), vệ sinh an toàn thực phẩm
(SPS), rào cản kỹ thuật (TBT), chính sách cạnh tranh, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính
phủ và minh bạch hóa. Ngoài ra, còn có một chương về hợp tác và 02 văn kiện đi
kèm về Hợp tác Môi trường và Hợp tác Lao động.
Theo thỏa thuận, các bên tham gia P4 sẽ tiếp tục đàm phán và ký 02 văn kiện
quan trọng về đầu tư và dịch vụ tài chính, chậm nhất là sau 02 năm kể từ khi P4
chính thức có hiệu lực (tức là từ tháng 3 năm 2008).
Điểm nổi bật nhất của P4 là tự do hóa rất mạnh về hàng hóa. Thuế nhập khẩu
được xóa bỏ hoàn toàn và phần lớn là xóa bỏ ngay từ khi Hiệp định có hiệu lực.
Về dịch vụ, P4 thực hiện tự do hóa mạnh theo phương thức chọn-bỏ. Theo
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
đó, tất cả các ngành dịch vụ đều được mở, trừ những ngành nằm trong danh mục
loại trừ.
Tháng 9 năm 2008, Mỹ tuyên bố tham gia TPP. Tiếp theo đó, tháng 11 năm
2008, Úc và Pê-ru cũng tuyên bố tham gia TPP. Tại buổi họp báo công bố việc
tham gia của Úc và Pê-ru, đại diện các bên khẳng định sẽ đàm phán để thiết lập một
khuôn khổ mới cho TPP. Kể từ đó, các vòng đàm phán TPP được lên lịch và diễn ra
cho đến nay.
Từ năm 2006, qua nhiều kênh, Xinh-ga-po đã rất tích cực mời Việt Nam
tham gia TPP - P4. Trước những cân nhắc cả về khía cạnh kinh tế và chính trị, Việt
Nam chưa nhận lời mời này của Xinh-ga-po.

Tuy nhiên, với việc Mỹ quyết định tham gia TPP, và trước khi tuyên bố tham
gia TPP, Mỹ đã mời Việt Nam cùng tham gia Hiệp định này, Việt Nam đã cân nhắc
lại việc tham gia hay không tham gia TPP.
Đầu năm 2009, Việt Nam quyết định tham gia Hiệp định TPP với tư cách
thành viên liên kết. Tháng 11 năm 2010, sau khi tham gia 3 phiên đàm phán TPP
với tư cách này, Việt Nam đã chính thức tham gia đàm phán TPP. Trước đó, tháng
10 năm 2010, Ma-lai-xia cũng chính thức tham gia vào TPP, nâng tổng số nước
tham gia đàm phán lên thành 9 nước.
Một số nội dung đàm phán cụ thể của các vòng đàm phán gần đây quy định
về sở hữu trí tuệ (IP), doanh nghiệp nhà nước (SOE), đầu tư, lao động, mua sắm
công và tiếp cận hàng hóa đối sản phẩm dệt may. Trong vòng đàm phán 16, đối với
hàng dệt may là một trong những vấn đề tốn thời gian và gây nhiều tranh cãi nhất
trong TPP, đặc biệt đối với các nước có lợi ích liên quan như Việt Nam.
Hoa Kỳ là một nước có thị trường tiêu thụ hàng dệt may lớn, nhập khẩu
nhiều nhất thế giới nhưng lại có ngành sản xuất nội địa nhỏ nên là một thị trường
xuất khẩu dệt may tiềm năng của nhiều nước xuất khẩu. Tuy nhiên, Hoa Kỳ đã đưa
đề xuất áp dụng quy tắc xuất xứ từ sợi trở đi (yarn- forward) đối với hàng dệt may
trong TPP. Quy định này có ý nghĩa là một sản phẩm dệt may muôn được hưởng ưu
đãi thuế quan theo TPP thì tất cả các nguyên liệu, bắt đầu từ sợi trở đi, phải được
sản xuất tại các nước thành viên TPP.
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
25

×