Tải bản đầy đủ (.doc) (19 trang)

đề tài “ phân tích tình hình sử dụng yếu tố sản xuất của công ty cổ phần lâm sản xuất khẩu đà nẵng''''

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (217.68 KB, 19 trang )

LỜI MỞ ĐẦU:
Sản xuất ra của cải vật chất là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Chính vì
vậy, ngay từ thời cổ xưa người ta đã thấy sự cần thiết muốn duy trì và phát triển đời sống của
mình và xã hội thì phải tiến hành sản xuất những vật dụng, thức ăn đồ mặc, nhà ở như thế nào,
muốn sản xuất phải hao phí bao nhiêu sức lao động và phải có những tư liệu sản xuất gì, trong
thời gian bao lâu, kết quả sản xuất sẽ phân phối như thế nào v.v Tất cả những điều đó liên
quan đến sản xuất mà con người quan tâm đã đặt ra nhu cầu tất yếu phải thực hiện chức năng
quản lí sản xuất. Trong điều kiện sản xuất và kinh doanh theo cơ chế thị trường để tồn tại và
phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp kinh doanh phải có lãi để đạt được kết quả cao nhất trong
sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có xác định phương hướng mục tiêu đầu tư,
biện pháp sử dụng các điều kiện có sẵn về các nguồn nhân lực. Muốn vậy, các doanh nghiệp
cần nắm được các nhân tố ảnh hưởng, mức độ và xu hướng tác động của từng nhân tố đến kết
quả sản xuất kinh doanh. Điều này chỉ thực hiện được trên cơ sở của phân tích kinh doanh để
từ bỏ cơ chế đánh giá đầy đủ mặt mạnh yếu trong quản lý doanh nghiệp. Đối với các doanh
nghiệp sản xuất thì quá trình sản xuất là quá trình kết hợp giữa sức lao động với tư liệu sản
xuất và đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm. Mối quan hệ giữa các yếu tố của quá trình sản
xuất có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp. Bởi vì giai đoạn sản xuất chính là giai đoạn
tạo ra giá trị thặng dư và nó vị trí đặc biệt quan trọng trong toàn bộ quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Do đó qua phân tích kinh doanh giúp các nhà doanh nghiệp tìm ra
các biện pháp sát thực tế để tăng cường các hoạt động kinh tế và quản lý doanh nghiệp nhằm
huy động mọi khả năng tiềm tàng về lao động, máy móc, vào quá trình sản xuất kinh doanh
nhằm nâng cao kết quả sản xuất, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Qua môn học phân tích hoạt động kết quả kinh doanh và tìm hiểu về Công ty Cổ Phần
Lâm Sản Xuất Khẩu Đà Nẵng. Nhóm chúng em đã chọn đề tài “ Phân tích tình hình sử
dụng yếu tố sản xuất của Công ty Cổ Phần Lâm Sản Xuất Khẩu Đà Nẵng”, làm đề tài cho
bài báo cáo này.Bài làm là sự cộng tác và cố gắng của cả nhóm, tuy nhiên vẫn sẽ tồn tại nhiều
sai sót. Qua đây chúng em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới cô Ths.Nguyễn Thị Hoài Thương
đã tận tình hướng dẫn giúp chúng em hoàn thành bài làm này.
I.GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY
Công ty Cổ phần Lâm sản xuất khẩu Đà nẵng.
Tiền thân là từ Doanh nghiệp nhà nước thành lập năm 1996 với tên gọi là Công ty Lâm sản


xuất khẩu Đà Nẵng. Đến tháng 6/2006 theo quyết định 3877 QD-UBND của UBND TP Đà
nẵng v/v chuyển giao doanh nghiệp cho tập thể người lao động, Công ty đã đổi tên thành
Công ty Cổ phần Lâm sản xuất khẩu Đà nẵng.
1. Công ty tọa lạc trên diện tích rộng gần 2 ha, tại KCN Hòa Cầm trên tuyến quốc lộ 14 B
cách cầu vượt Hòa Cầm khoảng chừng 2km.
2. Tổng số cán bộ công nhân viên hiện nay là: 400 người.
3. Đơn vị thành viên: XN Xây dựng và Thương mại Phước Tường.
4. Qui mô hoạt động : Chế biến lâm sản
Ngành nghề kinh doanh: Sản xuất, khai thác và chế biến lâm sản xuất khẩu và nội địa.Tư
vấn thiết kế, gia công lắp đặt các hệ thống sấy, chế biến và bảo quản lâm sản. Xây dựng
các công trình dân dụng, công nghiệp, Công trình giao thông.
Những thông tin về hoạt động sản xuất :
a. Công suất: Từ 120 - 150 conts/ năm,
b. Sản phẩm chính: Bàn, ghế và các sản phẩm khác sử dụng trong nhà và ngoài trời.
Nguyên liệu chủ yếu: Bạch đàn, Chò chỉ, ,… chủ yếu nhập khẩu khoảng 90%.
Tất cả đều có chứng nhận khai thác hợp pháp, chứng nhận rừng trồng, chứng
nhận FSC,
c. Thị trường chính: Trên 95% là xuất khẩu, chủ yếu sang các nước Châu Âu như:
Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Đức, Đan Mạch, Bỉ , Hà Lan…. và một số nước Nam
Phi
II.Phần Nội Dung
1. Khái quát về lao động :
1.1. Khái niệm lao động
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các
giá trị tinh thần của xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố
quyết định sự phát triển của đất nước.
1.2. Tầm quan trọng của lao động :
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cần phải có ba yếu tố cơ bản: tư liệu lao
động, đối tượng lao động và lao động, trong đó, lao động là các yếu tố có tính quyết định.
Trong tất cả cá chế độ xã hội , việc làm ra của cải vật chất, thỏa mãn tất cả các nhu cầu,

các điều kiện về sinh hoạt, sinh tồn của xã hội đều do lao động mà có.
Lao động là hoạt động chân tay và hoạt động trí óc của con người nhằm biến đổi các vật
thể tự nhiên thành những vật thể cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của xã hội.
Lao động là điều kiện đầu tiên, cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội.
2.1. Phân tích tình hình sử dụng lao động trong doanh nghiệp.
2.1.1. Ý nghĩa và nhiệm vụ phân tích tình sử dụng lao động
Ý nghĩa
Để tiến hành sản xuất phải có đầy đủ 3 yếu tố: sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu
lao động. Vì vậy, sau khi phân tích tình hình sản xuất về mặt chất lượng, số lượng sản phẩm
cần đi sâu phân tích cần đi sâu phân tích các yếu tố của sản xuất, bởi vì việc tổ chức quản lí và
sử dụng các yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến kết quả sản xuất của doanh nghiệp.
Trong 3 yếu tố trên thì sức lao động là yếu tố cơ bản nhất, với tính năng động chủ quan và
sức sáng tạo sẵn có nó có ý nghĩa quyết định lớn đến tình hình thực hiện nhiệm vụ sản xuất.
Yếu tố lao động tác động đến sản xuất tổng hợp ở cả 2 mặt là số lượng và chất lượng , cụ
thể là só lượng lao động và trình độ sử dụng lao động (năng suất lao động). Sự tác động này
được thể hiện bằng công thức sau:
G
s
=
CN
x
NS

Trong đó:

s
G
: giá trị sản xuất

CN

: số lao động bình quân

NS
: Năng suất lao động bình quân.
Phân tích ảnh hưởng của lao động đến sản xuất là đánh giá ảnh hưởng của 2 mặt số lượng
và chất lượng đến sản xuất và có ý nghĩa quan trọng vì:
+ Qua phân tích mới đánh giá được tình hình biến động về số lượng lao động, tình hình bố
trí lao động, từ đó có biện pháp bố trí hợp lý, tiết kiệm lao động.
+ Qua phân tích đánh giá được tình hình quản lý và sử dụng thời gian lao động, trình độ
thành thạo của lao động, tình hình năng suất lao động, thấy rõ khả năng tiềm tàng về lao
động , trên cơ sở đó có biện pháp khai thác có hiệu quả.
+ Qua phân tích mới có biện pháp quản lý sửa chữa, sử dụng hợp lý sức lao động và tăng
năng suất lao động.
Nhiệm vụ phân tích:
Với ý nghĩa trên, thì nhiệm vụ phân tích là :
+ phân tích tình hình tăng giảm lao động , tình hình bố trí lao động.
+ phân tích tình hình năng suất lao động, điều này cho ta đánh giá được tình hình sử dụng
thời gian lao động, cải tiến kỹ thuật, tổ chức lao động.
Lao động là 1 trong 3 yếu tố của quá trình sản xuất, có ảnh hưởng đến kết quả sản xuất của
doanh nghiệp. Phân tích tình hình lao động là việc phân tích tình hình sử dụng số lượng lao
động và phân tích tình hình năng suất lao động.
2.1.2. Phân tích tình hình sử dụng số lượng lao động:
SỐ LIỆU VỀ TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG SỐ LAO ĐỘNG
CHỈ TIÊU
NĂM TRƯỚC NĂM SAU
SỐ
LƯỢNG
TỶ
TRỌNG
SỐ

LƯỢNG
TỶ
TRỌNG
CÔNG NHÂN VIÊN SẢN
XUẤT 250 79.37% 230 74.19%
CÔNG NHÂN VIÊN
TRỰC TIẾP 170 53.97% 160 51.61%
NHÂN VIÊN GIÁN
TIẾP 80 25.24% 70 22.58%
NHÂN VIÊN NGOÀI SẢN
XUẤT 65 20.63% 80 25.81%
NHÂN VIÊN BÁN
HÀNG 45 14.29% 55 17.74%
NHÂN VIÊN QUẢN LÝ
DOANH NGHIỆP 20 6.43% 25 8.07%
TỔNG CỘNG 315 100% 310 100%
Số lượng và chất lượng lao động là 1 trong những yếu tố cơ bản quyết định quy mô sản
xuất kinh doanh. Bởi vậy, việc phân tích tình hình sử dụng số lượng lao động cần xác định
mức tiết kiệm hay lãng phí. Trên cơ sở tìm mọi biện pháp tổ chức sử dụng lao động tốt nhất.
Vận dụng phương pháp so sánh, xác định mức biến động tuyệt đối và mức biến động tương
đối về trình độ hoàn thành kế hoạch sử dụng số lượng lao động.
- Mức biến động tuyệt đối : là kết quả so sánh số lao động sản xuất thực tế bình quân với
số lượng kế hoạch bình quân để tính ra số chênh lệch tuyệt đối.
Mức chênh lệch tuyệt đối = Số LĐ thực tế - số LĐ kế hoạch

Hay :
CN∆
=
1
CN

-
k
CN
Kết quả phân tích này phản ánh tình hình sử dụng số lượng lao động thực tế với kế hoạch
tăng giảm , chưa nêu được DN sử dụng số lượng lao động tiết kiệm hay lãng phí, vì lao
động được sử dụng có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động.

Số LĐ trực số CN sản số CN sản xuất tỷ lệ hoàn thành
tiếp tăng giảm = xuất thực tế - theo kế hoạch * kế hoạch (hoặc
tương đối kỳ phân tích hoặc năm trước tốc độ phát triển)
Hay :

td
CN
=
1
CN
-
k
CN

×
T
Trong đó :



td
CN
: số lao động trực tiếp tăng giảm tương đối

T : tỷ lệ hoàn thành kế hoạch (hoặc tốc độ phát triển)


Tốc độ phát triển (T)
+ Nếu số công nhân bình quân tăng lên chứng tỏ việc tổ chức quản lý và sử dụng lao động
không tốt.
+ Nếu số công nhân bình quân giảm chứng tỏ việc tổ chức quản lý sử dụng lao động tốt hơn.
Ví du:
Nhận xét:Từ bảng phân tích trên cho thấy, tổng số lao động bình quân của doanh nghiệp
giảm 5 người so với kế hoạch (310-315)
Xét về mặt kết cấu(tỷ trọng) cho thấy: nhân viên quản lý tăng 1,64%( 6,43%-8,07%) và
nhân viên bán hàng tăng 3,45%( 14,29-17,74). Việc tăng tỷ trọng của hai loại lao động này tác
động trực tiếp đến kết quả tiêu thụ (khối lượng tiêu thụ).Qua đó ta thấy khối lượng tiêu thụ
thực tế đạt được tốt hơn so với kế hoạch.
 Tỷ trọng nhân viên trực tiếp giảm 2,36%( 51,61%-53,97%) và nhân viên gián tiếp giảm
2,66%( 22,58-25,24).Do công việc của các nhân viên này trên thực tế vẫn đảm bảo cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nên việc giảm này so với kế hoạch được đánh giá
là tốt.
 Thông qua mối liên hệ giữa kết quả sản xuất và kết quả tiêu thụ đạt được ta thấy tình
hình sử dụng lao động thực tế của công ty tốt hơn so với kế hoạch.

CHỈ TIÊU
NĂM TRƯỚC NĂM SAU
SỐ
LƯỢNG
TỶ
TRỌNG
SỐ
LƯỢNG
TỶ

TRỌNG
CÔNG NHÂN VIÊN SẢN
XUẤT 250 79.37% 230 74.19%
CÔNG NHÂN VIÊN
TRỰC TIẾP 170 53.97% 160 51.61%
NHÂN VIÊN GIÁN TIẾP 80 25.24% 70 22.58%
NHÂN VIÊN NGOÀI SẢN
XUẤT 65 20.63% 80 25.81%
NHÂN VIÊN BÁN
HÀNG 45 14.29% 55 17.74%
NHÂN VIÊN QUẢN LÝ
DOANH NGHIỆP 20 6.43% 25 8.07%
TỔNG CỘNG 315 100% 310 100%
Trường hợp phân tích tình hình biến động nhân viên bán hàng
Kết quả hoạt động của nhân viên bán hàng có quan hệ trực tiếp với doanh thu tiêu thụ, do
vậy khi phân tích ngoài việc tính mức biến động tuyệt đối nhân viên bán hàng, ta còn tính
được mức biến động tương đối của nhân viên bán hàng theo công thức sau:
Mức biến động số lượng số lượng nhân tỷ lệ hoàn thành
tương đối của nhân = nhân viên - viên bán hàng
×
KH tiêu thụ (so
viên bán hàng bán hàng TT KH (năm trước) với năm trước)
2.2. Phân tích tình hình năng suất lao động
2.2.1 Các chỉ tiêu về năng suất lao động:
TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY
CHỈ TIÊU NĂM TRƯỚC NĂM SAU
Gía trị sản xuất 5027400 5243190
Tổng số lao động bình quân 315 310
Tổng ngày làm việc 83790 86180
Tổng số giờ làm việc 628425 672204

Số ngày làm việc bình quân 1 lao động
trong năm 266 278
Số ngày làm việc bình quân ngày 7.5 7.8
Năng suất bình quân giờ 8 7.8
Năng suất bình quân ngày 60 60.84
Nguyên giá TSCD bình quân 95000 98900
Số lượng máy móc thiết bị bình
quân(máy) 100 104
Số ca làm việc trong ngày(ca) 3 3.1
Năng suất lao động là năng lục sản xuất của người lao động có thể sáng tạo ra 1 số sản phẩm
vật chất có ích trong 1 đơn vị thời gian nhất định, hoặc thời gian lao động hao phí để sản xuất
ra sản phẩm. Năng suất lao động là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp, biểu hiện kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh, khÔng ngừng nâng cao năng suất lao động là biện pháp chủ yếu giá
thành sản phẩm
Như vậy, năng suất lao động càng cao thì chi phí lao động xã hội tính trên 1 sản phẩm càng
thấp và ngược lai.
Đối với doanh nghiệp sản xuất, năng suất lao động được xác định:
Khối lượng sản phẩm sản xuất
Năng suất lao động = (1)
Thời gian lao động
Thời gian lao động
Năng suất lao động = (2)
Khối lượng sản phẩm sản xuất
Thực tế trong các doanh nghiệp sản xuất rất nhiều loại sản phẩm khác nhau, cho nên chỉ tiêu
(1) trên không sử dụng số lượng sản phẩm tính bằng giá trị sản phẩm sản xuất. tuy nhiên, để
đảm bảo tính so sánh được thì thước đo giá trị phải được tính theo giá cố định và giá trị sản
xuất dung để tính năng suất lao động phải được loại trừ ảnh hưởng của nhân tố kết cấu.
Sở dĩ như vậy vì ; GTSX là sự kết tinh của lao động quá khứ ( vật hóa: NVL, khấu hao…)
và lao động sống. Sự kết tinh này trong1 sản phẩm giữa các kì phân tích sẽ khác nhau, nên chỉ
tiêu năng suất lao động tính ra sẽ khác nhau. Việc khác nhau này không phải do thay đổi lao

động mới sang tạo ra mà do giá trị lao động quá khứ của xã hội đã tạo ra trước đó.
Lượng thời gian hao phí có thể sử dụng nhiều đơn vị thời gian khác nhau ( giờ, ngày, tháng,
năm)
- Năng suất lao động bình quân giờ ( N
h
) : N
h
= G
s


CN x n x h

G
s
- Năng suất lao động bình quân ngày ( N
d
) : N
d
= = N
h
x h
CN x n
-Năng suất lao động bình quân năm ( ) :



- Năng suất lao động giờ: chính là giá trị sản xuất bình quân 1 giờ làm việc của công nhân
sản xuất trực tiếp.
Năng suất lao động giờ biến động chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, nhưng có thể qui về các

nhân tố sau:
+ Do trình độ thành thạo về kỹ thuật, kỹ năng của công nhân
+ Do trình độ cơ giới hóa, tự động hóa cao hay thấp, tình trạng máy móc thiết bị mới hay cũ.
+ Do phẩm chất, quy cách, số lượng vật liệu cung cấp cho sản xuất có đầy đủ không.
+ Do trình độ quản lý, tổ chức sản xuất , bố trí nơi làm việc, sử dụng kích thích lao động.
- Năng suất lao động ngày: Nói lên khối lượng sản xuất thực hiện trong một ngày công. Nó
không chỉ phản ánh năng suất lao động giờ mà còn phản ánh tình hình sử dụng thời gian lao
động trong ngày. Giữa chỉ tiêu năng suất lao động ngày và năng suất lao động ngày có mối
quan hệ như sau:
Số giờ làm việc Năng suất lao
Năng suất lao = bình quân trong x động trong một
động ngày ngày giờ
Qua công thức này: nếu tốc độ tăng của năng suất lao động ngày càng cao hơn tốc độ tăng của
năng suất lao động giờ thì chứng tỏ số giờ làm việc trong ngày đã tăng lên và ngược lại. Do
vậy, từ đây ta có thể đánh giá tình hình sử dụng ngày công trong kỳ phân tích.
- Năng suất lao động năm: phản ánh khối lượng sản phẩm sản xuất được trong năm của một
công nhân. Giữa chỉ tiêu năng suất lao động năm và năng suất lao động ngày được thể hiện
qua công thức:

Năng suất Số ngày làm việc bình quân Năng suất
lao động = một công nhân sản xuất x lao động
năm trong năm ngày
Qua công thức này, nếu tốc độ tăng năng suất lao động năm cao hơn tốc độ tăng năng suất lao
động ngày, thì chứng tỏ số ngày làm việc bình quân một công nhân sản xuất trong năm tăng
lên và ngược lại. Từ mối liên hệ này cho phép ta đánh gia được tình hình sử dụng số ngày
công lao động của một công nhân sản xuất trong năm.
Thông qua 3 loại năng suất lao động được trình bày trên ta có thể thiết lập được phương trinh
biểu hiện mối liên hệ các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả sản xuất.
Giá trị số công Số ngày làm Số giờ làm Năng suất
sản = sản xuất x việc bình quân x việc bình quân x lao động

xuất bình quân 1 CN trong năm 1 ngày giờ
Hay G
s
= CN x n x h x N
h
Nếu các chỉ tiêu về lao động thay đổi sẽ làm cho giá trị sản xuất thay đổi, bằng phương pháp
thay thế liên hoàn hoặc phương pháp số chênh lệch ta có thể đánh giá được ảnh hướng từng
nhân tố đến giá trị sản xuất.
Công thức:
2.2.2/ Phương pháp phân tích:
Phân tích chung tình hình sử dụng năng suất lao động là xem xét đánh giá tình hình
biến động năng suất lao động giờ, ngày, năm, đồng thời tìm ra những nguyên nhân ảnh hưởng
đến sự biến động đó nhằm xác định trọng tâm phân tích, đề ra biện pháp không ngừng nâng
cao năng suất lao động.
Phân tích năng suất lao động cần áp dụng phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp
so sánh, phương pháp số chênh lệch và thực hiện theo các nội dung sau:
- So sánh, xác định mức độ tăng, giảm các loại năng suất lao động. Trên cơ sở đó, đánh giá
tình hình thực hiện các loại năng suất lao động, tình hình sử dụng thời gian lao động theo giờ
công, ngày công.
- Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu giá trị sản xuất sản xuất trong kỳ, trong đó
đi sâu phân tích nhân tố năng suất lao động.
- Phân tích, tìm hiểu nguyên nhân gây ảnh hưởng của các nhân tố, đặc biệt là số ngày làm việc
bình quân một công nhân.
+ Năng suất lao động giờ giảm: biểu hiện không tốt, nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình
này có thể do trình độ thành thạo kỹ thuật của công nhân chưa tốt, máy móc thiết bị cũ kỹ, quy
cách, phẩm chất nguyên vật liệu không đảm bảo.
+ Năng suất lao động ngày.
Trường hợp 1:
- Năng suất lao động giờ tăng: Nếu tốc độ tăng năng suất lao động ngày lớn hơn năng suất lao
động giờ, chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng tốt giờ công lao động trong ngày. Nếu tốc độ tăng

năng suất lao động ngày nhỏ hơn năng suất lao động giờ, chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng chưa
tốt giờ công lao động trong ngày.
- Năng suất lao động giờ giảm: Điều này chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng tốt giờ công lao
động trong ngày, mặc dù năng suất lao động giờ ảnh hưởng không tốt đến năng suất lao động
ngày.
Trường hợp 2:
- Năng suất lao động giờ tăng, chứng tỏ doanh nghiệp không sử dụng tốt giờ công lao động.
Năng suất lao động giờ giảm: Nếu tốc độ giảm của năng suất lao động ngày nhỏ hơn năng suất
lao động giờ, doanh nghiệp sử dụng tốt giờ công lao động trong ngày. Nếu tốc độ giảm của
năng suất lao động ngày lớn hơn năng suất lao động giờ, doanh nghiệp không sử dụng tốt giờ
công lao động trong ngày.
Ví dụ:
TIẾN HÀNH PHÂN TÍCH:
 Chỉ tiêu phân tích :
CHỈ TIÊU
ĐƠN
VỊ
NĂM
TRƯỚC
NĂM
NAY
CHÊNH LỆCH
MỨC
TỈ LỆ
%
1.Tổng giá trị sản xuât 1.000Đ
5.027.40
0 5.243.190 215.790 4,3
2.Tổng số lao động bình
quân Người 315 310 -5 -1,6

3.Tổng ngày làm việc Ngày 83.790 86.180 2.390 2,8
4.Tổng số giờ làm việc Giờ 628.425 672.204 43.779 6,7
5.Số ngày làm việc BQ 1 lao
động trong năm Ngày 266 278 12 4,5
6.Số giờ làm việc BQ ngày Giờ 7,5 7,8 0,3 0,4
7.Năng suất bình quân giờ 1.000Đ 8 7,8 -0,2 -2,5
8.Năng suất bình quân ngày 1.000Đ 60 60,84 0,84 1,4
9.Năng suất lao động BQ 1
lao động 1.000Đ 15.960 16.913,52 953,52 5,97

Kỳ gốc:

Kỳ phân tích:

 Đối tượng phân tích :

Các nhân tố ảnh hưởng
- Ảnh hưởng của nhân tố số ngày làm việc bình quân trong 1 năm ( n)
-
- Ảnh hưởng của nhân tố số giờ làm việc bình quân ngày
= 278 * 7,8* 8 – 16.680
= 17.347,2 – 16.680 = 667,2
- Ảnh hưởng của nhân tố năng suất bình quân giờ ( )
 Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng:

Nhận xét: Từ bảng số liệu phân tích,kết quả so sánh mỗi loại năng suất lao động không giống
nhau.
 Năng suất lao động giờ:so với kế hoạch giảm 2,5%, tương ứng với mức giảm 0,2 nghìn
đồng.
Năng suất lao động ngày: so với kế hoạch tăng 1,4% tương ứng với mức tăng 0,84 nghìn

đồng.Ta thấy tốc độ tăng của năng suất lao động ngày tăng nhanh hơn tốc độ tăng của năng
suất lao động giờ (-2,5%và 1,4%%).Điều này chứng tỏ số giờ làm việc trong ngày thực hiện
kém hơn kế hoạch(7,8 giờ <8 giờ)
Năng suất lao động năm: so với kế hoạch tăng 5,97%, tương ứng mức tăng 953,52 nghìn
đồng.Năng suất lao động tăng so với kế hoạch (5,97%) trong khi năng suất lao động ngày tăng
so với kế hoạch (1,4%).Điều này chứng tỏ số ngày công bình quân của công nhân sản xuất
trong năm thực hiên giảm so với kế hoạch(315<310)
3.1 Phân tích tình hình sử dụng tài sản cố định:
Tài sản cố định trong doanh nghiệp là tư liệu lao động chủ yếu, thể hiện năng lực sản
xuất của doanh nghiệp. Mặt khác, giá trị còn lại của TSCĐ thể hiện một lượng vốn lớn đang
đầu tư vào sản xuất kinh doanh luôn được đòi hỏi với hiệu quả cao.
Do vậy, cần có biện pháp sử dụng và quản lý TSCĐ khoa học, hợp lí nhằm huy động
đến mức tối đa, không ngừng tăng sản lượng, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm.
Qua phân tích sẽ chỉ ra những ưu điểm và tồn tại trong việc trang bị và sử dụng TSCĐ. Từ đó,
có phương pháp đầu tư, xây dựng TSCĐ được hợp lí hơn, việc khai thác và sử dụng TSCĐ
ngày càng cao hơn. Nội dung phân tích này thể hiện ở hai mặt: Phân tích tình hình trang bị và
phân tích tình hình sử dụng TSCĐ.
3.2.1/ Phân tích tình hình trang bị tài sản cố định:
Việc phân tích tình hình trang bị TSCĐ thể hiện trên hai mặt, đó là phân tích tình hình
biến động TSCĐ và tình trạng kỹ thuật của TSCĐ.
3.2.1.1/ Phân tích tình hình biến động TSCĐ:
Mục tiêu: nhằm đánh giá tính hợp lí trong việc đầu tư cho TSCĐ, tình hình phân bổ
TSCĐ của doanh nghiệp.
Phương pháp phân tích: so sánh theo chiều ngang và so sánh theo chiều dọc giữa số cuối kỳ
và số đầu năm, tức là so sánh về nguyên giá và tỷ trọng của từng loại TSCĐ. So sánh theo
chiều ngang để đánh giá sự biến động về quy mô của TSCĐ tăng hay giảm so với đầu năm,
theo đó sẽ đánh giá tình hình đầu tư mở rộng qui mô của doanh nghiệp. So sánh theo chiều
dọc để đánh tính hợp lí về tình hình đầu tư cho TSCĐ của doanh nghiệp. Thông thường, ở
doanh nghiệp sản xuất thì tỷ trọng của TSCĐ dành cho sản xuất phải chiếm tỷ lệ lớn và có xu
hướng biến động tăng lên là hợp lí. Tuy nhiên, tỷ trọng TSCĐ dành cho sản xuất sản phẩm tùy

thuộc vào đặc điểm sản xuất của từng ngành, từng thời kì (giai đoạn khoa học công nghệ).
Qua phân tích biến động về mặt kết cấu TSCĐ nhằm khai thác được những tiềm năng
đang tiềm ẩn và khắc phục những yếu kém trong việc bố trí cơ cấu TSCĐ. TSCĐ trong doanh
nghiệp xét theo phạm vi có thể chia làm 3 nhóm:
+ TSCĐ dùng cho sản xuất kinh doanh (dùng cho sản xuất và quản lí).
+ TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc phòng.
+ TSCĐ không dùng, chưa dùng, chờ thanh lý.
Ví dụ:
3.2.1.2/ Phân tích tình trạng kỹ thuật của TSCĐ:
TSCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh sẽ bị hao mòn dần, ề giá trị hao
mòn được chuyển dần vào giá trị sản phẩm. TSCD càng tham gia vào nhiều chu kỳ kinh
doanh thì càng cũ đi, tình trạng kỹ thuật của tài sản cố định ta phải căn cứ vào hệ số hao mòn
của TSCĐ, ta có chỉ tiêu phân tích sau:
H=
NG
HM
H: Hệ số hao mòn tài sản cố định.
HM: Gía trị hao mòn lũy kế.
NG: Nguyên giá TSCĐ.
Hệ số hao mòn càng gần 1, chứng tỏ TSCĐ của doanh nghiệp càng cũ, do đó doanh
nghiệp càng mới và trang bị TSCĐ.
Hệ số hao mòn TSCĐ càng nhỏ hơn 1, chứng tỏ TSCĐ của doanh nghiệp càng mới
hoặc được đổi mới nhiều.
Phương pháp phân tích: là so sánh hệ số hao mòn TSCĐ ở các thời điểm cuối kỳ so với đầu
năm, ta sẽ đánh giá được sự biến động về tình trạng kỹ thuật của TSCĐ, từ đó có biện pháp
như: trang bị đổi mới, sữa chữa TSCĐ.
Ví dụ:
3.3.1 Phân tích hiệu suất sử dụng TSCĐ:
Người ta sử dụng chỉ tiêu hiệu suất sử dụng TSCĐ để so sánh giữa thực tế kỳ này với thực
tế kỳ trước hoặc so sánh với kế hoạch hoặc cũng có thể so sánh hiệu suất sử dụng TSCĐ của

doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác có cùng loại hình, cùng điều kiện kinh doanh.
H
s
=
NG
G
S
H : Hiệu suất sử dụng TSCĐ.
G
S:
Gía trị sản xuất.
NG
= Nguyên giá TSCĐ bình quân.
NG
=
2
ckdk
NGNG +
dk
NG
: nguyên giá TSCĐ ở thời điểm đầu kỳ.
ck
NG
: nguyên giá TSCĐ ở thời điểm cuối kỳ.
Trong đó, nguyên giá TSCĐ có thể tính toàn bộ TSCĐ dùng vào sản xuất kinh doanh
hoặc chỉ tính TSCĐ dùng cho sản xuất.
+ Trường hợp tính theo TSCĐ dùng vào sản xuất kinh doanh tạo ra được bao nhiêu
đồng giá trị sản xuất. Chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ việc quản lý và sử dụng TSCĐcủa
doanh nghiệp càng tốt và ngược lại.
+ Trường hợp tính theo TSCĐ dùng cho sản xuất : chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng

nguyên giá TSCĐ dùng cho sản xuất tạo ra được bao nhiều đồng giá trị sản xuất. Nó phản ánh
tình hình sử dụng TSCĐ đối với bộ phận TSCĐ dùng cho sản xuất. Chỉ tiêu này càng cao,
chứng tỏ việc quản lý và sử dụng TSCĐ dùng trong sản xuất của doanh nghiệp càng tốt và
ngược lại.
Phương pháp phân tích: tình hình sử dụng TSCĐ qua chỉ tiêu hiệu suất sử dụng TSCĐ được
tiến hành bằng cách so ánh chỉ tiêu giữa các kỳ phân tích với kế hoạch hoặc giữa các kỳ với
nhau. Qua đó, đánh giá trình độ quản lý, sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp biến động theo
chiều hướng tốt hay xấu và tìm hiểu các nguyên nhân có liên quan, làm cơ sở cho các biện
pháp vè quản lý, sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp.
- Phương pháp phân tích:
01
HHH −=∆
Nếu
0
>∆
H
: hiệu suất sử dụng TSCĐ tốt hơn.
Nếu
0
<∆
H
: hiệu suất sử dụng TSCĐ kém hơn.
Nếu
0
=∆
H
: hiệu suất sử dụng TSCĐ không thay đổi.
Hiệu suất sử dụng TSCĐ thay đổi sẽ làm cho giá trị sản xuất thay đổi, ảnh hưởng của các
nhân tố đến giá trị sản xuất như sau:
G

S
= T x H
S
G∆
= G
S1
– G
S0
Có 2 nhân tố ảnh hưởng đến giá trị sản xuất là : nguyên giá TSCĐ bình quân và hiệu suất
sử dụng TSCĐ.
+ ảnh hưởng của nguyên giá TSCĐ bình quân :
SST
HTTG ).(
01
−=∆
+ ảnh hưởng của hiệu suất sử dụng TSCĐ:
101
).( THHG
SH
−=∆
-Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng:
)()( HSTSS
GGG +=∆
Hiệu suất sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp tăng hay giảm thường do một số nguyên nhân
sau:
+ Tình trạng kỹ thuật TSCĐ mới hay cũ.
+ Cơ cấu TSCĐ có hớp lí không.
+ Tình trạng cung ứng nguyên vật liệu cho sản xuất có đảm bảo chất lượng, kịp thời và
đầy đủ không.
+ Tình hình quản lý và sử dụng TSCĐ.

Ví dụ:
CHỈ TIÊU
NĂM
TRƯỚC
NĂM
SAU
1.Gía trị sản xuât 5027400 5243190
2.Nguyên giá TSCD bình
quân 95000 98900
3.Hiệu suất sử dụng TSCD 52.92 53.015
G
s =
T x H
 H =
T
G
H
o
=
To
Go
=
95000
5027400
= 52.92
H
1
=
1
1

T
G
=
98900
5243190
= 53.015
CTPT: G
S
= T x H
- Kỳ gốc: G
So
= T
o
x H
o
= 95.000 x 52,92
= 5.027.400
- Kỳ phân tích: G
S1
= T
1
x H
1
= 98900 x 53,015
= 5.243.183,5
*ĐTPT :
S
G∆
= G
S1

- G
so
= 5.243.183,5 – 5.027.400
= 215.783,5
*Các nhân tố ảnh hưởng:
- Ảnh hưởng của nhân tố nguyên giá bình quân:
)(TS
G∆
= T
1
H
o
- G
So
= 98900 x 52,92 – 5.027.400=206.388
- Ảnh hưởng của nhân tố hiệu suất sử dụng TSCĐ
)(HoS
G∆
= G
S1
– T
1
H
o
,5
= 5.243.183,5 – 5.233.788
= 9.395
- Ảnh hưởng của nhân tố số ca làm việc bình quân:
)(cS
G∆

= Q
1
n
1
c
1
h
o
N
ho
– Q
1
n
1
c
o
h
o
N
ho
= 104 x 278 x 3,1 x 7,5 x 8,4 – 5.464.368
= 182.145,6
• Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng:
S
G∆
=
)(TS
G∆
+
)(HS

G∆
=206.388 – 9.395,5
= 215.783,5
• Nhận xét:
- Gía trị sản xuất năm nay so với năm trước tăng 215.783,5(1000đ)
+ Do nguyên giá TSCĐ bình quân tăng 3.900 (1000đ) đã làm cho giá trị sản xuất tăng
206.388(1000đ).
+ Do hiệu suất TSCĐ tăng 0,095 (1000đ) đã làm cho giá trị sản xuất tăng 9395,5 (1000đ).
3.3.2. Phân tích các nhân tố ảnh hưởngcủa thiết bị sản xuất đến giá trị sản xuất:
Gs = Q x n x c x h x Nh = Tg x Nh
Q : số lượng máy móc thiết bị phục vụ cho hoạt động sản xuất
N : số ngày làm việc bình quân trong 1 năm/ 1 máy móc thiết bị
C : số ca làm việc bình quân trong 1 ca/ 1 máy móc thiết bị
h : số giờ làm việc bình quân trong 1 ca/ 1 máy móc thiết bị
Nh : năng suất lao động trên 1 giờ, giá trị sản xuất trên 1 giờ
Kỳ gốc : GS
o
= Q
o
x n
o
x c
o
x h
o
x Nh
o
Kỳ phân tích : GS
1
= Q

1
x n
1
x c
1
x h
1
x Nh
1
ĐTPT ∆Gs = GS
1
- GS
o
Các nhân tố ảnh hưởng:
+ ảnh hưởng của nhân tố số lượng MMTB (Q)
∆G
s
(Q) = ( Q
1
- Q
o
) x n
o
x c
o
x h
o
x Nh
o


+ ảnh hưởng của nhân tố số ngày làm việc bq trong 1 năm
∆ G
s
(n) = (n
1
- n
o
) x Q
1
x c
o
x h
o
x Nh
o
+ ảnh hưởng của nhân tố số ca làm việc bq trong 1 ngày (c)
∆Gs (c) = (c
1
- c
o
) x Q
1
x n
1
x h
o
x Nh
o
+ ảnh hưởng của nhân tố số giờ làm việc bq trong 1 ca (h)
∆Gs (h) = (h

1
– h
o
) x Q
1
x n
1
x c
1
x Nh
o
+ ảnh hưởng của nhân tốn năng suất lao động trên 1 giờ.
∆Gs(Nh) = (Nh
1
– Nh
o
) x Q
1
x n
1
x c
1
x h
1
Tổng hợp các nhân tố:
∆Gs = ∆G
s
(Q) + ∆G
s
(n) + ∆Gs (c) + ∆Gs (h) + ∆Gs(Nh)

Ví dụ:
CHỈ TIÊU KẾ THỰC
HOẠCH TẾ
1.Giá trị sẩn xuất công
nghiệp(1000D) 5027400 5243190
2.Số lượng máy móc thiết bị bình
quân(máy) 100 104
3.Số ngày làm việc bình quân một
máy(ngày) 266 278
4.Số ca làm việc trong ngày(ca) 3 3.1
5.Số giờ làm việc trong ca(giờ) 7.5 7.8
6.Sản lương bình quân một giờ
máy(1000D) 8.4 7.5
N
ho
=
4,8
5,73266100
5027400
=
×××
N
h
=
5,7
8,71,3278104
5243190
=
×××
CTPT: G

S
= Q x N x c x h x N
h
- Kỳ gốc: G
So
= Q
o
x n
o
x c
o
x h
o
x N
ho
= 100 x 266 x 3 x 7,5 x 8,4
= 5.027.400
- Kỳ phân tích: G
S1
= Q
1
x n
1
x c
1
x h
1
x N
h1
= 104 x 278 x 3,1 x 7,8 x 7,5

= 52.431.901,2
*ĐTPT :
S
G∆
= G
S1
- G
so
= 5.243.190,2 – 5.027.400
= 215.791,2
*Các nhân tố ảnh hưởng:
- Ảnh hưởng của nhân tố số lượng:
)(QS
G∆
= Q
1
x n
o
x c
o
x h
o
x N
ho
- G
so
= 104 x 266 x 3 x 7,5 x 8,4 – 5.027.400
= 201.096
- Ảnh hưởng của nhân tố số ngày làm việc bình quân:
)(nS

G∆
= Q
1
n
1
c
o
h
o
N
ho
– Q
1
n
o
c
o
h
o
N
ho
= 104 x 278 x 3 x 7,5 x 8.4 – 5.228.496
= 235.872
- Ảnh hưởng của nhân tố số ca làm việc bình quân:
)(cS
G∆
= Q
1
n
1

c
1
h
o
N
ho
– Q
1
n
1
c
o
h
o
N
ho
= 104 x 278 x 3,1 x 7,5 x 8,4 – 5.464.368
= 182.145,6
- Ảnh hưởng của nhân tố giờ làm việc bình quân:
)(hS
G∆
= Q
1
n
1
c
1
h
1
N

ho
– Q
1
n
1
c
1
h
o
N
ho
= 104 x 278 x 3,1 x 7,8 x 8,4 – 9.646.513,6
= 225.860,544
- Ảnh hưởng của nhân tố năng suất lao động giờ:
)(
h
NS
G∆
= G
S1
– Q
1
n
1
c
1
h
1
N
ho

= 5.243.191,2 – 5.872.374,144
= -629.182,944
• Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng:
S
G∆
=
)(QS
G∆
+
)(nS
G∆
+
)(cS
G∆
+
)(hS
G∆
+
)(
h
NS
G∆
=201.096+235.872+182.145,6+225.860,544– 629.182,944
= 215.791,2
• Nhận xét:
Tư liệu phân tích trên cho thấy doanh nghiệp có ưu điểm về mặt sử dụng số lượng thiết
bị tăng thêm 4 máy để đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh, nhưng vẫn còn tồn tại ở khâu
quản lí, năng suất lao động giờ của thiết bị. Nếu doanh nghiệp khắc phục được tồn tại này thì
khả năng tăng số lượng sẽ là 629.128,944.


×