Tải bản đầy đủ (.pdf) (38 trang)

Tiểu luận logic suy luận logic và vai trò của nó trong các giai đoạn tố tụng hình sự ở việt nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.21 MB, 38 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b>TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT</b>

<b>SUY LUẬN LOGIC VÀ VAI TRỊ CỦA NĨTRONG CÁC GIAI ĐOẠN TỐ TỤNG</b>

<b>HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY</b>

<b>TP.HCM, ngày 14 tháng 10 năm 2022</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

<b>DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA VIẾT TIỂU LUẬNHỌC KỲ I NĂM HỌC 2022 - 2023</b>

<b>Nhóm: 02 (INLO220405_22_1_05)</b>

<i><b>Tên đề tài: SUY LUẬN LOGIC VÀ VAI TRỊ CỦA NĨ TRONG CÁC GIAI </b></i>

<i>ĐOẠN TỐ TỤNG HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY</i>

- Tỷ lệ % = 100%: Mức độ phần trăm của từng sinh viên tham gia.

<b>- Trưởng nhóm: Lại Trọng Minh Trường SĐT: 0345564926</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

2.1. Sự ra đời và phát triển của suy luận logic...4

2.1.1. Sự ra đời và phát triển của suy luận logic trong triết học Hy Lạp cổ đại...4

2.1.2. Sự phát triển của suy luận logic học phương Tây cận đại...5

2.2. Nội dung cơ bản của lý thuyết suy luận logic...8

2.2.1. Bản chất và nguồn gốc của suy luận logic...8

2.2.2. Định nghĩa và cấu tạo của suy luận logic...8

2.2.3. Phân loại suy luận logic...9

<b>CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA SUY LUẬN HỌC TRONG CÁC GIAI ĐOẠN TƠ TỤNG HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY...20</b>

2.1. Tố tụng hình sự và các giai đoạn tố tụng hình sự...20

2.1.1. Khái niệm tố tụng hình sự...20

2.1.2. Các giai đoạn tố tụng hình sự...20

2.2. Vai trị của suy luận logic trong giai đoạn khởi tố...22

2.2.1. Khái niệm, bản chất pháp lý và vai trò của khởi tố vụ án hình sự...22

2.2.2. Sự thể hiện vai trị suy luận logic trong khởi tố vụ án hình sự...23

2.3. Vai trò của suy luận logic trong giai đoạn điều tra...25

2.3.1. Khái niệm, bản chất pháp lý và vai trò của điều tra vụ án hình sự..25

2.3.2. Sự thể hiện vai trị suy luận logic trong điều tra vụ án hình sự...26

2.4. Vai trò của suy luận logic trong giai đoạn truy tố, xét xử...28

2.4.1. Khái niệm, bản chất pháp lý và vai trị của điều tra vụ án hình sự..28

2.4.2. Sự thể hiện vai trò suy luận logic trong điều tra vụ án hình sự...29

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<b>C. PHẦN KẾT LUẬN...32D. TÀI LIỆU THAM KHẢO...34</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

<b>A. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài</b>

Trong logic học, hình thức suy luận được coi là một trong những hình thức cơ bản của tư duy, đồng thời cũng là một thao tác tư duy quan trọng mà nhờ đó con người có thể rút ra được những tri thức mới từ những tri thức đã biết rồi. Bởi thế, hầu hết các tri thức mà nhân loại có được là nhờ vào con đường suy luận

Ngày nay, khoa học và công nghệ hiện đại càng phát triển thì nhu cầu khám phá và nhận thức của con người về thế giới càng lớn và trở nên cấp thiết. Vì vậy, suy luận logic có vai trị vơ cùng quan trọng trong tư duy khoa học và nó có mặt trong mọi hoạt động của đời sống xã hội. Một mặt, suy luận logic được dùng như là phương thức nhận thức quá khứ, những điều đã xảy ra và đã khơng cịn có thể quan sát trực tiếp được nữa. Mặt khác, suy luận logic cũng càng quan trọng hơn để hiểu tương lai, dự báo, phỏng đoán về những điều vốn dĩ chưa xảy ra trên cơ sở của những kết luận xác định về quá khứ và hiện tại.

Hiện nay, tình hình tội phạm hình sự cùng với các tệ nạn xã hội ở Việt Nam đang có chiều hướng ngày càng gia tăng về số lượng lẫn tính chất nguy hiểm của nó, Các vụ án hình sự đều có diễn biến hết sức phức tạp và đang gây ra những hậu quả nghiêm trọng nhiều mặt cho cá nhân, gia đình và xã hội. Nguyên nhân của tình trạng trên, một phần là do các yếu tố khách quan, như tác động của những vấn đề xã hội phức tạp này sinh trong cơ chế nền kinh tế thị trường, q trình tồn cầu hóa và hội nhập quốc tế; sự xuống cấp về đạo đức, xã hội, lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, cách làm ăn chụp giật luôn chạy theo lợi nhuận,... nhưng chủ yếu vẫn là do những hạn chế ,những yếu kém trong công tác đấu tranh phịng và chống tội phạm nói chung và q trình tố tụng hình sự nói riêng. Vì vậy, để nâng cao chất lượng, hiệu quả và đồng thời có thể khắc phục được những hạn chế, yếu kém của công tác phịng và chống tội phạm thì việc chỉ ra vai trò của suy luận logic trong các phân đoạn của tố tụng hình sự là điều thiết thực nên làm.

1

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

Vì những lý do trên và đồng thời muốn trình bày, phân tích rõ hơn những nội dung cơ bản của suy luận logic, để từ đó có thể chỉ ra vai trị, sự cần thiết của suy luận logic trong các giai đoạn tố tụng hình sự, nên nhóm quyết định chọn vấn đề “Suy luận logic và vai trị của nó trong các giai đoạn tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay” để làm đề tài nghiên cứu của nhóm.

<b>2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu</b>

Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở làm rõ những nội dung chính của suy luận logic như định nghĩa, cấu tạo, các loại hình và quy tắc của suy luận... luận văn trình bày, phân tích và làm rõ vai trị của suy luận logic trong các giai đoạn tố tụng hình sự.

Nhiệm vụ nghiên cứu: Khái quát những điều kiện tiền đề cho sự hình thành và phát triển của suy luận logic trong lịch sử logic học.

Trình bày và phân tích những nội dung chính của suy luận logic liên quan đến các giai đoạn tố tụng hình sự.

Trình bày và phân tích để làm rõ vai trò của suy luận logic trong các giai đoạn tố tụng hình sự.

<b>3. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu</b>

Cơ sở lý luận: Tiểu luận được thực hiện dựa trên nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, quan điểm macxit về lý luận nhận thức và logic học.

Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp luận biện chứng duy vật và các phương pháp khác như: phân tích, tổng hợp, so sách, thống nhất lịch sử - logic, đối chiếu, quy nạp, diễn dịch...

<b>4. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của tiểu luận</b>

Ý nghĩa lý luận: Tiểu luận góp phần giới thiệu đến người đọc quan tâm đến các vấn đề của logic học và vai trò của những tri thức logic, cụ thể là suy luận logic trong lĩnh vực pháp lý.

Ý nghĩa thực tiễn: Tiểu luận có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập logic học.

<b>5. Kết cấu của tiểu luận</b>

2

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

Tiểu luận được chia làm 3 phần: Phần 1: Lời mở đầu

Phần 2: Nội dung suy luận logic và vai trị của nó trong các giai đoạn tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay

Phần 3: Kết luận

3

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

<b>B. PHẦN NỘI DUNG</b>

<b>CHƯƠNG 1: SỰ RA ĐỜI VÀ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA SUYLUẬN LOGIC</b>

<b>2.1. Sự ra đời và phát triển của suy luận logic</b>

2.1.1. Sự ra đời và phát triển của suy luận logic trong triết học Hy Lạp cổ đại Hy lạp cổ đại là một trong ba cái nôi lớn nhất của nền văn minh nhân loại. Kể từ khi triết học ra đời, trên mảnh đất này đã tồn tại rất nhiều trường phái khác biệt, tham chí trái ngược nhau, vì vậy mà ln ln tồn tại sự những sự đấu tranh gay gắt. Những cuộc tranh luận triết học, nhu cầu của thuật ngụy biện và tu từ học của người Hy Lạp cổ đại thục giục họ nâng cao sự quan tâm về vấn đề tư duy logic từ đó làm nảy sinh các ý tưởng về logic và suy luận. Vào thế kỳ IV trước công nguyên thời văn minh cổ Hy Lạp, suy luận logic đã ra đời, từng bước được hình thành và phát triển đi cùng với quá trình phát triển lâu dài theo năm tháng của Triết học. Trước khi hệ thống logic học của Aristotle được hình thành như một khoa học độc lập thì trong triết học Hy Lạp cổ đại, cũng đã manh nha các tư tưởng logic học liên quan đến suy luận. Tuy đó chỉ là những tư tưởng sơ khai và chưa thành hệ thống, do các tư tưởng triết học và logic học chưa được tách bạch rõ ràng, nên những quy luật, quy tắc logic hay các hình thức tư duy như suy luận thường nằm lẫn trong các lập luận triết học. Trong đó, tiêu biểu là tư tưởng của phái ngụy biện, của Đêmơcrít, Xơcat và Plato,...

Aristotle (384-322-TCN), một nhà triết học Hy Lạp cổ đại được coi là người sáng lập ra logic học, ơng hồn tồn xứng đáng được vinh danh là “cha đẻ của logic học”. Artistotle là người đầu tiên đã trình bày một cách có hệ thống những vấn đề của logic học, xây dựng chúng với tư cách là khoa học độc lập. Những hiểu biết sâu rộng của ông đã được tập hợp lại trong bộ sách “Organon” (Bộ công cụ) đồ sộ bao gồm 6 tập, đề cập đến vấn đề logic hình thức như: khái niệm, phán đoán, lý thuyết suy luận, chứng minh và nêu lên các quy luật cơ bản của tư duy. Aristotle được xem là người sáng lập ra khoa học logic, ông đã đưa ra một phương pháp suy diễn logic lấy tên là Tam Đoạn Luận, trong đó một định đề

4

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

đúng sẽ được suy ra từ hai định đề đúng khác. Tam Đoạn Luận đóng một vai trị quan trọng đối với triết học cho tới ngày nay, do đó là cơ sở để tạo nên cá hệ thống lý luận phức tạp hơn. Có thể nói Aristotle là một nhà triết học , một nhà khoa học có ảnh hưởng hết sức lớn lao tới nền văn minh phương Tây, và cả nhân loại. Cùng với Plato, Aristotle được coi là một trong những nhà triết học Hy Lạp vĩ đại nhất

Sau Aristotle, các nhà khắc kỷ đã quan tâm phân tích các mệnh đề, cũng như phép tam đoạn luận của Aristotle, logic các mệnh đề của các nhà khắc kỷ được trình bày dưới dạng lý thuyết suy diễn. Một điểm đáng chú ý là, logic học của Aristotle được tôn vinh và được lấy làm khuôn mẫu trong suốt thời kỳ Trung cổ. Ở đâu người ta cũng chỉ chủ yếu phổ biến, bình luận logic học của Aristotle và coi đó như những chân lý cuối cùng, tuyệt đích. Tuy nhiên, trong suốt thời Trung cổ, logic học mang tính kinh viện và hầu như khơng được bổ sung thêm gì đáng kể.

2.1.2. Sự phát triển của suy luận logic học phương Tây cận đại

Thời Phục Hưng, Cận đại đã trở nên rõ là, logic học Aristotle vốn chủ yếu đề cập đến phép suy diễn, thực ra là khá chật hẹp và khó đáp ứng được những yêu cầu mới của sự phát triển khoa học tự nhiên, đặc biệt là các khoa học thực nghiệm đang nảy nở

Trước sự phát triển của khoa học thực nghiệm, tại Anh, F.Bacon (1561 -1626) đã xuất bản tác phẩm “Novum Organum” (Công cụ mới) để phê phán phương pháp suy diễn và logic học hình thức của Aristotle, từ đó ơng đề xuất phương pháp nhận thức (suy luận) mới là phép quy nạp loại trừ, Đồng thời đặt ra vấn đề là cần phải tuân thủ các quy luật của giới tự nhiên. Bước đầu hình thành cơng việc xây dựng phép quy nạp, nhưng F.Bacon lại rơi vào thái cực khác khi quá đề cao phương pháp này cũng như logic học ứng dụng trong khoa học thực nghiệm.

Sau đó, R.Descartes(1946 - 16501) đã cố khắc phục phần nào tư tưởng hơi cực đoan của Bacon đối với diễn dịch trong tác phẩm : Discours de la method:

5

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

(luận về phương pháp). R.Descartes là người đã tiếp tục làm sáng tỏ, phát triển và làm sâu sắc thêm những khám phá của F.Bacon trên tinh thần chủ nghĩa duy lý bằng cách đi sâu vào suy luận diễn dịch tốn học. Tiếp đó, nhà tốn học người Đức Leibniz (1646 - 1716) lại có tham vọng phát triển logic học của Aristotle thành logic ký hiệu hay logic toán. Tuy vậy phải đến giữa thế kỷ XĨ, khi nhà toán học G.Boole (1815 - 1864) đưa ra cơng trình Đại số logic thì ý tưởng của Leibniz mới bước đầu trở thành hiện thực. Vào thế kỉ XIX, nhà logic học Anh J.S Mill (1806 - 1873) đã cơng bố đi tìm những quy tắc và sơ đồ của phép quy nạp kiểu như các quy tắc tam đoạn luận. Ông là người đã hoàn thiện phương pháp của Bacon và tiếp tục phát triển các phương pháp quy nạp, ông đưa ra bốn phương pháp quy nạp dựa trên cơ sở mối liên hệ nhân quả như: Phương pháp đồng nhất, phương pháp khác biệt duy nhất, phương pháp biến đổi kèm theo và phương pháp phần dư.

Như vậy đến giữa thế kỷ 19, logic học Aristotle cùng với sự phát triển, bổ sung, đóng góp của F. Bacon, R. Descartes và J.S. Mill đã trở thành hệ thống logic hình thức truyền thống cổ điển hoàn chỉnh. Nhưng ngay từ đầu thế kỷ XIX, Hegel (1770 - 1831) nhà triết học cổ điển Đức, nối tiếp những suy tư mang tính đặt vấn đề từ I. Kant đã nghiên cứu và đem lại cho logic học một bộ mặt mới: Logic biện chứng. Nhưng cũng phải khách quan thấy rằng, những yếu tố của logic biện chứng đã có từ thời cổ đại, trong các học thuyết của Heraclite, Platon, Aristotle. Công lao của hegel đối với logic biện chứng là ông đã đem lại cho nó một diện mạo đầu tiên mang tính hệ thống với các nguyên lý, nguyên tắc, quy luật, phạm trù và các thao tác tư duy suy luận tương ứng. Tuy được nghiên cứu một cách tồn diện, nhưng hệ thống logic ấy lại được trình bày trên nền tảng thế giới quan duy tâm. Hegel đã xây dựng học thuyết biện chứng của mình bao gồm đồng thời cả phép quy nạp lẫn phép diễn dịch. Thực chất phép diễn dịch của hegel là phép diễn dịch biện chứng- duy tâm chủ nghĩa được phát triển thông qua các mâu thuẫn. Theo ông, đây là phép suy luận sẽ đảm bảo cho nhận

6

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

thức đạt tới chân lý tức “ý niệm tuyệt đối”. Hegel phân biệt ba loại hình suy luận gồm:

Thứ nhất, là suy luận về tồn tại hiện có trong thành phần của ba phân nhánh (biểu tượng tam đoạn luận), là những cái được phân biết tới tính chất khác nhau của thuật ngữ trung gian với ba cách kết hợp cơ bản giữa “cái chung”, “cái đặc thù”, và “cái đơn nhất”.

Thứ hai, là suy luận phân tư được tập hợp thành bộ ba gồm: suy luận chung, suy luận quy nạp và suy luận loại suy.

Thứ ba, là suy luận tất nhiên nơi mà các thuật ngữ trung gain không phải là một nội dung trực tiếp nào khác mà chính là phản tư về tính quy định tứ nó của các thuật ngữ biên. Ngồi ra, Hegel đã chỉ ra các yếu tố biện chứng trong các tiểu phần logic hình thức, chỉ ra mối liên hệ biện chứng giữa các loại hình tam đoạn luận và chức năng của thuật ngữ trung gian - thuật ngữ không chỉ đơn giản được dùng làm cầu nối giữa các thuật ngữ biên mà còn thể hiện sự thống nhất của cái chung và cái riêng, cách Hegel áp dụng các phạm trù “cái chung”, “cái đặc thù” và “cái riêng” vào việc phân tích các suy luận là điều rất hữu ích, K.Marx, F.Engels và tiếp đến là V.L Lenine cũng nhiều lần nhắc tới điều đó.

Sau này, chính K.Marx (1818 - 1883), F.Engels (1820 - 1895) và V.L Lenine (1870 - 1924) đã cải tạo và phát triển logic học biện chứng trong đó có phép suy luận biện chứng duy tâm chủ nghĩa của Hegel và đặt lại nó trên nền tảng duy vật, đồng thời biến nó thành khoa học về những quy luật và hình thức phản ảnh trong tư duy sự phát triển và biến đổi của thế giới khách quan, về những quy luật nhận thức chân lý.

Ngày nay, cùng với khoa học kỹ thuật, logic học đang có những bước phát triển mạnh, trong nó đang diễn ra sự phân ngành mạnh mẽ và sự liên ngành rộng rãi. Nhiều chuyên ngành mới của logic học ra đời như: logic đa trị, logic kiến thiết, logic xác suất, logic mở, logic tình thái. Sự phát triển đó đang làm cho logic học ngày càng thêm phong phú, mở ra những khả năng mới trong việc ứng dụng làm cho logic học ngày càng thêm phong phú, mở ra những khả năng mới

7

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

trong việc ứng dụng logic học vào các ngành khoa học và đời sống. Mặc dù vậy, chúng ta vẫn khơng thể phụ nhận được sự đóng góp cũng như vài trò và tầm quan trọng của khoa học logic hình thức trong đó có phép suy luận logic.

<b>2.2. Nội dung cơ bản của lý thuyết suy luận logic</b>

2.2.1. Bản chất và nguồn gốc của suy luận logic

Suy luận là hình thức tư duy phản ánh những mối liên hệ phức tạp hơn (so với phán đoán) của hiện thực khách quan.

Sự tồn tại của suy luận trong tư duy là do chính hiện thực khách quan quy định. Cơ sở khách quan của suy luận là mối liên hệ qua lại, phức tạp hơn của các đối tượng.

Khả năng khách quan của suy luận là ở khả năng có sự sao chép cấu trúc từ hiện thực, nhưng ở dạng tư tưởng, cịn tính tất yếu khách quan của chúng cũng gắn với toàn bộ hoạt động tự tiễn của nhân loại, trong đó suy luận như là một hình thức chuyển từ những tri thức đã biết sang những tri thức mới.

2.2.2. Định nghĩa và cấu tạo của suy luận logic Định nghĩa

Suy luận là hình thức cơ bản của tư duy, đồng thời cũng là một thao tác tư duy cơ bản mà nhờ đó rút ra những tri thức mới từ những tri thức đã biết, làm công cụ nhận thức mạnh mẽ giúp khắc phục những hạn chế của nhận thức trực quan cảm tính.

Bản chất của suy luận là dựa trên những tri thức đã biết chắc chắn (các phán đoán đã chứng minh) liên kết chúng theo một cách thức nhất định (các quy tắc, các kiểu suy luận) để tạo ra những tri thức mới tất yếu, chân thức (các phán đốn mới) mà trước đó chưa biết.

Có thể nói, suy luận có vai trị hết sức quan trọng trong thực tiễn đời sống thường ngày và mọi lĩnh vực pháp lý. Giá trị lý luận cũng như giá trị thực tiễn của suy luận thể hiện ở chỗ nó đưa nhận thức đi từ cái đơn lẻ, cái ngẫu nhiên ở hiện thực khác quan đến nhận thức gián tiếp trừu tượng. Thậm chí, khơng cần phải kiểm nghiệm thực tiễn của suy luận thể hiện ở chỗ nó đưa nhận thức đi từ

8

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

cái đơn lẻ, cái ngẫu nhiên ở hiện thực khách quan đến nhận thức gián tiếp trừu tượng. Thậm chí, khơng cần phải kiểm nghiệm thực tiễn, bằng công cụ nhận thức tư duy có thể rút ra tri thức mới chân thực, tất yếu, đáng tin cậy.

Cấu tạo của suy luận

Cũng như phán đoán và khái niệm, suy luận là một trong những hình thức logic, thao tác cơ bản của tư duy. Vì vậy, suy luận cũng có một cấu trúc logic riêng xác định. Bất kỳ một suy luận nào cũng bao gồm ba thành phần: tiền đề, kết luận và cơ sở logic.

Tiền đề là tri thức đã biết, làm cơ sở rút ra kết luận. Những tri thức này biết được nhờ quan sát trực tiếp; nhờ tiếp thu, kế thừa tri thức của các thế hệ đi trước thông qua học tập giao tiếp xã hội; hoặc là kết quả của các suy luận trước đó. Kết luận là tri thức mới thu được từ các tiền đề và các hệ quả của chúng.

Cơ sở logic là các quy luật và các quy tắc mà việc tuân thủ chúng sẽ đảm bảo rút ra kết luận chân thực từ các tiền đề chân thực. Giữa tiền đề và kết luận là mối quan hệ kéo theo logic làm cho có thể chuyển từ cái này sang cái kia. Chính là do có mối liên hệ xác định giữa chúng với nhau cho nên, nếu đã thừa nhận những tiền đề nào đó, thì muốn hay khơng cũng buộc phải thừa nhận cả kết luận. -> Căn cứ vào sự tuân thủ các quy tắc suy luận và quy luật tư duy:

- Suy luận hợp logic: lập luận tuân thủ các quy tắc suy luận và các quy luật tư duy.

- Suy luận không hợp logic: lập luận vi phạm quy tắc suy luận hoặc vi phạm quy luật tư duy.

- Suy luận đúng là suy luận hợp logic xuất phát từ tiền đề đúng. Nếu suy luận hợp logic đưa ra kết luận không phù hợp thực tế thì suy luận đã dựa trên tiền đề sai.

2.2.3. Phân loại suy luận logic

Căn cứ vào cách thức suy luận đi từ tri thức chung đến tri thức riêng hay từ tri thức riêng đến tri thức chung, người ta chia suy luận thành hai dạng cơ bản là: diễn dịch và quy nạp. Ngồi ra, cịn có một số hình thức suy luận đặc biệt

9

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

dựa trên tính tương đồng giữa các dấu hiệu của các đối tượng khác nhau và được gọi là “loại suy” hay phép suy luận tương tự.

1. Suy luận diễn dịch

Suy luận diễn dịch là suy luận đi từ tiền đề có đặc tính chung để rút ra kết luận chứa đặc tính riêng. Vì vậy mà tiền đề chân thực, thao tác tư duy đúng quy tắc, quy luật thì nhất định chân thực. Bên cạnh đó, căn cứ vào số lượng tiền đề diễn dịch còn được chia ra thành diễn dịch trực tiếp và diễn dịch gián tiếp.

- Diễn dịch trực tiếp

Diễn dịch trực tiếp là suy luận mà kết luận được rút ra từ một tiền đề (một phán đoán). Và phán đoán tiền đề ở đây có thể là đơn hoặc phức. Diễn dịch trực tiếp được chia thành năm dạng cơ bản: Phép chuyển hóa, phép đảo ngược, phép đối lập vị từ, phép đối lập chủ từ và suy luận dựa trên “hình vng logic”.

- Diễn dịch gián tiếp

Diễn dịch gián tiếp là suy luận mà kết luận là phán đoán mới được rút ra trên cơ sở mối liên hệ logic giữa hai đáy nhiều phán đoán tiền đề. Như vậy, dấu hiệu căn bản để phân biệt diễn dịch trực tiếp và diễn dịch gián tiếp là số lượng phán đoán tiền đề nếu suy luận xuất phát từ một tiền đề thì nó là suy luận trực tiếp, còn nếu suy luận xuất phát từ hai tiền đề trở lên thì đó là suy luận gián tiếp. Diễn dịch gián tiếp có rất nhiều dạng với những cấu trúc logic khác nhau. Trong đó, chúng ta chỉ nghiên cứu một số dạng cơ bản như tam đoạn luận (diễn dịch gián tiếp từ phán đoán đơn), suy luận điều kiện, suy luận lựa chọn, và suy luận lựa chọn điều kiện.

Học thuyết Tam đoạn luận đơn của Aristote

Tam đoạn luận, được nhà triết học cổ đại Hy Lạp Aristote nghiên cứu kỹ lưỡng từ thế kỷ IV trước công nguyên, được hiểu là một cách suy luận trong suy luận diễn dịch, trong đó kết luận được rút ra từ hai tiêu đề. Tam đoạn luận là hệ thống suy diễn tiền đề cổ xưa nhất do Aristote xây dựng. Trong tam đoạn luận các tiền đề và kết luận đều là những phán đoán đơn, thuộc các dạng: A, I, E, O, với đúng ba thuật ngữ khác nhau. Tam đoạn luận là một phát minh lớn của

10

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

Aristote. Trong học thuyết logic học của mình, ơng đã xây dựng tam đoạn luận làm cơ sở cho chứng minh: “ Cần phải nói về tam đoạn luận trước khi nói về chứng minh, bởi tam đoạn luận là một thứ gì đó chung hơn và chứng minh là một loại tam đoạn luận nào đó, nhưng khơng phải bất kỳ tam đoạn luận nào cũng là chứng minh”.

Ký hiệu: chủ từ của kết luận (S); Vị từ của kết luận (P); Thuật ngữ trung gian (M). Tiền đề chứa S gọi là tiền đề nhỏ, tiền đề chứa P gọi là tiền đề lớn. Sơ đồ chuẩn: tiền đề lớn ở trên, tiền đề nhỏ ở dưới.

Cấu trúc: Các loại thuật ngữ

Một tam đoạn luận đơn bao gồm 2 mệnh đề (đại tiền đề và tiểu tiền đề), và một kết luận là kết quả của 2 tiền đề. Đó là một hình thức lý luận trong đó kết luận được rút ra (dù hợp lí hay khơng) từ hai mệnh đề giả định, mà mỗi mệnh đề đó đều chia sẻ một cụm từ trong kết luận.

Ví dụ 1: (1): Mọi động vật đều sinh sản.

Như ví dụ tam đoạn luận ở trên, ta có: “động vật” là thuật ngữ trung gian (M), “sinh sản” là đại thuật ngữ (P) và “mèo” là tiểu thuật ngữ (S). Tiền đề lớn là: “Mọi động vật đều sinh sản”, tiền đề nhỏ: “Mèo là động vật”, và kết luận: “Mèo sinh sản”.

Các loại tiền đề:

Ở ví dụ phía trên, ta thấy phán đoán (1) chứa đại thuật ngữ P nên nó được gọi là đại tiền đề, cịn phần phán đoán (2) chứa thuật ngữ S nên là tiểu tiền đề. Mục đích của Aristote xây dựng tam đoạn luận là nhằm tạo ra phương pháp chứng minh (luận chứng) tri thức khoa học. Trong đó, loại hình tam đoạn luận là

11

</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">

loại hình hồn thiện nhất mà theo ông phải là cơ sở, nền tảng để từ đó lồi người suy ra tồn bộ tri thức khoa học của mình. Bên cạnh tam đoạn luận khoa học và tam đoạn luận biện chứng, Aristote còn nghiên cứu một loại nữa là tam đoạn luận tranh biện.

Các loại hình của tam đoạn luận: Có tất cả 256 kiểu tam đoạn luận nhưng chỉ có 19 kiểu hợp logic. Căn cứ vào vị trí của thuật ngữ giữa (M) là chủ từ của tiền đề lớn và là vị từ của tiền đề nhỏ. Trong đó, tiền đề lớn phải là phán đốn tồn thể, tiền đề nhỏ phải là phán đốn khẳng định.

Ví dụ 2: (1): Con người cần khí oxi để hơ hấp. (2): Hùng là con người.

________________________ (3): Vậy Hùng cần khí oxi để hơ hấp.

Loại hình 2: Gồm tam đoạn luận trong đó thuật ngữ trung gian (M) giữ vị từ trong cả hai phán đốn tiền đề. Trong đó, tiền đề lớn phải là phán đốn tồn thể, một trong hai tiền đề nhỏ phải là phán đoán phủ định.

</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">

(3): Vậy con này không thể là cá.

Loại hinh 3: Gồm những tam đoạn luận trong đó có thuật ngữ trung gian (M) giữ vị trí chủ từ

trong cả hai phần phán đốn tiền đề. Trong đó, tiền đề nhỏ là phán đoán khẳng định, kết luận phải là phán đốn bộ phận.

Ví dụ 4: (1): Đại gia thường có nhiều tài sản. (2): Hùng là đại gia.

________________________ (3): Vậy Hùng có nhiều tài sản.

Loại hình 4: Gồm những tam đoạn luận trong đó có thuật ngữ trung gian (M) giữ vai trò là vị từ trong tiền đề lớn và là chủ từ trong tiền đề nhỏ. Trong đó, nếu tiền đề lớn là phán đốn khẳng định thì tiền đề nhỏ phải là phán đốn tồn thể. Nếu có một tiền đề là phủ định thì tiền đề lớn phải là phán đốn tồn thể.

Ví dụ 5: (1): Ma túy là chất gây nghiện.

(2): Chất gây nghiện là chất gây nguy hiểm đối với con người.

</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">

Các quy tắc của tam đoạn luận: Trong bất kỳ một suy luận nào, muốn đảm bảo một cách tất yếu logic rút ra được kết luận chân thực từ nội dung chân thực của các phán đốn tiền đề thì suy luận đó bắt buộc phải tuân thủ chặt chẽ những quy tắc xác định. Mỗi tam đoạn luận phải tuân thủ hai nhóm quy tắc: quy tắc chung cho mọi loại hình và quy tắc riêng cho từng loại hình.

Quy tắc chung của tam đoạn luận với phán đoán đơn: Các quy tắc thuật ngữ:

Quy tắc 1: tam đoạn luận chỉ sử dụng ba thuật ngữ.

Quy tắc 2: thuật ngữ trung gian M phải chu diên ít nhất một lần.

Quy tắc 3: thuật ngữ nào khơng chu diên ở tiền đề thì cũng không chu diên ở kết luận.

Các quy tắc tiền đề:

Quy tắc 4: hai tiền đề không thể đồng thời là phán đốn phủ định.

Quy tắc 5: nếu có một tiền đề là phán đốn phủ định thì kết luận phải là phán đoán phủ định.

Quy tắc 6: hai tiền đề khơng thể đồng thời là phán đốn bộ phận.

Quy tắc 7: nếu có một tiền đề là phán đốn bộ phận thì kết luận phải là phán

Suy luận quy nạp là suy luận đi từ tiền đề có đặc tính riêng để rút ra kết luận có đặc tính chung, là suy luận trong đó từ việc nhận thấy sự lặp đi lặp lại của

14

</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">

một tính chất nào đó ở một số đối tượng thuộc một lớp nhất định người ta rút ra kết luận chung rằng tồn bộ các đối tượng thuộc lớp đó đều có tính chất đã nêu. Trong suy luận quy nạp người ta đi từ nhiều cái riêng đến cái chung. Điều này giúp con người có thể khái quát được các trường hợp riêng rẽ quan sát thấy trong khoa học và trong cuộc sống thành các quy luật chung, nghĩa là phát hiện ra các quy luật khách quan sau khi quan sát thấy nhiều biểu hiện cụ thể của chúng.

- Nguồn gốc và bản chất

Quy nạp nảy sinh trong quá trình hoạt động thực tiễn của con người từ nhu cầu khái quát để thu nhận những tri thức về các tính chất chung của các đối tượng, về các mối liên hệ giữa chúng.

Cơ sở khách quan của sự xuất hiện và tồn tại quy nạp trước hết là biện chứng của cái chung và cái riêng trong chính hiện thực khách quan. Cái riêng khơng nằm ngồi cái chung, và cái chung - khơng ngoài cái riêng. Cái riêng này liên hệ với các cái riêng khác thơng qua cái chung. Đến lượt mình, cái chung chỉ biểu hiện ra trong cái riêng, thông qua cái riêng. Bối cảnh đó hình thành nhận thức cái chung trên cơ sở nhận thức cái riêng, nhận thức những đối tượng giản đơn nhất cụ thể.

Cơ sở khách quan nhất của quy nạp còn là các mối liên hệ không khách quan, trước hết là các mối liên hệ nhân - quả, giữa các đối tượng. So sánh và đối chiếu các đối tượng riêng rẽ cho phép vạch ra trong chúng những mối liên hệ chung, xác định, cái này là nguyên nhân, cái kia là hệ quả, hoặc ngược lại.

Vốn là một nhóm suy luận, quy nạp căn bản khác với diễn dịch, và chính qua đó biểu hiện bản chất sâu xa hơn của nó. Nếu trong diễn dịch, tư tưởng vận động từ tri thức chung hơn đến kém chung hơn, thì trong quy nạp là ngược lại: từ ít chung hơn đến chung nhiều hơn. Trong diễn dịch tri thức được giả định là “có sẵn”. Quy nạp lại vạch ra “cơ chế” hình thành lên nó. Vì thế, nếu ở diễn dịch tri thức chung là khởi điểm của suy luận, thì ở quy nạp nó lại là kết quả. - Cấu tạo của quy nạp: gồm ba bộ phận

15

</div>

×