Tải bản đầy đủ (.pdf) (22 trang)

Giới Thiệu Phân Tích Chi Phí và Lợi Ích pps

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (155.43 KB, 22 trang )

Giới Thiệu Phân Tích Chi
Phí và Lợi Ích
1.1 Mục đích của cuốn sách
Mục đích của cuốn sách là nhằm đưa ra các chỉ dẫn rõ ràng và
tương đối đơn giản cho việc tiến hành một cách chuẩn xác các
phân tích lợi ích-chi phí (Cost-Benefit Analysis ~ CBA) đối với các
dự án đã và đang được đề xuất triển khai. Hay nói một cách
khác, mục đích của cuốn sách là nhằm giúp độc giả có thể nhìn
nhận một cách phê phán các CBA họ gặp phải trong quá trình
làm việc hay nghiên cứu. Đúng là chúng ta nên tin tưởng rằng tất
cả các nghiên cứu đều được tiến hành một cách có trách nhiệm
và chuẩn xác. Song những nghiên cứu hiện hành thể hiện những
khác biệt lớn về cấp độ chất lượng. Cuốn sách không đưa ra
những thảo luận thấu đáo về các khái niệm, kỹ thuật CBA mà chỉ
tóm lược những điểm quan trọng nhất của một nghiên cứu CBA.
Tuy nhiên, những kỹ thuật được phác thảo ở đây sẽ giúp các bạn
thực hiện được những phân tích một cách chuẩn xác. Bất kỳ ai
có kiến thức tốt về kinh tế học đều có thể tiếp cận được với cuốn
sách này.
Một ưu điểm lớn của CBA là nó cung cấp cho ta một khung mục
đích mà trong đó chúng ta có thể thảo luận, sửa chữa và bổ
sung. Rủi ro lớn nhất xảy ra khi dữ liệu cứng lại có xu hướng bị
coi là dữ liệu mềm. Cần phải lưu ý chú trọng đúng mức đến các
tác động chưa được số lượng hóa hay được số lượng hóa một
cách thô sơ. Để làm được điều này chúng ta nên coi CBA như
một công cụ hỗ trợ cho quá trình thương thuyết và đưa ra quyết
định thay vì coi bản thân nó là quá trình ra quyết định.
Không nên coi CBA là một quá trình bí hiểm. Một cách đơn giản,
CBA là quá trình chúng ta tính toán giá trị của tất cả các đầu vào
và đầu ra của một dự án rồi sau đó lấy hiệu số của đầu ra trừ đi
đầu vào. Đôi lúc, chúng ta có thể sử dụng một số quy trình phức


tạp để xác định giá trị của một mặt hàng chưa được xác định
mức giá song các khái niệm cốt lõi của CBA thì tương đối đơn
giản.
Độc giả nên nhận biết một điều rằng CBA không phải là công cụ
duy nhất để đánh giá một dự án. Một dự án có thể được đánh giá
dựa trên một cơ sở nào đó khác hơn là lợi ích ròng mà dự án đó
đem lại. Đôi khi phương thức này lại được ưa thích hơn. Có
nhiều dự án vẫn được thông qua nhằm thúc đầy một quá trình
chính trị nào đó ngay cả khi phân tích lợi ích ròng của dự án đưa
ra kết luận là không nên tiến hành dự án. Trong phân tích CBA,
có thể có những giá trị không được số số lượng hóa hay không
thể được số số lượng hóa. Điều này đồng nghĩa với việc một dự
án tuy không vượt qua được một cuộc kiểm tra CBA nghiêm ngặt
song vẫn có vẻ là đáng để triển khai. Tuy nhiên, xu hướng chung
cho thấy các kết quả thu được qua CBA dù sao cũng buộc những
người muốn đưa ra quyết định trái ngược có nghĩa vụ phải tìm
cách biện chứng cho quyết định của mình. Vì lý do này, các chính
trị gia thường phản đối CBA vì họ cảm thấy rằng những phân tích
kiểu này có thể sẽ hạn chế các khả năng lựa chọn của họ. Dù
sao thì ít nhất CBA cũng cho phép ta tính toán chi phí rõ ràng cho
những dự án không qua được kiểm tra CBA hay các dự án mà
các mục tiêu đề ra lớn hơn so với những gì mà theo CBA dự án
có thể đạt được.
1.2 CBA là gì
Phân tích lợi ích chi phí là một kỹ thuật phân tích để đi đến quyết
định xem đây có nên tiến hành các dự án đã triển khai hay không
hay hiện tại có nên cho triển khai các dự án được đề xuất hay
không. Phân tích lợi ích chi phí cũng được dùng để đưa ra quyết
định lựa chọn giữa hai hay nhiều các đề xuất dự án loại trừ lẫn
nhau. Người ta tiến hành CBA thông qua việc gắn giá trị tiền tệ

cho mỗi một đầu vào cũng như đầu ra của dự án. Sau đó so sánh
các giá trị của các đầu vào và các đầu ra. Cơ bản mà nói, nếu lợi
ích dự án đem lại có giá trị lớn hơn chi phí mà nó tiêu tốn, dự án
đó sẽ được coi là đáng giá và nên được triển khai.
Những dự án mà phân tích CBA xếp vào loại đáng được triển
khai là những dự án cho đầu ra có giá trị lớn hơn đầu vào đã sử
dụng. Trong trường hợp phải chọn một dự án trong số nhiều dự
án được đề xuất, CBA sẽ giúp chọn được dự án đem lại lợi ích
ròng lớn nhất. Cũng có thể dùng CBA để đánh giá mức độ nhạy
cảm của các đầu ra trong dự án đối với rủi ro và bất chắc.
Mặc dù ý tưởng thì đơn giản song trong thực tế sẽ có nhiều khó
khăn để có thể tiến hành được một CBA có chất lượng. Chỉ đơn
giản là việc xác định đâu là chi phí, đâu là lợi ích cũng đã đòi hỏi
chúng ta phải cân nhắc kỹ lưỡng. Cũng có thể có nhiều ý kiến
khác nhau xoay quanh vấn đề này. Trong khi một số đầu vào,
đầu ra có thể có các mức giá phổ biến và ổn định thì một số khác
lại có mức giá biến đổi trong quá trình triển khai dự án. Và có thể
có một số đầu vào, đầu ra không được đưa ra buôn bán trên thị
trường. Điều này khiến cho chúng ta cần phải đưa ra những
phương pháp định giá khác nhau.
CBA mặc định rằng tất cả các mặt hàng đều có một giá trị tiền tệ
nhất định. Điều này là cần thiết trong việc so sánh giữa đầu vào
và đầu ra để quyết định xem liệu một dự án có khả thi về mặt kinh
tế hay không. Trong khi chúng ta có những kỹ năng thích hợp để
quy ra tiền với phần lớn các mặt hàng thì chúng ta khó có thể làm
như vậy với một số mặt hàng nhất định. Ví dụ như không khí
trong lành và sức khỏe tốt đều rất đáng quý song sẽ là một thách
thức lớn để có thể xác định chính xác lợi ích ròng của một
chương trình mang lại không khí trong lành và sức khỏe tốt cho
mọi người. Tuy nhiên, ta có thể xác định được một khoảng chi

phí nào đó mà nếu chi phí của chương trình nằm trong khoảng đó
thì chương trình là có giá trị và ngược lại.
Cần phải nhận thấy một điều rằng người ta đưa các quyết định
liên quan đến các dự án không chỉ đơn thuần dựa trên cơ sở
CBA. Các tính toán chính trị và xã hội nằm ngoài CBA có thể có
tầm quan trọng ít nhất là ngang bằng với các lợi ích kinh tế trong
việc quyết định có nên triển khai dự án hay không. Điều này đúng
nhất là trong trường hợp đưa ra các quyết định công. Lúc đó, các
tài nguyên thường được phân bổ dựa trên các lý do khác chứ
không phải là hiệu quả kinh tế. Những vấn đề công bằng, bình
đẳng trong các trường hợp này có thể sẽ thế chỗ cho thậm chí là
những nguồn lợi ròng lớn về kinh tế. Nhưng ít nhất cũng có thể
hy vọng rằng một CBA có thể tác động tới quyết định của một
người còn đang do dự hay có thể đưa chúng ta đến với lựa chọn
tối ưu giữa các dự án có tác động chính trị, xã hội tương tự như
nhau.
1.3 Các bước tiến hành CBA
Phân tích lợi ích chi phí có thể được nghĩ đến như một quá trình
vận hành trong đó có một số bước nổi bật. Không phải phân tích
nào cũng yêu cầu phải thực hiện đầy đủ tất cả các bước đi này.
Một dự án ngắn hạn sẽ không đòi hỏi phải chiết khấu lợi ích trong
tương lai. Một dự án đã triển khai nhiều lần có thể sẽ không gặp
phải rủi ro hay bất chắc. Tuy nhiên, trong phần lớn các trường
hợp, để cân nhắc có nên triển khai một dự án hay không hay nên
chọn triển khai dự án nào giữa các dự án được đề xuất, chúng ta
cần bám theo các bước sau:
1. Làm rõ vấn đề chỗ đứng/vị thế
Khi bắt đầu một phân tích, cần phải chỉ rõ nghiên cứu này là do ai
làm, chi phí ai phải chi, lợi ích ai được hưởng. Chúng ta luôn phải
rõ ràng và nhất quán trong việc giải quyết những vấn đề này cũng

như trong việc tính toán lợi ích và chi phí cho những người/nhóm
người khác nhau.
2. Xác định những phương án thay thế
Một phân tích cần phải nêu rõ được dự án hay các dự án là đối
tượng xem xét. Chúng có loại trừ lẫn nhau hay không. Cần phải
đưa được các lựa chọn thay thế tương ứng vào phân tích. Mốc
chuẩn để so sánh là lựa chọn không tiến hành dự án. Song đó có
thể chỉ là một cơ sở để so sánh. Ví dụ như trong thảo luận về
Đập Tellico, chính quyền Thung lũng Tennesee đã không so sánh
được việc xây đập với một lựa chọn thay thế khác là tận dụng
dòng chảy của con sông để vận hành một chiếc tuốc-bin phát
điện. Những thiếu sót kiểu này không phải là hiện tượng hiếm khi
xảy ra. Khi chúng ta thay đổi quy mô, thời hạn thực hiện của một
dự án, chúng ta có thể có được những thay thế thích ứng. Ví dụ
như, một chương trình tiêm chủng có thể không qua được kiểm
nghiệm CBA ở quy mô toàn quốc song lại có thể vượt qua kiểm
nghiệm CBA đối với một vùng có tỷ lệ mắc bệnh cao liên quan
đến loại vắcxin sẽ được tiêm chủng.
3. Đưa ra các Giả định
Giả định là một phần thiết yếu của một phân tích. Có thể giả định
này tốt hơn giả định kia. Cũng có thể dùng giả định cho hàng loạt
các yếu tố số lượng hàng, chi phí, điều kiện thị trường, thời hạn
hay các mức lãi sất. Trong một phân tích được tiến hành một
cách có trách nhiệm, những giả định này được nêu một cách rõ
ràng. Nếu có thể chúng được phân bổ cho những nguồn lực đáng
tin cậy. Nếu đưa ra một diện giá trị giả định thì phải có quy định rõ
ràng về diện giá trị được đưa ra.
4. Lập danh sách các Tác động của mỗi Dự án Thay thế
Nên liệt kê các tác động tiềm tàng của mỗi dự án một cách đầy
đủ nhất có thể. Có thể liệt kê tác động của một hay nhiều dự án

cụ thể được xem xét cũng như tác động của các lựa chọn thay
thế: giữ nguyên hiện trạng hay không triển khai bất kỳ dự án nào.
Điều quan trọng là tiến hành số lượng hóa các tác động nếu có
thể. Để đánh giá chuẩn xác một dự án đòi hỏi phải biết được
lượng đầu vào và đầu ra cần có. Khi không thể số lượng hóa
được một tác động thì ít nhất ta cũng phải đề cập đến tác động
đó. Một dự án hạn chế quyền tự do cá nhân nên đề cập đến tác
động này ngay cả khi không có nỗ lực nào được đưa ra để định
giá quyền tự do cá nhân.
5. Quy các Giá trị Cụ thể cho những Tác động này
Có thể quy mỗi tác động này ra một giá trị tiền tệ nhất định nếu có
thể.
6. Xử lý các Tác động Không được Số lượng hóa
Cần phải kiệt kê rõ ràng bất kỳ tác động nào chưa được quy ra
giá trị vật chất cụ thể . Chỉ bằng cách này, chúng ta mới có thể
cân nhắc giữa chúng với những chi phí và lợi ích đã được định
giá cụ thể.
Một cách tiếp cận với các lợi ích phi số lượng hóa là tính toán
xem các lợi ích này lớn đến mức độ nào thì đủ để đảo ngược các
kết quả của CBA. Thông thường người ta có thể đưa ra một đánh
giá chung chung về việc những lợi ích này có khả năng đảo
ngược quyết định hay không. Bằng cách xem xét rõ ràng những
tác động như vậy theo cách này, chúng ta sẽ tránh được tình
trạng lâm vào phân tích bị chi phối bởi các dữ liệu cứng.
Ví dụ như, khi cân nhắc một dự án hạn chế quyền tự do cá nhân,
có thể dùng các lợi ích và chi phí khác để tính mức lợi ích ròng
của dự án đó, bỏ qua bất kỳ một cân nhắc về quyền tự do cá
nhân nào. Sau đó, có thể dành cho độc giả quyền tự quyết định
xem những lợi ích ròng khác có đủ để bù đắp hạn chế về quyền
tự do cá nhân hay không, việc tiến hành dự án có phải là một

quyết định đúng đắn hay không.
7. Chiết khấu giá trị tương lai để có được giá trị hiện tại
Đối với phần lớn các dự án, cần phải tính chi phí và lợi ích được
chiết khấu tại những thời điểm khác nhau. Người ta thường thực
hiện điều này bằng cách sử dụng biện pháp chiết khấu lũy thừa
(exponential discounting) để tính giá trị hiện tại của chi phí lợi ích.
Rất khó để có thể lựa chọn được một mức lãi suất chiết khấu
đúng. Tuy nhiên, nhiều tổ chức nghiên cứu đưa ra những mức lãi
suất chuẩn dùng cho các phân tích.
8. Xác định và lý giải độ bất chắc
Có lẽ khiếm khuyết hay gặp nhất trong phân tích CBA là thất bại
trong việc xử lý rủi ro và bất chắc. Bất chắc có thể tiềm ẩn trong
nhiều khía cạnh của dự án. Phải xác định được đầy đủ nguyên
nhân gây ra các bất chắc này một cách đầy đủ nhất có thể.
Chẳng hạn như kinh phí dự toán cho một công trình xây dựng,
điều kiện thời tiết bất ổn khiến cho các hoạt động ngoài trời trở
nên khó khăn hơn hay mức tăng trưởng dân số dẫn đến mật độ
sử dụng các thiết bị tiện dụng tăng lên.
Nên nỗ lực trong việc nhận thức được rủi ro hay bất chắc của dự
án. Có thể dùng cách đơn giản như đưa ra một phân tích độ nhạy
cảm. Phân tích này sẽ tính toán giá trị của dự án theo những kết
quả dài hạn khác nhau. Cũng có thể dùng cách phức tạp hơn
như phân tích các lựa chọn thực. Phân tích này cố tìm cách tính
được giá trị chính xác của dự án có tính đến yếu tố rủi ro.
9. So sánh Lợi ích và Chi phí
Sau khi đã tính toán được (hay ít nhất là đã liệt kê ra được) các
chi phí và lợi ích, chúng ta phải so sánh chúng với nhau để xác
định xem giá trị hiện tại (Net Present Value ~ NPV) của dự án có
thể mang giá trị dương không. Nếu đang xem xét lựa chọn giữa
nhiều dự án thì dự án có mức NPV cao nhất là dự án sẽ được

chọn.
10. Tiến hành phân tích sau khi dự án kết thúc
Khi có thể, nên tiến hành phân tích sau khi hoàn thành dự án
nhằm đưa ra định hướng cho các giám đốc dự án, xác định giá trị
của phân tích gốc nhằm cải thiện các phân tích và các dự án
được tiến hành sau này.
1.4 Quy đổi ra Giá trị bằng Tiền
CBA sử dụng các giá trị tiền mặt để so sánh các loại hàng hoá
với nhau. Được gán cho mỗi đầu vào và đầu ra của dự án, các
giá trị này đại diện cho tầm quan trọng của đầu vào và đầu ra
trong phân tích. Nếu tổng giá trị của đầu ra lớn hơn tổng giá trị
của đầu vào thì dự án được coi là đáng được tiến hành vì lúc đó
độ quan trọng tổng thể của đầu ra đối với xã hội lớn hơn độ quan
trọng tổng thể của đầu vào. Tuy việc gán các giá trị thực cho các
đầu vào, đầu ra rồi so sánh chúng với nhau là cần thiết song đây
cũng là một quá trình gây nhiều tranh cãi. Cần phải có một độ cẩn
trọng và tinh tế nhất định khi tiến hành quá trình này.
Nhiều loại đầu vào và đầu ra là các mặt hàng thường xuyên được
buôn bán trên thị trường với mức giá chung phổ biến và có thể
đoán trước được. Giá trị của các đầu vào như lao động, bê tông,
thép, máy tính, xăng dầu hay các đầu ra như điện có thể được
xác định dựa trên mức giá thị trường, có điều chỉnh trong một số
trường hợp nhất định.
Các đầu vào và đầu ra khác không được trao đổi trực tiếp nên rất
khó có thể được định giá. Chẳng hạn như khoảng thời gian đi lại
mà một dự án xây dựng đường cao tốc tiết kiệm được, giá trị của
dịch vụ thuỷ lợi do một dự án xây đập mang lại hay tình hình sức
khoẻ của cộng đồng được cải thiện thông qua việc xây dựng hệ
thống thoát nước và xử lý nước thải. Giá trị cho các loại hàng hoá
này phải được ước tính thông qua những tính toán gián tiếp,

phức tạp và tương đối chủ quan. Thường thì phương hướng
hành động thích hợp nhất là tìm ra và sử dụng các mức giá dự
kiến đã được đưa ra trong các nghiên cứu trước đây.
Mục đích của cuốn sách này là nhằm tìm ra được các mức giá trị
thị trường và phi thị trường cho một loạt các mặt hàng khác nhau.
Cuốn sách cũng đưa ra chỉ dẫn phải xử lý thế nào với hàng loạt
các loại giá trị tiềm tàng và phức tạp trong phân tích của bạn.
1.5 Cơ cấu Thời gian của Chi phí và Lợi ích
Phần lớn các dự án được điều hành trong một khoảng thời gian
nhất định. Khi tiến hành phân tích CBA bạn nên xác định xem khi
nào thì chi phí và lợi ích sẽ thay đổi. Đâu là múi thời gian cuối
cùng cho phân tích của bạn nếu không phải là của toàn bộ dự án.
Ví dụ như một con đường cao tốc được mở trong vòng ba năm,
đưa vào sử dụng lâu dài và tiến hành những bảo dưỡng cần thiết
năm năm một lần. Cứ sau một khoảng thời gian nhất định thì chi
phí xây dựng và bảo dưỡng mới xuất hiện trong khi lợi ích mà
con đường đem lại là liên tục. Có thể lợi ích này càng ngày càng
tăng khi dân số của một vùng tăng. Con đường có thể tồn tại vĩnh
viễn. Song theo chỉ dẫn hành chính thì khi đánh giá dự án có thể
chỉ cần tính đến lợi ích dự án đem lại trong vòng hai mươi năm
đầu tiên.
Nhìn chung, có một thực tế vẫn được thừa nhận đó là các mức
chi phí, lợi ích trong tương lai có giá trị thấp hơn chi phí lợi ích
hiện tại.[1] Chính vì vậy, việc khấu trừ chi phí lợi ích tương lai
bằng cách sử dụng một mức lãi suất nào đó và cách khấu trừ
theo số mũ là một thông lệ được chấp nhận. Tuy có nhiều cơ
quan quy định cụ thể mức hay các mức lãi suất được nhiều
nhóm, nhiều cơ quan khác nhau dùng hay đồng tình song quyết
định khó nhất gặp phải trong quá trình này vẫn là xác định mức
lãi suất thích hợp.

1.6 Phân tích độ Nhạy cảm (Sensitivity analysis)
Bất kỳ một dự án nào đều gắn với hàng loạt các con số được đề
xuất khác nhau. Chúng là ước tính khối lượng vật liệu và lao
động cần thiết, mức giá của các đầu vào này, số người hưởng lợi
cuối cùng, giá trị quy đổi của việc họ sử dụng sản phẩm làm ra,
mức lãi suất thích hợp dùng để khấu trừ chi phí và lợi ích của dự
án. Các con số này đều có nguy cơ bị dự đoán sai. Người ta
cũng rất dễ lâm vào tình trạng không thể nhất trí về một con số
dự kiến nhất định. Câu trả lời có trách nhiệm nhất cho việc có
hàng loạt những giá trị ước tính hay gợi ý là đưa ra những tính
toán dựa trên nhiều kịch bản khác nhau rồi thảo luận những thay
đổi trong từng kịch bản tạo ra tác động gì trong phân tích độ nhạy
cảm. Điều này có nghĩa là nên chỉ rõ việc thay đổi các mức giá trị
khác nhau có tác động như thế nào đến đánh giá dự án. Ví dụ,
nếu phí xây dựng thực tế cao hơn mức phí dự đoán là 10% thì lợi
ích ròng của dự án thay đổi như thế nào? Nếu dùng một mức lãi
suất cao hơn để khấu trừ các chi phí và lợi ích tương lai thì liệu
dự án còn được mong đợi nữa hay không? Nếu như giá trị cho
các lợi ích của một dự án mang lại cho tình hình sức khoẻ ở mức
thấp chứ không phải ở mức cao trong miền lợi ích ước tính thì
giá trị của dự án thay đổi như thế nào?
Một cách tiếp cận thường gặp là tính toán khả năng tốt nhất, xấu
nhất và các khả năng trung bình. Phân tích này có nghĩa là thoạt
đầu tính toán NPV của một dự án bằng cách dùng các mức giá trị
ước tính tối đa hoá giá trị của dự án, rồi dùng các mức giá trị ước
tính tối thiểu hoá giá trị của dự án và cuối cùng là dùng các mức
giá trị trung gian. Điều này sẽ cho các nhà hoạch định chính sách
ý tưởng về tính không chắc chắn của dự án cũng như tầm quan
trọng của tính không chắc chắn này có thể là bao nhiêu.
1.7 Các nguồn lực

Vấn đề thực tiễn lớn nhất trong việc tiến hành một phân tích CBA
trên thực tế là tìm được các mức giá trị thích hợp cho các đầu
vào và các đầu ra của dự án. Các nhà lên kế hoạch cho dự án
nên có một vài ý tưởng nào đó về lượng đầu vào sẽ được sử
dụng và lượng đầu ra được tạo ra. Song làm thế nào để xác định
được giá trị của chúng?
Cuốn sách này sẽ cung cấp cho bạn nhiều thông số tham khảo
về các nguồn lực khác nhau được dùng làm đầu vào, đầu ra của
dự án, các giá trị gắn liền với chúng, mức lãi suất đề xuất trong
khấu trừ, độ co dãn cung và độ co dãn cầu. Chúng tôi cũng đưa
ra những tham khảo về việc định giá các loại hàng hoá ít được
trao đổi trên thị trường và tập trung vào các kỹ thuật và các giá trị
do các nhà nghiên cứu khác đưa ra.
Tuy danh sách các nguồn lực được đưa ra không phải là một
danh sách hoàn chỉnh song ít nhất nó cũng đem lại cho độc giả
một xuất phát điểm trong việc tìm ra các mức giá trị cần thiết để
phân tích một dự án hay đánh giá một cách phê phán một nghiên
cứu hiện tại.
1.8 Cơ cấu của Cuốn sách
Nội dung của cuốn sách được sắp xếp theo thứ tự cần có khi tiến
hành một nghiên cứu.
Chương hai bàn đến vấn đề vị thế, hay giá trị của ai sẽ được đưa
vào phân tích. Điều này sẽ tác động cách thức xử lý những chi
phí khác nhau trong dự án. Song quan trọng hơn, nó sẽ quyết
định chi phí nào, lợi ích nào được đưa vào trong phân tích.
Phần lớn các đầu vào và đầu ra được trao đổi trên các thị trường.
Giá trị của chúng có thể được xác định dựa trên các mức giá thị
trường và phân tích cung cầu cơ bản. Chương ba bàn đến lý
thuyết về các thay đổi phúc lợi xã hội mà một dự án mang lại.
Chương bốn và năm mô tả các phương pháp xác định giá trị của

đầu vào, đầu ra được trao đổi trên thị trường với mức giá phổ
biến.
Nhiều loại hàng hoá không được trao đổi trực tiếp trên thị trường.
Hai chương tiếp theo bàn đến các cách tiếp cận với việc định giá
những loại hàng hoá kiểu đó. Chương sáu mô tả các kỹ thuật
trong đó có các giá trị bóng (shadow values). Chương bảy bàn
đến phương pháp định giá phát sinh (contingent valuation
method).
Một khi đã xác định được giá trị của đầu vào, đầu ra, chúng ta
còn cần phải thực hiện thêm một số bước trong việc chuẩn bị một
phân tích. Chương tám đưa ra cơ chế khấu trừ, chỉ dẫn trong
việc lựa chọn mức lãi suất phù hợp trong việc khấu trừ chi phí lợi
ích tương lai. Chương chín bàn đến phân tích độ nhạy cảm và
phân tích rủi ro. Phân tích này đặc biệt quan trọng đối với các
trường hợp các chi phí lợi ích là bất ổn.
Cuối cùng, chương mười đưa ra những tài liệu tham khảo bổ ích
cho các độc giả trong việc chuẩn bị và đánh giá các phân tích
trong đó có nêu nguồn gốc của các mức giá, lãi suất, độ co dãn
ước tính và số lượng thị trường.
Một số nghiên cứu điển hình sẽ khép lại cuốn sách. Các nghiên
cứu này mô tả việc ứng dụng các kỹ thuật này vào các vấn đề
thực tế.


×