Tải bản đầy đủ (.pdf) (7 trang)

Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Điểm nhìn văn hoá trong tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh" pot

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (331.56 KB, 7 trang )




Báo cáo nghiên cứu
khoa học:

"Điểm nhìn văn hoá
trong tiểu thuyết lịch
sử của Nguyễn Xuân
Khánh"



trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 1b-2009


57

Điểm nhìn văn hoá trong tiểu thuyết lịch sử
của Nguyễn Xuân Khánh

Ngô Thị Quỳnh Nga
(a)



Tóm tắt. Khai thác lịch sử từ điểm nhìn văn hoá dân tộc là một hớng tìm tòi
mới, đem lại thành công cho nhiều nhà văn viết về đề tài lịch sử sau năm 1975, đặc
biệt là nhà văn Nguyễn Xuân Khánh. Bài viết góp phần chỉ ra hớng vận động của
thể loại tiểu thuyết lịch sử Việt Nam, sự nỗ lực sáng tạo và những đóng góp của
Nguyễn Xuân Khánh cũng nh các nhà văn sau 1975 cho thể loại tiểu thuyết lịch sử


nói riêng, cho nền văn học dân tộc nói chung.

1. Sau năm 1975, đặc biệt là sau đại
hội VI của Đảng năm 1986, cùng với sự
đổi mới của văn học nớc nhà, văn xuôi
viết về đề tài lịch sử đã có những bớc
đột phá mạnh mẽ cả về nội dung và
hình thức. Các nhà văn đã không ngừng
tìm kiếm những hớng thể hiện mới
đầy táo bạo, làm cho các sự kiện lịch sử
trở nên sống động, thấm đẫm hơi thở
của cuộc sống hiện tại. Trong nhiều
hớng xử lý khác nhau đối với đề tài
lịch sử, hớng tái hiện, đánh giá lịch sử
trên bối cảnh rộng của văn hoá Việt
Nam đã đợc nhiều tác giả lựa chọn và
đem lại hiệu quả nghệ thuật cao. Có thể
nói nhà văn Nguyễn Xuân Khánh là
ngời đã gặt hái đợc nhiều thành công
nhất với sự lựa chọn hớng đi này. Chỉ
trong sáu năm ông đã cho ra mắt hai
cuốn tiểu thuyết lịch sử dầy dặn: "Hồ
Quý Ly" (2000) và "Mẫu thợng ngàn"
(2006). Cả hai cuốn tiểu thuyết này đều
đợc nhận giải thởng của Hội nhà văn
Hà Nội, đợc độc giả nhiệt tình đón
nhận. Điểm độc đáo tạo nên sức hấp
dẫn cho "Hồ Quý Ly" và "Mẫu thợng
ngàn" là những hiểu biết sâu rộng về
văn hoá dân tộc. Lịch sử đợc Nguyễn

Xuân Khánh nhìn nhận, đánh giá dựa
trên bối cảnh rộng của văn hoá Việt trở
nên sống động và đầy sức thuyết phục.
2. Trớc năm 1975, tiểu thuyết lịch
sử thờng quan tâm khai thác các sự
kiện, biến cố lịch sử nhằm dựng lại
không khí hào hùng của một thời, mang
đến cho ngời đọc niềm tự hào, tự tôn
về truyền thống dân tộc. Các nhà văn
thời kì này thờng nhìn lịch sử dới góc
độ của một sử gia. Các tác giả Nguyễn
Tử Siêu, Nguyễn Triệu Luật, Phan
Trần Chúc, Nguyễn Huy Tởng đều
cố gắng mô phỏng một cách chân thực
những bức tranh lịch sử hào hùng của
dân tộc theo quan điểm chính sử. Trong
những bức tranh ấy có cả những cảnh
sắc thiên nhiên, cuộc sống con ngời,
nhng chỉ nhằm để nói lên tinh thần
cộng đồng, dân tộc. Bởi vậy, đó là bức
tranh đơn điệu, một chiều, chỉ ghi lại
đợc những sự cố và những xác chết
biên niên u lì [1]. Viết tiểu thuyết lịch
sử, Nguyễn Xuân Khánh không chỉ
dựng lại không khí lịch sử từ những
biến cố, sự kiện lớn lao mà chú ý soi rọi
lịch sử từ nhiều góc nhìn, đặc biệt là góc
nhìn văn hoá. Ông đã thể hiện trong tác
phẩm của mình một vốn hiểu biết sâu
rộng về văn hoá, đa ngời đọc sống lại

quá khứ của dân tộc qua những trang
văn miêu tả những địa danh nổi tiếng,
những sinh hoạt thôn dã, những lễ hội
dân gian Bằng lăng kính chủ quan và
cảm nhận tinh tế của ngời nghệ sỹ, bối
cảnh lịch sử hiện lên sinh động, tơi
nguyên, đậm đà bản sắc văn hoá Việt
Nam. Mỗi trang văn là một bức tranh
Nhận bài ngày 09/02/2009. Sửa chữa xong 02/04/2009.



Ngô Thị Quỳnh Nga Điểm nhìn văn hoá trong tiểu thuyết , tr. 57-62


58

đẹp về văn hoá dân tộc. Tiểu thuyết Hồ
Quý Ly phục dựng lại không khí cổ xa
của mảnh đất Thăng Long ngàn năm
văn hiến, nơi ra đời và lu giữ nhiều lễ
hội lớn. Không khí sôi động, náo nhiệt
của hội thề Đồng Cổ - ngày lễ lớn ở
Thăng Long, một lễ hội thuần Việt rất
đợc dân kinh đô xem trọng ở thời Lý -
Trần đợc nhà văn tái hiện lại sinh
động: Ngời từ khắp làng quê đổ về
Thăng Long đi trẩy hội thề. Dọc đờng,
cắm cờ suốt từ cửa Tây tức Quảng Phúc
môn. Đến đền Đồng Cổ, ngời che kín

hai bên đờng. [3, tr. 17 ]. Hội thề Đốn
Sơn - một ngày lễ lớn ở Tây Đô cũng
đợc miêu tả bằng cái nhìn cận cảnh:
Tây Đô tng bừng náo nhiệt. Suốt dọc
đờng lát đá từ cửa Nam đến núi Đún
đợc cắm đầy những lá cờ ngũ sắc. Chót
vót trên đỉnh Đốn Sơn treo một lá cờ
trên thêu hai chữ Đại Việt rất to, lá cờ
đậu hình vuông nhiều màu [3, tr. 785].
Tiểu thuyết Mẫu thợng ngàn lại hấp
dẫn ngời đọc bởi không gian văn hoá
nhiều màu sắc, thấm đẫm không khí
huyền thoại. Ngời đọc nh đợc sống
lại khung cảnh làng quê Bắc Bộ những
năm cuối thế kỉ XIX với những lễ hội
thần bí nh hội Kẻ Đình, hội rớc ông
Đùng, bà Đà. Đặc biệt có những lễ hội
từ xa xa, nay không còn nữa đã đợc
tác giả miêu tả lại bằng những nét rất
riêng, đẹp nh những trang cổ tích và
đầy tính nhân văn nh lễ hội trải ổ
cho phép trai gái yêu nhau dù cha
cới xin đợc phép tạo một cái ổ thơm
tho, êm ái cho cuộc yêu đơng của mình,
trong một hang đá hay một vòm cây nào
đó ở trong rừng, cạnh núi Đùng [4, tr.
725]. Những lễ hội này đã phản ánh sự
phong phú trong đời sống tinh thần của
ngời dân Việt Nam.
Mỗi địa danh trong tác phẩm đều là

một di tích văn hoá, vừa rất đỗi gần gũi,
vừa linh thiêng. Tây Đô là kinh đô quân
sự do Hồ Quý Ly dựng nên uy nghiêm,
tráng lệ, với lối kiến trúc độc đáo. Làng
Kẻ Đình với hình ảnh cây đa Cổ Đình
mang trọn nét đặc trng của làng quê
vùng đồng bằng Bắc Bộ. Văn hoá Việt
thể hiện trong những tín ngỡng dân
gian nh tục thờ Đạo Mẫu, tục chôn
ngời chết trùng tang, gợi sự tò mò,
thích thú nơi ngời đọc. Sức mạnh văn
hoá dân tộc còn hiện trong vẻ đẹp bí ẩn
của ngời đàn bà khiến những gã đàn
ông Tây phơng sang Việt Nam với âm
mu chiếm đoạt cũng bị chinh phục, bị
đồng hoá. Philippe Messmer - một tên
chủ đồn điền cáo già đã phải khuất
phục trớc vẻ đẹp đằm thắm của cô Mùi
- ngời đàn bà đã trải qua hai đời
chồng. Gần gũi cô Mùi hắn không còn
thích thú với cảm giác mình là kẻ chiếm
đoạt mà từ đáy lòng ông thèm khát một
sự hoà hợp [4, tr. 382]. Chinh phục
đợc Mùi lòng hắn hân hoan nh vừa
chinh phục đợc miền đất hứa [4, tr.
383]. Qua những trang văn của Nguyễn
Xuân Khánh ngời đọc nh đợc sống
lại không khí cổ xa với những phong
tục độc đáo, những thú chơi tao nhã
mang bản sắc văn hoá của vùng trung

du Bắc Bộ nh sở thích pha trà bằng
nớc ma hứng mo cau (Hồ Quý Ly),
đặc sản chè Hồng Mai (Mẫu thợng
ngàn). Đặc biệt, thú chơi hoa mai với
bữa tiệc Đại Mai đã trở thành một nét
văn hoá độc đáo.

bữa tiệc này cả hai
phe đối lập đều đến dự ngời ta nghĩ
nhờ chén rợu sẽ tìm thấy một điều gì
đó. Nhng rốt cuộc chẳng ai thấy điều
gì khác lạ cả, ngoài một điều mà mọi
ngời đều cảm nhận: chủ nhân là ngời
tinh tế, niềm nở, và rợu lão mai quả
thật ngon, quả thật độc đáo [3, tr.
315]. Vẻ đẹp văn hoá Việt ẩn trong cả
những nét đẹp bình dị, thôn dã của
những hồ hoa sen, hoa súng hay trong
nét vẽ trên chiếc chậu đồng hoa mai



trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 1b-2009


59

Với sự công phu, tỉ mỉ trong việc su
tầm những cứ liệu về văn hoá, Nguyễn
Xuân Khánh đã làm cho mỗi trang văn

trở thành một bức tranh văn hoá nhiều
màu sắc, lôi cuốn, hấp dẫn khiến ngời
đọc khó rời bỏ trang sách. Soi rọi lịch sử
từ góc nhìn văn hoá nhà văn đã làm
sống dậy cả một bề dày văn hoá Việt.
Qua tác phẩm của mình ông đã chứng
minh lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch
sử của một nền văn hoá có bản sắc
riêng, độc đáo, nhiều bí ẩn và có sức
sống trờng tồn.
3. Con ngời trong tiểu thuyết lịch
sử truyền thống thờng đợc nhìn nhận
theo một sơ đồ đã định sẵn. Đã là Bà
Trng, Bà Triệu, Quang Trung thì
phải anh hùng. Họ đại diện cho quần
chúng nhân dân, một giai cấp, một giai
đoạn lịch sử nhất định. Cuộc đời của họ
gắn liền với sự nghiệp chiến đấu, bảo vệ
và xây dựng đất nớc. Họ đợc miêu tả
nh những con ngời hoàn thiện, toàn
bích. Vua Quang Trung trong tác
phẩm cùng tên của Phan Trần Chúc
xứng đáng liệt vào hàng Nã Phá Luân
trong tập danh sách các thế giới vĩ
nhân [2, tr. 226]. Tớng quân Nguyễn
Chích, Nguyễn Trung Trực đợc Hà
Ân ca ngợi là những ngời có tài chỉ
huy binh sĩ; nhân vật Nguyễn Mại
trong Đêm hội Long Trì của Nguyễn
Huy Tởng, anh Phấn, cô Chí trong

Trùng Quang tâm sử của Phan Bội
Châu đều mang vẻ đẹp hùng tráng đầy
nghĩa khí Bên cạnh đó, các nhân vật
gian hùng đợc đánh giá theo quan
điểm chính sử. Đó phải là con ngời xấu
xa, tàn bạo. Trong tác phẩm Cái hột
mận, Lan Khai tố cáo tội ác tàn bạo
của tên vua Ngọa Triều hành hạ nhà
s. Trong Đêm hội Long Trì Nguyễn
Huy Tởng đã dùng bút pháp h cấu,
phóng đại tính cách dâm đãng của
Đặng Mậu Lân để thể hiện thái độ căm
ghét cao độ của mình Nhà văn vô tình
đã biến những nhân vật này thành
những hình nộm lịch sử, là những con
ngời đã hoàn tất ở thì quá khứ. Với
cách nhìn đó, tiểu thuyết lịch sử nớc ta
trong thời gian dài đã tạo nên một hệ
thống nhân vật đơn tuyến, không tránh
khỏi những đánh giá phiến diện, một
chiều về quá khứ. Sau 1975, đặc biệt là
sau đổi mới, nhận thức của con ngời về
lịch sử đã có những bớc tiến, đòi hỏi
văn xuôi viết về đề tài lịch sử cũng cần
có sự thay đổi. Khắc phục nhợc điểm
của văn học truyền thống, Nguyễn
Xuân Khánh đã đặt nhân vật trong
điểm nhìn bao quát hơn - trong bối cảnh
rộng của văn hoá Việt, để thấy hành
động của họ có ý nghĩa gì đối với sự

phát triển của đất nớc. Từ góc nhìn
này nhân vật đợc xem xét trong một
tơng quan rộng, không chỉ nhìn thấy
mặt xấu, đáng phê phán mà còn thấy cả
mặt tiến bộ. Bất kể anh ta là ngời nh
thế nào nếu có đóng góp cho sự phát
triển của văn hoá đều đáng đợc biểu
dơng, đánh giá cao.
Nhân vật Hồ Quý Ly trong tiểu
thuyết cùng tên là một nhân vật hết sức
phức tạp trong cách đánh giá của d
luận. Chính sử xem triều đại nhà Hồ là
ngụy triều, Hồ Quý Ly là một kẻ loạn
thần tặc tử, thoán đoạt ngôi vị của
nhà Trần. Quan điểm này đã ăn sâu
bám rễ trong t tởng ngời dân Việt
Nam suốt bao thế kỷ. Cách đánh giá
này đã không giải quyết đợc vấn đề
một cách sâu sắc và thỏa đáng. Hồ Quý
Ly là một kẻ thủ đoạn, có nhiều hành
động tàn bạo để đạt đợc mục đích của
mình - đó là một sự thật. Nhng chúng
ta cũng không thể phủ nhận nhiệt tình
cải cách của ông với mong muốn đa
nớc Đại Ngu phát triển giàu mạnh.
Một xã hội muốn phát triển, không bị



Ngô Thị Quỳnh Nga Điểm nhìn văn hoá trong tiểu thuyết , tr. 57-62



60

dẫm chân tại chỗ bao giờ cũng cần có
đổi mới, cải cách. Vào giai đoạn cuối
Trần, yêu cầu đổi mới lại càng bức thiết
hơn. Nhà Trần từng đem lại cho đất
nớc những năm thanh bình, thịnh
vợng, những chiến thắng hiển hách,
nhng đến giai đoạn cuối, triều chính
rối ren, nhân dân đói khổ, lầm than,
loạn lạc liên miên, giặc bên ngoài quấy
nhiễu. Trong lúc ấy, những ngời tâm
đức đã không đa ra đợc kế sách gì để
vực đất nớc ra khỏi hoàn cảnh khó
khăn. Trần Nguyên Đán, cụ S Tề, đạo
sĩ Thanh H chọn lối sống gắn bó với cỏ
cây, suối rừng, xa rời chính sự. Những
ngời tài năng nh Trần Khát Chân lại
bị t tởng trung quân níu kéo, không
thể thoát ra để làm cuộc cách mạng.
Còn phần đông nhân dân thì thân phận
nhỏ bé không có lối thoát nào khác.
Nghe Hồ Quý Ly nói đến việc cần chỉnh
đốn, thay đổi đất nớc, Nghệ Tôn hiểu
nhng Ông không muốn làm, ông sợ
nhiễu sự. Ông muốn mọi việc cứ đợc
giải quyết theo nề nếp tổ tông [3, tr.
127]. Trong hoàn cảnh đất nớc mục

ruỗng nh vậy nếu Hồ Quý Ly không
đứng ra nhận gánh lịch sử ấy thì số
phận cả dân tộc sẽ đi về đâu? Nhận
trách nhiệm trớc lịch sử, Hồ Quý Ly
muốn nhanh chóng đa đất nớc ra
khỏi tình trạng trì trệ. Ông đã thực
hiện hàng loạt những cuộc cải cách
cơng quyết, dứt khoát, bỏ qua những
lời phản đối gay gắt. Ông chủ trơng
dùng tiền giấy thay tiền đồng để tiết
kiệm nguyên liệu, thực hiện chính sách
hạn điền, hạn nô tạo sự công bằng trong
xã hội; bắt các nhà s hoàn tục vì s sãi
quá nhiều; đặt chức liêm phóng sứ để
dò la những kẻ tham nhũng, chống
đối Ông mở chiến lợc thu hút ngời
tài và luôn trăn trở vì tìm mãi không
thấy một nhân tài quân sự [3, tr. 303].
Ông đã tích cực thúc đẩy việc xây dựng
kinh thành Tây Đô, rời kinh đô Thăng
Long về đây để thuận lợi cho việc chống
giặc ngoại xâm. Mặc dù công trình này
bị nhiều đời sau chỉ trích nhng nó cho
thấy tầm chiến lợc, con mắt nhìn xa
trông rộng và tâm hồn tinh tế của Hồ
Quý Ly. Kinh thành Tây Đô không chỉ
là trung tâm quân sự mà còn là một
công trình văn hóa. Ông dùng tất cả
tâm huyết của mình để viết sách Minh
Đạo với mong muốn đó sẽ là cái đạo

sáng. Ông đã nhận đợc sự hởng ứng
của ngời con trai Hán Thơng, Nguyễn
Cẩn và của cả vua Nghệ Tôn. Nhng
ông cũng bị phản đối kịch liệt bởi trong
sách Minh Đạo ông đã phê phán Khổng
Tử ở sự kém minh mẫn [3, tr. 478];
Chu, Trình là những con ngời viển
vông, không nghĩ đến việc đời [3, tr.
478]. Sự phê phán của ông cha hẳn đã
hoàn toàn thỏa đáng nhng nó cho thấy
ông là ngời nhiệt tình đổi mới, thực
tâm muốn tạo nên những đột phá trong
xã hội, xây dựng đất nớc mang bản sắc
riêng, không học tập ngời xa một
cách máy móc. Văn hóa Việt phải tự tạo
ra bản sắc riêng, không thể chỉ hởng
thành quả của ngời khác. T tởng
này của ông hơn hẳn các nhà nho cùng
thời. Điều này thật đáng trân trọng.
Hình tợng Hồ Quý Ly còn đặt ra cho
ngời đọc nhiều suy nghĩ về hiện thực
đất nớc. Chúng ta cần có những ngời
tiên phong đổi mới, dám nghĩ, dám làm
nh Hồ Quý Ly để đa đất nớc thoát
khỏi những khó khăn chồng chất sau
chiến tranh. Nhng đổi mới nh thế
nào lại là vấn đề không dễ.
Với tiểu thuyết Mẫu thợng ngàn
Nguyễn Xuân Khánh đã đặt văn hoá
Việt trong một tình huống gay cấn

nhất: những năm cuối thế kỷ XIX, đầu
thế kỷ XX, khi dân tộc Việt phải đối
mặt mất còn với thực dân phơng Tây
và sự xâm thực của t tởng Thiên
chúa giáo trong đời sống tinh thần. Văn
hóa Việt Nam đứng trớc nguy cơ bị



trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 1b-2009


61

đồng hóa. Thử thách này là cơ hội để
văn hóa Việt bộc lộ sức mạnh và vẻ đẹp
riêng của mình, thể hiện cách ứng xử
khéo léo, vừa mềm dẻo, vừa cơng
quyết của dân ta trong cuộc đối đầu lịch
sử. Thực dân Pháp sang xâm lợc nớc
ta, chúng đa Thiên chúa giáo vào với
âm mu đồng hoá về văn hoá. Ngời
Việt Nam không từ chối đạo Thiên chúa
bởi Đạo nào cũng thế cả thôi. Đạo Giê
su cũng nh đạo Mẫu. Tất cả đều chỉ là
khuyến thiện [3, tr. 696]. Nhng họ
cũng không chịu để mất đi bản sắc văn
hoá của mình. Ngời Việt vẫn thờ
thánh Mẫu, thờ Đất Mẹ thiêng liêng và
hiền dịu. Dới sự kiểm soát gắt gao của

thực dân, lễ hội Thánh Mẫu vẫn diễn ra
tng bừng, náo nhiệt, hiên ngang nh
một sự thách thức. Sự xâm thực của lối
sống phơng Tây không làm mất đi
những phong tục, tập quán có từ ngàn
đời của ngời dân đồng bằng Bắc Bộ.
Con ngời ở đây vẫn giữ đợc cốt cách,
tâm hồn Việt. Cô Mùi vẫn không từ bỏ
niềm ham thích ngồi đồng mặc cho
chồng cô - ông chủ đồn điền Phillipe
Messmer khó chịu; cụ đồ Tiết vẫn giữ
thói quen pha trà bằng nớc ma hứng
mo cau Những ngời nh bà Tổ Cô, cụ
đồ Tiết, cô Mùi và nhân dân làng Cổ
Đình đã góp phần gìn giữ, nuôi dỡng,
tạo nên bề dày của văn hóa Việt. Đặt
văn hóa Việt trong hoàn cảnh đặc biệt,
Nguyễn Xuân Khánh đã góp phần lý
giải một cách thuyết phục những chiến
thắng vang dội của dân tộc ta trong các
cuộc chiến tranh chống đế quốc xâm
lợc. Chính nội lực văn hóa dân tộc đã
chiến thắng những vũ khí hiện đại,
chinh phục cả những ngời Pháp sang
Việt Nam với mục đích khai phá: Tôi
là thứ chiên lạc loài. Tôi đến từ xứ này.
Tôi ở lại đây. Sở dĩ thế vì tôi thấy nó
đẹp. Tôi bị cuốn hút bởi cái đẹp mê hồn
của xứ nhiệt đới. Và tôi muốn tôn vinh
cái đẹp phơng Đông ấy [4, tr. 429].

Tác phẩm đã khẳng định chính sức
mạnh văn hóa truyền thống mới đã tạo
nên sự trờng tồn của một dân tộc. Đây
cũng là vấn đề cấp thiết đặt ra trong
thời buổi hội nhập hôm nay của đất
nớc.
4. Cuộc sống xô bồ ngày nay đã
khiến nhiều ngời lãng quên những giá
trị truyền thống. Bằng những trang văn
của mình, Nguyễn Xuân Khánh đã khơi
dậy niềm tự hào về quá khứ, bổ sung
cho ngời đọc những hiểu biết về văn
hóa dân tộc. Trong khi hiện nay những
ghi chép về lịch sử còn lu giữ quá ít dữ
liệu về quá khứ cha ông, cha đủ chứng
cứ để lý giải những vấn đề phức tạp,
đang gây nhiều tranh cãi thì những đề
xuất của Nguyễn Xuân Khánh về cách
đánh giá lịch sử đã giúp chúng ta mở
rộng đợc tầm nhìn, tránh cực đoan, lý
giải vấn đề một cách hợp lý, thuyết
phục hơn. Đối với Nguyễn Xuân Khánh
tìm về lịch sử dân tộc là một cách kín
đáo để bộc lộ những quan điểm của ông
về cuộc sống quá khứ và đơng đại. Mỗi
trang văn là một thớc phim t liệu quý
mà nhà văn gửi gắm vào đó niềm trân
trọng, tự hào về truyền thống dân tộc.
Đó còn là nơi để tác giả có cơ hội khám
phá bề dày văn hoá dân tộc, và hơn hết

là để hiểu chính bản chất cuộc sống.
Quan sát lịch sử từ điểm nhìn văn hóa
đã tạo cho tiểu thuyết lịch sử của
Nguyễn Xuân Khánh một nét riêng,
hấp dẫn, lôi cuốn ngời đọc. Hớng khai
thác lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh
cũng là hớng đi đang đợc nhiều tác
giả lựa chọn. Chính hớng tìm tòi này
đã đem lại cho tiểu thuyết lịch sử Việt
Nam sau năm 1975 những khởi sắc
mới, chứng tỏ sự chuyển hớng đúng
đắn của các nhà văn viết về đề tài lịch
sử trong bối cảnh đổi mới văn xuôi hiện nay.



Ngô Thị Quỳnh Nga Điểm nhìn văn hoá trong tiểu thuyết , tr. 57-62


62

Tài liệu tham khảo

[1] Nam Dao, Lời ngỏ, Tiểu thuyết Gió lửa, .
[2] Phan Trần Chúc, Vua Quang Trung, NXB Văn hoá thông tin, 2000.
[3] Nguyễn Xuân Khánh, Hồ Quý Ly, NXB Phụ Nữ, Hà Nội, 2002.
[4] Nguyễn Xuân Khánh, Mẫu thợng ngàn, NXB Phụ Nữ, Hà Nội, 2006.
[5] Nguyên Ngọc, Mẫu thợng ngàn: một cuốn tiểu thuyết thật hay về văn hoá Việt,
.
[6] Phạm Hồ Thu, Mẫu thợng ngàn - Bài ca về vẻ đẹp Việt, .


Summary

Culture View in Historical Novels by Nguyen Xuan Khanh

The exploitation of history from national culture view is a new one, which has
helped a lot of writers, especially Nguyen Xuan Khanh to gain success in the topics
of post -1975 history. This piece of writing will help you to see the tendency towards
the novels of Vietnam history, the attempt and contribution of Nguyen Xuan Khanh
as well as the other writers post - 1975 for historical novels in particular and
national literature in general.

(a)

khoa Ngữ Văn, trờng Đại Học Vinh.




×