Tải bản đầy đủ (.doc) (42 trang)

các nước đang phát triển với cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại của WTO

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (258.73 KB, 42 trang )

LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn đến Tổ bộ môn Luật Thương
Mại Quốc Tế - Trường Đại học Luật Hà Nội đã dạy dỗ em kiến thức
và tạo cơ hội cho em được thực hiện đề tài khóa luận môn Thương Mại
Quốc Tế.
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc của mình tới thầy: PGS-
TS Nông Quốc Bình người thầy đáng kính đã tận tình chỉ dạy và giúp
dỡ em trong suốt quá trình em hoàn thành bài Khóa luận này. Em kính
chúc thầy luôn luôn mạnh khỏe!
Cuối cùng em xin kính chúc các thầy các cô luôn luôn mạnh
khỏe!
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN : Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á
APEC : Diễn Đàn Kinh Tế Châu Á Thái Bình Dương
DSB : Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO
DSU : Bản ghi nhớ các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải
quyết tranh chấp của WTO
GATT 1947 : Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1947
NT : Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia
MFN : Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc
UN : Liên hợp quốc
WTO : Tổ chức Thương mại Thế giới
MỤC LỤC
MỤC LỤC 3
LỜI NÓI ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Phương pháp nghiên cứu 2
3. Ý nghĩa của luận văn 2
4. Kết cấu đề tài 2
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT


TRANH CHẤP CỦA WTO 4
1. Một số khái niện cơ bản 4
1.1. Tranh chấp thương mại quốc tế 4
1.2. Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế 5
2. Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO 5
2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của cơ chế giải quyết tranh
chấp của WTO 5
2.2. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế của
WTO 9
2.3. Quy định cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế của
WTO 10
2.4. Phạm vi đối tượng tranh chấp 14
2.5. Trình tự và thời hạn giải quyết tranh chấp của WTO 15
Kết luận chương 1 19
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA WTO VỀ VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG 20
PHÁT TRIỂN 20
1. Những quy định đối với Thỏa thuận về các quy tắc và thủ tục giải
quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO (DSU-Dispute Settlement
Understanding) có liên quan đến các nước đang phát triển 20
2. Tình hình giải quyết tranh chấp tại WTO dước góc nhìn của các
nước đang phát triển 23
3. Đánh giá cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO nhìn dưới góc độ
của các nước đang phát triển 25
3.1. Những ưu điểm của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO
nhìn từ góc độ của các nước đang phát triển 25
3.2. Những hạn chế của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO
nhìn dưới góc độ của các nước đang phát triển 26
Kết luận chương 2 28
CHƯƠNG 3: VIỆT NAM VỚI CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH

CHẤP CỦA WTO 29
1. Sự tham gia của Việt Nam vào cơ chế giải quyết tranh chấp của
WTO 29
2. Một số giải pháp hoàn thiện chính sách và pháp luật Việt Nam
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO
31
2.1. Các biện pháp về pháp luật 31
2.2. Các biện pháp thực tiễn 34
Kết luận chương 3 36
KẾT LUẬN 37
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Toàn cầu hóa và hội nhập hóa nền kinh tế quốc tế là xu thể tất yếu hiện
nay, theo với xu thế đó của thế giới Việt Nam cũng đang từng bước đổi mới
và hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Cụ thể hóa điều này tại đại hội Đảng
lần thứ X đã khẳng định: “Đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu hơn và đầy
đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương…khai thác
có hiệu quả các cơ hội và giám sát tối đa những thách thức, rủi ro khi nước ta
gia nhập WTO”.
Thực hiện chủ trương này đất nước ta đã và đang tích cực hội nhập vào
sân chơi khu vực và quốc tế. Việt Nam đã là thành viên của ASEAN, Diễn
đàn kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC) và năm 2007 Việt Nam đã
chính thức trở thành thành viên của WTO tổ chức Thương mại Thế giới.
Gia nhập WTO đã mang lại cho Việt Nam rất nhiều cơ hội để phát triển
như: Nguồn viện trợ, hỗ trợ, nguồn vốn đầu tư…nhưng cũng mang lại cho
chúng ta rất nhiều thử thách. Một khi đã tham gia sân chơi quốc tế ắt sẽ không
tránh khỏi sự tranh chấp quốc tế. Hiện nay, cách giải quyết đang được xem là
có hiệu quả đó chính là sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO. Để có
thể tham gia sân chơi này thì việc tìm hiểu nghiên cứu các quy tắc, quy định
của WTO là điều vô cùng cần thiết. Mặt khác, Việt Nam là một nước đang

phát triển, nên việc đánh giá nhìn dưới góc độ của nước đang phát triển là một
cách nhìn mới, và cũng là cơ hội cho Việt Nam và những nước đang phát
triển trong quá trình tham gia vào cơ chế này. Chính vì những lý do trên em
chọn đề tài là: “Các nước đang phát triển với cơ chế giải quyết tranh chấp của
WTO”. Trên cơ sở nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, và thực
tiễn giải quyết tranh chấp tại WTO của các nước đang phát triển, em nêu ra
giải pháp cụ thể cho Việt Nam để tham gia một cách có hiệu quả vào sân chơi
quốc tế.
1
Đối tượng nghiên cứu là Phụ lục II của Hiệp định thành lập tổ chức
thương mại thế giới WTO (DSU), cũng như các điều khoản của các Hiệp định
khác có liên quan và thực tiễn giải quyết tranh chấp của các nước đang phát
triển tương đồng với Việt Nam để Việt Nam học tập, vận dụng trong bối
cảnh mới.
2. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được nghiên cứu và hoàn thiện dựa trên một số phương pháp
như: Phương pháp lịch sử để tìm hiểu lịch sử hình thành cũng như phát triển
của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO; Dùng phương pháp phân tích để
phân tích những nội dung của cơ chế giải quyết tranh chấp, thời gian thực
hiện…qua các quy định của WTO; Dùng phương pháp so sánh để thấy được
những điểm tiến bộ ưu việt hay hạn chế của cơ chế giải quyết tranh chấp, đối
chiếu, chứng minh, thống kê…
Luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp để đề xuất những kiến nghị và
giải pháp, nhằm giúp Việt Nam chủ động giải quyết các tranh chấp thương
mại quốc tế một cách có hiệu quả.
3. Ý nghĩa của luận văn
Về mặt lí luận, Khóa luận hệ thống hóa về khái niệm, bản chất, nội dung
và quá trình giải quyết tranh chấp theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO.
Về mặt thực tiễn, Khóa luận cập nhật các thông tin, kinh nghiệm giải
quyết tranh chấp thương mại quốc tế, mà chủ thể là các nước đang phát triển.

Làm căn cứ cho quá trình hoạch định chính sách và pháp luật, cũng như biện
pháp để có thể chủ động giải quyết tranh chấp theo cơ chế giải quyết của
WTO.
4. Kết cấu đề tài
Bài Khóa luận của em ngoài phần mở đầu và kết luận thì trong phần nội
dung có 3 chương như sau:
2
Chương 1: Khái quát chung về cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO.
Chương 2: Quy định của WTO về vấn đề giải quyết tranh chấp đối với
các nước đang phát triển.
Chương 3: Việt Nam với cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO.
3
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CƠ CHẾ GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP CỦA WTO
1. Một số khái niện cơ bản
1.1. Tranh chấp thương mại quốc tế
Tranh chấp là một hiện tượng khách quan, nó tồn tại mang tính chất tất
yếu cùng với quá trình vận động và phát triển của xã hội loài người. Khi xã
hội càng phát triển thì các tranh chấp phát sinh cũng nhiều hơn, đa dạng và
phức tạp hơn. Theo Từ điển Tiếng Việt xuất bản 1998 thì: “Tranh chấp là đấu
tranh, giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa
các bên”[ 7 ]. Theo Từ điển Luật học Black Law Dictionary thì: “Tranh chấp
là sự mâu thuẫn hoặc bất đồng về các yêu cầu hay quyền lợi, sự đòi hỏi về các
yêu cầu hay quyền lợi từ một bên được đáp lại bởi một yêu cầu hay lập luận
trái ngược từ bên kia”. Từ đây ta có thể hiểu: Tranh chấp là sự bất đồng về
quyền lợi, lợi ích, quan điểm mà trong đó yêu cầu hay đòi hỏi của một bên bị
bên kia từ chối hay khiếu nại lại.
Tuy nhiên, hiện nay với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế,
thì các tranh chấp không chỉ giới hạn trong phạm vi của một quốc gia hay một

vùng lãnh thổ nhất định, riêng biệt mà nó vượt ra cả các quốc gia hay vùng
lãnh thổ khác tạo nên tính chất quốc tế của các tranh chấp. Mặc dù các tranh
chấp quốc tế ngày càng đa dạng và phức tạp, nhưng vẫn chưa có một định
nghĩa thống nhất trong các văn bản pháp lý về tranh chấp quốc tế. Ta có thể
hiểu: “Tranh chấp thương mại quốc tế là sự mâu thuẫn, bất đồng về quyền lợi,
lợi ích hay quan điểm phát sinh trong quan hệ thương mại quốc tế”[ 4, tr.4 ].
Tranh chấp thương mại quốc tế một mặt được hiểu là tranh chấp giữa các
quốc gia, các chủ thể của pháp luật quốc tế về các vấn đề thương mại, kinh tế
quốc tế. Mặt khác, tranh chấp thương mại quốc tế còn được hiểu là: Tranh
4
chấp thương mại có yếu tố nước ngoài. Theo luật Trọng tài Việt Nam tranh
chấp thương mại có yếu tố nước ngoài là tranh chấp phát sinh trong quan hệ
thương mại có yếu tố nước ngoài được quy định tại Bộ luật dân sự ( Khoản 4
Điều 3 Luật Trọng tài 2010)…
Tổ chức Thương mại Thế giới WTO là một tổ chức quốc tế, mà thành
viên của nó là các quốc gia (đại diện là các chính phủ), các lãnh thổ độc lập
về mặt hải quan. WTO là một tổ chức quốc tế đa phương với rất nhiều thành
viên. Tranh chấp thương mại quốc tế trong khuôn khổ WTO được hiểu là bất
đồng giữa các thành viên WTO, liên quan đến việc thực hiện các quyền và
nghĩa vụ theo các hiệp định và thỏa thuận của WTO, và bất đồng này được
thông báo chính thức cho Ban thư kí WTO.
1.2. Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế
Theo đại từ điển Tiếng Việt thì: “Cơ chế là cách thức sắp xếp tổ chức để
làm định hướng cơ sở theo đó mà thực hiện”[ 8 ]. Từ đây ta có thể hiểu một
cách khái quát nhất về cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế như
sau: “Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế là tổng hợp các yếu tố
làm cơ sở định hướng cho việc giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế”.
Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO là cách thức, phương pháp hay
các hoạt động của WTO để điều chỉnh các bất đồng, các xung đột giữa các
thành viên WTO, liên quan đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo các

hiệp định và thỏa thuận của WTO, nhằm khắc phục và loại trừ các tranh chấp
đã phát sinh, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên.
2. Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO
2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của cơ chế giải quyết tranh chấp của
WTO
Tổ chức thương mại thế giới WTO được thành lập ngày 1/1/1995 theo
hiệp định Maraket thành lập tổ chức thương mại thế giới, là kết quả của vòng
5
đàm phán Urugoay (1986 - 1995) với tiền thân là Hiệp định chung về thuế
quan và thương mại 1947 (gọi tắt là GATT 1947). WTO ra đời là một bước
phát triển trong thương mại và pháp lý quốc tế. Với hệ thống các hiệp định và
thỏa thuận điều chỉnh quyền và nghĩa vụ thương mại giữa các thành viên.
Trước khi WTO ra đời, các tranh chấp giữa các nước thành viên của
GATT được giải quyết thông qua một cơ chế tham vấn và điều tra, được quy
định chủ yếu tại các Điều XXII và XXIII của GATT. Theo đó Điều XXII quy
định về thủ tục tham vấn giữa các bên liên quan đến việc thực thi GATT, đòi
hỏi hội đồng chung tham vấn cùng với mỗi thành viên trong các sự kiện tranh
chấp có liên quan đến bất kì một vấn đề nào ảnh hưởng đến hoạt động của
GATT và đưa ra sự quan tâm đặc biệt tới lời phản kháng của mỗi bên…Chỉ
trong trường hợp các bên không tự giải quyết được tranh chấp, Điều XXII
khoản 2 quy định rằng bản thân các bên kí kết phải với tư cách là tập thể để
giải quyết bất kì tranh chấp nào giữa các bên kí kết. Các tranh chấp được
chuyển đến Ban công tác (Working Party) gồm đại diện của tất cả các bên kí
kết có liên quan, bao gồm cả các bên tranh chấp. Những Ban công tác này
thông báo trên cơ sở quyết định đồng thuận. Sau này Ban công tác bị thay thế
bởi Ban hội thẩm gồm từ 3-5 chuyên gia độc lập của các nước thành viên
GATT. Ban hội thẩm làm báo cáo gửi Hội đồng GATT và phải được tất cả
các nước thành viên GATT đồng ý thì báo cáo mới được thông qua (nguyên tắc
đồng thuận tuyệt đối).
Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT mặc dù có nhiều ưu việt trong

giải quyết tranh chấp ổn định các quan hệ thương mại quốc tế, nhưng nó ngày
càng bộc lộ những hạn chế cản trở quá trình giải quyết tranh chấp. Bởi vì:
Thứ nhất, việc thông qua báo cáo giải quyết tranh chấp được thực hiện
theo nguyên tắc đồng thuận. Như vậy bất kì nước nào cũng có thể phản đối
hoặc trì hoãn việc thành lập Nhóm chuyên gia, và không thông qua Bản báo
cáo. Dẫn đến một cơ quan xét xử chẳng bao giờ được thành lập hoặc nếu có
6
được thành lập thì việc thông qua Bản báo cáo cũng là vấn đề khó khăn. Trên
thực tế bên bị khiếu kiện thường sử dụng quyền phủ quyết của mình để trì
hoãn việc giải quyết tranh chấp.
Thứ hai, GATT 1947 không quy định thời hạn cụ thể cho các bước khác
nhau, vì vậy các bước giải quyết thường kéo dài dẫn đến thời gian giải quyết
các tranh chấp kéo dài trong vài năm. Sự kéo dài này là một khó khăn lớn đối
với các nước có tiềm lực yếu. Mặt khác khi vòng đàm phán Tôkyô 1979
thông qua một số “Bộ luật” với những cơ chế giải quyết tranh chấp riêng rẽ,
cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT 1947 với tính thống nhất của nó đã bị
lung lay. Cùng với đó là các tranh chấp thuộc lĩnh vực đầu tư, về vấn đề bảo
hộ quyền sở hữu trí tuệ, về thương mại dịch vụ…không thuộc thẩm quyền của
GATT và việc giải quyết tranh chấp đó bên ngoài hệ thống thương mại đa
phương nhiều khi dẫn đến biện pháp trừng phạt đơn phương đối với các nước
đang phát triển. Chính vì những hạn chế trên nên cần có một cơ chế giải quyết
tranh chấp mới phù hợp hơn, nên cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO ra
đời là sự kế thừa và khắc phục hạn chế của GATT 1947.
Đầu tiên, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được thể hiện ở những
quyết định và thỏa thuận quan trọng trước vòng Urugoay gồm: Quyết định
ngày 05/4/1966 về các thủ tục theo Điều XXIII; Thỏa thuận về thông báo
tham vấn, giải quyết tranh chấp và giám sát, được thông qua ngày
28/11/1979; Quyết định về giải quyết tranh chấp trong Tuyên bố ngày
29/11/1982; Quyết định về giải quyết tranh chấp ngày 30/11/1984.
Vòng đàm phán Urugoay diễn ra từ năm 1986 đến năm 1994, trong đó

quan trọng vào năm 1989, các thành viên WTO đã thỏa thuận một số quy
định về cải thiện chế định giải quyết tranh chấp thương mại theo hướng:
- Thừa nhận quyền của Panels trong tố tụng
- Thông qua gần như là tự động (the Quasi-automatic adoption) các vấn
đề như yêu cầu thành lập Panels, Báo cáo giải quyết tranh chấp và các
yêu cầu cho phép dừng thực thi nhượng bộ.
7
- Quy định khung thời hạn chặt chẽ về các giai đoạn, các bước khác nhau
của quy trình giải quyết tranh chấp.
- Có khả năng xử phúc thẩm lại Báo cáo của Panels.
Thỏa thuận về các quy tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp, được thông
qua tại vòng đàm phán Urugoay, đã cho ra đời một cơ chế giải quyết tranh
chấp có hiệu quả hơn hẳn những cơ chế cũ. Ngoài Thỏa thuận về các quy tắc
và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp (DSU)-Phụ lục 2 hiệp định
Marrakesh thành lập WTO cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO còn có một
số quy định được quy định ở một số văn bản khác như:
- Điều XXII và XXIII GATT 1947(Điều 3.1 DSU)
- Các quy tắc và thủ tục chuyên biệt hoặc bổ sung về giải quyết tranh
chấp tại các hiệp định trong khuôn khổ WTO (Chẳng hạn như: Điều
11.2 Hiệp định về các Biện pháp Kiểm dịch thực vật; Điều 17.4 đến
17.7 GATT 1994…)
- Quyết định về các thủ tục giải quyết tranh chấp đặc biệt GATT 1966
bao gồm các quy tắc áp dụng cho việc giải quyết tranh chấp giữa một nước
kém phát triển và một nước phát triển (Điều 3.12 DSU), và các thủ tục đặc
biệt áp dụng cho tranh chấp có một bên là nước kém phát triển nhất.
Mục tiêu của cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO là: “Nhằm đạt
được một giải pháp tích cực cho tranh chấp và ưu tiên những giải pháp được
các bên tranh chấp cùng chấp thuận và phù hợp với các Hiệp định liên
quan”[ 11 ]. Từ khi ra đời đến nay cơ chế giải quyết tranh chấp mới này đã
cho thấy ưu thế của mình trong việc giải quyết hiệu quả các tranh chấp giữa

các quốc gia trong khuôn khổ WTO. Bởi cơ chế này dựa trên hệ thống các
quy định hết sức chặt chẽ về thủ tục, cơ chế thông qua quyết định và các cơ
quan chuyên môn độc lập…Sự ra đời của WTO cùng với cơ chế giải quyết
tranh chấp đã khắc phục được các điểm yếu, thiếu sót của GATT 1947. Cơ
chế giải quyết tranh chấp của GATT rất đơn giản, nó chỉ là các quy định riêng
8
lẻ, không có tính hệ thống như với cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO. Cơ
chế giải quyết tranh chấp của WTO đã thay nguyên tắc đồng thuận thông qua
bằng nguyên tắc đồng thuận phủ quyết. Đã có quy định cụ thể rõ ràng về thời
gian giải quyết tranh chấp của từng bước, không còn quy định chung chung
như đối với GATT…
2.2. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế của WTO
Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO là một bộ phận trong tổ chức và
hoạt động của nó. WTO tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc, bởi vì
vậy hoạt động giải quyết tranh chấp theo cơ chế giải quyết tranh chấp của
WTO phải tuân theo những nguyên tắc chung. Đó là các nguyên tắc: Nguyên
tắc không phân biệt đối xử, nguyên tắc công khai và thúc đẩy cạnh tranh lành
mạnh, nguyên tắc bảo hộ thông qua thuế quan, nguyên tắc tiếp cận thị trường,
nguyên tắc bảo hộ phòng ngừa bất trắc. Các nguyên tắc này chi phối đến toàn
bộ quá trình giải quyết tranh chấp của WTO. Đặc biệt là nguyên tắc không
phân biệt đối xử, nguyên tắc công khai…đây là những nguyên tắc mang tính
nền móng của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO.
Ngoài các nguyên tắc chung như trên, Cơ chế giải quyết tranh chấp của
WTO còn ghi nhận các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, nguyên tắc bình đẳng giữa các thành viên tranh chấp. Theo
nguyên tắc này các nước thành viên tranh chấp dù là nước lớn hay nước nhỏ,
phát triển hay chậm phát triển đều bình đẳng với nhau trong việc giải quyết
tranh chấp phát sinh. Nguyên tắc này chi phối mọi giai đoạn của quá trình giải
quyết tranh chấp. Thực hiện nguyên tắc này đảm bảo cho tất cả các nước có
thể giải quyết bằng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, dù có sự khác

nhau về tiềm lực. Nguyên tắc bình đẳng cũng chi phối hoạt động của các cơ
quan giải quyết tranh chấp, thành viên của các cơ quan này đưa ra ý kiến,
quan điểm về các vấn đề cần giải quyết, không thiên vị hay phụ thuộc bất kì
nước nào hay tổ chức nào.
9
Thứ hai, là nguyên tắc bí mật. Nguyên tắc này thể hiện trong các cuộc
họp của Ban hội thẩm, Cơ quan phúc thẩm là các cuộc họp kín, không công
khai, chỉ mời tham dự khi cần thiết. Như vậy, nội dung của các cuộc họp này
là bí mật đối với các nước thành viên khác. Nội dung tham vấn giữa các thành
viên tranh chấp không được thông báo cho bất kì bên thứ ba nào. Trong việc
giải quyết tranh chấp, nếu các bên không công khai các thông tin thì các thông
tin vụ tranh chấp hoàn toàn bí mật đối với bên thứ ba…
Thứ ba, nguyên tắc đồng thuận phủ quyết. Mọi quyết định của các cơ
quan giải quyết tranh chấp của WTO đều dựa trên nguyên tắc đồng thuận phủ
quyết. Điều này có ý nghĩa là, chỉ khi tất cả thành viên bỏ phiếu chống thì
quyết định đó mới không được thông qua. Do vậy các quyết định giải quyết
tranh chấp của WTO thường được thông qua một cách tự động. Điều này có ý
nghĩ lớn cho các phán quyết của WTO.
Thứ tư, nguyên tắc đối xử ưu đãi với các thành viên đang phát triển và
chậm phát triển. Sự ưu đãi này thể hiện qua sự hỗ trợ về mặt pháp lý cho các
nước này, có thể kéo dài một số thời hạn trong quá trình giải quyết tranh chấp
và tình hình kinh tế của các nước này được chú ý trong quá trình giải quyết
tranh chấp. Nguyên tắc này thể hiện sự quan tâm của WTO đối với các nước
có tiềm lực kinh tế yếu, để cho các nước này có thể tham gia vào cơ chế này.
Như vậy khi giải quyết tranh chấp theo cơ chế giải quyết tranh chấp của
WTO thì các bên phải tuân theo đầy đủ các nguyên tắc chung và cả các
nguyên tắc riêng điều chỉnh.
2.3. Quy định cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế của WTO
2.3.1. Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO
a. Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB)

Đây không phải là một cơ quan chuyên biệt của WTO để giải quyết tranh
chấp mà chính là Đại hội đồng của WTO. Điều IV.3 Hiệp định WTO quy
10
định: “Khi cần thiết Đại hội đồng sẽ được triệu tập để đảm nhiệm phần trách
nhiệm của cơ quan giải quyết tranh chấp được quy định trong thỏa thuận về
các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp”. Đại hội đồng
WTO vừa là cơ quan thường trực của WTO, vừa là cơ quan giải quyết tranh
chấp của WTO. Thành viên của Hội đồng chung đồng thời cũng là thành viên
của DSB.
DSB thực hiện nhiệm vụ theo DSU, có thẩm quyền thành lập Ban hội
thẩm để giải quyết từng tranh chấp cụ thể khi có yêu cầu, thành lập và giám
sát hoạt động của Cơ quan phúc thẩm thông qua các báo cáo của Ban hội
thẩm và Cơ quan phúc thẩm; Giám sát và đảm bảo thực thi các phán quyết và
khuyến nghị của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm bằng cách cho phép áp
dụng các biện pháp trả đũa, đình chỉ thi hành những nhượng bộ và các nghĩa
vụ khác theo các hiệp định có liên quan; Thông báo các Hội đồng và Ủy ban
có liên quan của WTO về những diễn biến tranh chấp có liên quan đến các
hiệp định thuộc diện điều chỉnh của WTO (Điều 2.1 DSU). Họp thường kì 1
tháng 1 lần nhưng có thể họp đặc biệt khi 1 thành viên đề nghị. DSB ra quyết
định dựa trên nguyên tắc đồng thuận. Chủ tịch DSB là một trong những đại sứ
tại Geneva – người đứng đầu phái đoàn đại diện thường trú của một thành
viên ở WTO (Điều IV.3 WTO), được bổ nhiệm theo nguyên tắc đồng thuận.
Có chức năng thông báo tin tức cho các thành viên… DSB còn được hỗ trợ
của Tổng giám đốc và Ban thư kí WTO.
DSB là cơ quan thông qua quyết định chứ không trực tiếp thực hiện việc
xem xét giải quyết tranh chấp. DSB chỉ tham gia vào giai đoạn đầu là thành
lập Ban hội thẩm và giai đoạn cuối là thông báo các báo cáo, kết luận về giải
quyết vụ việc. Quyết định được USB thông qua sẽ có hiệu lực và đảm bảo
thi hành.
Bên cạnh đó thì Tổng giám đốc WTO và Ban thư kí WTO cũng là cơ

quan hỗ trợ giải quyết tranh chấp. Tổng giám đốc WTO, trong phạm vi khả
11
năng của mình, đưa ra sáng kiến về việc sẽ làm người môi giới, người hòa
giải hoặc trung gian nhằm giúp các thành viên giải quyết tranh chấp (Điều 5.6
DSU, 24.2 DSU, 21.3 DSU…).
Ban thư kí WTO có trách nhiệm giúp Ban hội thẩm đặc biệt về các khía
cạnh pháp lý, lịch sử và thủ tục của các vấn đề đang được xử lý, và hỗ trợ kĩ
thuật cũng như công việc thư ký. Ngoài ra Ban thư ký còn có nhiệm vụ giúp
đỡ các bên tranh chấp về mặt pháp lý, đặc biệt là các nước đang phát triển.
b. Ban hội thẩm
Ban hội thẩm do DSB thành lập theo thủ tục quy định tại điều 6 và Điều
9.1 DSU. Thành phần Ban hội thẩm được quy định tại Điều 8.5 DSU. Ban hội
thẩm bao gồm ba hội thẩm viên, trừ khi các bên tranh chấp thỏa thuận một
ban hội thẩm gồm năm thành viên có nhiệm vụ xem xét một vấn đề cụ thể bị
tranh chấp trên cơ sở các quy định WTO được quốc gia nguyên đơn viện dẫn.
Các hội thẩm viên sẽ được chọn lựa nhằm đảm bảo sự độc lập của Ban hội
thẩm, có kiến thức, phạm vi kinh nghiệm rộng. Họ được lựa chọn trong số các
quan chức chính phủ hoặc các chuyên gia phi chính phủ, không có quốc tịch
của một bên tranh chấp hoặc của một nước cùng là thành viên trong một liên
minh thuế quan hoặc thị trường chung với một trong các nước tranh chấp.
Chức năng của Ban hội thẩm là hỗ trợ DSB trong việc giải quyết tranh
chấp. Ban hội thẩm sẽ là người đánh giá một cách khách quan về các vấn đề
tranh chấp, tiến hành điều tra, tham vấn đối với các bên tranh chấp. Trên thực
tế thì đây là cơ quan trực tiếp giải quyết tranh chấp, mặc dù không nắm quyền
quyết định. Bởi vì kết quả làm việc của Ban hội thẩm là một báo cáo trình lên
DSB. Báo cáo này được DSB thông qua thì được coi là phán quyết có hiệu
lực pháp lý ràng buộc các bên tranh chấp
c. Cơ quan phúc thẩm
Cơ quan phúc thẩm là cơ quan thường trực của DSB đây là một thiết chế
mới trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO. Cơ quan này gồm 7 thành

12
viên, mỗi vụ việc sẽ do 3 thành viên đảm nhiệm. DSB sẽ chỉ định người làm
việc trong cơ quan phúc thẩm với nhiệm kì 4 năm, mỗi người có thể được tái
bổ nhiệm một lần. Thành viên Cơ quan phúc thẩm bao gồm những người có
uy tín, kinh nghiệm chuyên môn về pháp luật thương mại quốc tế, cũng như
những nội dung của hiệp định có liên quan. Họ sẽ làm việc độc lập và không
được liên kết với chính phủ nào.
Cơ quan phúc thẩm xem xét lại báo cáo của Ban hội thẩm. Theo quy
định của DSB, các bên tranh chấp có quyền đề nghị Cơ quan phúc thẩm xem
xét lại báo cáo của Ban hội thẩm. Khi giải quyết kháng cáo Cơ quan phúc
thẩm chỉ xem xét lại các khía cạnh pháp lý và giải thích pháp luật trong báo
cáo của ban hội thẩm chứ không điều tra lại các yếu tố thực tiễn của tranh
chấp. Kết quả làm việc của Cơ quan phúc thẩm là một báo cáo, trong đó cơ
quan này có thể giữ nguyên, sửa đổi hoặc đảo ngược lại các kết luận trong
báo cáo của Ban hội thẩm. Báo cáo của Cơ quan phúc thẩm được thông qua
tại DSB và không thể bị phản đối hay khiếu nại tiếp. Như vậy hoạt động của
Cơ quan phúc thẩm có thể coi như là cấp xét xử thứ hai trong hệ thống tố tụng
hai cấp xét xử.
Ngoài các cơ quan chính trên thì còn có một số cơ quan khác như: Trọng
tài viên, Trọng tài viên có thể tham gia với tư cách cá nhân hoặc nhóm để xét
xử vấn đề nào đó ở một vài giai đoạn của quá trình giải quyết tranh chấp. Sử
dụng Trọng tài là một hình thức thay thế cho việc giải quyết tranh chấp của
Ban hội thẩm hoặc Cơ quan phúc thẩm. Khác với kết quả giải quyết tranh
chấp của Ban hội thẩm là có thể bị kháng cáo thì kết quả giải quyết của Trọng
tài không bị kháng cáo nhưng được thực hiện thông qua DSU (Điều 21 và
22 DSU)
Nhóm chuyên gia, DSU cho phép Ban hội thẩm tìm kiếm thông tin và tư
vấn kĩ thuật từ Nhóm chuyên gia đối với những vụ việc phức tạp mang tính kĩ
thuật hoặc khoa học. Có những trường hợp Ban hội thẩm không thành lập
13

Nhóm chuyên gia mà sử dụng đến các Chuyên gia. Các Chuyên gia này sẽ
hoạt động trên cơ sở cá nhân. Có trường hợp Ban hội thẩm tìm kiếm thông tin
và tư vấn của Chuyên gia là sự hỗ trợ không bắt buộc, nhưng có những trường
hợp Ban hội thẩm phải bắt buộc lấy ý kiến của Chuyên gia như: Khi giải
quyết tranh chấp liên quan đến hiệp định: Điều 11.2 trong hiệp định về các
biện pháp kiểm định dịch động vật; Điều 14.2 và 14.3 và phụ lục II trong
Hiệp định về việc thực hiện Điều VII của GATT 1947; Điều 4.5 và 24.3 Hiệp
định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (hiệp định SCM).
2.3.2. Các bên tranh chấp và bên thứ ba
Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO chỉ mang tính chất nội bộ của
WTO. Điều này có nghĩa là việc tiếp cận với cơ chế giải quyết tranh chấp của
WTO chỉ giới hạn đối với các thành viên của WTO. Nó không cho phép các
chủ thể không phải là thành viên của WTO tham gia. Chỉ có các thành viên
WTO mới có thể trở thành một bên trong vụ tranh chấp, hoặc là bên thứ ba
(bên thông báo cho cơ quan DSB là họ có lợi ích liên quan đến vụ tranh chấp
đó).
Các chủ thể không phải là thành viên của WTO có thể đệ trình ý kiến
ngắn của mình cho Ban hội thẩm hoặc Cơ quan phúc thẩm về việc có sự vi
phạm hay có lợi ích bị xâm phạm theo hình thức Amicus Curiae (tiếng la tinh
là bạn của tòa án). Ban hội thẩm hoặc Cơ quan phúc thẩm có quyền nhận hoặc
không nhận ý kiến ngắn này. Tức là ý kiến này chỉ mang tính chất thông báo
cho biết về sự vi phạm hay lợi ích bị xâm phạm chứ các cơ quan này không
có trách nhiệm giải quyết vì ý kiến này không phải của các bên hoặc bên thứ
ba.
2.4. Phạm vi đối tượng tranh chấp
Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được xem là hiệu quả nhất đối
với các tranh chấp quốc tế hiện nay, nhưng không phải tranh chấp nào cũng
có thể áp dụng cơ chế giải quyết này. Các tranh chấp thuộc phạm vi giải quyết
14
tranh chấp của WTO phải thỏa mãn các điều kiện về chủ thể và nội dung

tranh chấp.
Về chủ thể của tranh chấp thì cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO chỉ
giải quyết tranh chấp giữa các thành viên WTO. Như vậy chỉ có các thành
viên của WTO mới có thể trở thành các bên tham gia vào quá trình giải quyết
tranh chấp với tư cách là bên tranh chấp hay bên thứ ba. Các chủ thể khác
không phải là thành viên của WTO không thể khiếu kiện giải quyết tranh chấp
theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO.
Về nội dung tranh chấp thì các tranh chấp có thể phát sinh khi lợi ích
trực tiếp hoặc gián tiếp của các thành viên bị đe dọa hoặc bị mất do một thành
viên khác vi phạm các cam kết của các Hiệp định thương mại WTO, do đã áp
dụng các biện pháp, chính sách (có thể phù hợp hoặc không phù hợp với các
biện pháp của WTO hoặc do việc xuất hiện một tình huống nào đó trong quan
hệ kinh tế quốc tế thuộc phạm vi thẩm quyền giải quyết tranh chấp của
WTO). Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO áp dụng đối với các tranh
chấp được đưa ra trong khuôn khổ các Hiệp định của WTO được liệt kê tại
phục lục 1 của DSU (Điều 1.1 DSU). Trong DSU, những hiệp định này được
nhắc đến như là các Hiệp định điều chỉnh. Bản thân DSU và các Hiệp định
này cũng nằm trong số các Hiệp định điều chỉnh.
2.5. Trình tự và thời hạn giải quyết tranh chấp của WTO.
Mục đích của giải quyết tranh chấp là giải quyết dứt điểm tranh chấp. Để
giải quyết các bên tranh chấp nên lựa chọn một trong các biện pháp như:
Thương lượng, trung gian hay hòa giải, chỉ khi các biện pháp này không
mang lại kết quả thì mới nên sử dụng đến cơ chế giải quyết tranh chấp của
WTO. Bởi khi sử dụng các biện pháp thương lượng, trung gian hay hòa giải,
thì các bên tranh chấp ngồi với nhau trao đổi nên có thể giải quyết dứt điểm
tranh chấp mà vẫn giữ được mối quan hệ. Khi đã gửi đơn kiện đến cơ quan
15
giải quyết tranh chấp của WTO thì trình tự giải quyết tranh chấp của WTO cơ
bản có 3 bước đó là tham vấn, xét xử của Ban hội thẩm hoặc cơ quan phúc
thẩm (xét xử), thực thi phán quyết trong bước thực thi phán quyết thì có thể

áp dụng các biện pháp trả đũa nếu như bên thua kiện không thực thi phán
quyết.
Tham vấn được xem là bước đầu tiên của quá trình giải quyết tranh chấp
theo cơ chế của WTO, nhưng trước đó các bên có thể thương lượng, trung
gian hay hòa giải. Tham vấn cũng được xem là một bước để cho các bên gặp
gỡ để trao đổi, tháo gỡ bất đồng giống thương lượng, trung gian hay hòa giải
chứ không phải là xét xử nhưng có khác đó là do WTO tiến hành. Trước hết
bên khiếu nại phải đưa ra yêu cầu tham vấn bên kia, việc tham vấn được tiến
hành bí mật. Bên được đề nghị tham vấn phải trả lời trong vòng 10 ngày và
phải tiến hành tham vấn trong vòng 30 ngày kể từ khi được yêu cầu (trong
trường hợp khẩn cấp thì thời hạn là 10 và 20 ngày). Trong vòng 60 ngày mà
các cuộc tham vấn bắt buộc cũng không mang lại một giải pháp thỏa đáng cho
các bên và các bên không thể áp dụng các biện pháp hòa bình để khác giải
quyết tranh chấp thì khiếu kiện có thể được đề nghị xét xử thông qua Ban hội
thẩm. Bởi vì xét xử chỉ là cách thức cuối cùng khi không thể áp dụng biện
pháp giải quyết khác.
Giai đoạn giải quyết tranh chấp tại Ban hội thẩm, khi các bên không thể
giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hòa giải, tham vấn hay trọng tài thì
các bên có quyền đưa tranh chấp đó lên DSB. Cơ quan này ra quyết định
thành lập Ban hội thẩm để nghiên cứu đánh giá toàn bộ nội dung vụ tranh
chấp. Từ đó Ban hội thẩm sẽ đưa ra ý kiến và đệ trình lên DSB để thông qua.
Ban hội thẩm sẽ được thành lập trong trường hợp: Sau 60 ngày kể từ khi bên
bị kiện nhận được đề nghị tham vấn hoặc bên khiếu kiện không tôn trọng thời
hạn trả lời đề nghị tham vấn hoặc các bên cảm thấy rằng tham vấn không giải
quyết được tranh chấp. Đề nghị thành lập Ban hội thẩm mở đầu cho quá trình
16
xét xử vụ tranh chấp. Đề nghị thành lập Ban hội thẩm phải được trình trước
cuộc họp của DSB ít nhất là 11 ngày. Ban hội thẩm phải bắt đầu công việc
giải quyết tranh chấp chậm nhất là một tuần sau khi thành lập và hoàn thành
công việc trong vòng 6 tháng hoặc trong trường hợp khẩn cấp là 3 tháng và có

thể gia hạn nhưng không được gia hạn quá 3 tháng. Sau phiên xét xử thứ hai
Ban hội thẩm phải đưa ra báo cáo tạm thời (mô tả vụ việc, các lập luận, kết
luận của Ban hội thẩm). Các bên có thể cho ý kiến về Báo cáo này. Nếu có
yêu cầu Ban hội thẩm sẽ tổ chức một phiên họp bổ sung để xem xét lại tổng
thể các vấn đề liên quan, sau đó Ban hội thẩm sẽ soạn thảo Báo cáo chính
thức để gửi đến tất cả các thành viên của WTO và chuyển cho DSB thông
qua. Báo cáo của Ban hội thẩm được lập thành văn bản trong đó phải có các
nội dung: Trình bày các tình tiết thực tế của vụ việc, tường trình về việc áp
dụng các quy định của WTO đối với các vấn đề liên quan, kết luận và các
khuyến nghị cùng với các căn cứ dẫn đến kết luận và khuyến nghị đó. Báo
cáo của Ban hội thẩm được USB thông qua trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày
Báo cáo được chuyển cho các thành viên, trừ khi một bên tranh chấp quyết
định kháng cáo hoặc DSB đồng thuận phủ quyết kháng cáo.
Giai đoạn xét xử ở cấp phúc thẩm, nếu một trong các bên không chấp
nhận Báo cáo của Ban hội thẩm và chấp nhận xét xử ở cấp phúc thẩm hoặc
DSB không đưa ra được phán quyết thì có thể yêu cầu phúc thẩm. Khi có đề
nghị xem xét phúc thẩm, Cơ quan phúc thẩm thường trực sẽ lập ra một nhóm
phúc thẩm riêng biệt gồm 3 thành viên để xem xét. Kết quả làm việc của cơ
quan phúc thẩm là một Báo cáo trình lên DSB thông qua. DSB thông qua Báo
cáo của Cơ quan phúc thẩm sẽ là quyết định cuối cùng. Cơ quan phúc thẩm ra
Báo cáo trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày kháng cáo (trong trường hợp có
yêu cầu gia hạn thì có thể kéo dài thêm 30 ngày nữa nhưng phải thông báo lý
do cho DSB biết). Báo cáo này có thể giữ nguyên hoặc sửa đổi hoặc loại bỏ
các vấn đề và kết luận pháp lý của Ban hội thẩm. DSB thông qua Báo cáo của
17
Cơ quan phúc thẩm trong thời hạn 30 ngày kể từ khi Báo cáo của Cơ quan
phúc thẩm được chuyển đến tất cả các thành viên, trừ khi DSB đồng thuận
phủ quyết.
Khi Báo cáo được thông qua xác định một biện pháp của một Bên là vi
phạm các quy định của WTO, cơ quan ra Báo cáo phải đưa ra khuyến nghị

nhằm buộc bên vi phạm phải tuân thủ quy định của WTO (yêu cầu bị đơn rút
lại hoặc sửa đổi các biện pháp liên quan) và có thể đưa ra các gợi ý (không bắt
buộc) về cách thức thực hiện khuyến nghị đó. Trường hợp khiếu kiện không
vi phạm, bên thua kiện không phải rút lại biện pháp liên quan (vì không có vi
phạm) nhưng Báo cáo có thể khuyến nghị bên thua kiện thực hiện các dàn xếp
nhất định để thỏa mãn các bên liên quan (Báo cáo có thể đưa ra những gợi ý
về biện pháp dàn xếp thỏa đáng…)
Giai đoạn thực thi phán quyết, quyết định giải quyết tranh chấp của DSB
được đưa ra các bên có nghĩa vụ thực hiện. Bên thua kiện có nghĩa vụ bãi bỏ
các quy định hoặc chấm dứt áp dụng các biện pháp mà Ban hội thẩm kết luận
là vi phạm điều khoản trong các hiệp định của WTO. Trong cơ chế giải quyết
tranh chấp của WTO có một cơ chế theo dõi và giám sát việc thực hiện quyết
định. Trong vòng 30 ngày kể từ ngày có quyết định của DSB bên thua kiện
phải thông báo cho DSB biết những biện pháp mà nước này dự định áp dụng
để thực hiện khuyến nghị của Ban hội thẩm. DSB có thể cho phép nước này
được thực hiện trong thời gian hợp lý (thời hạn này do DSB quyết định trên
cơ sở đề nghị của các bên hoặc do các bên tranh chấp thỏa thuận trong thời
hạn 45 ngày kể từ ngày thông qua khuyến nghị; hoặc theo phán quyết của
Trọng tài tiến hành trong vòng 90 ngày kể từ ngày thông qua khuyến nghị).
Nếu như bên thua kiện vẫn không thể thực hiện khuyến nghị trong thời gian
đó, thì nước này có nghĩa vụ thương lượng với bên thắng kiện về mức độ bồi
thường thiệt hại. Nếu sau 20 ngày kể từ ngày chấm dứt thời hạn hợp lý các
bên không đạt được thỏa thuận về mức bồi thường thì bên thắng kiện có thể
18
yêu cầu DSB cho phép trả đũa. Biện pháp trả đũa là một phần nằm trong thực
thi phán quyết nó được áp dụng cho đến khi có một giải pháp hợp lý cho tranh
chấp. WTO nghiêm cấm việc trả đũa đơn phương mà không có sự chấp thuận
của cơ quan này. Mức độ và thời hạn trả đũa do cơ quan giải quyết tranh chấp
DSB quyết định căn cứ trên thủ tục quy định về các vấn đề này trong Quy tắc
giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO.

Một vụ tranh chấp có thể phức tạp nhưng tổng thời gian giải quyết tranh
chấp là một năm nếu bản báo cáo không bị kháng cáo, là một năm ba tháng
nếu bản báo cáo bị kháng cáo.
Kết luận chương 1
Qua chương 1 chúng ta có thể thấy một cách rõ nét về cơ chế giải quyết
tranh chấp của WTO. Chương 1 đã khái quát một cách chi tiết về tranh chấp
thương mại quốc tế, cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại của WTO. Cũng
như lịch sử hình thành và phát triển của cơ chế giải quyết tranh chấp của
WTO. Các nguyên tắc phải tuân thủ khi giải quyết tranh chấp. Bên cạnh đó
chương 1 cũng chỉ ra các cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO cũng như
thủ tục giải quyết tranh chấp.
19
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA WTO VỀ VẤN ĐỀ GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG
PHÁT TRIỂN.
1. Những quy định đối với Thỏa thuận về các quy tắc và thủ tục giải
quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO (DSU-Dispute Settlement
Understanding) có liên quan đến các nước đang phát triển.
WTO quy định rất cụ thể các quy định dành cho các nước đang phát triển
như: Trong giai đoạn tham vấn Điều 4.10 DSU quy định “Trong khi tham vấn
các thành viên phải đặc biệt chú ý đến những vấn đề và quyền lợi cụ thể của
các nước thành viên là nước đang phát triển”. Trong suốt quá trình tham vấn
các nước thành viên phát triển phải chú ý tới Điều này được hiểu là những
khó khăn về kinh tế thương mại của nước thành viên đang phát triển sẽ được
các nước thành viên phát triển chú ý tới trong suốt quá trình tham vấn. Đồng
thời trong quá trình nếu đối tượng của tham vấn là vấn đề liên quan đến biện
pháp do một thành viên là nước đang phát triển tiến hành, thì các bên có thể
đồng ý kéo dài thời hạn tham vấn thông thường. Sau khi hết thời hạn, nếu
việc tham vấn giữa các bên thất bại, chủ tịch DSB có thể kéo dài thời hạn
tham vấn (Điều 12.10 DSU).

Trong giai đoạn giải quyết tranh chấp tại Ban hội thẩm, DSU quy định
khi xảy ra tranh chấp giữa một thành viên phát triển và một thành viên đang
phát triển, nếu có yêu cầu của nước đang phát triển thì ban hội thẩm sẽ có ít
nhất một thành viên đến từ nước đang phát triển (Điều 8.10 DSU). Điều này
thể hiện nếu trong vụ tranh chấp có một bên là nước phát triển và một bên là
20
một nước đang phát triển thì thành viên của Ban hội thẩm sẽ có ít nhất là một
nước đang phát triển. Vì nước phát triển có thể hiểu được tình hình cũng như
có thể đặt vị trí của mình vào vị trí của nước đang phát triển là một bên
tranh chấp.
Trong khi xem xét đơn kiện đối với một thành viên đang phát triển, Ban
hội thẩm sẽ tạo đủ thời gian cho thành viên đang phát triển chuẩn bị và trình
bày lập luận của mình. Tuy nhiên, việc này không được làm ảnh hưởng đến
toàn bộ thời gian dành cho Ban hội thẩm để hoàn tất quá trình giải quyết tranh
chấp (Điều 12.10 DSU).
Khi một bên tranh chấp là nước đang phát triển viện dẫn quy định về đối
xử đặc biệt và phân biệt trong các hiệp định của WTO, Ban hội thẩm chỉ ra
một cách rõ ràng trong báo cáo của mình (Điều 12.11 DSU).
Trong giai đoạn thực thi, việc giám sát thực hiện các khuyến nghị và
phán quyết cần đặc biệt chú ý đến các vấn đề đã và đang là nội dung của vụ
tranh chấp ảnh hưởng đến lợi ích của các nước thành viên là các nước đang
phát triển (Điều 21.2 DSU). Nếu vấn đề được thành viên đang phát triển đưa
ra, thì DSB phải xem xét để có hành động tiếp theo phù hợp với các tình tiết
(Điều 21.7 DSU). Nếu tranh chấp do thành viên đang phát triển đưa ra, thì khi
cân nhắc biện pháp thích hợp có thể được áp dụng thì DSB không chỉ cân
nhắc phạm vi áp dụng về thương mại của các biện pháp bị khiếu nại. Mà có
cả những ảnh hưởng của chúng tới nền kinh tế của các nước thành viên đang
phát triển có liên quan (Điều 21.8 DSU).
Thủ tục đặc biệt theo yêu cầu của một nước đang phát triển Điều 3.12
DSU quy định: “Nếu một đơn kiện dựa trên bất kì một hiệp định có liên quan

nào được một thành viên đang phát triển khởi kiện chống lại một thành viên
phát triển, thì bên nguyên đơn có quyền viện dẫn như một biện pháp thay thế
cho các quy định của Điều 4, 5, 6 và 12 của thỏa thuận này các điều khoản
21

×