Tải bản đầy đủ (.doc) (95 trang)

mô tả đầu ra của mô hình quản lý, tư vấn, chăm sóc sức khỏe người cao tuổi dựa vào cộng đồng tại xã uy nỗ, huyện đông anh, thành phố hà nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (647.64 KB, 95 trang )

1
TRNG I HC Y H NI
NGUYN TH HIN
HIệU QUả MÔ HìNH QUảN Lý, TƯ VấN, CHĂM SóC
SứC KHỏE NGƯờI CAO TUổI DựA VàO CộNG ĐồNG
TạI Xã UY Nỗ, HUYệN ĐÔNG ANH, THàNH PHố Hà NộI
KHểA LUN TT NGHIP BC S Y KHOA
KHểA 2007-2013
H NI - 2013
B GIO DC V O TO B Y T
2
B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y H NI
NGUYN TH HIN
HIệU QUả MÔ HìNH QUảN Lý, TƯ VấN, CHĂM SóC
SứC KHỏE NGƯờI CAO TUổI DựA VàO CộNG ĐồNG
TạI Xã UY Nỗ, HUYệN ĐÔNG ANH, THàNH PHố Hà NộI
KHểA LUN TT NGHIP BC S Y KHOA
KHểA 2007 - 2013
Ngi hng dn khoa hc:
1. PGS.TS. NGUYN DUY LUT
2. Ths. HONG TRUNG KIấN
H NI - 2013
3
ĐẶT VẤN ĐỀ
Người cao tuổi ở nước ta là lớp người đã có nhiều đóng góp to lớn
trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Với bề dày
kinh nghiệm, chiều sâu trí tuệ, bản lĩnh cách mạng kiên cường, lớp người này
trở thành chỗ dựa vững chắc, tin cậy cho Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Vì
vậy, chăm sóc người cao tuổi là nghĩa vụ, trách nhiệm và để tỏ lòng biết ơn
đến các thế hệ đi trước.


Sự nỗ lực của công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình cùng với những
tiến bộ trong y học đã và đang nâng dần tuổi thọ của con người, thêm vào đó
tỷ lệ sinh giảm kéo theo sự già hóa dân số là điều không thể tránh khỏi. Theo
Liên hợp quốc, ước tính số người cao tuổi trên thế giới sẽ tăng từ 10% dân số
năm 2010 lên 23% năm 2050. Năm 2002, cứ 10 người dân thì có 1 người cao
tuổi, ước tính đến năm 2050 cứ 5 người có 1 người cao tuổi [41]. Việt Nam
cũng không nằm ngoài quy luật này, số lượng người cao tuổi tuyệt đối năm
2011 là 8,65 triệu người (chiếm 9,9% dân số), ước tính đến năm 2020, tỷ lệ
này sẽ lên khoảng 18% và năm 2050 là 22% [5]. Như vậy, người cao tuổi
đang dần chiếm một vị trí không nhỏ trong cơ cấu dân số nước ta.
Ở Việt Nam, cuộc sống của người cao tuổi gặp rất nhiều khó khăn và vất
vả. Chỉ khoảng 30% người cao tuổi có chế độ hưởng trợ cấp hưu trí hoặc mất
sức, 70% còn lại sống chủ yếu vào sức lao động già yếu của chính mình [14].
Nhu cầu được chăm sóc sức khỏe ở người cao tuổi nước ta ngày càng cao nhất
là trong điều kiện môi trường sinh hoạt hiện nay. Do quá trình lão hóa nên sức
đề kháng và khả năng tự điều chỉnh giảm, người cao tuổi phải đối mặt với
nhiều bệnh tật phát sinh. Bệnh ở người cao tuổi thường là bệnh mãn tính, âm
thầm khó phát hiện và khi chẩn đoán ra thường ở giai đoạn muộn, điều trị và
4
phục hồi khó khăn. Hạn chế quá trình lão hóa và bệnh tật giúp người cao tuổi
sống vui, sống khỏe, sống có ích là ước vọng ngàn đời của con người.
Trên thế giới nói chung, ở Việt Nam nói riêng, một số mô hình quản lý
và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đã được nghiên cứu và triển khai. Mỗi
mô hình có những ưu nhược điểm riêng và việc áp dụng vào hoàn cảnh cụ thể
từng địa phương còn phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc
biệt là người cao tuổi sống ở khu vực nông thôn đang trong tiến trình đô thị
hóa, khi mà thói quen, nếp sống đang dần thay đổi. Việc tìm kiếm một mô
hình chăm sóc sức khỏe phù hợp cho người cao tuổi đang được các nhà lãnh
đạo Đảng, Nhà nước hết sức quan tâm.
Đông Anh là một huyện ngoại thành nằm ở phía bắc của thủ đô Hà Nội,

có diện tích 18.230 ha, dân số là 276.750 người. Đây là một vùng đất có bề
dày lịch sử với truyền thống yêu nước và nét đẹp văn hóa. Với những điều
kiện có được, huyện Đông Anh đang từng bước đô thị hóa, hiện đại hóa rất
nhanh, kéo theo đó là quá trình già hóa và số lượng người cao tuổi ngày một
tăng. Câu hỏi đặt ra là mô hình chăm sóc sức khỏe nào phù hợp với người cao
tuổi ở đây? Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hiệu quả mô
hình quản lý, tư vấn, chăm sóc sức khỏe người cao tuổi dựa vào cộng đồng
tại xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội” với mục tiêu:
1. Mô tả đầu ra của mô hình quản lý, tư vấn, chăm sóc sức khỏe
người cao tuổi dựa vào cộng đồng tại xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh,
thành phố Hà Nội.
2. Xác định hiệu quả của mô hình quản lý, tư vấn, chăm sóc sức khỏe
người cao tuổi dựa vào cộng đồng tại xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh,
thành phố Hà Nội.
5
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Khái niệm người cao tuổi
Năm1970, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã thống nhất quy định
rằng những người từ 60 tuổi trở lên được gọi là người cao tuổi và phân loại
như sau [16]:
• 60 - 74 tuổi: Người có tuổi
• 75 - 90 tuổi: Người già
• Trên 90 tuổi: Người già sống lâu
Tuy nhiên việc xác định thế nào là một NCT lại phụ thuộc vào từng
nước do sự khác nhau về tuổi thọ trung bình, tuổi lao động hay tuổi nghỉ hưu.
Hiện nay, một số nước coi những người từ 60 tuổi trở lên là NCT, trong khi
đó một số nước khác lại chọn 65 hoặc hơn [40].
Ở Việt Nam, các nhà Dân số học định nghĩa: Người cao tuổi là những
người trên 60 tuổi không phân biệt nam, nữ [14]. Điều 1 của Pháp lệnh người

cao tuổi Việt Nam năm 2000 quy định người cao tuổi là “Công dân nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ 60 tuổi trở lên” [34].
1.2. Tình hình người cao tuổi trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Người cao tuổi trên thế giới
Trên thế giới, người cao tuổi phân bố không đồng đều giữa các quốc
gia và khu vực. Tỷ lệ người cao tuổi cao nhất ở các nước đã phát triển nhưng
số lượng người cao tuổi nhiều nhất lại tập trung ở các nước đang phát triển.
Năm 2010, trong số 759 triệu NCT, có tới 493,4 triệu người đang sống ở các
nước nghèo, chiếm tới 65% NCT của thế giới [5]. Liên Hợp Quốc quy ước
rằng, một quốc gia có tỷ lệ người cao tuổi từ 10% trở lên thì quốc gia đó được
gọi là có dân số già. Thời gian để các nước có cùng mức xuất phát về tỷ lệ
6
người cao tuổi đạt ngưỡng dân số già rất khác nhau. Ví dụ: để tỷ lệ NCT từ
7% lên 10% (từ giai đoạn “già hóa” bước sang ngưỡng “già”) Pháp cần 70
năm, Mỹ cần 35 năm còn Nhật Bản chỉ cần 15 năm [4].
Ở nông thôn và thành thị, tỷ lệ NCT cũng có sự khác biệt, nhất là ở các
nước đang phát triển. Năm 1975, tỷ lệ NCT ở nông thôn chỉ là 7,7% thấp hơn
so với thành thị là 10,1%. Với xu hướng đô thị hóa càng ngày càng tăng trên
toàn cầu, đặc biệt ở các nước đang phát triển, dự báo trong 20 năm tới NCT ở
thành thị sẽ lên tới 318 triệu vượt xa so với nông thôn (khu vực này chỉ còn
257 triệu NCT) [25]. Tại hầu hết các nước đó, phụ nữ chiếm số lượng áp đảo
và tỷ lệ nữ ở NCT cũng cao hơn [12]. Tốc độ già hóa nhanh chóng ở các nước
đang phát triển dẫn tới những thay đổi về cấu trúc và vai trò của gia đình.
Trong quá trình công nghiệp hóa, lớp người trẻ dồn về thành phố để tìm kiếm
công việc để lại ở nông thôn chỉ có NCT và trẻ em, dẫn đến tình trạng NCT
càng ngày càng ít có được sự chăm sóc khi đau ốm tại từ gia đình [5].
Như vậy, khi tiến trình xã hội đang ngày một đi lên, số người trong
nhóm tuổi phụ thuộc tăng lên, số người trong nhóm tuổi lao động giảm đã đặt
ra hàng loạt vấn đề cần giải quyết. Sự tăng trưởng kinh tế phải phù hợp, các
chính sách dân số, phúc lợi, an sinh xã hội cũng cần phải điều chỉnh. Đối với

các nước đang phát triển khi bối cảnh kinh tế xã hội còn thấp thì dân số già thật
sự là một thách thức để đảm bảo được tốt các dịch vụ chăm sóc sức khỏe NCT.
1.2.2. Người cao tuổi ở Việt Nam
Trong 3 thập kỷ qua, dân số Việt Nam đã có những biến đổi mạnh mẽ về
quy mô và cơ cấu tuổi. Tỷ lệ NCT của Việt Nam giai đoạn này tăng lên nhanh
chóng là hệ quả tất yếu của: tỉ suất sinh giảm, tỷ suất chết giảm, tuổi thọ tăng
lên. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam năm 2010 là 73 [33]. Theo số liệu
Tổng điều tra dân số các năm 1989, 1999, 2009 và niên giám thống kê năm
7
2011 tỷ lệ NCT đang tăng dần theo thời gian: 7,2%; 8,1%; 9,0% và 9,9% [26],
[27], [28], [29]. Điều này chứng tỏ dân số Việt Nam đang có xu hướng già hóa.
Nữ hóa tuổi già là một đặc trưng ở nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, trong nhóm 60-69
tuổi là 131, nhóm 70 - 79 tuổi là 149, nhóm trên 80 tuổi là 200 [28]. Tỷ lệ nữ
giới trong nhóm người cao tuổi ngày càng tăng đặt ra rất nhiều yêu cầu về
chính sách trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi do phụ nữ dễ bị tổn
thương hơn trước những thay đổi của môi trường sống [33].
Dân số cao tuổi phân bố không đồng đều và rất khác biệt giữa các
vùng miền. Ở Việt Nam, vùng Đồng bằng Sông Hồng, vùng Đông Nam Bộ
có tỷ số giới tính tuổi già thấp nhất, cao nhất là vùng Tây Nguyên và Tây
Bắc [33]. Phần lớn NCT sống ở nông thôn, nơi mà điều kiện kinh tế cũng
như khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội còn nhiều khó khăn. Năm 2011, có
72,9% NCT Việt Nam sống ở nông thôn [29]. Trong số người cao tuổi, chỉ
có khoảng 6 - 17% hưởng lương hưu hoặc mất sức, hơn 10% các cụ hưởng
trợ cấp người có công với nước. Như vậy trên 70% người cao tuổi sống chủ
yếu bằng sự nỗ lực của bản thân, không ít người trong số họ có cuộc sống và
kinh tế khó khăn [4]. Cùng với tiến trình công nghiệp hóa, đất ruộng ở nông
thôn thu hẹp dần, thu nhập của người cao tuổi cũng ít dần. Thực tế này đòi
hỏi những chính sách ưu đãi đối với người cao tuổi nhất là ở vùng nông thôn
đang trong quá trình công nghiệp hóa.

Dự báo năm 2014, Việt Nam sẽ chính thức chuyển thành nước có cấu
trúc dân số già. Dự tính đến năm 2020, tỷ lệ NCT trong cơ cấu dân số sẽ lên
khoảng 18% và năm 2050 là 22% (tăng 4,4 lần so với hiện nay). Bốn mươi năm
8
nữa gần ¼ dân số nước ta ở độ tuổi 65 trở lên.Với dự kiến này và đặc điểm về
NCT, dân số già đang trở thành một thách thức lớn đối với Việt Nam [33].
1.3. Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở người cao tuổi và
khả năng đáp ứng của trạm y tế xã
1.3.1. Nhu cầu chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
1.3.1.1. Già hóa dân số và nhu cầu chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
Già hóa dân số là một dấu hiệu đặc trưng của thời đại. Nó đánh dấu sự
thành công của quá trình chuyển đổi nhân khẩu học với sự kết hợp giảm nhanh,
giảm mạnh mức sinh, mức chết làm thay đổi cơ cấu tuổi dân số và phân bố dân
số của từng nhóm tuổi, tỷ lệ NCT tăng lên trong cơ cấu dân số. Để xem xét đánh
giá vấn đề già hóa dân số, các nhà nhân khẩu học dựa vào các chỉ số như tuổi thọ
trung bình, tỷ lệ dân số 60 tuổi trở lên, 65 tuổi trở lên, tuổi trung vị…[22].
Chỉ số già hóa được tính bằng . Theo Tổ chức Y
tế thế giới (WHO) thì một đất nước có trên 10% người cao tuổi được coi là
một đất nước già hóa dân số [4].
Tốc độ và đặc điểm già hóa của con người không chỉ liên quan đến các
yếu tố bẩm sinh mà còn chịu ảnh hưởng của môi trường xung quanh. Hiện nay,
có nhiều thuyết khác nhau giải thích cơ chế của sự già hóa (thuyết chương trình
hóa, thuyết miễn dịch, thuyết gốc tự do, thuyết Hayflick…). Các thuyết này bổ
sung và có quan hệ hữu cơ với nhau. Đặc điểm chung nhất của sự già hóa là
không cùng một lúc và không cùng tốc độ. Có bộ phận già hóa trước có bộ
phận già hóa sau, có cơ quan già hóa nhanh có cơ quan già hóa chậm [16].
Hiện tượng già hóa dân số có tác động tới tất cả các khía cạnh của đời
sống con người. Trong lĩnh vực kinh tế, già hóa dân số sẽ có ảnh hưởng đến
tăng trưởng kinh tế, tiết kiệm, đầu tư, tiêu dùng, thị trường lao động, lương
hưu, thuế và chuyển giao giữa các thế hệ. Trong lĩnh vực xã hội, già hóa dân

9
số ảnh hưởng đến sức khỏe và chăm sóc sức khỏe, cơ cấu gia đình và sắp xếp
cuộc sống, nhà ở và di cư. Trong lĩnh vực chính trị, già hóa dân số có thể ảnh
hưởng tới xu hướng bầu cử và tính đại diện [34].
Trong cuộc sống, con người ở nhóm tuổi nào cũng có những nhu cầu
chung và nhu cầu đặc thù để đáp ứng những đòi hỏi của cuộc sống cá nhân,
nhóm hoặc cộng đồng phù hợp theo đặc trưng giới tính và độ tuổi của họ. Có
rất nhiều loại nhu cầu trong đó đối với NCT thì nhu cầu được CSSK, nhu cầu
về tinh thần và vật chất là ba loại nhu cầu quan trọng nhất. Theo Đặng Vũ
Cảnh Linh (2009) [14], nhu cầu của NCT ngày càng tăng trong đó nhu cầu về
chăm sóc sức khỏe được đặt lên hàng đầu chiếm 84,4%.
Nhu cầu khám và điều trị giữa 2 khu vực thành thị và nông thôn không
có nhiều khác biệt song ở khu vực nông thôn một tỷ lệ không nhỏ nhu cầu
khám chữa bệnh chưa được đáp ứng [15].
Theo kết quả của Ủy ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam (VNCA)
năm 2007 cho thấy ở giai đoạn 60 - 69 tuổi có 8,37% sức khỏe tốt; 26,82%
sức khỏe yếu, còn lại là trung bình, trong khi đó trên 80 tuổi, số NCT có sức
khỏe tốt chỉ còn 2,23%, sức khỏe yếu lên đến 68,3%. Qua đó, nhận thấy tình
trạng sức khỏe của người cao tuổi phụ thuộc rất nhiều vào tuổi tác, trong đó
tuổi càng tăng thì NCT càng dễ mắc bệnh [33].
Nhu cầu CSSK ở NCT không chỉ đơn thuần là những chăm sóc hằng
ngày như nuôi dưỡng, chăm sóc khi ốm đau, mà còn bao gồm nhu cầu rất cao
về chăm sóc tinh thần. Theo Nguyễn Đình Cử (2007), về mặt tinh thần, có
13% NCT gặp trắc trở, 60% thấy bình thường, chỉ có 20% cảm thấy thoải
mái. Nhà nước, gia đình, cộng đồng cần quan tâm cải thiện đời sống vật chất
của NCT đồng thời quan tâm, chăm sóc hơn về đời sống tinh thần như giáo
dục cho con cháu biết quan tâm, kính trọng ông bà, cha mẹ, tổ chức các câu
lạc bộ để người cao tuổi có nơi sinh hoạt xã hội lúc tuổi già [4].
10
1.3.1.2. Các bệnh thường gặp ở người cao tuổi

Đặc điểm bệnh tật ở NCT là bệnh mạn tính, đa bệnh, khó phát hiện và
thời gian hồi phục lâu. Ở các nước phát triển, mối quan tâm hàng đầu về sức
khỏe là phòng ngừa và điều trị các bệnh mạn tính (tim mạch, ung thư, tiểu
đường, rối loạn chuyển hóa, Alzheimer…), lối sống thiếu lành mạnh (nghiện
hút, lạm dụng rượu bia…), tăng hiệu quả chăm sóc nội trú, cung cấp dịch vụ
CSSK ban đầu có hiệu quả chi phí cao, dịch vụ chăm sóc dài hạn cho NCT.
Nghiên cứu ở Mỹ năm 2002 cho thấy ba bệnh hay gặp nhất ở NCT là cao
huyết áp, đái tháo đường và ung thư. Những thói quen xấu liên quan với
bệnh tật ở NCT là hút thuốc, chế độ ăn và lối sống ít hoạt động. Có 80%
người cao tuổi ở Mỹ mắc ít nhất một bệnh và 50% mắc ít nhất 2 bệnh [37].
Ở các nước đang phát triển vừa phải giải quyết các bệnh lây nhiễm, dinh
dưỡng, vừa phải đối phó với những vấn đề bệnh tật của lối sống hiện đại,
trong khi điều kiện hệ thống CSSK còn nhiều thiếu thốn [22].
Ở Việt Nam, mô hình bệnh tật của NCT đang chuyển từ bệnh lây nhiễm
sang bệnh mạn tính, không lây nhiễm. Nghiên cứu của Viện Lão khoa [22]
tiến hành tại 3 xã/ phường thuộc 3 miền Bắc, Trung, Nam cho thấy, tỷ lệ mắc
các bệnh mạn tính khá cao. Các nhóm bệnh thường gặp theo thứ tự giảm dần
là: bệnh về giác quan, tim mạch, xương khớp, nội tiết - chuyển hoá, tiêu hoá,
tâm thần kinh, hô hấp, thận tiết niệu. Trong nhóm bệnh tim mạch nổi bật lên là
tăng huyết áp chiếm tỷ lệ 45,6%, nhóm ≥ 75 tuổi (54,6%) cao hơn nhóm
60 - 74 tuổi (42%). Trong nhóm bệnh về xương khớp, đứng đầu là bệnh thoái
hóa khớp, tiếp theo là loãng xương và viêm khớp dạng thấp. Nữ giới mắc bệnh
về xương khớp nhiều hơn nam giới. Tỷ lệ NCT bị đái tháo đường chiếm 5,8%
và béo phì là 18,3%. Trong các giác quan, giảm thị lực đứng hàng đầu chiếm
tỷ lệ 76,7%, tiếp đến là các bệnh về mắt như đục thủy tinh thể… Tỷ lệ NCT có
giảm thính lực là 40,1%. Sa sút trí tuệ, trầm cảm, Parkinson cũng là những
11
bệnh thường gặp ở NCT và có liên quan chặt chẽ với tình trạng sức khỏe, tình
trạng sống độc thân do góa bụa và điều kiện kinh tế. Sa sút trí tuệ ở nữ giới
cao hơn nam giới và tăng cao ở nhóm ≥ 75 tuổi (9,8%) so với nhóm 60 - 74

tuổi (3,9%) [6]. Cũng theo Phạm Thắng và Đỗ Thị Khánh Hỷ (2009), sa sút
tâm thần và trầm cảm là hai bệnh đang có xu hướng tăng lên ở Việt Nam và tỷ
lệ NCT mắc bệnh này tăng lên khi tuổi càng cao [23].
Nguyễn Đình Lân (2006) nghiên cứu trên 438 NCT tại tỉnh Hà Tây [13]
cho thấy 96,1% NCT có bệnh, trong đó mắc 1 bệnh (61,5%), 2 bệnh (20,7%)
và 3 bệnh trở lên (13,9%). NCT ở thành thị có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn so với
nông thôn (99,3 % so với 90,4%).
Hệ quả của sự thay đổi mô hình bệnh tật của NCT ở Việt Nam đang trở
thành nguyên nhân hàng đầu gây nên bệnh tật và tàn phế ở NCT, có thể khiến
cho NCT bối rối, tự ti và giảm giao tiếp xã hội. Do đó, Việt Nam cần có
những chính sách quan tâm hơn nữa đến NCT nhằm đem lại cuộc sống khỏe
mạnh và tốt đẹp hơn cho nhóm người chiếm một tỷ lệ không nhỏ này.
1.3.2. Sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi
Sử dụng dịch vụ CSSK là khả năng đến CSYT khác nhau và sử dụng ít
nhất một lần dịch vụ đó với từng người dân khi ốm đau. Điều này không chỉ
phụ thuộc vào ý muốn chủ quan mà còn phụ thuộc khá nhiều vào chất lượng,
giá thành, mức độ bệnh, khoảng cách và khả năng tiếp cận của người dân. Các
yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sử dụng dịch vụ CSSK là tài chính, người sử
dụng dịch vụ và người cung cấp dịch vụ [7].
Yếu tố tài chính: Đây là yếu tố đóng vai trò quyết định nhất đối với
người có thu nhập thấp. Chi phí KCB bao gồm cả những chi phí trực tiếp (chi
trả trực tiếp tại cơ sở y tế) và những chi phí gián tiếp (chi trả ngoài cơ sở y tế
như ăn uống, đi lại, bồi dưỡng ). Đối với NCT ở nông thôn, nguồn thu nhập
chính là từ nông nghiệp do vậy rất nhiều người không đủ tài chính để đến các
12
cơ sở KCB, đặc biệt là các bệnh viện [7]. Gánh nặng chi tiêu CSSK có xu
hướng lệch về những nhóm dân số cao tuổi khó khăn hơn. Chi tiêu y tế của hộ
gia đình NCT chủ yếu từ tiền túi, phần chi tiêu từ bảo hiểm xã hội chỉ chiếm tỷ
trọng nhỏ. Mặc dù chi tiêu trung bình của khu vực nông thôn thấp hơn nhiều lần
chi tiêu trung bình của khu vực thành thị, nhưng tỷ lệ chi tiêu của hộ gia đình

NCT ở nông thôn và thành thị lại không chênh lệch đáng kể nên gánh nặng chi
tiêu y tế có xu hướng lệch về phía NCT ở nông thôn. Nhóm dân số cao tuổi có
thu nhập thấp nhất (hay nhóm nghèo nhất) lại có tỷ lệ chi tiêu cho CSSK so với
tổng chi tiêu của hộ gia đình tương đương với nhóm dân số cao tuổi có thu nhập
cao nhất (hay nhóm giàu nhất), nhưng số lần KCB trung bình lại chỉ bằng một
nửa [33]. Nghiên cứu của Nguyễn Văn Tập (2005) tại 28 xã vùng nông thôn của
3 vùng Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ [21] cho thấy chi phí trung bình một lần
ốm của NCT chiếm khoảng 70% mức thu nhập hàng tháng. Nhóm nghèo chịu
gánh nặng chi phí lớn, một lần ốm đã chi gấp 2,7 lần thu nhập hàng tháng, trong
khi nhóm giàu chỉ là 0,3 lần. Nhóm nghèo nhất khi ốm thường đến TYT xã
(25%), đến bệnh viện (10,65%). Ngược lại nhóm thu nhập cao nhất đến TYT
chiếm tỷ lệ thấp hơn (13,51%), nhưng đến bệnh viện nhiều hơn (20,27 %).
Nguồn cung cấp dịch vụ bao gồm chất lượng, thái độ, thời gian Đây là
một nguyên nhân ảnh hưởng rất lớn đến việc sử dụng dịch vụ của NCT.
Nghiên cứu khảo sát của VNCA (2007) [33] cho thấy 47,7% NCT đánh giá
thái độ phục vụ của NVYT là bình thường, thậm chí còn có 2,2% cho rằng
NVYT có thái độ chưa tốt. Ngoài ra, chất lượng chuyên môn của các nhân viên
y tế và cơ sở vật chất cũng ảnh hưởng rất nhiều đến quyết định tiếp cận các
dịch vụ CSSK của NCT. Đối với ốm cấp tính, hình thức tự điều trị và sử dụng
DVYT tư nhân là hai hình thức phổ biến, chỉ khoảng 40% NCT sử dụng
DVYT nhà nước khi bị ốm. Những người trên 85 tuổi có tỷ lệ sử dụng dịch vụ
13
bệnh viện thấp hơn 2 lần so với nhóm tuổi từ 60 - 64 do khả năng đi lại hạn chế
[6].
Một yếu tố nữa làm cho việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ CSSK còn
hạn chế là bản thân NCT với các mức độ hiểu biết, quan niệm về giới, phong
tục tập quán khác nhau [17]. Phụ nữ cao tuổi có xu hướng sử dụng DVYT tư
nhân với tỷ lệ cao hơn nam giới, trong khi nam giới cao tuổi lại sử dụng
DVYT bệnh viện với tỷ lệ cao hơn [6].
1.3.3. Khả năng đáp ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi

của trạm y tế
Theo báo cáo sơ bộ kết quả Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và
thủy sản năm 2011 của Tổng cục Thống kê [31] cho thấy có 99,5% số xã có
TYT; tỷ lệ TYT được kiên cố hoá đạt 57%, bán kiên cố đạt 42%; 77,5% số xã
có TYT đạt chuẩn quốc gia về y tế xã. Thực hiện chính sách đưa bác sĩ về xã,
số lượng bác sĩ đang làm việc tại các TYT xã tăng nhanh trong những năm
gần đây. Đến thời điểm 01/7/2011 cả nước có gần 6,6 nghìn bác sĩ, tăng gần
16% so với năm 2006 và tăng 45% so với năm 2001. Nhờ đó, số bác sĩ trên 1
vạn dân ở nông thôn đã tăng từ 0,8 người năm 2001 lên 1 người năm 2006 và
1,1 người năm 2011. Mặc dù vậy, hoạt động KCB của một số trạm vẫn không
được cải thiện, cán bộ y tế xã có mức lương thấp, gặp nhiều khó khăn trong
cuộc sống đều ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hoạt động của TYT. Cơ
sở vật chất và trang thiết bị của TYT ngày càng được đầu tư nâng cấp tốt hơn
song một số nơi vẫn còn đang xuống cấp. Các hoạt động của TYT còn chưa
thể hiện hết vai trò quan trọng của nó, bởi lẽ phần lớn các hoạt động DVYT
của trạm đều bị động và phụ thuộc vào tuyến trên, chưa chủ động đáp ứng
nhu cầu thực tế của người dân, sự quá tải về nhiệm vụ trong khi NVYT còn
thiếu, trang thiết bị chưa đầy đủ [30].
14
Nghiên cứu của Nguyễn Đình Lân (2006) tại 3 xã thuộc tỉnh Hà Tây [13],
cho thấy chỉ có 20,5% NCT đến điều trị tại TYT xã, song chỉ có 9,2% tin vào
chất lượng mà chọn TYT xã; 13,8% cho rằng do tính thuận tiện. Vì vậy, việc
nâng cao chất lượng KCB không chỉ thực hiện ở bệnh viện và phòng khám, mà
phải tập trung vào tuyến xã, phường, thôn bản. Sự phối hợp và tranh thủ sự hỗ
trợ của y tế tuyến trên để nâng cao chất lượng chuyên môn ở tuyến xã trong
khám phát hiện sớm các bệnh tật như tăng huyết áp, đái tháo đường, giảm thị
lực, giảm thính lực, sa sút trí tuệ, rối loạn tim mạch là rất cần thiết và cấp bách.
Khi cơ cấu kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa, việc CSSK được thực hiện theo phương châm "Nhà nước và
nhân dân cùng làm". Thực hiện xã hội hoá công tác y tế và đa dạng hoá các

loại hình dịch vụ CSSK, nhà nước cho phép thu một phần viện phí (từ năm
1989), bảo hiểm y tế (từ năm 1992), các DVYT tư nhân được hoạt động và
người dân có quyền lựa chọn cơ sở DVYT nào phù hợp, đáp ứng được nhu
cầu trong CSSK của họ.
1.4. Các chính sách về chăm sóc sức khỏe người cao tuổi ở Việt Nam
Kính trọng và đề cao vai trò của người cao tuổi là truyền thống tốt đẹp
của dân tộc ta từ ngàn đời nay. Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến người
cao tuổi trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Trong Luật Chăm sóc và bảo vệ sức
khỏe nhân dân năm 1989 tại Chương VII, Điều 41 [35] đã nêu rõ:“Người
cao tuổi được ưu tiên trong khám bệnh, chữa bệnh, được tạo điều kiện thuận
lợi để đóng góp cho xã hội phù hợp với sức khỏe của mình”.
Theo Nghị quyết 45/106 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc [9], ngày 01
tháng 10 hàng năm là ngày quốc tế NCT. Ngày 01/10/1991, Chủ tịch Hội
đồng Nhà nước Việt Nam (nay là Chủ tịch nước) đã ra lời kêu gọi các cụ phụ
lão cũng như đồng bào cả nước nhiệt liệt hưởng ứng quyết định của Liên Hợp
15
Quốc. Lời kêu gọi đã khẳng định: “Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi là một
chính sách rất quan trọng và nhất quán của Đảng và Nhà nước ta”.
Pháp lệnh về NCT được Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày
28/4/2000 (số 23/2000 PL - UBTVQH) [34] khẳng định rằng: “Việc phụng
dưỡng người cao tuổi là trách nhiệm chủ yếu của gia đình có người cao tuổi,
người cao tuổi cô đơn, không nơi nương tựa, không có nguồn thu nhập được
Nhà nước và xã hội giúp”. Đây là cơ sở pháp lý cho các hoạt động xã hội về
NCT, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong việc chăm sóc và
phát huy vai trò của NCT trong đời sống kinh tế xã hội.
Nhằm cụ thể hóa và triển khai Pháp lệnh về NCT, Bộ Y tế đã ban
hành Thông tư số 02/2004/TT-BYT [1] ngày 20/1/2004 hướng dẫn thực
hiện công tác CSSK NCT. Theo Thông tư NCT sẽ được quản lý sức khỏe và
CSSK ban đầu ngay tại tuyến xã và được ưu tiên trong KCB tại tuyến trên,
đặc biệt các cơ sở y tế tuyến trên sẽ có khu điều trị dành riêng cho NCT.

Như vậy, NCT sẽ được quan tâm, chăm sóc một cách cụ thể hơn, qua đó
phần nào đáp ứng mong muốn của NCT là được sống vui, sống khỏe, được
chăm sóc sức khỏe và KCB khi ốm đau.
Nghị định số 67/2007/NĐ-CP [1] được Chính phủ ban hành quy định
rõ các hình thức hỗ trợ cho NCT cô đơn, thuộc hộ nghèo, NCT còn vợ hoặc
chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích để nương tựa,
thuộc hộ gia đình nghèo và đặc biệt là người từ 85 tuổi trở lên không có
lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội. Các đối tượng này được trợ cấp
270 nghìn đồng/tháng, người từ 85 tuổi trở lên bị tàn tật nặng được trợ cấp
360 nghìn đồng/tháng. Mục 4, Điều 3, Luật khám bệnh, chữa bệnh (Quốc
hội (2009), Luật số 40/2009/QH12) [18] cũng nêu rõ: “Ưu tiên khám bệnh,
chữa bệnh đối với người từ đủ 80 tuổi trở lên”.
16
Luật NCT (số 39/2010/QH12) [19] được Quốc hội ban hành có hiệu
lực từ ngày 01/07/2010. Luật quy định NCT là công dân Việt Nam từ 60 tuổi
trở lên. Để quy định và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật NCT, Nghị
định số 06/2011/NĐ-CP được ban hành [24].
Các chính sách đã trên thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước
đến người cao tuổi. Điều này cũng thể hiện truyền thống kính lão có từ xưa
của người dân Việt Nam.
1.5. Mô hình dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi
1.5.1. Mô hình dịch vụ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại gia đình
Với mô hình này, NCT sẽ sử dụng các dịch vụ CSSK ngay tại nhà. Người
hành nghề y hoặc các tình nguyện viên đến tận nơi để KCB, giúp đỡ các công
việc nhà theo yêu cầu của người thân trong gia đình NCT hoặc của chính NCT.
Thuật ngữ “Bác sĩ gia đình” bây giờ không trở nên quá xa lạ với các
gia đình hiện đại. Trong trường hợp NCT có vấn đề về sức khỏe có thể gọi
điện đến các phòng khám và được các bác sĩ chuyên khoa, theo yêu cầu đến
khám, cung cấp thuốc men và điều trị tại chỗ. Nếu NCT cần được điều trị
hằng ngày, thường xuyên sẽ được lập sổ theo dõi, thăm khám định kỳ. Tuy

nhiên, giá dịch vụ dao động khá nhiều, phụ thuộc vào nhu cầu và đòi hỏi
cung cấp dịch vụ từ phía gia đình.
Tại Việt Nam, từ năm 1991, Trung tâm Nghiên cứu trợ giúp NCT trực
thuộc Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam (gọi tắt là RECAS) đã lựa chọn
mô hình “Chăm sóc NCT tại nhà” để áp dụng. Năm 1993, RECAS đã thiết kế
và áp dụng hình thức: “Chăm sóc hay phục vụ tại nhà” do nhân viên dịch vụ
thực hiện, đến năm 2003 bổ sung thêm hình thức “Chăm sóc hay hỗ trợ tại
nhà” do các tình nguyện viên thực hiện [11].
Với mô hình này, chúng ta vừa tiết kiệm được một lượng lớn giường
bệnh tại bệnh viên, phù hợp với tâm lý, nguyện vọng của NCT là muốn được
17
sống tại chính ngôi nhà thân yêu của mình cho đến cuối đời. Tuy nhiên, mô
hình này cũng tiềm ẩn một số vấn đề đó là số lượng NCT nhiều, số lượng đội
ngũ CSSK tại nhà còn mỏng, giá thành một số dịch vụ còn cao vậy nên, để áp
dụng rộng rãi vấn đề này là cả một thách thức.
1.5.2. Mô hình chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tại cộng đồng
Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, CSSK là nhiệm vụ của toàn
xã hội nên đây là mô hình mang tính chất thiết thực. Mô hình này được xây
dựng dựa trên nguyên tắc dự phòng dựa vào cộng đồng, phục vụ cho nhu cầu
số đông và nhằm nâng cao năng lực NCT tự CSSK cho bản thân họ [41].
Hội NCT được thành lập năm 1995 và đến nay đã có ở hầu hết các xã,
phường, thị trấn. Với mô hình này cán bộ chuyên môn sẽ làm tư vấn viên về
sức khoẻ, còn Hội NCT sẽ đóng vai trò nòng cốt trong các hoạt động về CSSK
cho NCT. Đây là một môi trường lành mạnh để NCT sinh hoạt ở tuổi xế chiều.
Năm 2001, Nguyễn Văn Tiên đã xây dựng mô hình CSSK người cao tuổi
tại Đồng bằng Sông Hồng với các hoạt động: (1) TT - GDSK nhằm nâng cao
hiểu biết của NCT về bệnh thông thường và cách phòng chống, tác dụng rèn
luyện dưỡng sinh, chế độ dinh dưỡng hợp với NCT, cách sống lành mạnh…, (2)
tổ chức hướng dẫn luyện tập một số động tác dưỡng sinh cơ bản, (3) tiến hành
KSK định kỳ cho NCT, động viên NCT và gia đình quan tâm đến sức khỏe

NCT. Sau 3 năm triển khai, nhận thức và mức độ tập luyện dưỡng sinh của
NCT tăng lên, hiểu biết về bệnh thông thường và cách phòng chống cũng như
chế độ dinh dưỡng phù hợp với NCT được cải thiện, KSK định kỳ cho NCT đã
thể hiện được sự quan tâm tác động làm giảm sự tự ty, nhàm chán ở NCT [8].
Từ 2002 đến 2005, Viện Chiến lược và Chính sách y tế đã triển khai Dự
án “Nâng cao công tác CSSK cho NCT ở vùng nông thôn Việt Nam” ở 4 xã
thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, với sự hỗ trợ về mặt tài chính của khối
cộng đồng chung Châu Âu. Đây là một Dự án can thiệp toàn diện được triển
khai tới nhiều nhóm đối tượng khác nhau trong cộng đồng (NCT, thành viên
18
trong gia đình, cộng đồng, NVYT) với mục tiêu nhằm NCSK và CSSK ban đầu
cho NCT. Các hoạt động can thiệp mang tính toàn diện của Dự án đã góp phần
cải thiện được tình trạng sức khỏe, CSSK cho NCT ở vùng nông thôn trong địa
bàn nghiên cứu. Mô hình can thiệp của Dự án được đánh giá là có tính khả thi,
bền vững và có khả năng nhân rộng tại các địa phương khác trong huyện [41].
Mô hình này đã đáp ứng được nhu cầu của NCT nói chung và NCT ở
khu vực nông thôn nói riêng về thông tin, kỹ năng gìn giữ sức khỏe theo
hướng dự phòng tại cộng đồng, phù hợp với điều kiện và trình độ NCT ở
nông thôn, đáp ứng được phương châm xã hội hóa trong công tác CSSK
NCT. Hơn nữa, tất cả các đối tượng từ thành thị đến nông thôn, miền xuôi và
miền ngược đều có thể áp dụng được mô hình này [11].
1.5.3. Mô hình chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tại bệnh viện
Ở các nước phát triển, phúc lợi xã hội được tăng lên, NCT được chăm
sóc miễn phí tại bệnh viện ngày càng nhiều. Dự án bệnh viện nâng cao sức
khỏe được triển khai từ năm 1993, đến nay đã có 700 bệnh viện ở 36 quốc
gia thành viên. Tại Việt Nam, Bệnh viện E đã được WHO chọn để triển khai
mô hình này [10].
Viện Lão khoa cũng đã xây dựng mô hình CSSK miễn phí dành cho
NCT ở Việt Nam. Đồng thời, thông qua thẻ BHYT dành cho NCT diện nghèo,
cô đơn và những người từ 85 tuổi trở lên được miễn phí khi KCB tại các bệnh

viện. Tuy nhiên, với tấm thẻ bảo hiểm đi khám họ sẽ phải đối đầu với sự phức
tạp và khó khăn trong thủ tục hành chính. Mặt khác, một số cơ sở y tế còn thiếu
giường bệnh, bắt buộc NCT phải nằm ghép, chờ đợi… Để khắc phục vấn đề
này, nhiều bệnh viện tư nhân, các mô hình bệnh viện liên kết, có vốn đầu tư
nước ngoài đã được thành lập. Thế nhưng mức giá KCB và các dịch vụ tại bệnh
viện này còn khá cao so với hầu bao của NCT, nên rất khó để tiếp cận [14].
19
Nhìn chung, mô hình CSSK tại các bệnh viện hiện nay chỉ tập trung
vào khám và điều trị bệnh cho NCT, một số khác có mở thêm dịch vụ tư vấn
về sức khỏe, bệnh tật. Mặt khác, các bệnh viện đều không có đủ đội ngũ
NVYT, nên chưa thể đáp ứng hết được nhu cầu CSSK của NCT. Tuy nhiên,
bệnh viện là cơ sở có chuyên môn kỹ thuật cao, nếu khắc phục được những
hạn chế về nhân lực, cơ sở vật chất thì đây là một mô hình có rất có ý nghĩa
trong công tác CSSK NCT.
1.5.4. Mô hình trung tâm chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi do nhà
nước quản lý
Trên thế giới, nhà dưỡng lão ra đời như một tất yếu của cuộc sống, khi
quá trình công nghiệp hóa đi lên, dân số có xu hướng già hóa. Ở Mỹ, Viện
dưỡng lão là một cơ quan mang tính chất an sinh và phúc lợi xã hội. Dưới
mái nhà chung này, NCT được chăm sóc về mọi mặt của cuộc sống, được
gặp gỡ giao lưu với những người đồng thế hệ. Ở Trung Quốc, năm 1965,
Viện dưỡng lão dành cho công nhân về hưu đã được xây dựng với sự trợ
giúp một phần của Nhà nước nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho các
cụ, NCT vào đây một cách tự nguyện [7].
Tại Việt Nam, mô hình trung tâm CSSK NCT được Nhà nước giao cho
ngành Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý. Một số cơ sở ở nước ta như:
Trung tâm dưỡng lão Nhân Ái (Từ Liêm), Nhà tuổi vàng (Bắc Linh Đàm)…
Mô hình này thể hiện được sự xã hội hóa hoạt động CSSK NCT, đặc
biệt là NCT cô đơn, không nơi nương tựa. Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay
mới chỉ dành cho người già bệnh tật, không thể tự chăm sóc, phải có người

phục vụ 24/24. Một mô hình trung tâm dưỡng lão cho NCT khỏe mạnh gửi
gắm cuộc sống để hưởng không gian yên tĩnh, thanh bình hiện nay vẫn chưa
có [11]. Quan niệm không ai chăm sóc cha mẹ tốt bằng con cái và thực tế
20
nước ta, kinh tế chưa cho phép NCT trả một khoản phí khi vào nhà dưỡng
lão, nên mô hình chưa đạt được những hiệu quả như mong muốn.
1.5.5. Mô hình y tế viễn thông trong dịch vụ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
Y tế viễn thông là khả năng ứng dụng những tiến bộ của khoa học công
nghệ thông tin trong y học. Sử dụng phương tiện đó để truyền tải những thông
tin y học đến với từng đối tượng, từng vùng miền khác nhau nhưng hiệu quả
thông tin là như nhau [37].
Phương thức hoạt động của y tế viễn thông rất đa dạng: chẩn đoán các
ca bệnh khó với sự hỗ trợ của y học hiện đại, công nghệ thông tin và kỹ thuật
truyền hình ảnh điện não đồ, điện tim, siêu âm, X - quang… bằng số hóa
đường truyền thông tin ứng dụng đặc biệt, hỏi đáp thắc mắc từ xa qua điện
thoại, internet…
Ở Việt Nam, hiện nay có rất nhiều phương tiện thông tin đại chúng dành
những trang viết, khoảng thời gian quý báu để đưa thông tin về y học như
Truyền hình Hà Nội có mục Y học bốn phương, Sức khoẻ trong cuộc sống hôm
nay, O
2
TV , các trang web thảo luận trực tuyến về các kiến thức y học… đã
cung cấp một lượng lớn kiến thức nhằm nâng cao sức khỏe cho người dân. Tuy
nhiên, khả năng tiếp cận với các phượng tiện thông tin hiện đại của NCT còn
nhiều khó khăn, đây chính là hạn chế của mô hình khi áp dụng thực tiễn.
1.5.6. Mô hình câu lạc bộ sức khỏe
Đây là mô hình theo hướng phòng bệnh hơn chữa bệnh. Nó bao gồm
các CLB dưỡng sinh, CLB sức khỏe, luyện tập thể dục thể thao của NCT tại
cộng đồng. Từ năm 2004, Ủy ban Thể dục thể thao Việt Nam đã phối hợp với
Hội NCT đề xuất chương trình “Đẩy mạnh các hoạt động thể dục thể thao của

NCT giai đoạn từ năm 2004 - 2008”. Đến nay, trên toàn quốc, 85% tỉnh đã
21
thành lập CLB SK ngoài trời và hàng nghìn CLB các môn thể thao chuyên
biệt khác… dành cho NCT [3].
Mô hình đạt được mục tiêu dự phòng là chính, thu hút được nhiều NCT
tham gia. Tuy nhiên, nó chưa được triển khai một cách đồng bộ ở các nơi
khác nhau do kinh phí còn hạn hẹp, trang thiết bị thiếu thốn nên hoạt động
chưa được thường xuyên, liên tục.
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, chất liệu nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
 Người cao tuổi.
− Tiêu chuẩn lựa chọn:
Từ đủ 60 tuổi trở lên, tự nguyện tham gia nghiên cứu.
Còn minh mẫn và có khả năng giao tiếp trực tiếp.
Thường trú ổn định tại địa phương từ trên 2 năm.
− Tiêu chuẩn loại trừ:
NCT không còn khả năng giao tiếp (thiếu minh mẫn, sa sút trí tuệ).
Những NCT từ chối tham gia nghiên cứu ngay từ đầu và bỏ cuộc.
 Người thân trong gia đình của NCT: con, cháu…
 Cán bộ y tế tại trạm y tế xã, nhân viên y tế thôn.
 Cán bộ lãnh đạo, quản lý, theo dõi, chăm sóc NCT ở xã: Bí thư Đảng
ủy, chủ tịch UBND, chủ tịch Mặt trận Tổ Quốc, Hội cựu chiến binh, Hội nông
dân, Hội NCT, Hội chữ thập đỏ, trưởng Ban văn hóa thông tin, Ban Lao động
Thương binh và Xã hội, Trạm trưởng TYT xã.
2.1.2. Chất liệu nghiên cứu
 Văn bản quy phạm pháp luật về công tác CSSK NCT.
 Sổ sách, báo cáo hoạt động CSSK của TYT xã Uy Nỗ và Cổ Loa.
22

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.2.1. Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 12/ 2012 - 5/2013
2.2.2. Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại 2 xã của huyện Đông Anh, thành
phố Hà Nội : xã Uy Nỗ và xã Cổ Loa
− Xã Uy Nỗ: xã can thiệp
− Xã Cổ Loa: xã chứng
Một số đặc điểm chung về huyện Đông Anh
− Là một huyện ngoại thành nằm ở phía bắc thủ đô Hà Nội, có đường
quốc lộ 3 chạy qua giáp với các huyện: Sóc Sơn, Gia Lâm, Mê Linh và thị xã
Từ Sơn (Bắc Ninh). Huyện có 24 xã/ thị trấn với diện tích là 82km
2
, dân số
276.750 người. Tại đây NCT chiếm 8,8% dân số (24.354 người).
− Về KT - VH - XH: Đời sống kinh tế và dân trí của người dân ở mức
độ trung bình và tương đối đồng đều. Cùng với khí thế đi lên công nghiệp hóa
- hiện đại hóa của cả nước, Đông Anh ngày nay đang từng bước đổi mới, tốc
độ đô thị hóa nhanh với diện tích đất nông nghiệp thu hẹp nhường chỗ cho
các khu công nghiệp, chung cư đô thị.
− Về y tế: huyện Đông Anh có TTYT huyện nhưng chỉ quản lý, chỉ
đạo tuyến, 100% TYT đạt Chuẩn Quốc gia về y tế xã. Trên địa bàn có bệnh
viện đa khoa huyện, bệnh viện Bắc Thăng Long, 2 phòng khám đa khoa khu
vực miền Đông và miền Tây, 100 cơ sở hành nghề y dược tư nhân.
Đặc điểm 2 xã nghiên cứu
− Về địa lý: Hai xã được chọn đều là ở gần trung tâm, tiếp giáp với
huyện ủy, UBND huyện, các trung tâm hành chính, gần chợ, các phương tiện
giao thông, bệnh viện đa khoa và TTYT huyện.
− Về kinh tế: Đều có cơ cấu kinh tế: Công nghiệp - Thương mại dịch vụ.
− Về y tế:

 Đều đạt Chuẩn Quốc gia về y tế xã.
 Công tác y tế được xã hội hóa cao đặc biệt là sự tham gia của Hội NCT.
23
− Về dân số, số lượng NCT, số thôn trong xã có sự tương đồng nhau.
Bảng 2.1: Đặc điểm dân số, kinh tế - xã hội, y tế của xã Uy Nỗ và xã Cổ Loa
STT Đặc điểm Xã Uy Nỗ
Xã Cổ
Loa
I. Đặc điểm dân số, kinh tế - xã hội
1 Diện tích tự nhiên (ha) 758,33 802,38
2 Dân số năm 2011 (người) 15.576 16.514
3 Mật đô dân số (người/km
2
) 2.129 1.825
4 Số người cao tuổi (người) 1432 1498
5
Thu nhập bình quân đầu người/ năm
(triệu VNĐ)
19,6 15,1
II. Đặc điểm về y tế
• Nhân lực TYT
1 Số lượng bác sĩ ở TYT (người) 01 01
2 Số lượng y sĩ ở TYT (người) 01 01
3 Số lượng YTTH, NHSTH, dược tá (người) 04 05
• Nhân lực y tế thôn
1 Số lượng y tế thôn 08 07
Tổng: 14 14
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang sau can thiệp. Sử dụng kết quả điều tra trước

can thiệp của NCS Hoàng Trung Kiên để đánh giá hiệu quả của mô hình
can thiệp ở cộng đồng.
2.3.2. Cỡ mẫu nghiên cứu
 Đối với đối tượng nghiên cứu là người cao tuổi.
− Cỡ mẫu NCT tại một xã, được tính theo công thức:
24
Trong đó:
 n: số NCT cần chọn để can thiệp ở mỗi xã.
 Z
α/2
: hệ số tin cậy, với ngưỡng xác xuất α = 5% , thì Z
α/2
= 1,96
 p
0
: tỷ lệ NCT được KCB tại TYT xã không can thiệp, ước lượng là 35%
 p
1
: tỷ lệ NCT được KCB ở các xã can thiệp, ước lượng là 45%
 ε: sai số tương đối cho phép, ε = 20%
Thay số và tính toán ta có: n = 238 (người). Thực tế, nghiên cứu đã chọn 256
NCT tại xã can thiệp - Uy Nỗ và 255 NCT tại xã đối chứng - Cổ Loa.
 Đối tượng là NVYT xã, y tế thôn của cả 2 xã nghiên cứu là: 28 người
 Cán bộ lãnh đạo quản lý xã của 2 xã nghiên cứu là : 18 người
 Người thân trong gia đình NCT của 2 xã nghiên cứu: 463 người
2.3.3. Mô hình can thiệp
Mô hình “ Quản lý, tư vấn, chăm sóc sức khỏe NCT dựa vào cộng
đồng” bao gồm 3 nội dung chính:
− Nội dung 1: Quản lý, tư vấn sức khỏe, KCB tại TYT cho NCT
Lập sổ quản lý, theo dõi sức khỏe cho NCT, KSK định kỳ.

Khi có nhu cầu KCB, NCT có thể đến trực tiếp khám tại TYT.
Tổ chức các buổi tư vấn trực tiếp cho NCT tại trạm y tế về các bệnh
thường gặp ở người già và cách phòng tránh
− Nội dung 2: Tuyên truyền - giáo dục về chăm sóc sức khỏe NCT
Truyền thông đại chúng qua đài phát thanh xã, thôn về các vấn đề
thường gặp ở NCT, cách chăm sóc sức khỏe và phương pháp phòng chống
bệnh tật. Số lượng 2 buổi/ tuần. Mỗi buổi kéo dài 20 phút. Duy trì trong thời
gian cả năm tại xã can thiệp.
Phát tờ rơi, pa nô, áp phích cho NCT và gia đình NCT tại xã can thiệp.
Tổ chức lớp tập huấn cho các cán bộ y tế về kiến thức về lão khoa,
kỹ năng truyền thông tư vấn cho cán bộ y tế tại xã can thiệp.
Tổ chức các buổi nói chuyện định kỳ theo chuyên đề cho NCT và gia
đình NCT cùng các ban nghành lãnh đạo về sức khỏe NCT tại xã can thiệp.
Tổ chức các buổi thăm hộ gia đình NCT để tư vấn về sức khỏe NCT.
25
Tập huấn phổ biến kiến thức, thực hành hành vi có lợi cho sức khỏe
NCT cho NCT ở xã can thiệp.
− Nội dung 3: Tổ chức, củng cố hoạt động tập dưỡng sinh cho NCT
Đưa nội dung CSSK vào hoạt động của hội NCT ở xã can thiệp.
Tổ chức các buổi sinh hoạt định kỳ với nhiều hình thức khác nhau về
nội dung sức khỏe NCT.
Thành lập câu lạc bộ dưỡng sinh gồm hoạt động là: luyện tập dưỡng
sinh (theo bài “Thái cực trường sinh đạo”), duy trì chế độ tập luyện 3 ngày/
lần (thời gian theo mùa), mỗi buổi 60 phút.
2.3.4. Đánh giá hiệu quả can thiệp
− Đánh giá hiệu quả của nội dung quản lý, tư vấn sức khỏe và khám
chữa bệnh cho NCT theo 5 chỉ số điều hành CSSK dựa vào cộng đồng.
− Đánh giá hiệu quả của hoạt động truyền thông, giáo dục sức khỏe
NCT.
− Đánh giá hiệu quả của hoạt động củng cố và tập dưỡng sinh nâng

cao sức khỏe NCT.
Hình 2.1: Quy trình đánh giá hiệu quả của mô hình can thiệp
− Giá trị dự phòng:
So sánh
Đánh giá trước can thiệp
Đánh giá trước
So sánh
Nhóm đối
chứng
So sánh
Nhóm can
thiệp
Đánh giá sau can thiệp
Đánh giá sau

×