Tải bản đầy đủ (.pdf) (94 trang)

Một số giải pháp phát triển kinh tế nông thôn trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.31 MB, 94 trang )



1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH




NGUYỄN THỊ HIỀN LƢƠNG


MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN
TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI
HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN




Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60-31-10


L
L
U
U


N


N


V
V
Ă
Ă
N
N


T
T
H
H


C
C


S
S
Ĩ
Ĩ


K
K
I

I
N
N
H
H


T
T




N
N
Ô
Ô
N
N
G
G


N
N
G
G
H
H
I

I


P
P








Thái Nguyên - 2012


2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng nông thôn mới được xác định là một trong những nhiệm vụ chiến
lược của nước ta hiện nay với vai trò quan trọng là cốt lõi của việc thực hiện
Nghị quyết 26/NQ-TW ngày 5/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn của
Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X.
Tỉnh Thái Nguyên – một tỉnh có vị trí và vai trò quan trọng của vùng Trung
du miền núi phía bắc nước ta. Hơn nữa, Thái Nguyên còn có điều kiện tự nhiên
và tài nguyên thiên nhiên phong phú để phát triển kinh tế, đăc biệt là phát triển
ngành nông nghiệp. Toàn tỉnh có 143 xã, còn rất nhiều xã khó khăn nằm trong
vùng 135, đời sống của nông dân chưa cao. Thái Nguyên nhận được nhiều sự
quan tâm, đầu tư của Đảng và Nhà nước, tỉnh đã xây dựng và triển khai chương
trình xây dựng nông thôn mới, thực hiện bước đầu ở 35 xã.

Qua gần 3 năm triển khai thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 Ban chấp
hành Trung ương Đảng khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Tuy
nhiên, những thành tựu đạt được chưa xứng với tiềm năng, lợi thế, nông nghiệp
phát triển còn kém bền vững, chưa phát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản
xuất; nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực
còn hạn chế; các hình thức sản xuất còn nhỏ lẻ, phân tán, năng suất, chất lượng
thấp, đời sống nông dân còn gặp nhiều khó khăn, trình độ sản xuất và công nghệ
còn thấp kém, năng suất chất lượng hàng nông, lâm, thuỷ sản chưa đủ sức cạnh
tranh với các nước trong khu vực và trên thế giới; cơ sở hạ tầng, phát triển
chậm, sản xuất ra sản phẩm nông sản hàng hoá tuy chưa nhiều nhưng tiêu thụ
đang gặp nhiều khó khăn, người sản xuất dễ bị thua lỗ; cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, nông thôn chuyển dịch chậm và cơ bản vẫn là thuần nông, tỷ trọng
ngành nghề dịch vụ còn rất thấp; tốc độ tăng dân số ở nông thôn còn ở mức cao,
lao động, việc làm, thu nhập đang là vấn đề bức xúc hiện nay ở nông thôn.
Từ thực tế đó đặt ra trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
nhiều vấn đề cần giải quyết, để xây dựng và phát triển nông thôn mới, tạo sự


3
chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn trong
quá trình xây dựng nông thôn mới, giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa nông
thôn và thành thị.
Đồng Hỷ là một huyện miền núi phía Đông Bắc tỉnh Thái Nguyên, trong
những năm vừa qua, cùng với sự phát triển của đất nước, kinh tế nông thôn của
huyện đã có những bước phát triển nhất định, song tốc độ tăng trưởng kinh tế
còn thấp, hàng hoá ít, nền kinh tế vẫn phụ thuộc vào nông nghiệp, chưa khai
thác hết các lợi thế so sánh của vùng.
Xuất phát từ thực tế đó tôi chọn đề tài: “Một số giải pháp phát triển kinh tế
nông thôn trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Đồng Hỷ tỉnh
Thái Nguyên” làm đề tài nghiên cứu luận văn góp phần phát triển kinh tế nông

thôn huyện Đồng Hỷ trong thời gian tới.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế nông thôn trong quá trình xây dựng
nông thôn mới tại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên, kết hợp lý luận và thực
tiễn nhằm phát hiện những ưu điểm, hạn chế, khó khăn trong quá trình phát triển
kinh tế nông thôn, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế
nông thôn của huyện góp phần xây dựng nông thôn mới tại huyện Đồng Hỷ tỉnh
Thái Nguyên.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa và làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về phát triển kinh tế
nông thôn trong quá trình xây dựng nông thôn mới.
- Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển kinh tế nông thôn trên thế giới.
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế nông thôn trong qúa trình
xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2009 - 2011.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển kinh tế nông thôn trong quá
trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Đồng Hỷ trong thời gian tới.


4
3. Đối tƣơng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề kinh tế nông thôn, người dân
nông thôn, các hộ, cộng đồng dân cư và các vùng nông thôn.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: Đây là một đề tài rộng, do đó luận văn chỉ đi sâu
phân tích thực trạng của sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới để từ đó đưa ra các giải pháp
nhằm phát triển các lĩnh vực này trong quá trình xây dựng nông thôn mới trên
địa bàn huyện Đồng Hỷ đến năm 2015.

- Giới hạn tập trung về các tiêu chí kinh tế trong phát triển nông thôn mới.
- Không gian nghiên cứu: huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
- Thời gian nghiên cứu: từ năm 2009 - 2011.
4. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế nông thôn trong
quá trình xây dựng nông thôn mới
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu phát triển kinh tế nông thôn trong
quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên
- Chương 3: Thực trạng phát triển kinh tế nông thôn trong quá trình xây
dựng nông thôn mới tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
- Chương 4: Một số giải pháp phát triển kinh tế nông thôn trong quá trình
xây dựng nông thôn mới tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.








5


CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG
THÔN TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1. Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế nông thôn
1.1.1. Khái niệm, đặc trưng cơ bản của nông thôn
1.1.1.1. Khái niệm nông thôn

Nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất nông
nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, nông thôn có thể được xem xét trên nhiều góc độ
kinh tế, chính trị, văn hóa… nông thôn không đơn thuần là khu vực xã hội mà
cũng là khu vực kinh tế, kinh tế nông thôn trong địa bàn nông thôn ngoài nông
nghiệp cũng có công nghiệp dịch vụ thường gọi là các hoạt động phi nông
nghiệp. Việc phát triển kinh tế nông thôn, từng bước xây dựng nông thôn mới là
nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.
1.1.1.2. Đặc trưng cơ bản của nông thôn
Nông thôn trải trên địa bàn rộng lớn nên chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện
tự nhiên. Nông thôn là vùng sản xuất nông nghiệp chủ yếu, bao gồm tất cả các
ngành như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thuỷ sản Ngoài ra còn có các hoạt
động phi nông nghiệp khác như công nghiệp, dịch vụ… Các hoạt động sản xuất
và dịch vụ này phục vụ chủ yếu cho nông nghiệp và cho cộng đồng nông thôn.
Nông thôn có mật độ dân cư thấp, dân cư ở khu vực nông thôn thường hay
phân tán, mật độ phân bố thấp, không đồng đều. Ở vùng đồng bằng tập trung
dân cư đông hơn những vùng miền núi, địa hình đi lại khó khăn…
Nông thôn có cơ sở hạ tầng yếu kém, tiếp cận thị trường và trình độ sản
xuất hàng hoá thấp. Sự thấp kém của cơ sở hạ tầng như điện, đường, trường,
trạm, hệ thống thủy lợi, thông tin liên lạc… đã khiến cho vùng nông thôn gặp
nhiều khó khăn trong việc tiếp cận khoa học kỹ thuật, thị trường để phát triển
kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống người dân nông thôn.


6
Nông thôn là vùng có trình độ văn hoá, khoa học và kỹ thuật thấp. Thu
nhập và đời sống vật chất, tinh thần của nông thôn thấp. Sự thấp kém về trình độ
dân trí đã cản trở sự tiếp cận với khoa học, kỹ thuật hiện đại…
1.1.2. Vai trò của nông thôn trong quá trình phát triển kinh tế
Nông thôn là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm cho đời sống của người
dân. Ăn là nhu cầu thiết yếu hàng ngày của con người, do vậy các nhu cầu về

lương thực, thực phẩm rất quan trọng để ổn định an sinh xã hội. Đảm bảo về nhu
cầu lương thực, thực phẩm là cơ sở phát triển của đời sống kinh tế xã hội.
Cung cấp nguyên liệu để phát triển công nghiệp và xuất khẩu: Các ngành
công nghiệp như chế biến lương thực, thực phẩm, chế biến hoa quả, công nghiệp
dệt, giấy, đường, chè … nguồn nguyên liệu chủ yếu là nông nghiệp. Do đó quy
mô và tốc độ tăng trưởng của các nguồn nguyên liệu là nhân tố quan trọng quyết
định sự tăng trưởng của các ngành công nghiệp này.
Cung cấp hàng hóa cho xuất khẩu: Là một nước nông nghiệp, chúng ta đã cung
cấp hàng hóa nông sản cho xuất khẩu như chè, cà phê, lúa gạo. Thông qua quá trình
xuất khẩu nông sản phẩm có thể giải quyết tốt nhu cầu về vốn cho nền kinh tế.
Cung cấp lao động cho công nghiệp và thành thị: Nước ta chiếm 70% dân
số sống ở khu vực nông thôn, lao động nông thôn hiện chiếm 75% tổng lực
lượng lao động cả nước và chủ yếu tập trung sản xuất trong lĩnh vực nông
nghiệp. Do đó phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn lao động nông thôn, tạo cơ
hội cho lao động tiếp cận được thị trường và có việc làm ổn định nhằm góp phần
làm cho nông thôn ngày càng đổi mới và phát triển.
Nông thôn là thị trường rộng lớn để tiêu thụ những sản phẩm của công nghiệp
và dịch vụ: Hiện nay nông nghiệp nông thôn ngày càng phát triển thì nhu cầu về sản
phẩm công nghiệp sẽ tăng cao như: thiết bị nông nghiệp, điện năng, phân bón, ti vi tủ
lạnh xe máy… càng tăng. Nhu cầu về các loại sản phẩm công nghiệp và dịch vụ của
khu vực nông thôn góp phần mở rộng thị trường của công nghiệp và dịch vụ. Đây là
điều kiện thuận lợi cho sự phát triển công nghiệp và dịch vụ.


7
Ngoài ra việc phát triển kinh tế nông thôn còn tạo điều kiện ổn định về mặt
kinh tế chính trị xã hội: Đời sống của mỗi người dân được nâng cao, đặc biệt là
khu vực nông thôn được phát triển, xóa đi khoảng cách giữa khu vực nông thôn
và thành thị, lúc đó xã hội mới được ổn định, văn minh và hiện đại.
1.2. Nội dung phát triển kinh tế nông thôn

1.2.1. Khái niệm phát triển kinh tế nông thôn
- Kinh tế nông thôn: là một khu vực của nền kinh tế gắn liền với địa bàn
nông thôn, kinh tế nông thôn vừa mang những đặc trưng chung của nền kinh tế
về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, về cơ chế kinh tế có những đặc điểm
riêng gắn liền với nông nghiệp và nông thôn. Xét về mặt kinh tế nông thôn có
thể bao gồm nhiều ngành, nông nghiệp, lâm nghiệp, tiêu thụ công nghiệp, dịch
vụ…, nhưng nếu xét về mặt kinh tế xã hội kinh tế nông thôn cũng bao gồm
nhiều thành phần kinh tế: Kinh tế Nhà nước, kinh tế hộ gia đình, kinh tế tập
thể… xét về không gian lãnh thổ bao gồm các vùng chuyên canh và vùng độc
canh.
- Tăng trưởng kinh tế: Là sự gia tăng GDP hoặc GNP hoặc thu nhập bình
quân đầu người trong một thời gian nhất định. Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự
thay đổi về lượng của nền kinh tế.
- Phát triển kinh tế: Mang nội hàm rộng hơn tăng trưởng kinh tế, nó bao
gồm tăng trưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế như
phúc lợi xã hội, tuổi thọ… và những thay đổi cơ cấu kinh tế. Phát triển kinh tế là
một quá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế xã hội, môi trường thể chế
trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo rằng GDP cao hơn đồng nghĩa với
mức độ hạnh phúc hơn.
Thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW của Trung ương, “phải xây dựng nông thôn
mới có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội từng bước hiện đại cơ cấu kinh tế và các hình
thức tổ chức sản xuất hợp lý gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp,
dịch vụ gắn phát triển kinh tế nông thôn với đô thị theo quy hoạch, xã hội nông
thôn dân chủ ổn định giàu bản sắc văn hóa dân tộc, môi trường sinh thái được bảo


8
vệ, an ninh trật tự được giữ vững đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày
càng được nâng cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa.".
1.2.2.Nội dung của phát triển kinh tế nông thôn

Phát triển kinh tế nông thôn chủ yếu tập trung vào các vấn đề: Kinh tế nông
nghiệp nông thôn, kinh tế công nghiệp nông thôn, kinh tế dịch vụ nông thôn…
1.2.2.1. Phát triển kinh tế nông nghiệp
Khái niệm nông nghiệp: Nông nghiệp là một ngành kinh tế quốc dân,
một trong những bộ phận chủ yếu của sản xuất vật chất, sản xuất thực phẩm cho
nhân dân và nguyên liệu cho công nghiệp. Trong nông nghiệp, việc sản xuất ra
sản phẩm không những gắn liền với quá tŕ nh kinh tế , mà cũng gắn liền với quá
tnh tự nhiên của tái sản xuất. Muốn kinh doanh nông nghiệp một cách đúng đắn
điều quan trọng là hiểu biết và khéo sử dụng các quy luật kinh tế của sự phát
triển động vật và thực vật. Nông nghiệp bao gồm hai tổng hợp ngành: ngành
trồng trọt và chăn nuôi. Ngành trồng trọt có cây lúa, ngô, cây có củ, rau, cây ăn
quả, cây chè…
Ngành chăn nuôi bao gồm chăn nuôi gia súc, gia cầm…Ngành thuỷ sản
bao gồm thuỷ sản đánh bắt và thuỷ sản nuôi trồng như tôm, cá, thuỷ sản khác…
Trong nông nghiệp ruộng đất là một trong những tư liệu sản xuất chủ yếu
mà trong Nghị Quyết Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ “phải giữ vững diện tích đất
trồng lúa, kiểm soát chặt chẽ việc chuyển đất nông nghiệp nhất là đất trồng lúa
sang sử dụng vào mục đích khác”. Do vậy nông nghiệp là ngành sản xuất hết
sức quan trọng của kinh tế nông thôn.
Nông thôn có phát triển được hay không là phụ thuộc vào sự phát triển
của nông nghiệp. Nông nghiệp nông thôn góp phần quan trọng vào việc ổn định
chính trị xã hội nông thôn và nâng cao đời sống nông dân . Gần 3 năm trước đây
nông nghiệp chính là một yếu tố quan trọng giúp nước ta đứng vững trước
những tác động mạnh của khủng hoảng kinh tế trong khu vực và thế giới.
1.2.2.2. Phát triển kinh tế công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng cơ bản
ở nông thôn


9
- Công nghiệp nông thôn là các hoạt động sản xuất có tính chất công

nghiệp diễn ra trên địa bàn nông thôn, công nghiệp nông thôn bao gồm công
nghiệp khai khoáng như khai thác đá, cát, sỏi, mỏ khác; công nghiệp chế biến như
sản xuất chế biến thực phẩm, đồ uống, trang phục, gỗ, lâm sản, giường, tủ, bàn ghế,
giấy, công nghiệp khác…
- Xây dựng cơ bản ở nông thôn bao gồm thủy lợi, điện, đường, trường trạm,
nhà văn hoá, thông tin liên lạc…
1.2.2.3. Phát triển dịch vụ nông thôn
Thương mại có nội dung hoạt động chủ yếu là trao đổi, lưu thông hàng hoá,
còn dịch vụ lại có nội dung hoạt động mang tích chất phục vụ. Các hoạt động
phục vụ này không chỉ phục vụ cho việc trao đổi hàng hoá như bán hàng và vận
chuyển hàng theo yêu cầu, dịch vụ khác… Ngoài ra các hoạt động dịch vụ còn
liên quan tới cả các lĩnh vực khác ở nông thôn như du lịch sinh thái, bảo hiểm,
dịch vụ tài chính ngân hàng, các dịch vụ y tế, văn hoá, xã hội… Thương mại là
hoạt động dịch vụ đảm nhận chức năng cung ứng đầu vào và tiêu thụ sản phẩm
đầu ra cho các doanh nghiệp và hộ gia đình ở nông thôn.
Tóm lại, dịch vụ nông thôn là toàn bộ hoạt động thương mại dịch vụ đáp ứng
nhu cầu phát triển sản xuất, đời sống và các nhu cầu phát triển khác ở nông thôn.
1.3. Phát triển kinh tế nông thôn trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
1.3.1. Phát triển kinh tế nông thôn ở Việt Nam
Nước ta đi lên từ một nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, trên 70% dân số
làm nông nghiệp, nền kinh tế mang nặng tính tự cấp tự túc, công nghiệp nhỏ bé
lạc hậu, các ngành dịch vụ chưa phát triển. Nhưng hiện nay nền kinh tế nước ta
đã phát triển vượt bậc, tuy nhiên trong thời gian qua Việt Nam cũng chịu ảnh
hưởng của sự khủng hoảng kinh tế thế giới, lạm phát không ngừng tăng đến
những tháng đầu năm 2011, thiên tai, dịch bệnh hoành hành, nhưng tốc độ tăng
trưởng của toàn ngành nông nghiệp vẫn đạt 2,8%. Tốc độ tăng trưởng bình quân
giai đoạn 2006-2010 đạt 3,36%/năm. Giá trị sản xuất toàn ngành ước tăng
4,69% trong năm 2010, bình quân 5 năm tăng 4,93%/năm (mục tiêu kế hoạch là



10
4,5%/năm).Tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành đạt mức kỷ lục, ước đạt 19,15
tỷ USD, tăng gần 22,6% so với năm 2009. Tổng diện tích gieo cấy lúa năm 2010
ước đạt 7,444 triệu ha lúa, tăng 23 nghìn ha so với 2009, sản lượng tăng hơn 900
nghìn tấn. Đảm bảo an ninh lương thực trong nước và xuất khẩu 6,7 triệu tấn
gạo. Ngành chăn nuôi đang tiếp tục phát triển nhân rộng hình thức trang trại, sử
dụng giống tốt, thức ăn công nghiệp, đảm bảo an toàn dịch bệnh. Tổng giá trị
sản xuất của ngành chăn nuôi đạt tăng trưởng 7% trong năm 2010. Theo số liệu
của Tổng cục Lâm nghiệp, độ che phủ của rừng đã tăng từ 37,1% vào năm 2005
lên 39,5% vào năm 2011. Trong giai đoạn 2006 - 2010, đã trồng thêm được
1.091 nghìn ha rừng, vượt 9% so với kế hoạch. Trong đó: trồng rừng phòng hộ
và rừng đặc dụng đạt 252.015 ha; trồng rừng sản xuất được 839.416 ha. Trong 5
năm, đã khoán diện tích bảo vệ rừng đạt 2.507.355 ha, vượt 67% so với kế
hoạch; diện tích rừng khoanh nuôi tái sinh đạt 922.768 ha, tăng 15% so với kế
hoạch. Công tác bảo vệ rừng đã thực sự có bước chuyển biến tích cực, số vụ vi
phạm các quy định về quản lý rừng trong năm 2010 đã giảm 6.665 vụ so với
năm trước, nhiều điểm nóng về phá rừng trái phép đã được khống chế.
Theo Tổng cục Thuỷ sản, tổng sản lượng thuỷ sản cả năm đạt gần 5,2 triệu
tấn, tăng 7,2% so với năm 2009 và vượt 30% so với mục tiêu kế hoạch 5 năm
2006-2010. Tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng cả năm thu hoạch được 2,8 triệu
tấn, tăng 9% so với năm trước. Năm vừa qua, Chính phủ tiếp tục có nhiều chính
sách hỗ trợ cho hoạt động khai thác bằng nhiều giải pháp: Nâng cao chất lượng
công tác dự báo, hướng dẫn ngư trường, khuyến khích ngư dân trang bị tàu có
công suất lớn, hiện đại hoá trang thiết bị bảo quản phục vụ khai thác dài ngày
trên biển. Hoạt động khai thác đang từng bước kết hợp được với công tác bảo vệ
và phát triển nguồn lợi thuỷ sản. Ước sản lượng khai thác cả năm đạt 2.395
nghìn tấn, tăng 5,2%. Năm 2010, kinh tế thế giới đã vượt qua khủng hoảng,
thương mại trên thị trường thế giới về hàng hóa nói chung, hàng nông lâm thủy
sản nói riêng phục hồi mạnh mẽ, nhu cầu tiêu dùng và giá cả tăng mạnh. Đồng
thời với việc khai thác cơ hội thuận lợi từ thị trường thế giới, sản xuất trong



11
nước được mùa nên nguồn hàng phục vụ xuất khẩu dồi dào, công tác quản lý
chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm và hoạt động xúc tiến thương mại được
đẩy mạnh. Vì vậy, đã tạo nên thắng lợi kép, tăng cả về lượng và giá trị xuất khẩu
cho hầu hết các mặt hàng nông lâm thủy sản. Tổng kim ngạch xuất khẩu toàn
ngành đạt mức kỷ lục, ước đạt 19,15 tỷ USD, tăng gần 22,6% so với năm 2009,
vượt 77,3% so với mục tiêu được Đại hội Đảng X đề ra (10,8 tỷ USD), tốc độ
tăng bình quân 17%/năm trong giai đoạn 2006-2010. Xuất khẩu các mặt hàng
nông sản chính ước đạt 9,95 tỷ USD, tăng 24,22% so với năm 2009. Thủy sản
đạt 4,94 tỷ USD, tăng 16,3%. Lâm sản và đồ gỗ đạt 3,63 tỷ USD, tăng 29,8%.
Tuy nhiên ngành nông nghiệp vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục như
nông nghiệp phát triển kém bền vững, hàng hoá chủ yếu tiêu thụ dưới dạng thô
chưa qua chế biến, sức cạnh tranh thấp. Công tác quản lý chất lượng vật tư đầu
vào cho sản xuất và vệ sinh an toàn thực phẩm đang còn yếu. Vẫn còn vật tư
chất lượng kém, giả, độc hại đang lưu hành và sử dụng đang gây bức xúc trong
xã hội, kiềm chế sự phát triển của một nền nông nghiệp an toàn, bền vững. Nông
thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội còn yếu kém
chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển, môi trường sống ở nông thôn ngày càng
bị ô nhiễm. Đời sống vật chất và tinh thần của nông dân chưa cao.
1.3.2. Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Để xây dựng nông thôn mới ta cần đạt 19 tiêu chí theo Bộ tiêu chí quốc gia
về nông thôn mới cụ thể như sau:
Nhóm 1: Quy hoạch
1. Tiêu chí Quy hoạch và thực hiện quy hoạch
- Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông
nghiệp hàng hoá, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ.
- Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường theo chuẩn
mới. Chỉ tiêu: Đạt.

- Quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư
hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp.


12
Nhóm 2: Hạ tầng kinh tế - xã hội
2. Tiêu chí giao thông
- Tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hoá hoặc bê tông hoá đạt
chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT. Chỉ tiêu: 100%.
- Tỷ lệ km đường trục thôn, xóm được cứng hoá đạt chuẩn theo cấp kỹ
thuật của Bộ GTVT. Chỉ tiêu: 75%.
- Tỷ lệ km đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa. Chỉ tiêu
100% (70% cứng hoá)
- Tỷ lệ km đường trục chính nội đồng được cứng hoá, xe cơ giới đi lại phải
thuận tiện. Chỉ tiêu: 70%.
3. Tiêu chí Thủy lợi
- Hệ thống thuỷ lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh. Chỉ tiêu: Đạt.
- Tỷ lệ km đường mương do xã quản lý được kiên cố hoá. Chỉ tiêu 85%.
4. Tiêu chí Điện
4.1. Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện. Chỉ tiêu: Đạt.
4.2. Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn. Chỉ tiêu: 98%.
5. Tiêu chí Trường học
- Tỷ lệ trường học các cấp: mần non, mẫu giáo, tiểu học, THCS có cơ sở
vật chất đạt chuẩn quốc gia. Chỉ tiêu 80%.
6. Tiêu chí cơ sở vật chất văn hoá
- Nhà văn hoá và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ VH-TT và Du lịch.
Chỉ tiêu: Đạt.
- Tỷ lệ thôn có nhà văn hoá và khu thể thao thôn đạt quy định của Bộ VH-
TT và Du lịch. Chỉ tiêu: 100%.
7. Tiêu chí Chợ nông thôn

- Chợ đạt chuẩn của Bộ Xây dựng. Chỉ tiêu: Đạt.
8. Tiêu chí Bưu điện
- Có điểm phục vụ bưu chính viễn thông. Chi tiêu: Đạt
- Có internet đến nông thôn. Chỉ tiêu: Đạt.


13
9. Tiêu chí nhà ở dân cư
- Tỷ lệ nhà ở đạt tiêu chuẩn Bộ Xây dựng. Chỉ tiêu: 80%, không có nhà tạm
dột nát.
Nhóm 3: Nhóm kinh tế và tổ chức sản xuất
10. Tiêu chí thu nhập
Thu nhập bình quân đầu người/năm so với mức bình quân chung của tỉnh.
Chỉ tiêu: 1,4 lần.
11. Tiêu chí tỷ lệ hộ nghèo
- Tỷ lệ hộ nghèo dưới mức 6%. Chỉ tiêu: 5%.
12. Tiêu chí cơ cấu lao động
- Tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vực, nông thôn, nghề
nghiệp. Chỉ tiêu: 35%
13. Tiêu chí hình thức tổ chức sản xuất
Có tổ hợp tác hoặc hợp tác xã sinh hoạt có hiệu quả. Chỉ tiêu: Có
14. Tiêu chí giáo dục
- Phổ cập giáo dục trung học. Chỉ tiêu: Đạt
- Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục họcTHPT. Chỉ tiêu: 85%
15. Tiêu chí Y tế
- Tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế. Chỉ tiêu: Đạt
- Y tế xã đạt chuẩn quốc gia. Chỉ tiêu: Đạt
16. Tiêu chí Văn hoá
- Xã có từ 70% số thôn, bản trở lên đạt tiêu chuẩn làng văn hoá theo quy
định của Bộ VH-TT&DL. Chỉ tiêu: Đạt

- Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh theo quy chuẩn quốc gia.
Chỉ tiêu: 85%
17. Tiêu chí Môi trường
- Các cơ sở sản xuất đạt tiêu chuẩn về môi trường. Chỉ tiêu: Đạt
- Không có hoạt động suy giảm môi trường và có các hoạt động phát triển
môi trường xanh - sạch - đẹp. Chỉ tiêu: Đạt


14
- Nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch. Chỉ tiêu: Đạt
- Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định. Chỉ tiêu: Đạt
18. Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh
- Cán bộ xã đạt chuẩn. Chỉ tiêu: Đạt
- Có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở theo quy định. Chỉ
tiêu: Đạt
- Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “Trong sạch, vững mạnh”. Chỉ
tiêu: Đạt
- Các tổ chức đoàn thể chính trị của xã đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên.
Chỉ tiêu: Đạt
19. Tiêu chí An ninh - Trật tự xã hội
An ninh xã hội được giữ vững. Chỉ tiêu: Đạt.
Trên đây là 19 tiêu chí về nông thôn mới, để nghiên cứu đề tài này ta cần đi
sâu vào phân tích nhóm kinh tế.
1.4. Kinh nghiệm phát triển kinh tế nông thôn trong quá trình xây dựng nông
thôn mới
Phát triển kinh tế nông thôn để xây dựng một nông thôn mới trong giai
đoạn hiện nay đang là mối quan tâm chung của cả cộng đồng thế giới. Kinh
nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về vấn đề này là bài học cho Việt Nam
chúng ta.
1.4.1. Kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới

1.4.1.1. Kinh nghiệm của Mỹ: phát triển ngành “kinh doanh nông nghiệp”
Mỹ là nước có điều kiện tự nhiên cực kỳ thuận lợi để phát triển nông
nghiệp. Vùng Trung Tây của nước này có đất đai màu mỡ nhất thế giới. Lượng
mưa vừa đủ cho hầu hết các vùng của đất nước; nước sông và nước ngầm cho
phép tưới rộng khắp cho những nơi thiếu mưa.
Bên cạnh đó, các khoản vốn đầu tư lớn và việc tăng cường sử dụng lao
động có trình độ cao cũng góp phần vào thành công của ngành nông nghiệp Mỹ.
Điều kiện làm việc của người nông dân làm việc trên cánh đồng rất thuận lợi:


15
máy kéo với các ca bin lắp điều hòa nhiệt độ, gắn kèm theo những máy cày, máy
xới và máy gặt có tốc độ nhanh và đắt tiền. Công nghệ sinh học giúp phát triển
những loại giống chống được bệnh và chịu hạn. Phân hóa học và thuốc trừ sâu
được sử dụng phổ biến, thậm chí, theo các nhà môi trường, quá phổ biến. Công
nghệ vũ trụ được sử dụng để giúp tìm ra những nơi tốt nhất cho việc gieo trồng
và thâm canh mùa màng. Định kỳ, các nhà nghiên cứu lại giới thiệu các sản
phẩm thực phẩm mới và những phương pháp mới phục vụ việc nuôi trồng thủy,
hải sản, chẳng hạn như tạo các hồ nhân tạo để nuôi cá.
Ngành nông nghiệp Mỹ đã phát triển thành một ngành “kinh doanh nông
nghiệp”, một khái niệm được đặt ra để phản ánh bản chất tập đoàn lớn của nhiều
doanh nghiệp nông nghiệp trong nền kinh tế Mỹ hiện đại. Kinh doanh nông nghiệp
bao gồm rất nhiều doanh nghiệp nông nghiệp và các cơ cấu trang trại đa dạng, từ
các doanh nghiệp nhỏ một hộ gia đình cho đến các tổ hợp rất lớn hoặc các công ty
đa quốc gia sở hữu những vùng đất đai lớn hoặc sản xuất hàng hóa và nguyên vật
liệu cho nông dân sử dụng. Cũng giống như một doanh nghiệp công nghiệp tìm
cách nâng cao lợi nhuận bằng việc tạo ra quy mô lớn hơn và hiệu quả hơn, nhiều
nông trại Mỹ cũng ngày càng có quy mô lớn hơn và củng cố hoạt động của mình
sao cho linh hoạt hơn.
Sự ra đời ngành kinh doanh nông nghiệp vào cuối thế kỷ XX đã tạo ra ít trang

trại hơn, nhưng quy mô các trang trại thì lớn hơn nhiều. Đôi khi được sở hữu bởi
những cổ đông vắng mặt, các trang trại mang tính tập đoàn này sử dụng nhiều máy
móc hơn và ít bàn tay của nông dân hơn. Vào năm 1940, Mỹ có 6 triệu trang trại và
trung bình mỗi trang trại có diện tích khoảng 67 ha, đến cuối thập niên 90 của thế kỷ
XX, số trang trại chỉ còn 2,2 triệu nhưng trung bình mỗi trang trại có diện tích 190
ha. Cũng chính trong khoảng giai đoạn này, số lao động nông nghiệp giảm rất mạnh
- từ 12,5 triệu người năm 1930 xuống còn 1,2 triệu người vào cuối thập niên 90 của
thế kỷ trước - dù cho dân số của Mỹ tăng hơn gấp đôi. Và gần 60% trong số nông
dân còn lại đó đến cuối thế kỷ này chỉ làm việc một phần thời gian trên trang trại;
thời gian còn lại họ làm những việc khác không thuộc trang trại để bù đắp thêm thu
nhập cho mình.


16
Hiện nay, trong cuộc sống hiện đại ồn ào, đầy sức ép, người Mỹ ở vùng đô
thị hay ven đô hướng về những ngôi nhà thô sơ, ngăn nắp và những cánh đồng,
phong cảnh miền quê truyền thống, yên tĩnh. Tuy nhiên, để duy trì “trang trại gia
đình” và phong cảnh làng quê đó thực sự là một thách thức.
1.4.1.2. Kinh nghiệm của Nhật Bản: Mỗi làng một sản phẩm
Từ thập niên 70 của thế kỷ trước, ở tỉnh Oita (miền tây nam Nhật Bản) đã
hình thành và phát triển phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”, với mục tiêu phát
triển vùng nông thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển
chung của cả nước Nhật Bản. Trải qua gần 30 năm hình thành và phát triển,
Phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” ở đây đã thu được nhiều thắng lợi rực rỡ.
Sự thành công của phong trào này đã lôi cuốn sự quan tâm không chỉ của nhiều
địa phương trên đất nước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu vực, quốc gia khác trên
thế giới. Một số quốc gia, nhất là những quốc gia trong khu vực Đông Nam Á đã
thu được những thành công nhất định trong phát triển nông thôn của đất nước
mình nhờ áp dụng kinh nghiệm phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”.
Những kinh nghiệm của phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” được

những người sáng lập, các nhà nghiên cứu đúc rút để ngày càng có nhiều người,
nhiều khu vực và quốc gia có thể áp dụng trong chiến lược phát triển nông thôn,
nhất là phát triển nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa đất
nước mình.
1.4.1.3. Kinh nghiệm của Hàn Quốc: Phong trào làng mới
Cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, GDP bình quân đầu người của Hàn
Quốc chỉ có 85 USD; phần lớn người dân không đủ ăn; 80% dân nông thôn
không có điện thắp sáng và phải dùng đèn dầu, sống trong những căn nhà lợp
bằng lá. Là nước nông nghiệp trong khi lũ lụt và hạn hán lại xảy ra thường
xuyên, mối lo lớn nhất của chính phủ khi đó là làm sao đưa đất nước thoát khỏi
đói, nghèo.
Phong trào Làng mới (SU) ra đời với 3 tiêu chí: cần cù (chăm chỉ), tự lực
vượt khó, và, hợp tác (hiệp lực cộng đồng). Năm 1970, sau những dự án thí điểm


17
đầu tư cho nông thôn có hiệu quả, Chính phủ Hàn Quốc đã chính thức phát động
phong trào SU và được nông dân hưởng ứng mạnh mẽ. Họ thi đua cải tạo nhà
mái lá bằng mái ngói, đường giao thông trong làng, xã được mở rộng, nâng cấp;
các công trình phúc lợi công cộng được đầu tư xây dựng. Phương thức canh tác
được đổi mới, chẳng hạn, áp dụng canh tác tổng hợp với nhiều mặt hàng mũi
nhọn như nấm và cây thuốc lá để tăng giá trị xuất khẩu. Chính phủ khuyến khích
và hỗ trợ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn, tạo việc làm và cải thiện thu
nhập cho nông dân.
Bộ mặt nông thôn Hàn Quốc đã có những thay đổi hết sức kỳ diệu. Chỉ
sau 8 năm, các dự án phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn cơ bản được hoàn
thành. Trong 8 năm từ 1971-1978, Hàn Quốc đã cứng hóa được 43.631km đường
làng nối với đường của xã, trung bình mỗi làng nâng cấp được 1.322m đường;
cứng hóa đường ngõ xóm 42.220km, trung bình mỗi làng là 1.280m; xây dựng
được 68.797 cầu (Hàn Quốc là đất nước có nhiều sông suối), kiên cố hóa

7.839km đê, kè, xây 24.140 hồ chứa nước và 98% hộ có điện thắp sáng. Đặc
biệt, vì không có quỹ bồi thường đất và các tài sản khác nên việc hiến đất, tháo
dỡ công trình, cây cối, đều do dân tự giác bàn bạc, thỏa thuận, ghi công lao đóng
góp và hy sinh của các hộ cho phong trào.
Nhờ phát triển giao thông nông thôn nên các hộ có điều kiện mua sắm
phương tiện sản xuất. Cụ thể là, năm 1971, cứ 3 làng mới có 1 máy cày, thì đến
năm 1975, trung bình mỗi làng đã có 2,6 máy cày, rồi nâng lên 20 máy vào năm
1980. Từ đó, tạo phong trào cơ khí hóa trong sản xuất nông nghiệp, áp dụng
công nghệ cao, giống mới lai tạo đột biến, công nghệ nhà lưới, nhà kính trồng
rau, hoa quả đã thúc đẩy năng suất, giá trị sản phẩm nông nghiệp, tăng nhanh.
Năm 1979, Hàn Quốc đã có 98% số làng tự chủ về kinh tế.
Ông Le Sang Mu, cố vấn đặc biệt của Chính phủ Hàn Quốc về nông, lâm, ngư
nghiệp cho biết, Chính phủ hỗ trợ một phần đầu tư hạ tầng để nông thôn tự mình
vươn lên, xốc lại tinh thần, đánh thức khát vọng tự tin. Thắng lợi đó được Hàn
Quốc tổng kết thành 6 bài học lớn.


18
Thứ nhất, phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng nông
thôn - phương châm là nhân dân quyết định và làm mọi việc, “nhà nước bỏ ra 1
vật tư, nhân dân bỏ ra 5-10 công sức và tiền của”. Dân quyết định loại công
trình, dự án nào cần ưu tiên làm trước, công khai bàn bạc, quyết định thiết kế và
chỉ đạo thi công, nghiệm thu công trình. Năm 1971, Chính phủ chỉ hỗ trợ cho
33.267 làng, mỗi làng 335 bao xi măng. Năm 1972 lựa chọn 1.600 làng làm tốt
được hỗ trợ thêm 500 bao xi măng và 1 tấn sắt thép. Sự trợ giúp này chính là
chất xúc tác thúc đẩy phong trào nông thôn mới, dân làng tự quyết định mức
đóng góp đất, ngày công cho các dự án.
Thứ hai, phát triển sản xuất để tăng thu nhập. Khi kết cấu hạ tầng phục vụ
sản xuất được xây dựng, các cơ quan, đơn vị chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, giống
mới, khoa học công nghệ giúp nông dân tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, xây

dựng vùng chuyên canh hàng hóa. Chính phủ xây dựng nhiều nhà máy ở nông
thôn để chế biến và tiêu thụ nông sản cũng như có chính sách tín dụng nông
thôn, cho vay thúc đẩy sản xuất. Từ năm 1972 đến năm 1977, thu nhập trung
bình của các hộ tăng lên 3 lần.
Thứ ba, đào tạo cán bộ phục vụ phát triển nông thôn Hàn Quốc, xác định
nhân tố quan trọng nhất để phát triển phong trào SU là đội ngũ cán bộ cơ sở theo
tinh thần tự nguyện và do dân bầu. Hàn Quốc đã xây dựng 3 trung tâm đào tạo
quốc gia và mạng lưới trường nghiệp vụ của các ngành ở địa phương. Nhà nước
đài thọ, mở các lớp học trong thời gian từ 1-2 tuần để trang bị đủ kiến thức thiết
thực như kỹ năng lãnh đạo cơ bản, quản lý dự án, phát triển cộng đồng.
Thứ tư, phát huy dân chủ để phát triển nông thôn. Hàn Quốc thành lập hội
đồng phát triển xã, quyết định sử dụng trợ giúp của chính phủ trên cơ sở công
khai, dân chủ, bàn bạc để triển khai các dự án theo mức độ cần thiết của địa
phương. Thành công ở Hàn Quốc là xã hội hóa các nguồn hỗ trợ để dân tự quyết
định lựa chọn dự án, phương thức đóng góp, giám sát công trình.
Thứ năm, phát triển kinh tế hợp tác từ phát triển cộng đồng Hàn Quốc đã
thiết lập lại các hợp tác xã (HTX) kiểu mới phục vụ trực tiếp nhu cầu của dân,


19
cán bộ HTX do dân bầu chọn. Phong trào SU là bước ngoặt đối với sự phát triển
của HTX hoạt động đa dạng, hiệu quả trong dịch vụ tín dụng, cung cấp đầu vào cho
sản xuất, tiếp thị nông sản, bảo hiểm nông thôn và các dịch vụ khác. Trong vòng 10
năm, doanh thu bình quân của 1 HTX tăng từ 43 triệu won lên 2,3 tỉ won.
Thứ sáu, phát triển và bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường bằng sức mạnh toàn
dân. Chính phủ quy hoạch, xác định chủng loại cây rừng phù hợp, hỗ trợ giống,
tập huấn cán bộ kỹ thuật chăm sóc vườn ươm và trồng rừng để hướng dẫn và
yêu cầu tất cả chủ đất trên vùng núi trọc đều phải trồng rừng, bảo vệ rừng. Nếu
năm 1970, phá rừng còn là quốc nạn, thì 20 năm sau, rừng xanh đã che phủ khắp
nước, và đây được coi là một kỳ tích của phong trào SU.

Phong trào SU của Hàn Quốc đã biến đổi cộng đồng vùng nông thôn cũ
thành cộng đồng nông thôn mới ngày một đẹp hơn và giàu hơn. Khu vực nông
thôn trở thành xã hội năng động có khả năng tự tích lũy, tự đầu tư và tự phát
triển. Phong trào SU, với mức đầu tư không lớn, đã góp phần đưa Hàn Quốc từ
một nước nông nghiệp lạc hậu trở nên giàu có.
1.4.1.4. Kinh nghiệm của Thái Lan: Sự trợ giúp mạnh mẽ của Nhà nước
Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn
chiếm khoảng 80% dân số cả nước. Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền
nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò
của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh
phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở
các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông
thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề
nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro
cho nông dân.
Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh
tranh với các hình thức, như tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy
mạnh công tác tiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa
học và hợp lý, từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi


20
và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; giải quyết
những mâu thuẫn có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất
đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác. Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà
nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn
phục vụ cho nông nghiệp. Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh
tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác
trong sản xuất nông nghiệp. Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây
dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước…

Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chính phủ Thái Lan đã tập
trung vào các nội dung sau: Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công
nghiệp nông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ
năng truyền thống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị song
song với việc cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập khẩu.
Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng
nông nghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp
chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công
nghiệp phát triển. Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan phát triển
rất mạnh nhờ một số chính sách sau:
- Chính sách phát triển nông nghiệp: Một trong những nội dung quan trọng
nhất của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2000-2005 là kế hoạch cơ
cấu lại mặt hàng nông sản của Bộ Nông nghiệp Thái Lan, nhằm mục đích nâng
cao chất lượng và sản lượng của 12 mặt hàng nông sản, trong đó có các mặt
hàng: gạo, dứa, tôm sú, gà và cà phê. Chính phủ Thái Lan cho rằng, càng có
nhiều nguyên liệu cho chế biến thì ngành công nghiệp chế biến lương thực thực
phẩm mới phát triển và càng thu được nhiều ngoại tệ cho đất nước. Nhiều sáng
kiến làm gia tăng giá trị cho nông sản được khuyến khích trong chương trình
Mỗi làng một sản phẩm và chương trình Quỹ làng.
- Chính sách bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm: Chính phủ Thái Lan
thường xuyên thực hiện chương trình quảng bá vệ sinh an toàn thực phẩm. Năm


21
2004, Thái Lan phát động chương trình “Năm an toàn thực phẩm và Thái Lan là
bếp ăn của thế giới”. Mục đích chương trình này là khuyến khích các nhà chế
biến và nông dân có hành động kiểm soát chất lượng vệ sinh thực phẩm để bảo
đảm an toàn cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Bên cạnh đó, Chính
phủ thường xuyên hỗ trợ cho doanh nghiệp cải thiện chất lượng vệ sinh an toàn
thực phẩm. Do đó, ngày nay, thực phẩm chế biến của Thái Lan được người tiêu

dùng ở các thị trường khó tính, như Hoa Kỳ, Nhật Bản và EU, chấp nhận.
- Mở cửa thị trường khi thích hợp: Chính phủ Thái Lan đã xúc tiến đầu tư,
thu hút mạnh các nhà đầu tư nước ngoài vào liên doanh với các nhà sản xuất
trong nước để phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, thông qua việc
mở cửa cho các quốc gia dù lớn hay nhỏ vào đầu tư kinh doanh. Trong tiếp cận
thị trường xuất khẩu, Chính phủ Thái Lan là người đại diện thương lượng với
chính phủ các nước để các doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh trong xuất
khẩu thực phẩm chế biến. Bên cạnh đó, Chính phủ Thái Lan có chính sách trợ
cấp ban đầu cho các nhà máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào kết cấu hạ tầng
như: Cảng kho lạnh, sàn đấu giá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; xúc tiến
công nghiệp và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Xúc tiến công nghiệp là
trách nhiệm chính của Cục Xúc tiến công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp, nhưng
việc xúc tiến và phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan do nhiều
cơ quan cùng thực hiện. Chẳng hạn, trong Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã, cùng
với Cục Xúc tiến nông nghiệp, Cục Hợp tác xã giúp nông dân xây dựng hợp tác
xã để thực hiện các hoạt động, trong đó có chế biến thực phẩm; Cục Thủy sản
giúp đỡ nông dân từ nuôi trồng, đánh bắt đến chế biến thủy sản. Cơ quan Tiêu
chuẩn sản phẩm công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp xúc tiến tiêu chuẩn hoá và
hệ thống chất lượng; Cơ quan Phát triển công nghệ và khoa học quốc gia xúc
tiến việc áp dụng khoa học và công nghệ cho chế biến; Bộ Đầu tư xúc tiến đầu
tư vào vùng nông thôn.
Một số kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp, nông thôn nêu trên cho
thấy, những ý tưởng sáng tạo, khâu đột phá và sự trợ giúp hiệu quả của nhà nước


22
trên cơ sở phát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân để phát
triển khu vực này, có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng đối với việc công
nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công nông nghiệp - tạo nền tảng thúc đẩy quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.4.5. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
- Coi trọng phát triển nông nghiệp như một bảo đảm cho ổn định kinh tế
xã hội. Từ đó có giải pháp đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp cho thị trường trong
nước và xuất khẩu, nhằm tiết kiệm ngoại tệ và bảo đảm được nông phẩm, vừa gia
tăng nguồn thu ngoại tệ và có xuất khẩu. Hơn nữa, phát triển nông nghiệp toàn diện
thì mới bảo đảm ổn định kinh tế xã hội nông thôn.
- Nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm nhằm cải thiện cơ cấu và chất
lượng sản phẩm nông nghiệp.
- Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước theo ba hướng: Phát triển hoạt động
đối ngoại nhằm khơi thông và mở rộng thị trường, sử dụng mềm dẻo hàng rào
thuế quan; Hỗ trợ ổn định giá nông sản, nhất là mặt hàng chiến lược, đồng thời
khuyến khích nông dân đầu tư dài hạn và có lợi; Chính phủ xây dựng cơ sở hạ
tầng, đầu tư nghiên cứu khoa học và đào tạo nhân lực, đồng thời cấp phát tín
dụng cho nông dân vay.











23
CHƢƠNG 2
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN
TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TẠI HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN

2.1. Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng phát triển kinh tế nông thôn trong quá trình xây dựng nông thôn
mới và ảnh hưởng của nó đến quá trình thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của
huyện Đồng Hỷ và đối với tỉnh Thái Nguyên? Cần các giải pháp gì để phát triển kinh
tế nông thông trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở Đồng Hỷ để phát triển
nhanh và bền vững trong quá trình xây dựng nông thôn mới?
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.2.1. Chọn điểm nghiên cứu
Chọn 3 xã làm điểm nghiên cứu đó là xã Cây Thị, xã Hợp Tiến, và xã
Huống Thượng
- Xã Cây Thị: Có tổng số nhân khẩu là 3.184 người, tổng số hộ là 788 hộ, chủ
yếu làm nông nghiệp. Trong sản xuất nông nghiệp, ngoài cây lúa, cây ngô các hộ
còn trồng các loại cây màu như khoai lang, đậu tương, lạc, phấn, sắn, rau, chè, cây
ăn quả, chăn nuôi gia súc gia cầm như trâu, bò, lợn, gà, vịt, ngan. Mặc dù người
dân ở đây rất chịu khó lao động nhưng tỷ lệ hộ nghèo vẫn cao, chiếm trên 30%.
- Xã Hợp Tiến: Có tổng số nhân khẩu là 5.930 người, tổng số hộ là 1.529 hộ,
chủ yếu làm nông nghiệp. Trong sản xuất nông nghiệp, ngoài cây lúa, cây ngô các hộ
còn trồng các loại cây màu như khoai lang, đậu tương, lạc, phấn, cây ăn quả…chăn
nuôi gia súc gia cầm như trâu, bò, lợn, gà, vịt, ngan. Mặc dù người dân ở đây rất chịu
khó lao động nhưng tỷ lệ hộ nghèo vẫn cao, chiếm 30%.
- Xã Huống Thượng: Có tổng số nhân khẩu là 5.713 người, tổng số hộ là
1.523 hộ, là một xã vùng cao chủ yếu làm nông nghiệp. Trong sản xuất nông
nghiệp, ngoài cây lúa, cây ngô các hộ còn trồng các loại cây màu như khoai
lang, đậu tương, lạc, sắn, rau, chè, cây ăn quả, chăn nuôi gia súc gia cầm như


24
trâu, bò, lợn, gà, vịt, ngan. Mặc dù người dân ở đây rất chịu khó lao động nhưng
tỷ lệ hộ nghèo vẫn chiếm 15,67%.
2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu

* Thu thập thông tin thứ cấp
Thu thập thông tin từ những số liệu đã công bố chính thức của cơ quan Nhà
nước, trung ương, tỉnh, huyện; các nghiên cứu của cá nhân, tổ chức về tình hình
phát triển kinh tế nông thôn, các báo chí chuyên ngành và những báo cáo khoa
học đã được công bố, các tài liệu do các cơ quan của tỉnh Thái Nguyên cung cấp
(Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Kế
hoạch và Đầu tư), của huyện và các xã huyện Định Hoá; những số liệu này thu
thập chủ yếu ở phòng Thống kê, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
phòng Tài nguyên và Môi trường của huyện.
* Thu thập thông tin sơ cấp
- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA): Đi thực tế để quan sát
đánh giá thực trạng, thu thập những thông tin qua những người dân ở vùng
nghiên cứu và các cán bộ, thu thập những tài liệu thông tin tại nơi nghiên cứu.
- Phương pháp đánh giá nông thôn có người dân tham gia (PRA): Trực tiếp
tiếp xúc với người dân tại nơi nghiên cứu, tạo điều kiện và thúc đẩy họ tham gia
vào những vấn đề nghiên cứu, thu thập thông tin để nắm được thực trạng đời
sống, sản xuất, khó khăn… của họ. Cho họ tham gia đề xuất ý kiến để từ đó
đánh giá sự phát triển kinh tế nông thôn và đề ra giải pháp.
* Phương pháp điều tra hộ
Chọn mẫu điều tra: Áp dụng chọn mẫu ngẫu nhiên (chọn điểm, chọn hộ)
chọn ở các vùng và lấy ra 3 xã đại diện. Mỗi xã chọn 30 hộ trong đó có tỷ lệ dân
tộc, nghề nông lâm nghiệp thuỷ sản, ngành nghề dịch vụ… tương ứng với tỷ lệ
chung của huyện, chọn và được phân ra 3 loại hộ khá, hộ trung bình, hộ nghèo
theo tỷ lệ chung. Mỗi xã chọn 30 hộ trong đó có 30% hộ là dân tộc kinh, 70% là
dân tộc thiểu số; Sử dụng mức phân loại hộ khá, trung bình, nghèo của huyện
năm 201 như sau: Hộ khá thu nhập bình quân trên 1.000.000 đồng/khẩu/tháng, hộ
trung bình thu nhập bình quân từ 400.000 – 1.000.000 đồng/khẩu/tháng, hộ nghèo
thu nhập bình quân dưới 400.000 đồng/khẩu/tháng. Việc chọn hộ điều tra theo



25
phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên trong từng nhóm, số hộ điều tra ở các điểm nghiên
cứu (Bảng 1.1).

Bảng 1.1: Tổng hợp số hộ điều tra ở các điểm nghiên cứu năm 2011

Hộ khá
Hộ trung
bình
Hộ nghèo
Tổng số
hộ điều
tra
(hộ)
Số hộ
(hộ)
Cơ cấu
(%)
Số hộ
(hộ)
Cơ cấu
(%)
Số hộ
(hộ)

cấu
(%)
Xã Cây Thị
3
21,43

13
27,08
14
50,00
30
Xã Hợp Tiến
5
35,71
15
31,25
10
35,71
30
Xã Huống Thượng
6
42,86
20
41,67
4
14,29
30
Tổng cộng
14

48

28

90
Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả

- Nội dung phiếu điều tra:
Phiếu điều tra có các thông tin chủ yếu như: nhân khẩu, lao động, tuổi,
trình độ văn hoá của các chủ hộ.
Các nguồn lực của nông hộ như ruộng đất, tư liệu sản xuất, vốn…Tình hình
sản xuất các ngành trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ
sản, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ…Chi phí sản xuất từng ngành, thu nhập từng
ngành. Tình hình đời sống, thu, chi phục vụ sản xuất, đời sống và tích luỹ của
hộ. Các thông tin khác có liên quan đến hoạt động sản xuất, đời sống vật chất
tinh thần, văn hoá, nhu cầu của hộ…
- Phương pháp điều tra: Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp với hộ.
Đặt ra những câu hỏi mở và phù hợp với tình hình thực tế. Sử dụng linh hoạt các
câu hỏi: Ai? Cái gì? Ở đâu? Làm gì? Như thế nào? Tại sao? Bao nhiêu? Phỏng
vấn các hộ đã chọn, kiểm tra tính thực tiễn bằng quan sát.
- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA): Đi thực tế để quan sát
đánh giá thực trạng.

×