Tải bản đầy đủ (.pdf) (91 trang)

Kết quả điều trị ngoại trú bệnh nhân đái tháo đường Týp 2 tại bệnh viện đa khoa huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (999.42 KB, 91 trang )



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


i

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN



TRẦN VĂN PHƢỢNG


KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ
BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƢỜNG TÝP 2 TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN


CHUYÊN NGÀNH : NỘI KHOA
Mã số: 60 72 01 40


LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC


HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.NGUYỄN TRỌNG HIẾU





THÁI NGUYÊN - 2012



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


ii


LỜI CAM ĐOAN


Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi .Các số
liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nào khác.

Thái Nguyên, tháng 12 năm 2012
Tác giả luận văn





TRẦN VĂN PHƢỢNG














LỜI CÁM ƠN



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


iii
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.Tôi đã
nhận được sự giúp đỡ quý báu của các thầy, cô, bạn bè đồng nghiệp và gia
đình.Với lòng biết ơn vô hạn tôi xin được giử lời cảm ơn sâu sắc tới :
Đảng ủy, Ban Giám hiệu, Bộ môn Nội, Phòng Quản lý đào tạo sau Đại
Học, Phòng nghiên cứu khoa học và quan hệ quốc tế, Các thầy cô giáo
Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên.
Ban Giám đốc, Trung tâm Đào tạo và Chỉ đạo tuyến, Khoa sinh hóa,
Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên.
Sở Y tế tỉnh Thái Nguyên, Ban Giám đốc, Khoa Khám bệnh, Khoa Xét
nghiệm, Phòng kế hoạch - nghiệp vụ và các khoa phòng của Bệnh viện Đa
khoa huyện Đại Từ.
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lời cám ơn chân thành tới TS.
Nguyễn Trọng Hiếu Phó trưởng Bộ môn Nội Trường Đại Học Y – Dược Thái

Nguyên, người thày đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và
hoàn thành luận văn.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn anh em, bạn bè, đồng nghiệp và
gia đình đã động viên tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong qua trình học tập
và nghiên cứu.
Xin trân trọng cám ơn.
Thái nguyên, tháng 12 năm 2012
Tác giả




TRẦN VĂN PHƢỢNG




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


iv
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

ADA
: Hiệp hội đái tháo đƣờng Hoa Kỳ
(American Diabetic Asosciation)
ALT
: Alanin Amino Transferase
AST
: Aspartate Amino Transferase

BMI
: Chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index)
ĐTĐ
: Đái tháo đƣờng
HA
: Huyết áp
HbA1c
: Hemoglobin gắn đƣờng (Glycosylated Hemoglobin)
HDL
: High Density Lipoprotein (Lipoprotein có tỷ trọng cao)
IDF
: Hiệp hội đái tháo đƣờng quốc tế
(International Diabetes Federation)
IGT
: Rối loạn dung nạp glucose (Impaired Glucose Tolerance)
IFG
: Rối loạn glucose lúc đói (Impaired Fasting Glucose)
FPG
: Glucose huyết tƣơng lúc đói
(Fasting Plasma Glucose)
RLDNG
: Rối loạn dung nạp glucose
WHO
: Tổ chức y tế thế giới (World Health Organization)












Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


v
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

ĐẶT VẤN ĐỀ
1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN
3
1.1.Định nghĩa
3
1.2. Chẩn đoán và phân loại bệnh đái tháo đƣờng

4
1.3. Đặc điểm dịch tễ học của bệnh đái tháo đƣờng
7
1.4. Sinh lý bệ nh đá i thá o đƣờ ng týp 2
9
1.5. Đặc điểm lâm sàng và biến chứng ở bệnh nhân đái tháo đƣờng týp 2
11
1.6. Các phƣơng pháp điều trị bệnh đái tháo đƣờng
15
1.7. Giá trị của HbA1C trong điều trị và hiệu quả kiểm soát glucose
máu với biến chứng của bệnh đái tháo đƣờng typ 2
24
1.8. Một số nghiên cứu về bệnh đái tháo đƣờng typ 2 trên thế giới, Việt Nam và
Thái Nguyên.
26
Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
29
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
29
2.2.Thời gian và địa điểm nghiên cứu
30
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
30
2.4. Chỉ tiêu nghiên cứu
30
2.5. Kỹ thuật thu thập số liệu
32
2.6. Vật liệu nghiên cứu
38
2.7. Xử lý số liệu

38
2.8. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
38
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
39
3.1. Đặc điểm chung các bệnh nhân đái tháo đƣờng của nhóm nghiên cứu
39


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


vi
3.2. Kết quả điều trị bệnh đái tháo đƣờng
44
3.3. Một số yếu tố liên quan với kết quả điều trị đái tháo đƣờng dựa vào HbA1C
50
Chƣơng 4: BÀN LUẬN
55
4.1. Đặc điểm chung các bệnh nhân nghiên cứu
55
4.2. Đánh giá kết quả điều trị
60
4.3. Một số yếu tố liên quan kết quả điều trị
65
KẾT LUẬN
68
KHUYẾN NGHỊ
70
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH SÁCH BỆNH NHÂN




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


vii
DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang
Bảng 3.1. Phân bố đối tƣợng nghiên cứu theo nhóm tuổi, giới
39
Bảng 3.2. Phân bố đối tƣợng nghiên cứu theo dân tộc và địa dƣ
40
Bảng 3.3. Phân bố nhóm tuổi theo thời gian phát hiện bệnh
41
Bảng 3.4. Một số triệu chứng lâm sàng ở đối tƣợng nghiên cứu
42
Bảng 3.5. Đặc điểm béo trung tâm ở nhóm nghiên cứu theo giới
42
Bảng 3.6. Tỷ lệ có biến chứng tính theo nhóm tuổi
43
Bảng 3.7. Một số chỉ số hóa sinh máu ở nhóm bệnh nhân nghiên cứu
44
Bảng 3.8. Phân bố bệnh nhân theo nhóm thuốc điều trị
45
Bảng 3.9. Nồng độ glucose và tỷ lệ HbA1C theo nhóm thuốc điều trị

45
Bảng 3.10. Nồng độ một số chỉ số lipid máu theo nhóm thuốc điều trị
46
Bảng 3.11. Tỷ lệ rối loạn một số chỉ số lipid máu theo nhóm thuốc điều trị
46
Bảng 3.12. Phân loại huyết áp ở các nhóm điều trị
47
Bảng 3.13. Phân bố tác dụng phụ và tai biến trong điều trị
47
Bảng 3.14. Nồng độ AST, ALT va creatinin theo các nhóm thuốc điều trị
48
Bảng 3.15. Đánh giá mức độ kiêm soát lipid máu ở bệnh nhân ĐTĐ
49
Bảng 3.16. Mối liên quan giữa kiểm soát HbA1C với một số chỉ số nhân trắc
50
Bảng 3.17. Mối liên quan giữa kiểm soát HbA1C với một số chỉ số nhân trắc
50
Bảng 3.18. Mối liên quan giữa kiểm soát HbA1C với chỉ số bụng mông
51
Bảng 3.19. Moosilieen quan giữa mức độ kiểm soát HbA1C theo thời gian mắc
bệnh
51
Bảng 3.20. Mối liên quan giữa kiểm soát HbA1C với chế độ ăn
52
Bảng 3.21. Mối liên quan giữa kiểm soát HbA1C với một số thói quen
53



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ


Trang
Biểu đồ 3.1. Phân bổ bệnh nhân theo nhóm tuổi, giới
40
Biểu đồ 3.2. Phân bố đối tƣợng nghiên cứu theo nghề nghiệp
41
Biểu đồ 3.3. Đặc điểm thể trạng các đối tƣợng nghiên cứu
43
Biểu đồ 3.4. Tỷ lệ một số biến chứng
44
Biểu đồ 3.5. Mức độ kiểm soát HbA1C ở các nhóm điều trị
48
Biểu đồ 3.6. Mức độ kiểm soát glucose và HbA1C ở BN nghiên cứu
49
Biểu đồ 3.7. mối liên quan giữa mức độ kiểm soát glucose máu với biến chứng

54
Biểu đồ 3.8. mối liên quan giữa mức độ kiểm soát glucose máu với tuân thủ
điều trị
54



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



1
ĐẶT VẤN ĐỀ


Đái tháo đƣờng (ĐTĐ) là một nhóm bệnh chuyển hóa đƣợc đặc trƣng
bởi tăng glucose máu mạn tính do hậu quả của sự thiếu hụt hoặc giảm hoạt
động của insulin hoặc kết hợp cả hai. Bệnh có xu hƣớng ngày càng tăng
theo sự phát triển kinh tế, lối sống ít vận động, dinh dƣỡng không phù hợp
khi phát hiện thì thƣờng muộn và kèm theo nhiều biến chứng trầm trọng.
ĐTĐ là một trong những bệnh không lây nhiễm phổ biến nhất trên toàn cầu
bệnh đƣợc coi nhƣ là một dịch bệnh ở nhiều nƣớc đang phát triển [1].
Trong những năm gần đây, bệnh đái tháo đƣờng (ĐTĐ) đang ngày càng
trở nên là vấn đề lớn đối với giới y khoa cũng nhƣ đối với cộng đồng. Bệnh
đang gia tăng với tốc độ đáng lo ngại. Thông báo của Hiệp hội Đái tháo
đƣờng quốc tế: năm 1995 cả thế giới có 135 triệu ngƣời mắc bệnh ĐTĐ
chiếm tỷ lệ 4,0% dân số toàn cầu. Theo Quỹ Đái tháo đƣờng thế giới, năm
2025 sẽ có 330 - 339 triệu ngƣời mắc ĐTĐ trong đó: ở các nƣớc phát triển
tăng 42%. Ở các nƣớc đang phát triển tăng 170% [2]. Ở Việt Nam, vào năm
1990 tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đƣờng ở Huế 0,96% và Thành phố Hồ Chí Minh
là 2,52%. Nhƣng chỉ sau 10 năm, năm 2001 tỷ lệ này ở các thành phố lớn đã
là 4,1%. Theo thống kê năm 2008, tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đƣờng trong cả
nƣớc là trên 5% (khoảng 4,5 triệu ngƣời), các thành phố lớn và khu công
nghiệp có tỷ lệ từ 7,0% đến 10%. Tỷ lệ ĐTĐ typ 2 gia tăng theo tuổi, từ 2,0%
ở độ tuổi 20 - 44 đến 17,7% ở độ tuổi 65-74 [29]. Ở Thái Nguyên, nhiều năm
gần đây với tốc độ gia tăng nhanh của bệnh cũng nhƣ diễn biến phức tạp và
gây ra nhiều biến chứng nặng nề, kết quả là bệnh nhân tử vong hoặc để lại di
chứng tàn phế, trƣớc tình hình đó đã có nhiều tác giả nghiên cứu về bệnh
ĐTĐ, đánh giá hiệu quả điều trị cũng nhƣ phối hợp các phƣơng pháp điều trị
song thực tế chƣa có một nghiên cứu nào xác định, mô tả diễn biến cũng nhƣ



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


2
mức độ gia tăng, kết quả điều trị ngoại trú của bệnh tại tuyến y tế cơ sở, để có
chiến lƣợc mang tính khả thi đối với căn bệnh này.
Huyện Đại Từ có diện tích 52,2km2, dân số khoảng 17 vạn, gồm 5 dân tộc
là kinh, tày, nùng, dao, sán chí. Cùng với sự phát triển về kinh tế, đời sống
nhân dân đƣợc cải thiện thì bệnh nhân ĐTĐ tại cơ sở khám chữa bệnh đang
ngày một gia tăng. Biện pháp hữu hiệu để làm giảm tiến triển và biến
chứng của bệnh, chi phí cho chữa bệnh ít tốn kém nhất là phải phát hiện sớm
và điều trị ngƣời bệnh kịp thời. Tuy nhiên, công tác điều trị ngoại trú bệnh
ĐTĐ tại huyện Đại Từ mới đƣợc triển khai từ tháng 8 năm 2010 và chƣa có
đánh giá cụ thể nào cho nên công tác điều trị còn gặp rất nhiều lúng túng.
Để xác định vấn đề này, chúng tôi tiến hành đề tài “Kết quả điều trị
ngoại trú bệnh nhân ĐTĐ týp 2 tại Bệnh viện Đa khoa huyện Đại Từ tỉnh
Thái Nguyên”
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
1. Đánh giá kết quả điều trị ngoại trú bệnh nhân ĐTĐ týp 2 tại bệnh
viện huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên.
2. Xác định một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị ngoại trú bệnh
ĐTĐ
týp 2

tại bệnh viện đa khoa huyện Đại Từ.












Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU





1.1. Định nghĩa
Bệnh ĐTĐ (Diabetes mellitus) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp (diabete:
nƣớc chảy trong ống Syphon) và tiếng La Tinh (mellitus: ngọt), do vậy mà
danh từ y dƣợc học Việt Nam dịch diabetes mellitus là ĐTĐ.
Bệnh ĐTĐ đƣợc Tổ chức Y tế Thế giới năm 1994 và Hiệp hội ĐTĐ Hoa
Kỳ (American Diabete Association -ADA) năm 1997 định nghĩa: “Bệnh ĐTĐ
biểu hiện bằng tình trạng tăng glucose trong máu, rối loạn chuyển hóa
glucid, lipid và protein, thường kết hợp với giảm tương đối hay tuyệt đối về
tác dụng hoặc sự bài tiết insulin”. Mặc dù bệnh có nguồn gốc nội tiết nhƣng
biểu hiện là bệnh lý rối loạn chuyển hóa. Sự rối loạn chuyển hóa glucid đã
kéo theo hàng loạt các rối loạn chuyển hóa khác nhƣ chuyển hóa protein và

lipid, các rối loạn này gây tổn thƣơng các cơ quan, tổ chức, trƣớc hết là hệ tim
mạch và hệ thần kinh.
Tháng 1/2003, các chuyên gia thuộc Ủy ban chẩn đoán và phân loại bệnh
đái tháo đƣờng Hoa Kỳ, lại đƣa ra một định nghĩa mới về ĐTĐ: "ĐTĐ là một
nhóm các bệnh chuyển hóa có đặc điểm là tăng glucose máu, hậu quả của sự
bài tiết thiếu hụt insulin, khiếm khuyết trong hoạt động của insulin hoặc cả
hai. Tăng glucose máu mạn tính thường kết hợp với sự hủy hoại, sự rối loạn
chức năng của nhiều cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch
máu" [2].




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


4
1.2. Chẩn đoán và phân loại bệnh ĐTĐ
1.2.1. Chẩn đoán
Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định
Theo Hiệp hội đái tháo đƣờng Hoa Kỳ năm 1997 và đƣợc Tổ chức Y tế
thế giới công nhận năm 1998, tuyên bố áp dụng vào năm 1999, ĐTĐ đƣợc
chẩn đoán xác định khi có bất kỳ một trong 3 tiêu chuẩn sau:
- Tiêu chuẩn 1: Glucose máu bất kỳ

200mg/dl (11,1 mmol/l). Kèm
theo các triệu chứng uống nhiều, đái nhiều, sút cân không có nguyên nhân.
- Tiêu chuẩn 2: Glucose máu lúc đói

126mg/dl (7,0 mmol/l), xét

nghiệm lúc bệnh nhân đã nhịn đói sau 6-8 giờ không ăn.
- Tiêu chuẩn 3: Glucose máu thời điểm 2 giờ sau khi làm nghiệm pháp
tăng glucose máu (sau uống 75g glucose)

200mg/dl( 11,1 mmol/l).
Các xét nghiệm trên phải đƣợc lặp lại 1-2 lần trong những ngày đó [1].
Đến năm 2010, ADA đề nghị bổ sung thêm một tiêu chuẩn chẩn đoán
ĐTĐ để khẳng định vai trò quan trọng của HbA1C:
- Tiêu chuẩn mới: HbA1C ≥ 6,5% [28].
1.2.2. Phân loại bệnh đái tháo đường
1.2.2.1. Đái tháo đường týp 1
ĐTĐ týp 1 để chỉ thể ĐTĐ do tế bào bê - ta bị phá hủy do nguyên nhân
tự miễn dịch, biểu hiện bằng sự có mặt của các kháng thể kháng tế bào tiểu
đảo tụy và kháng thể kháng insulin [1].
ĐTĐ týp 1 chiếm tỷ lệ khoảng 5-10% tổng số bệnh nhân ĐTĐ trên thế
giới. Nguyên nhân do tế bào bêta của tụy đảo bị phá hủy, gây nên sự thiếu hụt
insulin tuyệt đối cho cơ thể (nồng độ insulin giảm thấp hoặc mất hoàn toàn).
Các kháng nguyên bạch cầu ngƣời (HLA) chắc chắn có mối liên quan chặt
chẽ với sự phát triển của ĐTĐ týp 1[35].


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


5
ĐTĐ týp 1 phụ thuộc nhiều vào yếu tố gen và thƣờng đƣợc phát hiện
trƣớc 40 tuổi. Nhiều bệnh nhân, đặc biệt là trẻ em và trẻ vị thành niên biểu
hiện nhiễm toan ceton là triệu chứng đầu tiên của bệnh. Đa số các trƣờng hợp
đƣợc chẩn đoán bệnh ĐTĐ týp 1 thƣờng là ngƣời có thể trạng gầy, tuy nhiên
ngƣời béo cũng không loại trừ. Ngƣời bệnh ĐTĐ týp 1 sẽ có đời sống phụ

thuộc vào insulin hoàn toàn.
Đây là một tình trạng rối loạn chuyển hóa dị hóa, trong đó insulin lƣu
hành trong máu hầu nhƣ không có.Vì vậy insulin từ ngoài đƣa vào là cần
thiết, để phục hồi lại tình trạng dị hóa [35].
1.2.2.2. Đái tháo đường týp 2
Đái tháo đƣờng týp 2 chiếm tỷ lệ 90% ĐTĐ trên toàn thế giới, chủ yếu là
do kháng insulin và thiếu hoạt động của insulin. Bệnh thƣờng xảy ra ở ngƣời
trên 35 tuổi [40]. Nguy cơ mắc bệnh tăng dần theo tuổi. Tuy nhiên do có sự
thay đổi nhanh quá nhanh về đời sống vật chất, sự thay đổi về lối sống, ít hoạt
động thể lực là những yếu tố cơ bản làm cho tốc độ gia tăng nhanh của bệnh [11].
Đặc trƣng của ĐTĐ týp 2 là kháng insulin đi kèm với thiếu hụt tiết
insulin tƣơng đối. ĐTĐ týp 2 thƣờng đƣợc chẩn đoán rất muộn vì giai đoạn
đầu tăng glucose máu tiến triển âm thầm không có triệu chứng. Khi có biểu
hiện lâm sàng thƣờng kèm theo các rối loạn khác về chuyển hóa lipid, các
biểu hiện bệnh lý về tim mạch, thần kinh, thận nhiều khi các biến chứng này
đã ở mức độ rất nặng,.
Đặc điểm lớn nhất của bệnh ĐTĐ týp 2 là có sự tác động qua lại của cả 2
yếu tố di truyền và yếu tố môi trƣờng [8]. Ngƣời mắc bệnh ĐTĐ týp 2 có thể
điều trị bằng cách thay đổi thói quen, kết hợp dùng thuốc để kiểm soát
glucose máu, tuy nhiên nếu quá trình này thực hiện không tốt thì bệnh nhân
cũng sẽ phải điều trị bằng cách dùng insulin.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


6
1.2.2.3. Đái tháo đường thai nghén
Đái đƣờng thai nghén thƣờng gặp ở phụ nữ có thai, có glucose máu tăng,
gặp khi có thai, tỷ lệ này gặp khoảng 3% thƣờng gặp lúc thai tháng thứ 8,

nhƣng cũng có thể xớm hơn. Sự tiến triển của ĐTĐ thai nghén sau đẻ theo 3
khả năng: Bị ĐTĐ, giảm dung nạp glucose, bình thƣờng.
Nguy cơ bị đái tháo đƣờng ở các bà mẹ đã sinh con lớn hơn so với các bà
mẹ trƣớc đây chƣa sinh con lần nào.Tỷ lệ ĐTĐ thai nghén thay đổi khác nhau
tùy theo quốc gia, theo vùng và theo chủng tộc.Theo hiệp hội đái tháo đƣờng
Mỹ tỷ lệ đái tháo đƣờng thây đổi từ 1%- 14% các phụ nữ có thai. Một số công
trình nghiên cứu tại Việt Nam, tỷ lệ đái tháo đƣờng trong nhóm mang thai
chiếm khoảng 3,9% [30]. Theo Trần Đức Thọ, Đỗ Trung Quân 2001 nghiên
cứu 196 sản phụ, có 32 sản phụ có đƣờng niệu dƣơng tính thì có 6/32 ngƣời bị
đái tháo đƣờng thai nghén chiếm 18,8% và 3/32 ngƣời có RLRNG chiếm
9,4%. Tỷ lệ ĐTĐ và RLRNG là 28,1% [6].
Trong cả quá trình mang thai, song song với sự phát triển của thai nhi thì
nhu cầu insulin của ngƣời mẹ tăng lên, trong khi đó sự kháng insulin tại tổ
chức và ngoại vi tăng dẫn tới sử dụng glucose ở tổ chức ngoại vi giảm. Những
thay đổi của chuyển hóa đƣờng và tác dụng của insulin sẽ đƣợc phục hồi dần
sau khi đẻ.
1.2.2.4. Các bệnh Đái tháo đường khác (hiếm gặp)
- Liên quan đến một số bệnh, thuốc, hóa chất.
- Khiếm khuyết chức năng tế bào bê-ta tụy đảo.
- Khiếm khuyết gen hoạt động của insulin.
- Bệnh tụy ngoại tiết: Viêm tụy, chấn thƣơng, carcinom tụy,
- Các bệnh nội tiết: Hội chứng Cushing, cƣờng năng tuyến giáp,
- Thuốc hoặc hóa chất.
- Các thể ít gặp qua trung gian miễn dịch.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


7

1.3. Đặc điểm dịch tễ học của bệnh đái tháo đƣờng
Vào những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, ĐTĐ là bệnh không lây
nhiễm phát triển nhanh nhất. Bệnh ĐTĐ là nguyên nhân gây tử vong đứng
hàng thứ tƣ ở các nƣớc phát triển. Theo khuyến cáo của IDF trên thế giới mỗi
năm có khoảng 3,2 triệu ngƣời chết vì bệnh ĐTĐ, nhƣ vậy mỗi ngày có
khoảng 8.700 ngƣời và 1 phút có 6 ngƣời chết do ĐTĐ [21]. Nhiều nghiên
cứu cho thấy ĐTĐ tăng nhanh ở các nƣớc đang phát triển. Theo thống kê của
WHO, bệnh ĐTĐ typ 2 chiếm vào khoảng 85 – 95% tổng số ngƣời mắc ĐTĐ
[28]. Sự bùng nổ của ĐTĐ typ 2 và những biến chứng của bệnh đang là thách
thức lớn đối với cộng đồng. Tại Việt Nam theo báo cáo của giáo sƣ Phạm
Song (2009) hiện nay có khoảng 5 triệu ngƣời mắc bệnh đái tháo đƣờng, với
tỷ lệ từ 8-10%/năm. Việt Nam đang trở thành nƣớc có tỷ lệ gia tăng bệnh đái
tháo đƣờng nhanh nhất thế giới. Theo dự báo của tác giả Nguyễn Văn Vy Hậu
và cộng sự (2011) với thang điểm FINDRIC Châu Á nguy cơ ĐTĐ trong
vòng 10 năm tới là 8,74%với nam là 7,68; nữ là 9,64 [19].
1.3.1. Bệnh có liên quan đến các yếu tố dân tộc và khu vực địa lý
Tỷ lệ ĐTĐ typ 2 cao nhất ở ngƣời châu Mỹ và các đảo Thái Bình
Dƣơng; tiếp theo là ngƣời Mỹ gốc Mêhicô, Mỹ gốc Ấn rồi ngƣời Đông Nam
Á, ngƣời Mỹ gốc Phi. Ví dụ: Ở Mỹ, tỷ lệ ĐTĐ typ 2 là 11,4% (năm 1976)
tăng lên 14,3% (năm 1988) – Điều tra ở lứa tuổi 40-74 tuổi. Ở Trung Quốc,
điều tra ở lứa tuổi 25-74 tuổi – năm 1994 với 224.251 ngƣời tỷ lệ bệnh là
2,5%, cao gấp 3 lần so với những năm 80. Nghiên cứu dịch tễ học bệnh ĐTĐ
ở tiểu vùng Sahara (1999-2011) thấy hơn 90% là ĐTĐ typ 2 trong đó có sự
khác biệt giữa nông thôn và thành thị với tỷ lệ 1% ở nông thôn Uganda đến
12% ở đô thị Kenya. Khu đô thị Madras -Miền Đông Nam Ấn Độ, tỷ lệ ĐTĐ
tăng lên 40% trong thời gian từ 1988-1989 đến 1994-1995 nhƣng tỷ lệ bệnh ở


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



8
vùng nông thôn chỉ tăng 2%. Theo WHO, năm 2025 sẽ có 300 – 330 triệu
ngƣời mắc bệnh ĐTĐ chiếm tỷ lệ 5,4% dân số toàn cầu [2].
1.3.2. Đái tháo đường typ 2 ở lứa tuổi trẻ
Đái tháo đƣờng typ 2 ở lứa tuổi trẻ đang có xu hƣớng phát triển nhanh ở
Mỹ, Nhật Bản, các đảo ở Thái Bình Dƣơng, Hồng Kông, Úc và Vƣơng quốc
Anh. Ở Mỹ tỷ lệ ĐTĐ typ 2 ở lứa tuổi từ 12 đến 19 là 4,1/1000. Từ năm
1967-1976 đến 1987-1996, tỷ lệ ĐTĐ trẻ em nữ tăng từ 2,7% đến 5,3% và trẻ
em nam tăng từ 2,4% đến 2,7%. Nhật Bản, Trung Quốc tỷ lệ ĐTĐ typ 2/
ĐTĐ typ 1 ở lứa tuổi học sinh trung học là 1/4 [2].
1.3.3. Đái tháo đường typ 2 ở người lớn tuổi
ĐTĐ là một trong những bệnh mãn tính phổ biến nhất có thể dẫn đến
biến chứng nghiêm trọng ảnh hƣởng đến chất lƣợng của cuộc sống và tuổi
thọ. Hiện nay tỷ lệ mắc ĐTĐ chiếm khoảng 7- 10% trong dân số cao tuổi và
xấp xỉ 40% so với số ngƣời ĐTĐ chung. Ngoài ra, có khoảng 10% ngƣời cao
tuổi không đƣợc chẩn đoán bệnh ĐTĐ, không đƣợc điều trị và thậm chí có
những nguy cơ cao hơn về bệnh tật và tử vong do ĐTĐ.
Ở Vƣơng quốc Anh, độ tuổi 65-69 có 10,3% nam giới và 9,5% nữ giới
mắc ĐTĐ; và tƣơng ứng với đó độ tuổi 70-75 có 11,4% và 9,4%. Ở các nƣớc
Châu Á: kết quả nghiên cứu ở ngƣời Đài Loan trên 60 tuổi thấy 26% có ĐTĐ
và 22% có RLRNG. Hồng Kông Trung Quốc tỷ lệ 10% ĐTĐ ở ngƣời trên 60
tuổi và 17% ở ngƣời trên 75 tuổi. Khi cơ thể già đi, chức năng của tụy nội tiết
cũng bị suy giảm theo, giảm khả năng tiết insulin. Khi tế bào tụy không còn
khả năng tiết insulin đủ với nhu cầu cần thiết của cơ thể, glucose máu sẽ tăng
và bệnh ĐTĐ thực sự xuất hiện [1].
Phát hiện bệnh ĐTĐ ở giai đoạn sớm sẽ làm giảm hoặc ngăn ngừa những
biến chứng của nó, nếu không chúng sẽ có thể dẫn đến những tình trạng bệnh
tồi tệ hơn nữa. Ngƣời ta thấy rằng ngƣời ĐTĐ cao tuổi sử dụng dịch vụ cấp



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


9
cứu nhiều hơn so với ngƣời không ĐTĐ. Giảm thị lực và mù lòa do bệnh mắt
ĐTĐ, cắt cụt chi do bệnh mạch ngoại vi, bệnh lý thần kinh, bệnh mạch vành,
tai biến mạch não, suy thận mạn…Tất cả đều làm suy giảm chất lƣợng cuộc
sống của ngƣời bệnh ĐTĐ cao tuổi. Các biến chứng mạn tính thƣờng gặp
ngay khi ngƣời cao tuổi mới đƣợc chẩn đóan ĐTĐ. Tại thời điểm chẩn đoán
lâm sàng ngƣời bệnh đái tháo đƣờng phần lớn đã có biến chứng, trong đó
bệnh võng mạc có tới 35%, bệnh thần kinh ngoại biên chiếm 12% [22]. Bệnh
tăng huyết áp và nhồi máu cơ tim có sóng Q gặp nhiều hơn. Tỷ lệ và nguy cơ
phát triển bệnh võng mạc, bệnh mạch máu ngoại vi, bệnh thần kinh ngoại vi
sẽ tăng lên theo tuổi.
1.4. Sinh lý bệnh đái tháo đƣờng typ 2
ĐTĐ typ 2 là bệnh không đồng nhất, không phải là một bệnh duy nhất
mà là một tập hợp các hội chứng khác nhau. Bệnh có những bất thƣờng quan
trọng về sự tiết insulin và về tác dụng của insulin. Dù cho bản chất của sự bất
thƣờng ban đầu là gì cũng đều dẫn đến giảm tiết insulin và kháng insulin;
tƣơng tác lẫn nhau trong quá trình phát triển của bệnh, cuối cùng suy giảm tiết
insulin do suy kiệt tế bào  là điều tất yếu xảy ra. Thêm vào đó, khi đã tăng
đƣờng huyết, độc tính glucose sẽ gây ra thêm sự bất thƣờng về tác động và
bài tiết insulin.
Rối loạn tiết insulin là tế bào  tuỵ bị rối loạn về khả năng sản xuất
insulin bình thƣờng về mặt số lƣợng cũng nhƣ chất lƣợng để bảo đảm cho
chuyển hoá glucose bình thƣờng.“Kháng insulin máu xảy ra khi tế bào của
mô đích không đáp ứng hoặc bản thân các tế bào này chống lại sự tăng
insulin máu [2]. Ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2, insulin không có khả năng thực hiện
những tác động của mình nhƣ ở ngƣời bình thƣờng. Kháng insulin đƣợc

nghiên cứu nhiều ở 2 cơ quan là cơ và gan. Chuyển hoá glucose trong tổ chức
cơ kém ở ĐTĐ typ 2 vì không tổng hợp đƣợc glycogen từ glucose và rối loạn


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


10
quá trình oxy hoá glucose trong các tế bào cơ. Kháng insulin ở gan với hai
yếu tố đƣợc đề cập đến là: Vai trò của tăng glucagon; Tăng hoạt tính men
PEP - CK.
Vai trò của di truyền và môi trƣờng: bệnh ĐTĐ typ 2 xảy ra khi có đột
biến một gen hoặc nhiều gen. Cơ chế bệnh sinh bệnh ĐTĐ typ 2 đƣợc tóm tắt
theo sơ đồ sau [1].:

KHÁNG INSULIN Giảm khối tế bào bê ta

TẾ BÀO BÊ TA BỊ TỔN THƢƠNG Nhiễm độc glucose

GIẢM DUNG NẠP GLUCOSE Amyloid đảo

ĐÁI THÁO ĐƢỜNG TYP 2

HỘI CHỨNG GIỐNG ĐTĐ TYP 1
( PHỤ THUỘC INSULIN)

Loại ĐTĐ typ 2 đột biến một gen chỉ chiếm 5 - 15% trong số bệnh nhân
ĐTĐ [37]. Thƣờng là một gen trội. Ví dụ: Đột biến gen của insulin hay gen
của receptor tiếp nhận insulin, những đột biến gen này có liên quan đến tình
trạng kháng insulin. Một số đột biến khác gây nên một số thể bệnh ĐTĐ typ 2

ở ngƣời trẻ tuổi - MODY (Maturity Onset Diabetes of the Young):
MODY 1- Đột biến gen HNF 4;
MODY 2- Đột biến gen quy định sự tổng hợp enzym glucokinase;
MODY 3- Đột biến gen HNF 1.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


11
Loại ĐTĐ đột biến nhiều gen là thể bệnh thƣờng gặp chiếm 85 – 95%
bệnh ĐTĐ typ 2. Kiểu hình thƣờng gặp nhất là “Hội chứng X”. Nhiều tác giả
cho rằng, gen kháng insulin cùng tồn tại với các gen khác nhƣ tăng huyết áp,
tăng lipid, ĐTĐ typ 2 có trong hội chứng này. Một loại kiểu hình đa gen khác
là ĐTĐ typ 2 xuất hiện muộn ở những ngƣời > 65-70 tuổi. Bệnh nhân thƣờng
gầy, thiếu insulin trầm trọng, không hoặc rất ít có tình trạng kháng insulin.
Các xét nghiệm miễn dịch thấy có dấu ấn miễn dịch gợi ý tình trạng phá huỷ
tế bào . Ngƣời ta cũng phát hiện thấy một số đột biến gen ở bệnh nhân ĐTĐ
typ 2 nhƣ: Đột biến gen thụ thể glucagon, gen thụ thể sulfamid hạ đƣờng
huyết trên tế bào  Các nghiên cứu gần đây công bố gen SUR1
(Sulfonylurea Receptor 1), gen PPAR  và SNPs có liên quan chặt chẽ đến sự
xuất hiện ĐTĐ typ 2 ở những ngƣời mang gen này. Một số gen khác liên
quan đến chuyển hóa glucose là một trong những mắt xích quan trọng của
bệnh sinh ĐTĐ typ 2, các gen IRS1 (Insulin Receptor Substrate 1, PI-3 kinase
(Phophatidylinositol- 3) kinase cũng đã đƣợc nhận dạng.
1.5. Đặc điểm lâm sàng và biến chứng ở bệnh nhân đái tháo đƣờng typ 2
1.5.1. Triệu chứng lâm sàng bệnh đái tháo đường typ 2
Triệu chứng lâm sàng bệnh đái tháo đƣờng rất đa dạng. Các triệu chứng
thƣờng gặp là: ăn nhiều, uống nhiều, đái nhiều, khô mồm, khô da, mệt mỏi,
gầy sút cân[35]. Ngoài ra, ngƣời ĐTĐ đến khám vì các triệu chứng khác nhƣ:

- Triệu chứng về da: biểu hiện ngứa ngoài da, khô da, mụn nhọt, hoại tử
mỡ da, u vàng (xanthoma), viêm mủ da, nấm da.
- Triệu chứng tim mạch: đau thắt ngực, thiểu năng mạch vành, thiếu máu
cơ tim.
- Triệu chứng về hô hấp: viêm phổi, viêm phế quản do tạp khuẩn.
- Triệu chứng ở cơ quan tiêu hoá: biểu hiện viêm lợi, viêm quanh răng,
viêm dạ dày, rối loạn tiêu hoá.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


12
- Triệu chứng về tiết niệu: viêm bể thận cấp hoặc mạn
Nhiều ngƣời mắc bệnh ĐTĐ, đặc biệt là ngƣời cao tuổi không có triệu
chứng. Nhiều trƣờng hợp đái tháo đƣờng điển hình ở ngƣời cao tuổi bị bỏ sót
do không có triệu chứng hoặc triệu chứng không đặc hiệu, thầy thuốc và bệnh
nhân đều coi đó là biểu hiện của “sự lão hóa bình thường”. Triệu chứng đái
nhiều đôi khi đƣợc lý giải nhầm là đái dầm hoặc không nhịn đƣợc tiểu do các
vấn đề cơ học của bàng quang theo tuổi tác. Khát nƣớc, uống nhiều thƣờng
nhẹ và không rõ do tăng ngƣỡng của thận với glucose và giảm cơ chế khát với
tuổi già. Ăn nhiều thƣờng khó nhận thấy vì ngƣời có tuổi thƣờng chán ăn khi
mắc bệnh.
1.5.2. Biến chứngcủa bệnh đái tháo đường typ 2
Biến chứng bệnh đái tháo đƣờng có thể gặp bao gồm các biến chứng cấp
tính và mạn tính.
* Biến chứng chuyển hóa cấp nhƣ: nhiễm toan ceton, nhiễm toan acid
lactic, hôn mê tăng áp lực thẩm thấu, hôn mê hạ đƣờng huyết.
* Biến chứng mạn tính bao gồm biến chứng mạch máu nhỏ (microvascular)
và mạch máu lớn (macrovascular):

- Biến chứng mạch máu nhỏ hay biến chứng vi mạch tác động tới tất cả
các cơ quan do tổn thƣơng các mạch máu có đƣờng kính < 30µm do màng
đáy dày lên [7]. Nó liên quan đến tăng đƣờng huyết bất kể loại và nguyên
nhân nào. Biến chứng vi mạch bao gồm:
+ Biến chứng võng mạc: chia làm 3 giai đoạn
. Bệnh võng mạc chƣa tăng sinh gồm: giãn các tĩnh mạch nhỏ; các vi
phình mạch; xuất huyết; phù nề võng mạc; phù hoàng điểm.
. Bệnh võng mạc tiền tăng sinh gồm giãn tĩnh mạch; xuất tiết bông; thiếu
máu võng mạc chu biên; biến đổi vi mạch vùng hậu cực; xuất huyết rộng
trong võng mạc.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


13
. Bệnh võng mạc tăng sinh chiếm 20% các bệnh võng mạc ĐTĐ bao gồm
các triệu chứng: các tân mạch trƣớc võng mạc; tân mạch trƣớc điểm vàng;
xuất tiết trong dịch kính; bong võng mạc co kéo [7].
+ Biến chứng thận do ĐTĐ: tổn thƣơng cuộn mạch cầu thận do màng
đáy mao mạch dày và xuất hiện các lắng cặn dạng màng nhuộm PAS dƣơng
tính. Các cặn có thể là các hạt (tạo ra sự xơ cuộn mạch cầu thận trong hội
chứng Kimmelstiel Wilson hoặc các cặn lan tỏa. Sau một thời gian dài không
triệu chứng có thể phát hiện albumin siêu nhỏ với lƣợng > 30µg/phút. Độ lọc
cầu thận giảm. Xuất hiện hội chứng thận hƣ. Creatinin máu tăng cao.
- Biến chứng mạch máu lớn: bao gồm nhiều tổn thƣơng trong đó thƣờng
có và nặng là suy vành và bệnh động mạch chi dƣới.
+ Suy vành: nhồi máu cơ tim điển hình hoặc yên lặng là một nguyên
nhân suy tim ở ngƣời ĐTĐ. Bệnh mạch vành là nguyên nhân gây tử vong
hàng đầu của ĐTĐ, gấp 3 lần so với ngƣời không ĐTĐ.

+ Bệnh động mạch chi dƣới: ngƣời ĐTĐ có nguy cơ viêm động mạch chi
dƣới gấp 40 lần ngƣời không ĐTĐ. Tắc mạch chi có thể gây hoại tử các ngón
chân, loét bàn chân.
+ Tai biến mạch máu não: tỷ lệ nhồi máu não và xuất huyết não ở ngƣời
ĐTĐ nhiều gấp 3 lần so với ngƣời bình thƣờng [7].
+ Cơn huyết áp: 30% ngƣời bệnh ĐTĐ thƣờng bị cơn HA, có thể liên
quan đến kháng insulin hoặc béo phì.
+ Xơ vữa động mạch và rối loạn chuyển hóa lipid: thƣờng gặp ở ngƣời
ĐTĐ hơn ngƣời không ĐTĐ với tỷ lệ từ 1,5-2% với cholesterol toàn phần
cao, LDL-C cao, triglycerid cao và HDL-C hạ nhƣng thành phần rối loạn
nặng nhất là triglycerid.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


14
- Các biến chứng mạn tính khác:
+ Biến chứng ngoài da: ngứa lan tỏa và ngứa cơ quan sinh dục do mất
cân bằng đƣờng huyết; u hạt hình vành khăn; nấm sinh dục…
+ Các biến chứng kết hợp: nhiễm khuẩn do vi trùng, virus; viêm quanh
răng; viêm lợi; biến chứng thần kinh ngoại biên; tăng kali máu; bệnh gai đen;
co cứng cơ Dupuytren; viêm quanh khớp bả vai-cánh tay [7].
1.5.3. Rối loạn chuyển hoá lipid máu ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2
Rối loạn chuyển hoá lipid là tình trạng rối loạn và/ hoặc tăng nồng độ
thành phần lipid trong máu, hậu quả là sự tạo thành các mảng xơ vữa gây tắc
mạch, làm gia tăng biến chứng tim mạch và đột quỵ, tăng các biến chứng
mạch máu khác [2].
Giảm HDL-C, tỷ lệ LDL-C/HDL-C cao đƣợc xác định có liên quan chặt

chẽ với bệnh mạch vành ở bệnh nhân mạch vành.
Ngƣời bệnh đái tháo đƣờng týp 2 thƣờng có tăng LDL-C, tăng
triglycerid, giảm HDL-C. Nồng độ LDL-C nhƣ ngƣời bình thƣờng thậm chí
hơi thấp. Tăng triglycerid ở mức độ nhẹ hoặc vừa, gấp 1,5 - 3 lần bình thƣờng
so với nhóm không bị ĐTĐ cùng lứa tuổi, giới tính và chỉ số khối cơ thể. Một
số bệnh nhân ĐTĐ typ 2 có huyết thanh trắng đục nhƣ sữa và triglycerid rất
cao (50-100mml/l). Những bệnh nhân này thƣờng có tăng triglycerid máu có
tính di truyền hoặc có thêm một bệnh khác gây rối loạn chuyển hoá lipid.
Trên bệnh nhân ĐTĐ typ 2, HDL giảm khoảng 10-20% và sự khác biệt nam
nữ của nồng độ này không rõ nhƣ ở ngƣời không bị ĐTĐ. Ngày nay nhiều tác
giả cho rằng khái niệm “ cholesterol không HDL” phản ánh nguy cơ bệnh
mạch vành [2].
LDL gồm nhiều loại tiểu phân khác nhau về tỷ trọng, kích thƣớc, thành
phần hóa học và khả năng sinh xơ vữa. Austin và cộng sự đã ghi nhận: LDL
nhỏ, đặc là yếu tố nguy cơ xuất hiện ĐTĐ về sau, độc lập với tình trạng


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


15
không dung nạp glucose, tiền sử gia đình bị ĐTĐ, tăng HA và tỷ số eo/mông,
nhƣng không độc lập với nồng độ triglycerid khi đói và nồng độ insulin.
Ngƣời ta cũng nhận thấy khi nồng độ triglycerid trong khoảng từ 1,5 – 1,7mmol/l
thì tỷ lệ xuất hiện của LDL nhỏ đậm đặc tăng dần, vì đa số bệnh nhân ĐTĐ có
triglycerid lớn hơn 1,5mmol/l nên LDL nhỏ, đậm đặc là yếu tố thƣờng có của
bệnh nhân ĐTĐ typ 2.
Tỷ lệ rối loạn chuyển hoá lipid trên bệnh nhân ĐTĐ typ 2:
Trong nghiên cứu PROCAM, tăng triglycerid (>2,3 mmol/l) xảy ra trên
39% ĐTĐ so sánh với 21% ngƣời không ĐTĐ, tỷ lệ số ngƣời bị giảm HDL

(< 0,9 mml/l) lần lƣợt là 27% và 17%. Trong nghiên cứu Framingham, tỷ lệ
tăng triglycerid máu (>2,7 mmol/l) là 19% trên nam giới bị ĐTĐ và 9% ở
nam giới không ĐTĐ, tỷ lệ này trên nữ giới lần lƣợt là 17% và 8%. Nghiên
cứu San Antonio Heart Study: 5% nữ giới bị ĐTĐ và 15% nam giới bị ĐTĐ
có nồng độ triglycerid máu lớn hơn 4,5 mmol/l. Trong nghiên cứu Điều tra
Cơ bản về Sức khoẻ và Dinh dƣỡng, nồng độ Cholesterol toàn phần và LDL
cholesterol ở mức độ cao và cao giới hạn xảy ra với tỷ lệ 70% và 60% ở
ngƣời trƣởng thành đƣợc chẩn đoán là ĐTĐ. Rối loạn chuyển hóa glucose và
lipid thƣờng kéo dài, tăng dần dẫn đến các biến chứng về mạch máu làm ảnh
hƣởng tới chức năng nhiều cơ quan trong cơ thể [17].
Quản lý tốt glucose máu đã góp phần làm bình thƣờng hóa chuyể hóa
lipid, tuy nhiên trong thực tế bình thƣờng hóa các rối loạn chuyể hóa lipid
nhiều khi không phải là điều rễ ràng [2].
1.6. Các phƣơng pháp điều trị bệnh đái tháo đƣờng
Cho đến nay chƣa có phƣơng pháp nào điều trị khỏi hẳn bệnh ĐTĐ, tuy
nhiên nếu bệnh nhân ĐTĐ đƣợc quản lý và điều trị đúng đắn, bệnh nhân có
cuộc sống gần nhƣ bình thƣờng. Nếu bệnh nhân ĐTĐ không đƣợc điều trị tốt
thì bệnh sẽ gây nhiều biến chứng nặng nề [28].


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


16
Điều trị bệnh ĐTĐ tiến hành theo từng nấc trong bậc thang điều trị nhƣ sau:
- Bắt đầu bằng chế độ ăn hạn chế glucid
- Bổ sung với thuốc hạ đƣờng huyết
- Hoặc insulin khi cần thiết.
Tuy vậy, đa số bệnh ĐTĐ đòi hỏi sử dụng thuốc hạ đƣờng huyết đƣờng
uống kéo dài phối hợp với chế độ ăn uống và luyện tập.

1.6.1. Chế độ ăn của bệnh nhân đái tháo đường
- Tiết chế ăn uống là nền tảng của điều trị và phòng ngừa ĐTĐ, với mục
đích nhằm đảm bảo cung cấp dinh dƣỡng, cân bằng đầy đủ về lƣợng và chất
để có thể điều chỉnh đƣờng huyết duy trì cân nặng. Sụt cân cho phép giảm
tình trạng kháng insulin do đó cải thiện cân bằng chuyển hóa [7].
- Thực phẩm cung cấp: chất đạm, chất béo, chất đƣờng, muối khoáng và
chất xơ. Ngƣời ta chia chất đƣờng làm 2 loại; đƣờng hấp thu chậm và đƣờng
hấp thu nhanh. Chế độ ăn của ngƣời ĐTĐ nên:
+ Đảm bảo tỷ lệ năng lƣợng cung cấp do: chất đạm 12-15%, chất đƣờng
55%, chất béo ≤ 30%.
+ Trong mỗi bữa ăn nên có đủ các thành phần nêu trên là tốt nhất, không
nên chỉ ăn toàn thức ăn chứa nhiều đạm sẽ gây hại cho thận.
Cần sử dụng chất béo có lợi cho cơ thể có trong thực vật, ăn ít các chất
béo dễ gây xơ vữa động mạch (bơ, pho mát, các loại mỡ động vật trừ mỡ cá).
Hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol.
+ Nên dùng những thức ăn chứa đƣờng hấp thu chậm, thức ăn có nhiều
chất xơ, đủ sinh tố, đặc biệt vitamin nhóm B, nên chia thành nhiều bữa để
tránh tăng glucose máu quá cao sau ăn và hạn chế hạ đƣờng huyết khi xa bữa ăn.
Thực tế không có một công thức cụ thể tính chế độ ăn cho mỗi bệnh
nhân vì chế độ cụ thể phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
+ Thể trạng gầy, béo


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


17
+ Có lao động thể lực hay không?
+ Tập quán ăn uống.
+ Kinh tế gia đình.

Dựa vào những yếu tố trên mà ngƣời thầy thuốc có thể đƣa ra những chế
độ ăn hợp lý cho ngƣời bệnh [trích từ 28].
1.6.2. Chế độ luyện tập của bệnh nhân đái tháo đường
Tập luyện thƣờng xuyên làm gia tăng nồng độ HDL-C (loại cholestorol
tốt), gia tăng sự tiêu hao năng lƣợng, giúp giảm trọng lƣợng cơ thể ở bệnh
nhân béo phì. Quá trình tập luyện còn giúp ngƣời ta tăng sự hƣng phấn, giảm
đƣợc áp lực bệnh tật và công việc, hạn chế tình trạng stress. Hoạt động thể lực
điều đặn ở ngƣời bệnh ĐTĐ có thể giảm nồng độ glucose máu cả trong và sau
khi tập luyện. Ngƣời ta thấy rằng nếu tập điều đặn có thể cải thiện mức cân
bằng lƣợng đƣờng trong máu một thời gian dài và kiểm soát mức đƣờng hàng
ngày. Tập luyện còn giúp cơ thể tăng độ nhạy với insulin máu, do vậy nhu cầu
insulin bổ sung hằng ngày có thể đƣợc giảm đi. Đây là tác dụng rất quan trọng
với bệnh nhân ĐTĐ týp 2, vì tình trạng giảm độ nhạy với insulin là nguyên
nhân chính gây tăng đƣờng huyết ở ngƣời bệnh. Để đạt đƣợc mục đích này
hàng ngày phải luyện tập 30-45 phút, 4-5 ngày/tuần [2].
Tuy nhiên, nếu tập luyện quá mức không phù hợp với sức khỏe sẽ dẫn
đến hậu quả nguy hiểm. Đó là cơn hạ đƣờng huyết có thể xuất hiện ngay
trong lúc tập hoặc sau khi kết thúc bài tập. Các cơn đau thắt ngực, loạn nhịp
tim thậm chí là nhồi máu cơ tim cũng có thể xuất hiện. Bện cạnh đó, các biến
chứng khác cũng có thể trầm trọng thêm nhƣ gây xuất huyết đáy mắt hoặc
làm bong võng mạc ở những ngƣời đã có biến chứng đáy mặt giai đoạn sự
tiêu hao năng lƣợng trong luyện tập làm mất thêm chất đạm qua nƣớc tiểu và
làm trầm trọng bệnh lý thận do ĐTĐ gây ra. Vận động thể lực sẽ đƣợc điều
chỉnh tùy theo lứa tuổi và tình trạng tim mạch [7].

×