Tải bản đầy đủ (.doc) (116 trang)

Luận văn thạc sỹ nâng cao chất lượng thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại cổ phần đại dương

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.56 MB, 116 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN
QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
ĐẠI DƯƠNG (OCEANBANK)
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
PHẠM THỊ THU VÂN
Hà Nội - 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN
QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
ĐẠI DƯƠNG (OCEANBANK)
Ngành: Tài chính - Ngân hàng - Bảo hiểm
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60340201

Họ và tên tác giả: PHẠM THỊ THU VÂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS NGUYỄN THỊ QUY
Hà Nội - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan Luận văn thạc sỹ Tài chính Ngân hàng: “Nâng cao chất
lượng hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đại
Dương (OceanBank)” là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu khoa học độc
lập và nghiêm túc.
Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn
và có tính kế thừa từ các công trình nghiên cứu, bài viết khác.


Các giải pháp nêu trong luận văn được rút ra từ những cơ sở lý luận và quá
trình nghiên cứu thực tiễn.
Tác giả
Phạm Thị Thu Vân
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu “Nâng cao chất lượng hoạt động thanh toán
quốc tế tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Dương (OceanBank)” tác giả xin
gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS. TS Nguyễn Thị Quy, Đại học Ngoại Thương đã
tận tình hướng dẫn trong quá trình nghiên cứu.
Tác giả xin gửi lời tri ân tới Khoa Sau Đại học, các thầy cô giáo trong trường Đại
học Ngoại Thương đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức trong suốt quá trình học tập.
Tác giả cũng xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình, các anh chị đồng nghiệp tại
OceanBank đã hỗ trợ và góp ý để tác giả hoàn thành đề tài nghiên cứu này.
Do thời gian nghiên cứu và khả năng còn hạn chế, đề tài không tránh khỏi
những thiếu sót và chưa hoàn thiện. Tác giả mong nhận được sự đóng góp của các
thầy cô giáo và bạn đọc.
Tác giả
MỤC LỤC
1
2
3.3.3. Tăng cường công tác kiểm tra giám sát, xây dựng các biện pháp phòng ngừa rủi
ro trong hoạt động thanh toán quốc tế 85
3.3.4. Phát triển các chính sách đa dạng hóa sản phẩm thanh toán quốc tế 86
3.3.5. Tăng cường nguồn ngoại tệ trong hoạt động thanh toán quốc tế 88
3.3.6. Nâng cấp hệ thống phần mềm công nghệ ngân hàng 89
3.3.7. Đẩy mạnh công tác bồi dưỡng nghiệp vụ thanh toán quốc tế cho cán bộ công
nhân viên 91
3.3.8. Tăng cường các hoạt động marketing ngân hàng 92
3.3.9. Tăng cường công tác dịch vụ tư vấn và hỗ trợ khách hàng 95
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1. Tiếng Việt
STT Chữ viết tắt Nghĩa đầy đủ
1 BCT Bộ chứng từ
2 CBNV Cán bộ nhân viên
3 CNTT Công nghệ thông tin
4 CP Chính phủ
5 FCC Hệ thống phần mềm ngân hàng lõi
6 HĐQT Hội đồng quản trị
7 KTT Khối Thanh toán
8 NH Ngân hàng
9 NHK Ngân hàng khác
10 NHNN Ngân hàng Nhà nước
11 NHTM Ngân hàng thương mại
12 NK Nhập khẩu
13 PGD Phòng giao dịch
14 TCTD Tổ chức tín dụng
15 TGĐ Tổng Giám đốc
16 TTQT Thanh toán quốc tế
17 XK Xuất khẩu
18 XNK Xuất nhập khẩu
2. Tiếng Anh
STT Chữ viết tắt Nghĩa Tiếng Anh Nghĩa Tiếng Việt
1 B/L Bill of Lading Vận đơn đường biển
2 D/A Documents against
Acceptance
Nhờ thu trả chậm
3 D/P Documents against Payment Nhờ thu trả ngay
4 L/C Letter of Credit Thư tín dụng
5 MR Message Route Chương trình luân chuyển
điện

6 OceanBank Ocean Commercial Joint -
Stock Bank
Ngân hàng thương mại cổ
phần Đại Dương
7 SWIFT Society for Worldwide
Interbank Financial
Telecommunication
Hiệp hội viễn thông liên
ngân hàng và tài chính quốc
tế
8 URC Uniform Rules for Collections Quy tắc thống nhất về nhờ
thu
9 UCP Uniform Customs and Practice Bản quy tắc và thực hành
thống nhất về tín dụng chứng
từ
10 ISBP International Standard Banking
Practice
Tiêu chuẩn quốc tế về thực
hành ngân hàng theo phương
thức tín dụng chứng từ
11 IEFTP International Electronic Funds
Transfer System
Hệ thống chuyển tiền điện tử
quốc tế
12 CHIPS Clearing House Interbank
Payment System
Hệ thống thanh toán bù trừ
quốc tế
13 Min Minimum Giá trị tối thiểu
14 Max Maximum Giá trị tối đa

DANH MỤC BẢNG
1
2
3.3.3. Tăng cường công tác kiểm tra giám sát, xây dựng các biện pháp phòng ngừa rủi
ro trong hoạt động thanh toán quốc tế 85
3.3.4. Phát triển các chính sách đa dạng hóa sản phẩm thanh toán quốc tế 86
3.3.5. Tăng cường nguồn ngoại tệ trong hoạt động thanh toán quốc tế 88
3.3.6. Nâng cấp hệ thống phần mềm công nghệ ngân hàng 89
3.3.7. Đẩy mạnh công tác bồi dưỡng nghiệp vụ thanh toán quốc tế cho cán bộ công
nhân viên 91
3.3.8. Tăng cường các hoạt động marketing ngân hàng 92
3.3.9. Tăng cường công tác dịch vụ tư vấn và hỗ trợ khách hàng 95
DANH MỤC HÌNH
1
2
3.3.3. Tăng cường công tác kiểm tra giám sát, xây dựng các biện pháp phòng ngừa rủi
ro trong hoạt động thanh toán quốc tế 85
3.3.4. Phát triển các chính sách đa dạng hóa sản phẩm thanh toán quốc tế 86
3.3.5. Tăng cường nguồn ngoại tệ trong hoạt động thanh toán quốc tế 88
3.3.6. Nâng cấp hệ thống phần mềm công nghệ ngân hàng 89
3.3.7. Đẩy mạnh công tác bồi dưỡng nghiệp vụ thanh toán quốc tế cho cán bộ công
nhân viên 91
3.3.8. Tăng cường các hoạt động marketing ngân hàng 92
3.3.9. Tăng cường công tác dịch vụ tư vấn và hỗ trợ khách hàng 95
DANH MỤC BIỂU
1
2
3.3.3. Tăng cường công tác kiểm tra giám sát, xây dựng các biện pháp phòng ngừa rủi
ro trong hoạt động thanh toán quốc tế 85
3.3.4. Phát triển các chính sách đa dạng hóa sản phẩm thanh toán quốc tế 86

3.3.5. Tăng cường nguồn ngoại tệ trong hoạt động thanh toán quốc tế 88
3.3.6. Nâng cấp hệ thống phần mềm công nghệ ngân hàng 89
3.3.7. Đẩy mạnh công tác bồi dưỡng nghiệp vụ thanh toán quốc tế cho cán bộ công
nhân viên 91
3.3.8. Tăng cường các hoạt động marketing ngân hàng 92
3.3.9. Tăng cường công tác dịch vụ tư vấn và hỗ trợ khách hàng 95

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay trong xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế, thanh toán quốc tế (TTQT)
đã trở thành một hoạt động cơ bản, không thể thiếu của các ngân hàng thương mại
(NHTM). Hoạt động TTQT là một mắt xích quan trọng trong toàn bộ dây chuyền
thực hiện một hợp đồng ngoại thương. TTQT giúp ngân hàng đáp ứng tốt hơn nhu
cầu đa dạng của khách hàng về các dịch vụ tài chính. Trên cơ sở đó hoạt động này
giúp các NHTM tăng doanh thu, nâng cao uy tín và tạo dựng niềm tin cho khách
hàng. Điều đó không chỉ giúp các NHTM không những mở rộng quy mô hoạt động
mà còn tạo nên sức cạnh tranh trong cơ chế thị trường.
Bên cạnh đó, TTQT còn hỗ trợ bổ sung cho các hoạt động kinh doanh khác
của ngân hàng như mở rộng tín dụng xuất nhập khẩu, phát triển kinh doanh ngoại
tệ, bảo lãnh ngân hàng trong ngoại thương, tài trợ thương mại. Vì vậy, TTQT có ý
nghĩa rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của hệ thống NHTM nói chung
và Ngân hàng TMCP Đại Dương (OceanBank) nói riêng.
Ngay từ khi thành lập, Ngân hàng OceanBank đã xác định lĩnh vực hoạt động
kinh doanh đối ngoại, hoạt động thanh toán quốc tế là mục tiêu và định hướng ưu
tiên trong hoạt động của mình. Qua gần 20 năm kể từ ngày thành lập, tuy còn nhiều
hạn chế nhưng hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng OceanBank đã gặt hái
được nhiều thành quả, đóng góp đáng kể vào hiệu quả hoạt động kinh doanh và sự
phát triển của ngân hàng. Chất lượng hoạt động TTQT tại ngân hàng OceanBank đã
dần được cải thiện và nâng cao tuy nhiên sản phẩm dịch vụ của TTQT chưa phong
phú và đa dạng, cơ cấu TTQT phân theo hàng hóa còn thiếu hợp lý, thời gian xử lý

giao dịch thanh toán còn chậm.
Chính vì nhận thức được tầm quan trọng này của hoạt động TTQT, tôi đã
chọn đề tài “Nâng cao chất lượng hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng
thương mại cổ phần Đại Dương (OceanBank)” làm đề tài nghiên cứu cho luận
văn của mình.
1
2. Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến đề tài “Nâng cao chất lượng hoạt động thanh toán quốc tế tại
Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Dương (OceanBank)” đã có một số luận án
tiến sĩ hay những công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố dưới dạng đề tài
khoa học cấp Bộ, ngành và việc nghiên cứu này đã được tiếp cận ở những góc độ và
phạm vi khác nhau. Những kết quả nghiên cứu ở các công trình này cũng phần nào
được các NHTM Việt Nam áp dụng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động TTQT.
Có thể kể đến một vài công trình nghiên cứu tiêu biểu trong lĩnh vực TTQT thời
gian qua là: “Nghiên cứu môi trường pháp luật trong TTQT” của PGS.TS Đỗ Tất
Ngọc và một nhóm tác giả (2004) – Nhóm tác giả đã đi sâu nghiên cứu về vấn đề
pháp chế nội địa trong nước và quốc tế có liên quan tới hoạt động TTQT, phân tích
thực trạng hoạt động TTQT và môi trường pháp lý cho hoạt động này ở Việt Nam,
từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện môi trường luật pháp trong nghiệp vụ TTQT
của NHTM Việt Nam; “Nâng cao hiệu quả hoạt động TTQT của các NHTM Việt
Nam” của tác giả Lê Thị Phương Liên (2009) - Tác giả đã trình bày một cách tổng
quan về thực trạng hoạt động TTQT của NHTM Việt Nam còn bộc lộ nhiều bất cập
đặc biệt là tính an toàn, hiệu quả thấp, uy tín trong cộng đồng quốc tế còn chưa
xứng tầm với tiềm năng và mong muốn từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động TTQT.
Tuy nhiên, những đề tài nói trên mang tính tổng quan hoạt động TTQT cho cả
hệ thống NHTM Việt Nam và đưa ra một số giải pháp chung nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động TTQT. Trong luận văn này tác giả đã đề cập một khía cạnh khác của
hoạt động TTQT đó là việc nhấn mạnh tầm quan trọng của chất lượng hoạt động
TTQT đối với các ngân hàng và doanh nghiệp và nền kinh tế nói chung. Tác giả đã

lựa chọn Ngân hàng TMCP Đại Dương để phân tích một cách cụ thể thực trạng hoạt
động TTQT trong thời gian qua và trên cơ sở xem xét, kế thừa các trình nghiên cứu
của những người đi trước, tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng hoạt động TTQT của Ngân hàng TMCP Đại Dương. Đây là luận văn thạc sĩ
đầu tiên nghiên cứu một cách cụ thể về chất lượng hoạt động TTQT tại Ngân hàng
TMCP Đại Dương, do vậy đề tài không bị trùng lặp với các công trình đã công bố
trước đó.
2
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu tổng quan về lý luận và thực tiễn về chất lượng hoạt
động TTQT, mục đích nghiên cứu của đề tài là đề xuất một số giải pháp để nâng
cao chất lượng hoạt động TTQT trong hệ thống Ngân hàng TMCP Đại Dương.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu các vấn đề sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về chất lượng hoạt động TTQT của các
Ngân hàng thương mại.
- Tìm hiểu thực trạng chất lượng hoạt động TTQT, thành tựu đạt được, hạn chế
và nguyên nhân của những hạn chế đó tại Ngân hàng TMCP Đại Dương
- Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động TTQT tại Ngân hàng
TMCP Đại Dương.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chất lượng hoạt động TTQT của các
ngân hàng thương mại và thực trạng chất lượng hoạt động TTQT tại Ngân hàng
TMCP Đại Dương.
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu lý luận về hoạt động TTQT trong hệ thống NHTM
và thực trạng chất lượng hoạt động TTQT tại Ngân hàng TMCP Đại Dương trong
thời gian 3 năm từ 2010 – 2012 từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng hoạt động TTQT tại Ngân hàng TMCP Đại Dương trong thời gian tới.

6. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, đề tài đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử.
- Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích.
- Phương pháp thâm nhập thực tế
7. Bố cục luận văn
3
Ngoài phần mở bài, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, bảng
biểu, bảng danh mục ký tự viết tắt, nội dung chính của luận văn có cấu trúc như sau:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về chất lượng hoạt động TTQT của các
NHTM
Chương 2: Thực trạng chất lượng hoạt động TTQT tại NHTM Cổ phần Đại
Dương
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động TTQT tại
NHTM Cổ phần Đại Dương
4
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG
HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1. Khái niệm, vai trò và chức năng của các Ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại
NHTM đã hình thành và phát triển hàng trăm năm gắn với sự phát triển của
kinh tế hàng hoá, và luôn đóng vai trò là một trong những tổ chức tài chính quan
trọng nhất trong nền kinh tế.
NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ trong đó hoạt động kinh doanh chủ yếu và
thường xuyên là nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ qua tài khoản và các
hoạt động kinh doanh khác như: dịch vụ quản lý tiền mặt; các dịch vụ quản lý, bảo
quản tài sản; mua bán trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp;…
Theo Luật Ngân hàng của Pháp năm 1941 định nghĩa: “Ngân hàng là những xí

nghiệp hay cơ sở hành nghề nào thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức
ký thác hay hình thức khác, số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ
chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”. Theo Luật Ngân hàng của Ấn Độ năm
1959 đã nêu: “Ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài
trợ, đầu tư”…
Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2010 khoản 2 điều 4 có quy định:
“Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt
động ngân hàng theo quy định của luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động,
các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách,
ngân hàng hợp tác xã”. Trong đó NHTM thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô
tài sản, thị phần và số lượng các ngân hàng.
1.1.2. Chức năng của Ngân hàng thương mại

Chức năng trung gian tài chính
Chức năng trung gian tài chính có thể coi là một trong những chức năng quan
trọng nhất của các NHTM. NHTM với tư cách là một trung gian tài chính nhận các
5
khoản tiền gửi tiết kiệm rồi sau đó cung cấp vốn cho nền kinh tế với số lượng và
thời hạn phong phú, đáp ứng mọi nhu cầu về vốn của các khách hàng có đủ điều
kiện vay vốn. NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng vai trò là người
cho vay và hưởng lợi nhuận là phần chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi vào NHTM và
lãi suất NHTM cho vay ra. Với mạng lưới giao dịch rộng khắp, các dịch vụ đa dạng,
cung cấp thông tin nhiều chiều, hoạt động ngày càng phong phú chuyên môn hoá
vào từng lĩnh vực NHTM đã thực sự giải quyết được những hạn chế của thị trường
tài chính trực tiếp, góp phần nâng cao hiệu quả luân chuyển vốn trong nền kinh tế
thị trường.

Chức năng tạo phương tiện thanh toán
Thông qua hoạt động kinh doanh mang tính đặc thù, NHTM đã thực hiện chức
năng tạo tiền hay nói cách khác là tạo phương tiện thanh toán cho nền kinh tế.

NHTM thông qua chức năng tín dụng sử dụng vốn huy động được để cho vay giúp
người vay vốn có thể sử dụng khoản tiền vay này để mua hàng hóa và sử dụng dịch
vụ. Như vậy bằng việc cho vay NHTM đã tạo ra phương tiện thanh toán. Khi các tài
khoản tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này tới ngân hàng khác trên cơ sở cho
vay, khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chi trả sẽ tạo nên
khoản thu của một khách hàng khác tại một ngân hàng khác từ đó tạo ra các khoản
cho vay mới.

Chức năng trung gian thanh toán
Ngoài các dịch vụ truyền thống là huy động và cho vay, NHTM ngày nay còn
cung cấp một danh mục dịch vụ khá đa dạng và phong phú: dịch vụ thanh toán, dịch
vụ môi giới, dịch vụ bảo lãnh…Thực hiện chức năng trung gian thanh toán, NHTM
đóng vai trò thủ quỹ, thay mặt khách hàng thực hiện các thanh toán theo yêu cầu
của khách hàng với nhiều hình thức thanh toán nhanh chóng và thuận tiện và tiết
kiệm chi phí như thanh toán bằng ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, séc, thẻ thanh toán,
thẻ tín dụng, thẻ rút tiền mặt…Các NHTM còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhau
thông qua ngân hàng Trung ương hoặc thông qua các trung tâm thanh toán. Nhờ
vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được chi phí, thời gian và bảo đảm an toàn trong
thanh toán. Từ việc thực hiện chức năng trung gian thanh toán, NHTM đã thúc đẩy
6
lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh thời hạn thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn và đưa
nền kinh tế phát triển.
1.1.3. Vai trò của Ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, các cá nhân và doanh nghiệp, tổ chức kinh tế
muốn sản xuất kinh doanh thì cần phải có vốn để đầu tư mua sắm các tư liệu sản
xuất, phương tiện sản xuất trong khi nhu cầu về nguồn vốn này của doanh nghiệp và
cá nhân thường lớn hơn nhiều so với vốn tự có, do đó cần phải tìm đến những
nguồn vốn từ bên ngoài. Bên cạnh đó lại có một lượng vốn nhàn rỗi do quá trình tiết

kiệm, tích luỹ của các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức khác. Vì thế cần có người
đứng ra tập trung tiền nhàn rỗi ở mọi nơi mọi lúc và kịp thời cung ứng cho nơi cần
vốn. Sự ra đời của NHTM đã giải quyết được vấn đề này. NHTM sẽ là chủ thể đứng
ra huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi đó và sử dụng nguồn vốn huy động
được cấp vốn cho nền kinh tế thông qua hoạt động tín dụng. Nhờ có hoạt động này
mà các doanh nghiệp có điều kiện để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, cải
tiến máy móc thiết bị công nghệ, tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh
tế, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

Ngân hàng thương mại là cầu nối doanh nghiệp và thị trường
Bước sang nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự tác
động của các quy luật kinh tế, sản xuất phải dựa trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thị
trường về mọi phương diện không chỉ giá cả, khối lượng, chất lượng mà còn đòi hỏi
thoả mãn trên phương diện thời gian, địa điểm. Để đáp ứng được điều đó các doanh
nghiệp phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, nâng cao năng suất lao động,
thực hiện chuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến, tìm tòi và sử dụng các
nguyên vật liệu mới, mở rộng quy mô sản xuất thích hợp. Những hoạt động này đòi
hỏi cần phải có một lượng vốn đầu tư lớn và khó có thể thực hiện bằng vốn tự có
của các doanh nghiệp vốn dĩ đã rất ít ỏi. Thông qua hoạt động cấp tín dụng của
ngân hàng, ngân hàng đóng vai trò là cầu nối của doanh nghiệp và thị trường, giúp
các doanh nghiệp có thể giải quyết được những khó khăn phát sinh trên.
7

Ngân hàng thương mại là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền
kinh tế
Thông qua thanh toán giữa các ngân hàng trong hệ thống, NHTM đã góp phần
mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông, thông qua việc cấp tín dụng cho các
ngành trong nền kinh tế NHTM thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân
chia vốn của thị trường, điều khiển các nguồn vốn một cách hiệu quả và thực thi vai trò
điều tiết gián tiếp vĩ mô. Vì thế, cùng với các cơ quan khác ngân hàng luôn được sử

dụng như một công cụ quan trọng để nhà nước điều chỉnh sự phát triển của nền kinh tế
tại từng thời kỳ.

Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia và nền tài
chính quốc tế
Sự hội nhập kinh tế quốc gia với thế giới là một điều tất yếu trong xu hướng toàn
cầu hóa nền kinh tế hiện nay, nó sẽ đem lại nhiều lợi ích kinh tế to lớn, thúc đẩy nền
kinh tế phát triển nhanh và bền vững . Thông qua các nghiệp vụ như thanh toán quốc
tế, nghiệp vụ hối đoái, nghiệp vụ tín dụng với các NHTM nước ngoài và các nghiệp vụ
khác NHTM đã tạo góp phần thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển, từ đó thực
hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nước phù hợp với sự vận động và phát triển
của nền tài chính quốc tế.
1.2. Hoạt động thanh toán quốc tế của các Ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm hoạt động thanh toán quốc tế
Trong xu hướng phát triển và cạnh tranh gay gắt hiện nay, các quốc gia không thể
tồn tại và phát triển nếu chỉ dựa vào các giao dịch trao đổi hàng hóa, dịch vụ, các hoạt
động văn hóa, khoa học kỹ thuật và xã hội trong phạm vi quốc gia mình. Sự khác biệt
về địa lý, khí hậu, môi trường, trình độ phát triển khoa học, kỹ thuật, nguồn nhân lực
cũng như các yếu tố về xã hội học giữa các quốc gia đã làm cho lợi thế so sánh giữa
các quốc gia không thể bằng nhau, nước này có lợi thế về mặt này nhưng lại bất lợi về
mặt khác và nước khác thì ngược lại. Để có thể tồn tại và phát triển một cách thuận lợi,
các quốc gia sẽ phải tiến hành trao đổi kinh tế và thương mại với nhau trên nguyên tắc
mang cái mình có lợi thế trao đổi lấy cái mình chưa có lợi thế với các nước khác. Quá
trình tiến hành trao đổi các hoạt động quốc tế dẫn đến những nhu cầu chi trả, thanh
8
toán giữa các chủ thể ở các nước khác nhau từ đó hình thành và phát triển hoạt động
TTQT, trong đó ngân hàng là cầu nối trung gian giữa các bên.
Việc trao đổi các hoạt động kinh tế và thương mại giữa các quốc gia làm phát
sinh các khoản thu và chi bằng tiền của nước này đối với một nước khác trong từng
giao dịch hoặc trong từng định kỳ chi trả do hai nước quy định. Trong mối quan hệ

này, các quốc gia phải cùng nhau quy định những yếu tố cấu thành cơ chế thanh toán
giữa các quốc gia như quy định về chủ thể tham gia thanh toán, lựa chọn tiền tệ, các
công cụ và các phương thức đòi và hoặc chi trả tiền tệ. Tổng hợp các yếu tố cấu thành
cơ chế đó tạo thành TTQT giữa các quốc gia.
Như vậy, “TTQT là việc thực hiện các nghĩa vụ tiền tệ phát sinh trên cơ sở hoạt
động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân, nước này với tổ chức, cá nhân
nước khác, hoặc giữa một quốc gia với các tổ chức quốc tế thông qua hệ thống ngân
hàng ở các nước khác nhau để thúc đẩy một chu trình hoạt động trong lĩnh vực kinh tế
đối ngoại” (Vũ Thị Thúy Nga, Luận án tiến sĩ kinh tế 2003, tr.7)
1.2.2. Đặc điểm hoạt động thanh toán quốc tế

Thanh toán quốc tế khác thanh toán quốc nội ở yếu tố ngoại quốc
Những hoạt động thanh toán nào có yếu tố ngoại quốc thì gọi là hoạt động
TTQT, còn ngược lại thì gọi là hoạt động thanh toán quốc nội. Yếu tố ngoại quốc
của một hoạt động thanh toán thể hiện trên các phương diện sau:
Chủ thể tham gia thanh toán là những người cư trú và người phi cư trú, không
phân biệt là chung quốc tịch hay khác quốc tịch hoặc giữa những người phi cư trú
với nhau. Luật quản lý ngoại hối của mỗi nước đều có định nghĩa người phi cư trú
và người cư trú.
Tiền tệ thanh toán được chuyển khoản từ tài khoản người phi cư trú sang tài
khoản người cư trú hoặc giữa tài khoản hai người phi cư trú với nhau không kể hai
tài khoản đó mở ở một ngân hàng hay ở hai ngân hàng ở trong cùng một quốc gia
hay ở hai quốc gia khác nhau.
Tiền tệ được sử dụng trong TTQT là ngoại tệ đối với một trong hai nước hoặc
có thể là nội tệ có nguồn gốc ngoại tệ. Nội tệ có nguồn gốc ngoại tệ thường bao
9
gồm những loại như sau:
Người nước ngoài XK hàng hóa vào một nước khác thu bằng tiền tệ của nước
đó và sau đó dùng đồng nội tệ này để thanh toán hàng NK từ nước này. Theo luật
đầu tư nước ngoài của phần lớn các nước, các chủ đầu tư nước ngoài được chia lãi

đầu tư bằng nội tệ và được quyền chuyển đổi số lãi đầu tư này ra bất cứ ngoại tệ nào
để chuyển về nước hoặc dùng để tái đầu tư vào nước sở tại hoặc dùng để mua hàng
của nước sở tại để xuất ra nước ngoài. Số nội tệ này có nguồn gốc ngoại tệ cũng
tham gia vào hoạt động TTQT; Theo phương thức thư ủy thác mua, người NK nước
ngoài phải chuyển ngoại tệ vào “Tài khoản ủy thác mua” tại một ngân hàng ở nước
XK để mua bộ chứng từ giao hàng đã có sự xác nhận của đại diện người NK đóng ở
nước XK sau khi giao hàng. Đồng tiền ghi trên “Tài khoản ủy thác mua” có thể là
ngoại tệ, nhưng cũng có thể là nội tệ của nước XK. Trong trường hợp này, đồng nội
tệ ghi trên tài khoản đó cũng có nguồn gốc ngoại tệ và tham gia vào TTQT.

Hoạt động thanh toán quốc tế là một loại hình dịch vụ mà Ngân hàng
cung ứng cho khách hàng
Cũng như các loại dịch vụ khác, dịch vụ TTQT cũng có những đặc điểm
truyền thống như các dịch vụ khác đó là một dịch vụ mang tính vô hình, không tồn
tại dưới dạng vật chất, không nhìn thấy được và do đó không thể lượng hóa được
chất lượng dịch vụ trực tiếp bằng những chỉ tiêu kỹ thuật. Quá trình cung ứng và
tiêu dùng dịch vụ TTQT xảy ra đồng thời. Sản xuất hàng hóa và tiêu dùng hàng hóa
thường là hai khâu tách biệt nhau, độc lập với nhau. Sự tách biệt này càng lớn
chứng tỏ thị trường hàng hóa đó chưa được phát triển. Khác với thị trường hàng
hóa, quá trình cung ứng dịch vụ gắn liền với tiêu dùng dịch vụ, khi cung cấp dịch
vụ kết thúc cũng là lúc tiêu dùng xong dịch vụ.
Tuy nhiên dịch vụ TTQT có những đặc điểm riêng mà các dịch vụ thanh toán
trong nước không có. Những đặc điểm này chi phối rất lớn đến chất lượng, hiệu quả
kinh tế của dịch vụ. Cụ thể, một là cung ứng dịch vụ qua biên giới quốc gia, trong
cung ứng này chỉ có dịch vụ được chuyển qua biên giới còn người cung ứng dịch vụ
thì không dịch chuyển. Người cung ứng dịch vụ không xuất hiện trên lãnh thổ của
10
nước tiêu dùng dịch vụ đó. Hai là tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài, người thụ hưởng
dịch vụ không cùng lãnh thổ với người cung ứng dịch vụ. Hay nói một cách khác,
dịch vụ được cung ứng cho người tiêu dùng ở ngoài lãnh thổ mà người tiêu dùng đó

cư trú thường xuyên. Ba là hình thành đại lý dịch vụ ở nước người tiêu dùng dịch
vụ. Bản thân dịch vụ TTQT là một loại hàng hóa vô hình. Đối tượng của dịch vụ là
tiền tệ tín dụng cũng là một loại hàng hóa vô hình. Cho nên sự hiện diện của cung
ứng dịch vụ ở nước người tiêu dùng dịch vụ là rất quan trọng. Các ngân hàng
thường thiết lập quan hệ ngân hàng đại lý với các ngân hàng sở tại hoặc cao hơn
nữa là thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước tiêu thụ dịch vụ để thực hiện
dịch vụ TTQT có hiệu quả.

Hoạt động thanh toán quốc tế chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn
Rủi ro trong hoạt động TTQT của NHTM là vấn đề xảy ra ngoài ý muốn trong
quá trình tiến hành hoạt động TTQT và ảnh hưởng xấu đến chất lượng hoạt động
kinh doanh của NHTM.
Trong quá trình tiến hành hoạt động TTQT, rủi ro xảy ra khi quyền lợi của một
bên tham gia bị vi phạm. Rủi ro không chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là việc chứng
từ không được thanh toán, mà còn được hiểu rộng ra là bất kỳ một sự chậm trễ nào
trong các khâu của quá trình TTQT.
Rủi ro có thể xảy ra với tất cả các bên tham gia: Đối với người bán, rủi ro xảy
ra khi bán hàng không thu được tiền hoặc chậm thu được tiền, rủi ro về thị trường,
rủi ro không nhận hàng, rủi ro không thanh toán. Còn đối với người mua, rủi ro xảy
ra khi người bán giao hàng không đúng với các điều kiện của hợp đồng (không
đúng số lượng, chủng loại), rủi ro không giao hàng, rủi ro trong quá trình vận
chuyển hàng hoá; với ngân hàng có liên quan, rủi ro xảy ra khi người mua hoặc
người bán thiếu trung thực, không thực hiện đúng cam kết đã ghi trong hợp đồng,
do tỷ giá biến động.
11

Hệ thống thanh toán quốc tế phát triển ngày một hoàn thiện, thanh toán
quốc tế điện tử đang dần dần thay thế cho thanh toán quốc tế bằng chứng từ
truyền thống.
Hệ thống TTQT chuyển từ thanh toán bằng tiền đúc bằng bạc hoặc vàng sang

thanh toán bằng chứng từ (Séc, thương phiếu, thư chuyển tiền, thư tín dụng du
lịch) đã phá vỡ thị trường quốc gia chật hẹp để hình thành thị trường hàng hóa
quốc tế rộng lớn vào thời kỳ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa tư
bản lũng đoạn.
Sự phát triển của chủ nghĩa công nghệ điện tử và đặc biệt là công nghệ thông
tin kỹ thuật số đã chuyển hướng hệ thống TTQT sang thanh toán điện tử như hệ
thống chuyển tiền điện tử quốc tế (International Electronic Funds Transfer System –
IEFTS) và vào cuối thế kỷ XX xuất hiện hệ thống thanh toán bù trừ quốc tế và khu
vực (Clearing House Interbank Payment System – CHIPS). Điếm khác biệt lớn nhất
giữa thanh toán điện tử và thanh toán bằng chứng từ truyền thống là thông qua các
phương tiện điện tử, loại bỏ hầu hết việc giao nhận giấy tờ và việc ký truyền thống
thay vào đó là các phương pháp xác thực mới. Dùng phương pháp mới để xác nhận
đúng người có quyền ra lệnh thanh toán mà không cần tiếp xúc trực tiếp. Lợi ích lớn
nhất là sự tiết kiệm chi phí và tạo thuận lợi cho các bên giao dịch, doanh nghiệp
không cần phải đầu tư nhân sự, địa điểm và các chi phí lưu chuyển hồ sơ cho việc
giao dịch. Với thanh toán điện tử, các bên có thể tiến hành giao dịch khi ở cách xa
nhau, không bị giới hạn bởi không gian địa lý.
1.2.3. Cơ sở pháp lý của hoạt động thanh toán quốc tế
Pháp luật điều chỉnh hoạt động thanh toán quốc tế gồm hai bộ phận, đó là pháp
luật quốc tế (Thông lệ và tập quán quốc tế) và pháp luật quốc gia. Môi trường pháp
lý có thể tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động TTQT và cũng có thể gây ra những
hạn chế không cần thiết đối với chính hoạt động ấy. Trong những năm gần đây,
Chính phủ đang nỗ lực trong việc đổi mới, cải thiện hệ thống văn bản pháp luật
cũng như hoàn thiện môi trường pháp lý giúp đẩy mạnh hoạt động TTQT. Do đó,
một số văn bản luật đã pháp quy hóa các phương tiện thanh toán quốc tế thông qua
các quy định các dịch vụ thanh toán quốc tế (Chuyển tiền, nhờ thu, tín dụng chứng
12
từ). Việc thừa nhận các quy định này đã chấm dứt việc hiểu và áp dụng, vận hành
khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau về pháp luật thanh toán đối với hoạt động ngân
hàng trong một thời kỳ dài, khẳng định tư duy pháp lý mới góp phần làm hoạt động

ngân hàng ngày càng phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế. Hiện nay những cơ
sở pháp lý điều chỉnh quan hệ TTQT gồm:
a. Văn bản pháp lý mang tính chất quốc tế:
- Bộ tập quán quốc tế về L/C gồm:
+ UCP 600 2007 ICC- Các quy tắc thực hành thống nhất về Tín dụng chứng từ
(The Uniform Custorm and Practice for Documentary) có hiệu lực từ 01/07/2007.
Bản UCP đầu tiên được soạn thảo và công bố vào năm 1933, được hội nghị ICC lần
thứ 7 tại Viene thông qua. Bản quy tắc đã được ICC tu chỉnh 7 lần và gần đây nhất
là ấn phẩm UCP 600 (2007).
+ eUCP 1.1 - Bản phụ trương UCP về xuất trình chứng từ điện tử (Supplement
To The Unifform Customs and Practice for Documentary Credit for Electronic
Presentation – Eucp) có hiệu lực từ ngày 01/07/2007.
+ ISBP 681 2007 ICC- Tập quán Ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế để kiểm tra
chứng từ theo thư tín dụng (International Standard Banking Practice for The
Examination of Documents)- số 681, 2007 của ICC tuân thủ UCP 600 2007 ICC có
hiệu lực từ ngày 01/07/2007.
+ eUCP1.1- Bản phụ trương UCP 600 về việc xuất trình chứng từ điện tử- bản
diễn giải số 1.1. có hiệu lực từ ngày 01/07/2007.
+ URR 725 2007 ICC- Quy tắc thống nhất hoàn trả tiền theo thư tín dụng
(Uniform Rulez for Bank to Bank Reimbursements Under Documentary Credits).
- Điều kiện thương mại quốc tế năm 2010 (Incoterms 2010). Điều kiện thương
mại quốc tế (Incoterms) được soạn thảo và ban hành lần đầu tiên vào năm 1936, do
hội tụ đầy đủ được các tập quán phổ biến trong thương mại quốc tế nên được toàn
thế giới công nhận và áp dụng. Incoterms đã được sửa đổi bổ sung nhiều lần, lần
sau hoàn thiện và phù hợp với thực tiễn hơn nhưng không phủ nhận tính hiệu lực
của các lần trước đó
13
- Quy định thống nhất nghĩa vụ thanh toán của các ngân hàng 2013 (Uniform
Rules for Bank Payment Obligations – 2013)
- Luật thống nhất về hối phiếu theo Công ước Geneva năm 1930 (Uniform

Law for bill of Exchange- ULB)
- Công ước Liên hợp quốc về hối phiếu và lệnh phiếu quốc tế 1980
(International Bill of Exchange and Promissory Notes _ UN Convention 1980)
- Luật hối phiếu của Anh năm 1882 (Bill of Exchange Act 1882- BEA)
- Công ước Geneve 1931 quy định việc lưu thông Séc (Uniform Law of Check
– ULR 1931.
- URC 522.1995.ICC - Quy tắc thống nhất nhờ thu (Uniform Rules for
Collection) ICC Publication No.522, 1995 Revision có hiệu lực từ 01/01/1996 quy
định những vấn đề có tính nguyên tắc về khái niệm, hình thức, cơ cấu của nhờ thu
và về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của ngân hàng cũng như của các bên liên
quan về các chi phí, các chứng từ trong nhờ thu
- Quy tắc thống nhất bảo lãnh theo yêu cầu 458.1992.ICC
b. Văn bản pháp lý của Việt Nam:
- Luật công cụ chuyển nhượng năm 2005
- Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN về việc ban hành quy chế bảo lãnh ngân
hàng do Ngân hàng nhà nước ban hành 26/6/2006.
- Pháp lệnh ngoại hối năm 2005
- Nghị định số 160/2006/NĐ-CP về việc Quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh
Ngoại hối do Chính phủ ban hành 28/12/2006.
- Quyết định số 50/2007/QĐ-NHNN về việc ban hành mức thu phí dịch vụ
thanh toán qua tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán do Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam ban hành 28/12/2007.
- Quyết định số 504/QĐ-NHNN về việc ban hành một số quy định liên quan
đến giao dịch ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối, ban
hành ngày 7/3/2008.
14

×