Tải bản đầy đủ (.pdf) (196 trang)

Hoạt động của mặt trận tổ quốc xã, phường, thị trấn tỉnh Bắc Ninh trong thực hiện dân chủ ở cơ sở hiện nay (toàn văn)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.34 MB, 196 trang )



B QUC PHềNG
HC VIN CHNH TR





NGUYN VN PHNG





HOạT ĐộNG CủA MặT TRậN Tổ QUốC Xã, PHƯờNG,
THị TRấN TỉNH BắC NINH TRONG THựC HIệN
DÂN CHủ ở CƠ Sở HIệN NAY




LUN N TIN S KHOA HC CHNH TR




Hà NộI - 2014


B QUC PHềNG


HC VIN CHNH TR





NGUYN VN PHNG




HOạT ĐộNG CủA MặT TRậN Tổ QUốC Xã, PHƯờNG,
THị TRấN TỉNH BắC NINH TRONG THựC HIệN
DÂN CHủ ở CƠ Sở HIệN NAY


Chuyờn ngnh: Xõy dng ng v Chớnh quyn Nh nc
Mó s : 62 31 02 03

LUN N TIN S KHOA HC CHNH TR




NGI HNG DN KHOA HC:
1. PGS, TS Tụ Xuõn Sinh
2. TS Nguyn Vn Dng


H NI - 2014


Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận
án là trung thực, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN


Nguyễn Văn Phương






MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU




5
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

10
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC
TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC XÃ,
PHƢỜNG, THỊ TRẤN TỈNH BẮC NINH TRONG
THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
28
1.1.

Tỉnh Bắc Ninh và Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn
tỉnh Bắc Ninh
28
1.2.
Dân chủ ở cơ sở và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc xã,
phường, thị trấn tỉnh Bắc Ninh trong thực hiện dân chủ ở
cơ sở
40
Chƣơng 2

THỰC TRẠNG VÀ KINH NGHIỆM HOẠT ĐỘNG CỦA
MẶT TRẬN TỔ QUỐC XÃ, PHƢỜNG, THỊ TRẤN
TỈNH BẮC NINH TRONG THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở
CƠ SỞ
69
2.1.
Thực trạng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc xã, phường,
thị trấn tỉnh Bắc Ninh trong thực hiện dân chủ ở cơ sở
69
2.2.
Nguyên nhân và kinh nghiệm hoạt động của Mặt trận Tổ

quốc xã, phường, thị trấn tỉnh Bắc Ninh trong thực hiện
dân chủ ở cơ sở.
84
Chƣơng 3

YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN TĂNG
CƢỜNG HOẠT ĐỘNG CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC
XÃ, PHƢỜNG, THỊ TRẤN TỈNH BẮC NINH TRONG
THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ HIỆN NAY
103
3.1.
Những yếu tố tác động và yêu cầu tăng cường hoạt động
của Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn tỉnh Bắc Ninh
trong thực hiện dân chủ ở cơ sở hiện nay
103
3.2.
Những giải pháp cơ bản tăng cường hoạt động của mặt
trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn tỉnh Bắc Ninh trong
thực hiện dân chủ ở cơ sở hiện nay
118
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
156
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ
CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

158
159
169


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT
Chữ viết đầy đủ
Chữ viết tắt
1
Ban chấp hành Trung ương
BCHTW
2
Chính trị quốc gia
CTQG
3
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CNH,HĐH
4
Hội đồng nhân dân
HĐND
5
Mặt trận Tổ quốc
MTTQ
6
Nhà xuất bản
Nxb
7
8
Ủy ban nhân dân
Xã hội chủ nghĩa
UBND
XHCN







5
MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu khái quát về luận án
Quán triệt và thực hiện Chỉ thị số 30 ngày 18 tháng 2 năm 1998 của Bộ
Chính trị Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII về xây dựng và thực hiện quy
chế dân chủ ở cơ sở; Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Pháp lệnh thực hiện
dân chủ ở xã, phường, thị trấn, MTTQ xã, phường, thị trấn tỉnh Bắc Ninh đã nỗ
lực đổi mới tổ chức và hoạt động, góp phần tích cực vào xây dựng hệ thống
chính trị, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và phát huy quyền
làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh, quốc
phòng. Tuy nhiên, so với yêu cầu của xây dựng và thực hiện dân chủ ở cơ sở vẫn
còn hình thức và nặng về hành chính, chưa sát dân. Vì vậy, đề tài luận án “Hoạt
động của Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn tỉnh Bắc Ninh trong thực hiện
dân chủ ở cơ sở hiện nay” góp phần làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận, thực
tiễn; đề xuất những giải pháp cơ bản tăng cường hoạt động của MTTQ xã,
phường, thị trấn tỉnh Bắc Ninh trong thực hiện dân chủ ở cơ sở hiện nay.
Luận án dựa trên nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng, kế thừa kết quả nghiên cứu
của một số công trình có liên quan đến đề tài luận án đã được công bố trong
những năm gần đây và kết quả khảo sát thực tế hoạt động của MTTQ ở các
xã, phường, thị trấn tỉnh Bắc Ninh trong thực hiện dân chủ ở cơ sở từ khi Chỉ
thị số 30 ngày 18 tháng 2 năm 1998 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung
ương khoá VIII được ban hành đến nay.
Luận án gồm phần mở đầu, phần tổng quan, ba chương, kết luận, danh

mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Luận án đã làm rõ tình hình nghiên cứu liên
quan đến đề tài, những vấn đề cơ bản về dân chủ và thực trạng hoạt động của
MTTQ xã, phường, thị trấn tỉnh Bắc Ninh trong thực hiện dân chủ ở cơ sở, đề
xuất yêu cầu và những giải pháp cơ bản tăng cường hoạt động của MTTQ xã,
phường, thị trấn tỉnh Bắc Ninh trong thực hiện dân chủ ở cơ sở hiện nay.

6
2. Lý do lựa chọn đề tài luận án
Nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ cách
mạng lúc này đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải tiếp tục đẩy
mạnh toàn diện công cuộc đổi mới. Thực hiện dân chủ ở cơ sở, phát huy quyền
làm chủ của nhân dân là động lực to lớn, có ý nghĩa và tầm quan trọng để thúc
đẩy phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh, tạo nền tảng để
đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Ở nước ta, nhân dân lao động thực hiện quyền làm chủ xã hội không chỉ
thông qua Nhà nước mà còn thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đảng
Cộng sản Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội: Liên Đoàn Lao động Việt
Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp
Phụ nữ, Hội cựu Chiến binh,…trong đó MTTQ có vai trò to lớn trong phát
huy dân chủ, thực hiện khối đại đoàn kết toàn dân xây dựng đất nước. Đảng ta
khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở
chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng, tập hợp
khối đại đoàn kết toàn dân, góp sức xây dựng Nhà nước trong sạch, vững
mạnh; phát huy khả năng tham gia bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các
cấp…, thực hiện giám sát của nhân dân đối với công tác và đạo đức, lối sống
của cán bộ, đảng viên, công chức, đại biểu dân cử và các cơ quan nhà nước;
giải quyết những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân” [27-130].
Để thực hiện đề tài luận án: Hoạt động của MTTQ xã, phường, thị trấn
tỉnh Bắc Ninh trong thực hiện dân chủ ở cơ sở, nghiên cứu sinh đã có gần 20
năm học tập, công tác tại địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Qua nghiên cứu các công

trình khoa học về thực hiện dân chủ ở cơ sở và kết quả hoạt động thực tiễn
của MTTQ, nghiên cứu sinh có nhiều trăn trở từ đó tích lũy kiến thức về hoạt
động của MTTQ và quá trình thực hiện dân chủ ở cơ sở tỉnh Bắc Ninh. Kết
hợp nghiên cứu lý luận và số liệu điều tra, khảo sát thực tiễn hoạt động của

7
MTTQ xã, phường, thị trấn tỉnh Bắc Ninh trong thực hiện dân chủ ở cơ sở
làm luận cứ để nghiên cứu sinh thực hiện luận đề tài án này.
Bắc Ninh là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng và nằm trên Vùng
kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, là mảnh đất địa linh nhân kiệt, nơi có truyền thống
khoa bảng và nền văn hóa lâu đời. Trong những năm qua, MTTQ xã, phường,
thị trấn tỉnh Bắc Ninh đã phát huy tốt vai trò của mình trong thực hiện dân
chủ ở cơ sở thông qua việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, giải quyết mối
quan hệ với cấp uỷ đảng, chính quyền và các đoàn thể chính trị - xã hội. Nhờ
đó đã góp phần xây dựng được không khí dân chủ, cởi mở trong thực hiện
mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh ở cơ sở.
Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế - xã hội đã làm nảy sinh nhiều mối
quan hệ mới giữa các giai tầng trong xã hội ở xã, phường, thị trấn tỉnh Bắc
Ninh. Nhiều chủ trương, chính sách của Đảng chậm được đưa vào cuộc sống,
khối đại đoàn kết toàn dân và mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền và nhân dân
ở địa phương chưa thật bền chặt và đang đứng trước những khó khăn mới. Việc
thực hiện nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp, thống nhất
hành động giữa các tổ chức thành viên của MTTQ có lúc mang tính hình thức.
Sự phối hợp hoạt động giữa MTTQ xã, phường, thị trấn với chính quyền còn
mang tính “hành chính hoá”. Nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa cấp uỷ,
tổ chức cơ sở đảng với MTTQ xã, phường thị trấn vẫn còn những biểu hiện
lệch lạc. Không ít cấp uỷ chưa làm được điều mà Đảng quy định là: Đảng vừa
là tổ chức thành viên, vừa là người lãnh đạo MTTQ. Nhiều nơi cấp uỷ, tổ chức
đảng cơ sở còn có biểu hiện áp đặt một chiều, chưa thật sự tôn trọng tính tự
chủ, hoạt động tích cực, sáng tạo của MTTQ. Ở một số xã, phường, thị trấn,

MTTQ còn có biểu hiện coi nhẹ sự lãnh đạo của cấp uỷ đảng. Ban công tác
Mặt trận ở cơ sở hoạt động có lúc chưa hiệu quả. Nhận thức của một bộ phận
nhân dân về các giá trị dân chủ XHCN còn có những biểu hiện lệch chuẩn. Chế

8
độ, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ MTTQ xã, phường, thị trấn chưa được
quan tâm đúng mức, kinh phí hoạt động của MTTQ còn khó khăn. Năng lực
của cán bộ mặt trận chưa đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chức trách dẫn
đến hiệu quả hoạt động của MTTQ còn có những hạn chế nhất định. Những
điều đó đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của MTTQ xã, phường, thị
trấn tỉnh Bắc Ninh trong thực hiện dân chủ ở cơ sở. Chính vì vậy nghiên cứu
“Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn tỉnh Bắc Ninh trong
thực hiện dân chủ ở cơ sở hiện nay” là vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa cả về lý
luận và thực tiễn.
3. Mục đích nghiên cứu của luận án
Trên cơ sở luận giải làm rõ những vấn đề cơ bản lý luận về dân chủ ở
cơ sở và thực tiễn hoạt động của MTTQ trong thực hiện dân chủ ở cơ sở, góp
phần xây dựng MTTQ xã, phường, thị trấn tỉnh Bắc Ninh vững mạnh, tăng
cường hoạt động của MTTQ xã, phường, thị trấn trong thực hiện dân chủ ở cơ
sở hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
* Đối tượng nghiên cứu của luận án: Hoạt động của MTTQ xã
phường, thị trấn tỉnh Bắc Ninh trong thực hiện dân chủ ở cơ sở .
* Phạm vi nghiên cứu của luận án: Luận án tập trung nghiên cứu hoạt
động của MTTQ trong thực hiện dân chủ ở 126 xã, phường, thị trấn, 105 khu
dân cư trong tỉnh Bắc Ninh từ ngày tái lập tỉnh đến nay. Các số liệu, tư liệu
phục vụ cho nghiên cứu từ 1998 đến nay.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
* Đóng góp mới của luận án: Luận giải khoa học và nêu ra quan niệm
về hoạt động của MTTQ xã, phường, thị trấn tỉnh Bắc Ninh trong thực hiện

dân chủ ở cơ sở. Khái quát những kinh nghiệm bước đầu hoạt động của
MTTQ xã, phường, thị trấn tỉnh Bắc Ninh trong thực hiện dân chủ ở cơ sở.

9
Đề xuất những nội dung, biện pháp cơ bản tiếp tục tăng cường hoạt động của
MTTQ xã, phường, thị trấn tỉnh Bắc Ninh trong thực hiện dân chủ ở cơ sở
hiện nay.
* Ý nghĩa lý luận, thực tiễn:
Góp phần làm sáng tỏ tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của
Đảng ta về nền dân chủ XHCN, về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực
hiện dân chủ ở cơ sở và vai trò hoạt động của MTTQ xã, phường, thị trấn
trong thực hiện dân chủ ở cơ sở; làm rõ thực trạng của vấn đề này và đưa
ra luận chứng tính khả thi của các giải pháp cơ bản tăng cường hoạt động
của MTTQ xã, phường, thị trấn trong thực hiện dân chủ ở cơ sở hiện nay.
Kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp luận cứ khoa học giúp cấp uỷ
xã, phường, thị trấn, trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và phát huy vai trò của
MTTQ trong thực hiện dân chủ ở cơ sở xã phường hiện nay.
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy, nghiên cứu
ở các trường đào tạo bồi dưỡng cán bộ của Đảng, Nhà nước và các tổ chức
chính trị - xã hội.

10
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận án
1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến luận án
Ở Trung Quốc có nhiều tác phẩm, công trình nghiên cứu của các nhà
khoa học và quản lý, các nhà nghiên cứu lý luận, được dịch ra tiếng Việt,
xung quanh vấn đề xây dựng nền chính trị dân chủ XHCN và thực hiện dân
chủ ở nông thôn Trung Quốc. Công trình Quan điểm của giới lý luận Trung
Quốc về thực thi dân chủ trong hệ thống chính trị, do Học viện Chính trị

Quốc gia Hồ Chí Minh dịch và xuất bản năm 2005 đã tập hợp, tổng thuật,
khái quát làm rõ quan điểm của các nhà lãnh đạo, cán bộ khoa học Trung
Quốc như: Ngô Bang Quốc - Chủ tịch Quốc Hội; Ôn Gia Bảo- Thủ tướng;
Giả Khánh Lâm - Chủ tịch Chính hiệp; Lý Trường Xuân - Trưởng Ban tuyên
truyền xung quanh vấn đề về xây dựng nền chính trị dân chủ XHCN và
thực hiện dân chủ ở nông thôn Trung Quốc trong thời kỳ cải cách. Trong đó
nổi lên một số quan điểm sau:
Về vấn đề dân chủ: Đa số các nhà lãnh đạo, nghiên cứu lý luận ở Trung
quốc đều đồng tình với quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ và dân
chủ xã hội chủ nghĩa, cho rằng dân chủ là một phạm trù chính trị - xã hội
mang tính giai cấp sâu sắc. “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là chế độ chính trị căn
bản của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, là giai cấp vô sản và nhân dân lao động
nắm quyền lực tối cao quản lý Nhà nước”. Do vậy, để nhân dân thực hiện
quyền lực của mình phải cải cách thể chế chính trị, mở rộng dân chủ trong
Đảng và phát huy dân chủ nhân dân. Theo quan điểm của Đảng Cộng sản
Trung Quốc, việc cải cách thể chế chính trị phải tập trung vào những vấn đề:
Xây dựng Nhà nước pháp quyền, pháp trị. Dân chủ là giá trị nền tảng, động
lực cơ bản, pháp luật là tối thượng đối với quản lý Nhà nước. Cùng với pháp
luật phải có đạo đức bảo đảm. Dân chủ hoá đi đôi với pháp chế hoá. Phát huy

11
dân chủ trong sự thống nhất và chế định của pháp luật. Đồng thời phát huy vai
trò của các tổ chức chính trị - xã hội, đặc biệt là của Chính Hiệp để thực hiện
vai trò đồng thuận, hoà hợp, hoà giải, tự quản. Đảng Cộng sản Trung Quốc là
Đảng cầm quyền. Vì vậy, mở rộng dân chủ trong Đảng là nhân tố quyết định
của một nền chính trị dân chủ XHCN, thực hiện đầy đủ dân chủ của nhân dân.
Năm 2006 Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia đã dịch các bài
viết của Lý Thiết Ánh, Mã Linh Hỷ, bàn về dân chủ theo quan điểm của Đảng
Cộng sản Trung Quốc. Tài liệu này đã tổng quan những luận điểm và giải
pháp thực hiện dân chủ trong sinh hoạt và hoạt động của Đảng Cộng sản

Trung Quốc. Đó là những vấn đề về thực hiện chế độ dân chủ, giám sát trong
Đảng, các giải pháp, con đường thực hiện dân chủ trong Đảng, trong hệ thống
các giải pháp đó, đã đề cập đến vai trò của nhân dân, các tổ chức chính trị - xã
hội đối với việc giám sát các hoạt động của đảng viên, công chức trong bộ
máy Nhà nước của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa.
Trong sách, phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái thù địch, bảo vệ
nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Tuyên giáo Trung ương
đã tổng thuật bài phát biểu của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Hồ
Cẩm Đào, ngày 25 tháng 6 năm 2007, tại Trường Đảng Trung ương Trung
Quốc. Theo Tổng Bí thư Hồ Cẩm Đào để phát triển nền dân chủ XHCN phải
kiên trì sự thống nhất hữu cơ giữa sự lãnh đạo của Đảng, sự làm chủ của nhân
dân và lãnh đạo đất nước theo pháp luật, không ngừng thúc đẩy chế độ chính
trị XHCN phát triển và tự hoàn thiện. Tiếp tục mở rộng sự tham gia chính trị
có trật tự của công dân, làm phong phú hình thức dân chủ, mở rộng các kênh
dân chủ; thúc đẩy khoa học hoá, dân chủ hoá quyết sách, hoàn thiện hệ thống
hỗ trợ về thông tin và trí lực cho quyết sách; phát triển dân chủ cơ sở, bảo
đảm cho nhân dân trực tiếp thực hiện quyền lợi dân chủ theo pháp luật.

12
Tài liệu về Một số vấn đề về Đại hội XVII Đảng Cộng sản Trung Quốc
của Học viện Chính trị đã nghiên cứu, khái quát những vấn đề lý luận về
CNXH của Đại hội XVII Đảng Cộng sản Trung Quốc (10-2007). Theo tài liệu
này, quan điểm của Đảng Cộng sản Trung Quốc về mở rộng dân chủ trong
Đảng, bao gồm các vấn đề: Thúc đẩy công khai công tác đảng, tăng độ công
khai của các tổ chức đảng, thực hiện các vấn đề lớn và quyết sách cần phải
tiến hành công khai thảo luận tự do và thống nhất trong Đảng. Xây dựng và
kiện toàn chế độ trách nhiệm của Uỷ ban Thường vụ, chế độ báo cáo và chế
độ giám sát trong Đảng. Từng bước mở rộng bầu cử dân chủ trực tiếp các
thành viên lãnh đạo của tổ chức đảng cấp xã (thôn), huyện (thành phố) và
phạm vi thí điểm bầu cử dân chủ gián tiếp hàng ngũ lãnh đạo cấp khu và

thành phố. Nghiên cứu tìm tòi và xây dựng thể chế vừa có lợi cho sự thống
nhất của Đảng vừa có lợi với việc hạn chế quyền lực trong Đảng.
Về mở rộng dân chủ cơ sở: Đảng Cộng sản Trung Quốc khẳng định, để
mở rộng và thúc đẩy dân chủ toàn xã hội phải dựa vào dân chủ trong Đảng.
Mở rộng dân chủ cơ sở, bảo đảm quần chúng nhân dân trực tiếp thực hiện
quyền dân chủ và dựa vào pháp luật để quản lý công việc của chính mình là
thực tiễn rộng rãi nhất của dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đối với việc thực hiện
dân chủ ở nông thôn Trung Quốc, trên cơ sở tổng kết thực tiễn xây dựng nền
chính trị dân chủ sau cải cách mở cửa, giới lý luận Trung Quốc khẳng định:
xây dựng nền dân chủ XHCN ở nông thôn là việc xác lập và từng bước hoàn
thiện cơ chế bầu cử dân chủ ở cấp thôn, xã; mở rộng quyền tham gia có tổ
chức của nông dân vào đề cử, ứng cử trong chi bộ thôn, chính quyền xã; đẩy
mạnh thực hiện qui chế dân chủ ở nông thôn, tạo điều kiện pháp lý thuận lợi
để nông dân tham gia trực tiếp vào quản lý, xây dựng chính quyền cơ sở…
Có thể thấy, những nghiên cứu về lý luận và thực tiễn xây dựng nền
dân chủ XHCN, về dân chủ trong Đảng và dân chủ cơ sở ở Trung Quốc có

13
nhiều nét tương đồng với quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân chủ
và xây dựng nền dân chủ XHCN ở Việt Nam. Đó là các vấn đề về xây dựng
Nhà nước pháp quyền, Đảng Cộng sản cầm quyền, phát huy quyền làm chủ
của nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội tham gia xây dựng nền dân chủ
XHCN. Riêng đối với phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc vào
xây dựng và thực hiện dân chủ, ở Trung Quốc là tổ chức Chính Hiệp, ở Việt
Nam là Mặt Trận Tổ quốc. Thực hiện dân chủ ở cơ sở, ở Trung Quốc là mô
hình tự quản, ở Việt Nam là Quy chế dân chủ. Đó là những tài liệu tham khảo
có giá trị, để tác giả luận án nghiên cứu vấn đề về mối quan hệ giữa sự lãnh
đạo của tổ chức Đảng, sự quản lý của chính quyền và hoạt động của các tổ
chức chính trị - xã hội, sự tham gia của nhân dân trong xây dựng và thực hiện
dân chủ cơ sở ở tỉnh Bắc Ninh.

Cuốn sách Dân chủ của đồng chí Gióc-giơ Mác-se Tổng bí thư Đảng
Cộng sản Pháp, do Nhà xuất bản Sự thật dịch và xuất bản năm 1992. Cuốn
sách đã đánh giá về tình hình thế giới, về phong trào cách mạng, về CNXH
thế giới về tình hình nước Pháp và cuộc đấu tranh của nhân dân Pháp vì dân
chủ, tiến bộ xã hội và rút ra những kết luận về đường lối, chính sách của Đảng
Cộng sản Pháp. Tác giả cho rằng, CNTB, dân chủ tư sản không phải là một
giải pháp. Phải chống lại nó và tìm những sự lựa chọn khác, không phải là sự
lựa chọn tiền bạc mà là sự lựa chọn những con người. Về đường lối, chính
sách của Đảng Cộng sản Pháp tác giả chỉ rõ: Một từ nói lên đặc điểm của tất
cả các chính sách của Đảng Cộng sản là dân chủ. Đó là mục đích mà Đảng
theo đuổi và là phương tiện hoạt động của Đảng. Đó cũng là bí quyết hoạt
động của Đảng Cộng sản. Theo tác giả, dân chủ là sức mạnh, thế lực của nhân
dân. Nhân dân có sức mạnh xây dựng tương lai của chính mình. Chính nhân
dân là người làm ra lịch sử. Tất cả những gì đã được làm ra là vĩ đại ở Pháp,
đều là nhờ sức mạnh ấy. Như vậy, theo Gióc-giơ Mác-se dân chủ là quyền lực

14
của nhân dân, dân chủ khơi dậy và phát huy sức mạnh của nhân dân. Từ sự
sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu, ông cho rằng, dân chủ XHCN cần
được đổi mới để có nhiều dân chủ hơn.
Nghiên cứu về mô hình thực hiện dân chủ ở một số nước phương Tây, có
bài của Giáo sư, tiến sĩ Trần Ngọc Đường [35]: Tổ chức quyền lực Nhà nước,
mối quan hệ giữa các đảng phái chính trị và cơ quan nhà nước ở các nước tư
bản, trong sách Những vấn đề lý luận và thực tiễn mới đặt ra trong tình hình
hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia 2008. Từ nghiên cứu những công trình
của Liên Xô trước đây và nước Nga thời kỳ hậu xô viết về dân chủ tư sản như:
Luật Nhà nước tư sản hiện đại - Những chế định cơ bản; Luật Nhà nước các
nước tư sản, tác giả Trần Ngọc Đường đã tổng quan làm rõ những vấn đề các
công trình trên bàn về hệ thống chính quyền nhà nước ở các nước tư bản; mối
quan hệ giữa đảng phái chính trị và cơ quan nhà nước ở các nước tư bản.

Trong mục bàn về chính quyền địa phương ở các nước tư bản, tác giả
đã phân tích tổ chức và hoạt động của cơ quan tự quản ở địa phương. Những
cơ quan này không thuộc cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước mà có chức năng,
nhiệm vụ giải quyết các công việc riêng. Cơ quan đại diện của địa phương do
dân cư địa phương bầu ra theo nhiệm kỳ. Nhân dân địa phương trực tiếp hoặc
gián tiếp thông qua bầu ra cơ quan chấp hành của cơ quan đại diện để tổ chức
thực hiện các nghị quyết của cơ quan đại diện và hoạt động quản lý hành
chính ở địa phương và chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương về các
hoạt động của mình.
Theo tác giả, đó là những đặc điểm chung, việc tổ chức chính quyền địa
phương và thực hiện dân chủ còn do đặc điểm của mỗi nước. Ở các nước Tây
Âu chức năng quản lý địa phương do hai cơ quan: cơ quan hành chính và cơ
quan tự quản thực hiện. Cơ quan hành chính do cấp trên bổ nhiệm hoặc do hội
đồng tự quản bầu ra vừa thực hiện các quyết định của cấp trên vừa thực hiện
các quyết định của hội đồng tự quản, còn hội đồng tự quản được quyết định
các vấn đề của địa phương. Ở đa số các nước Bắc Âu, Ấn Độ, Mỹ La tinh,

15
việc quản lý ở các đơn vị hành chính trung gian chỉ do cơ quan hành chính
thực hiện. Cơ quan hành chính đứng đầu là tỉnh trưởng, quận trưởng do
nguyên thủ quốc gia bổ nhiệm theo đề nghị của chính phủ, có toàn quyền
quyết định mọi vấn đề của địa phương. Ở đây không thành lập cơ quan đại
diện (cơ quan tự quản). Một số nước khác như Anh, Mỹ, Nhật Bản lại không
có cơ quan hành chính do cấp trên bổ nhiệm. Việc quản lý ở địa phương được
thực hiện bởi cơ quan tự quản.
Cơ quan chính quyền và mô hình thực hiện dân chủ ở những đơn vị
hành chính cơ sở ở các nước tư bản rất đa dạng. Ở các nước như Pháp, Italia,
Bỉ các đơn vị hành chính cơ sở dù nhỏ hay lớn (làng, xã, thị xã hay thành
phố) đều được tổ chức giống nhau. Ở đó có hội đồng công xã và thị trưởng.
Thị trưởng do hội đồng công xã hoặc dân cư bầu ra là người đứng đầu hội

đồng, vừa là người đứng đầu bộ máy hành chính, tức là vừa mang tính đại
diện dân cư, vừa giữ quyền hành chính đại diện cho chính quyền nhà nước. Ở
một số nước khác như Anh, Mỹ, Na uy thì lại có sự phân biệt trong cách tổ
chức cơ quan ở những đơn vị hành chính cơ sở này. Việc tổ chức các đơn vị
hành chính phụ thuộc vào quy mô lớn hay nhỏ của các đơn vị hành chính.
Từ nghiên cứu, tổ chức quyền lực nhà nước, mối quan hệ giữa các đảng
phái chính trị và cơ quan nhà nước ở các nước tư bản và sự vận hành của thể chế
dân chủ ở một số nước phương Tây, tác giả cho rằng có một số nội dung có thể
vận dụng và thực hiện ở những mức độ khác nhau như: Hiến pháp và các đạo
luật là phương tiện cơ bản để tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước và các
đảng phái chính trị. Quyền con người, quyền công dân phát huy theo khuynh
hướng đề cao cá nhân trong mối quan hệ với tổ chức và hoạt động của quyền lực
nhà nước; các thể chế dân chủ trong tổ chức quyền lực nhà nước được coi trọng
và ngày càng hoàn thiện bằng pháp luật. Nhưng theo tác giả, đấy mới chỉ là bề
nổi, chưa có điều kiện nghiên cứu các mặt trái, những bất cập, những mâu thuẫn,
chưa làm được trong tổ chức quyền lực ở các nước tư bản phương Tây.

16
Tuy nhiên ở phương diện chính trị - xã hội, ta có thể thấy ngay mặt trái
của việc tổ chức quyền lực nhà nước, mối quan hệ giữa các đảng phái chính
trị và cơ quan nhà nước ở các nước tư bản và sự vận hành của thể chế dân chủ
ở một số nước phương Tây. Đúng là, bất cứ nền dân chủ nào cũng phải được
thực hiện thông qua nhà nước, bởi vì dân chủ gắn liền với pháp luật. Nhưng
nhà nước ấy là nhà nước của ai, mang bản chất của giai cấp nào. Ở các nước
tư bản cho dù chính quyền địa phương được tổ chức theo mô hình tự quản và
xã hội công dân được xem như là độc lập đối với nhà nước hoạt động trong
khuôn khổ hiến pháp và pháp luật. Nhưng về bản chất, nhà nước ấy là nhà
nước của giai cấp tư sản, thực hiện dân chủ cho giai cấp tư sản, vì giai cấp tư
sản. Hiến pháp, pháp luật chính là thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền với
dân chủ và công bằng xã hội cho giai cấp tư sản và vì giai cấp tư sản. Cái gọi

là xã hội công dân, cá nhân được hình thành những tổ chức của mình, hoạt
động độc lập với nhà nước, nhưng lại ở trong khuôn khổ pháp luật. Thực tế
cho thấy, nếu hoạt động ấy mà đe doạ đến quyền lực nhà nước, đến lợi ích của
giai cấp tư sản thì chắc chắn sẽ bị chính quyền bóp nghẹt. Vì vậy, việc tổng
quan một số công trình nghiên cứu về dân chủ và mô hình thực hiện dân chủ
ở các nước phương Tây là để tìm ra cái được, cái hợp lý mà ta có thể tham
khảo, đồng thời thấy rõ sự khác biệt về bản chất giai cấp giữa dân chủ tư sản
và dân chủ xã hội chủ nghĩa, tính không triệt để của nó.
1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước có liên quan đến luận án
1.2.1. Một số công trình khoa học nghiên cứu về dân chủ, thực hiện dân
chủ ở cơ sở và qui chế dân chủ ở nước ta từ 1998 đến nay
Từ khi Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo cuộc vận động thực hiện dân
chủ cơ sở và qui chế dân chủ ở cơ sở (1998) đến nay, nhiều văn kiện của
Đảng, Nhà nước, nhiều bài phát biểu quan trọng của các đồng chí lãnh đạo
Đảng và Nhà nước đã đưa ra những định hướng cơ bản cho việc xây dựng và
củng cố nền dân chủ XHCN. Trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò của hệ
thống chính trị cơ sở đối với việc thực hiện qui chế dân chủ ở cơ sở, phát huy

17
quyền làm chủ của nhân dân.
Bàn về dân chủ XHCN, về phát huy quyền làm chủ của nhân dân và vai
trò của hệ thống chính trị trong việc thực hiện quyền làm chủ của nhân ở nước
ta hiện nay, có thể kể đến các công trình nghiên cứu, bài viết của các tác giả:
Hoàng Chí Bảo, Nguyễn Trọng Chuẩn, Huỳnh Đảm, Dương Xuân Ngọc, Trần
Quang Nhiếp, Nguyễn Tiến Phồn, Nguyễn Thế Phấn, Phạm Ngọc Quang,
Đặng Hữu Toàn.
Trong sách Dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa của Thái Ninh
và Hoàng Chí Bảo [73]. Các tác giả đã phân tích vai trò của dân chủ và tiến
bộ xã hội; phân tích điều kiện ra đời và bản chất của dân chủ tư sản, những
tiến bộ, khuyết tật, tình trạng hiện nay và vai trò lịch sử của dân chủ tư sản.

Đặc biệt các tác giả đã phân tích làm rõ sự hình thành và bản chất của dân chủ
XHCN. Theo các tác giả, dân chủ XHCN là nền dân chủ của nhân dân lao
động, vì nhân dân lao động, nó phát triển thuận chiều với tiến bộ, nhân đạo, tự
do, văn minh và văn hoá vì sự hoàn thiện của con người. Với bản chất ấy,
theo các tác giả dân chủ XHCN tiềm tàng sức mạnh của sự sáng tạo và phát
triển; triển vọng của nó là sự thống nhất chân chính với triển vọng của chủ
nghĩa xã hội, của lịch sử, trong đó nhân dân lao động là đối tượng nó phục vụ.
Nội dung của dân chủ xã hội chủ nghĩa được các tác giả đề cập một cách toàn
diện về kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá.
Trong mục bàn về dân chủ hoá đời sống chính trị, các tác giả đã đề cập
sâu đến vấn đề xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân; xây dựng hệ
thống luật pháp; cơ chế quản lý xã hội; tăng cường thực hiện rộng rãi và có
hiệu quả các hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Theo các tác giả,
dân chủ hoá đời sống chính trị còn bao hàm việc đáp ứng nhu cầu của công
dân và của các tầng lớp xã hội về việc tham gia đóng góp ý kiến, kiến nghị,
thảo luận dân chủ về các vấn đề đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng,

18
pháp luật Nhà nước, làm cho tinh thần dân chủ thấm nhuần sâu sắc trong các
quyết định chính trị. Muốn thế phải bảo đảm cho các tổ chức, đoàn thể quần
chúng, các tổ chức xã hội, các hội nghề nghiệp được củng cố, phát triển phù
hợp với pháp luật, được chủ động và phát huy sáng kiến, sáng tạo trong công
tác thực tiễn, trong các sinh hoạt chính trị. Tuy đã đặt vấn đề phát huy vai trò
của các tổ chức xã hội trong thực hiện dân chủ, nhưng cuốn sách chưa đi sâu
nghiên cứu, chỉ ra nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các tổ chức hội nghề nghiệp trong quá trình dân chủ hoá đời
sống chính trị, kinh tế, tư tưởng.
Trong sách, Những vấn đề lý luận và thực tiễn mới đặt ra trong tình hình
hiện nay của Hội đồng lý luận Trung ương. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia có bài
của Giáo sư, tiến sĩ Phạm Ngọc Quang: Phát huy dân chủ trong điều kiện một

đảng cầm quyền [83]. Trong bài này tác giả đã trình bày bản chất của dân chủ,
những thuận lợi và khó khăn đối với việc phát huy dân chủ trong điều kiện hệ
thống chính trị một Đảng cầm quyền duy nhất ở Việt Nam. Tác giả cũng đã đánh
giá những thành tựu, hạn chế trong việc phát huy dân chủ trong điều kiện một
đảng cầm quyền ở Việt Nam; xác định nguyên nhân và rút ra một số kinh nghiệm.
Tác giả cho rằng, để phát huy dân chủ trong điều kiện một Đảng cầm
quyền cần phải giữ vững, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, Đảng phải
thật sự trở thành tấm gương về dân chủ trong xã hội; phải coi trọng xây dựng
củng cố, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân; phải gắn đổi mới hệ thống chính trị với đổi mới kinh tế; phải
khoa học hoá, vận dụng thành quả khoa học lãnh đạo, quản lý hiện đại vào
lãnh đạo, quản lý đất nước; phải nâng cao dân trí, trình độ văn hoá cho nhân
dân; cần xác lập và từng bước hoàn thiện hệ thống giám sát, phản biện xã hội.
Theo tác giả, trong hệ thống giám sát, phản biện xã hội ở Việt Nam,
MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội có vai trò vô cùng quan trọng. Để việc

19
giám sát phản biện có chất lượng, cần tạo mọi điều kiện để các chủ thể thực
hiện sự phản biện, cần công khai hoá, minh bạch hoá, dân chủ hoá về thông
tin. Đồng thời phải nâng cao năng lực, bản lĩnh của chủ thể thực hiện sự phản
biện, giám sát, coi đó là một vấn đề bức thiết hiện nay. Như vậy, tác giả cũng
đã đánh giá rất cao hoạt động giám sát, phản biện của MTTQ như là một
trong những nội dung, phương thức thực hiện dân chủ. Nhưng mới chỉ dừng
lại ở cách đặt vấn đề có tính phương pháp luận mà chưa đề cập toàn diện nội
dung, phương thức thực hiện sự phản biện, giám sát của MTTQ các cấp.
Luận án Tiến sĩ của Phạm Văn Bính: Vận dụng tư tưởng và phương
pháp dân chủ của Hồ Chí Minh trong quá trình thực hiện dân chủ xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam [6] đã khái quát hệ thống tư tưởng dân chủ của Hồ Chí
Minh trên bốn nội dung: không có gì quý hơn độc lập tự do; dân chủ trong
lĩnh vực chính trị; dân chủ trong lĩnh vực kinh tế; dân chủ trong lĩnh vực văn

hoá, tinh thần. Từ đó tác giả nêu lên quan niệm của mình Về phương pháp
dân chủ của Hồ Chí Minh, thực chất là quá trình thực hành dân chủ trong đời
sống hiện thực cho mọi người dân và trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Nó bao gồm: công tác dân vận - nội dung cơ bản, cốt lõi nhất của thực hành
dân chủ trong nhân dân; thực hành dân chủ trong lãnh đạo là từ trong quần
chúng ra và trở về nơi quần chúng; thực hiện quyền tự do tư tưởng; tuân thủ
cách làm việc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.
Từ góc độ thể chế và lịch sử, cuốn Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã -
một số vấn đề lý luận và thực tiễn, do Phó giáo sư, Tiến sĩ Dương Xuân Ngọc
chủ biên [69] đã luận giải một cách hệ thống đặc điểm, quá trình hình thành
phát triển của cấp xã ở nước ta. Tác giả đã khẳng định: Xã là cơ sở xã hội to
lớn của hệ thống chính trị, nơi đại đa số nông dân - lực lượng lao động nông
nghiệp đông đảo nhất ở nước ta sinh sống. Vai trò và sức mạnh của lực lượng
này chỉ được phát huy khi dân chủ ở cơ sở được mở rộng, quyền làm chủ của
nhân dân được bảo đảm và phát huy.

20
Qua tổng kết ba năm thực hiện qui chế dân chủ ở xã, các tác giả khẳng
định, việc xây dựng và thực hiện qui chế dân chủ ở xã đã đáp ứng đòi hỏi của
thực tiễn dân chủ ở nông thôn nước ta, là công cụ pháp lý hữu hiệu đảm bảo
cho nhân dân thực hiện và phát huy quyền làm chủ của mình ở cơ sở. Từ đó
kiến nghị tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện qui chế dân chủ ở cơ
sở, mà yếu tố quyết định là kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng và hiệu
quả hoạt động của hệ thống chính trị cấp xã; bổ sung và hoàn thiện các quy
định pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở, nâng qui chế thành pháp lệnh.
1.2.2. Một số công trình bàn về vai trò của hệ thống chính trị ở cơ sở
và Mặt trận Tổ quốc trong thực hiện dân chủ.
Trong cuốn Dân chủ và hệ thống chính trị ở Việt Nam trong tiến trình
đổi mới và Hệ thống chính trị nông thôn nước ta hiện nay của Giáo sư, Tiến
sĩ Hoàng Chí Bảo [4], đã luận giải một cách toàn diện, sâu sắc về dân chủ và

thực tiễn dân chủ hoá ở Việt Nam; về vai trò của hệ thống chính trị nông thôn
và sự ổn định chính trị cơ sở; phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của
nhân dân trong xây dựng Nhà nước, quản lý xã hội, cộng đồng dân cư; vai trò
của Đảng cầm quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội trong sự nghiệp đổi mới.
Về bản chất của dân chủ tác giả khẳng định: Dân chủ là một hình thức lịch sử
tất yếu của việc tổ chức và thực thi quyền lực trong xã hội có giai cấp. Do đó,
chế độ dân chủ thuộc về giai cấp nào, hướng tới lợi ích cho ai, vì ai, giải quyết
vấn đề con người (nhân quyền) và quyền công dân (dân quyền) như thế nào là
đòi hỏi tất yếu, khách quan đối với việc nghiên cứu và giải quyết thực tiễn
dân chủ. Theo tác giả dân chủ hoá chính là cuộc vận động thực hiện, thực
hành dân chủ ở nước ta, tạo ra động lực để phát triển kinh tế - xã hội. Trong
đó, xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở là một đòi hỏi tất yếu của
tiến trình phát triển dân chủ ở nước ta trong sự nghiệp đổi mới.
Cùng với công trình trên, còn nhiều các bài viết khác như: “Cơ sở lý
luận - thực tiễn của phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”

21
và mấy vấn đề về xây dựng quy chế dân chủ ở cơ sở” của Tiến sĩ Đỗ Quang
Tuấn [95] ; “Về cơ chế “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản
lý” của Vũ Hiền [38]; “Dân chủ trực tiếp và thực hiện dân chủ trực tiếp” của
Tiến sĩ Nguyễn Văn Mạnh [68]; “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thiết chế
dân chủ ở nước ta” của Tiến sĩ Nguyễn Đình Tấn [84]; “Mối quan hệ giữa
thực hiện dân chủ cơ sở và đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo trong xây
dựng hệ thống chính trị cơ sở: một số nguyên lý cơ bản” của Tiến sĩ Phạm
Ngọc Dũng [16]; “Nhìn lại 10 năm thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường,
thị trấn” của Huỳnh Đảm [18].…Đây là những bài viết đã đề cập đến nhiều
vấn đề về thực hiện quyền dân chủ của nhân dân ở cơ sở.
Luận án Tiến sĩ Triết học của Trần Thị Băng Thanh “Vai trò của Nhà
nước đối với việc thực hiện quyền dân chủ của nhân dân ở Việt Nam hiện
nay” năm 2002 [87], đã tiếp cận vấn đề dân chủ với tư cách là một chế độ

chính trị, một hình thái nhà nước, tác giả khẳng định: Kể từ khi xã hội có nhà
nước với tư cách là công cụ bảo đảm cho “dân chủ” thì từ đấy, thực hiện dân
chủ của nhân dân chủ yếu phụ thuộc vào bản chất của Nhà nước. Với bản chất
cách mạng và ưu việt của mình, Nhà nước XHCN ngày càng thể hiện rõ vai
trò là phương tiện bảo đảm thực hiện dân chủ, thực hiện các quyền dân chủ
của nhân dân, đem lại và tạo cho họ những khả năng thực tế để thực hiện các
quyền dân chủ của mình và hưởng thụ thành quả dân chủ.
Theo tác giả, vai trò của Nhà nước Việt Nam đối với việc thực hiện
quyền dân chủ của nhân dân đã được khẳng định trong lịch sử và nhất là trong
sự nghiệp đổi mới ở nước ta. Tuy nhiên, hiện nay hoạt động của Nhà nước tới
việc thực hiện quyền dân chủ của nhân dân chưa thật sự có hiệu quả, còn tồn
tại nhiều nhược điểm, chưa thể hiện đầy đủ bản chất và nội dung cần có của
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Từ đó Trần Thị Băng Thanh kiến nghị một số
giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của Nhà nước đối với việc thực hiện
quyền dân chủ của nhân dân ở Việt Nam hiện nay.

22
Năm 2004, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
xuất bản giáo trình Xây dựng Đảng [40]. Trong giáo trình này có chủ đề công
tác mặt trận, tổ chức và hoạt động của MTTQ ở cơ sở. Chủ đề đã phân tích
quá trình ra đời và phát triển của Mặt trận Tổ quốc qua các thời kỳ cách
mạng. Khái quát và phân tích tương đối sâu sắc quan điểm của Đảng và tư
tưởng Hồ Chí Minh về công tác mặt trận của Đảng; khái quát tình hình thực
hiện công tác mặt trận của Đảng những năm đất nước đổi mới; phân tích làm
rõ tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động của MTTQ xã, phường, thị trấn.
Tuy nhiên chuyên đề chỉ đề cập những vấn đề mang tính chung nhất mà chưa
làm rõ tính đặc thù về tổ chức và hoạt động của MTTQ ở cơ sở, cũng như
hoạt động của nó trong thực hiện dân chủ ở cơ sở.
Năm 2009, Ủy Ban Trung ương MTTQ có cuốn sách: “Một số vấn đề
lý luận và thực tiễn công tác Mặt trận” do Vũ Trọng Kim chủ biên [105]. Nội

dung của cuốn sách bàn về phát huy vai trò của MTTQ trong thực hiện nhiệm
vụ tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đổi mới và
hội nhập quốc tế. Cuốn sách đã phân tích và làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh,
quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề đại đoàn kết dân tộc.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi
trọng phát huy truyền thống đoàn kết, củng cố và tăng cường khối đại đoàn
kết dân tộc, phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc kết hợp với sức
mạnh thời đại. Nhờ đó đã tạo nên sức mạnh tổng hợp giành thắng lợi vẻ vang
trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc thống nhất nước nhà, trong cách
mạng xã hội chủ nghĩa cũng như trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay.
Cuốn sách đã phân tích làm rõ vai trò to lớn của MTTQ Việt Nam trong xây
dựng, củng cố, phát huy sức mạnh của khối đoàn kết dân tộc. Về vị trí, vai trò
của MTTQ Việt Nam, cuốn sách chỉ rõ, là một bộ phận của hệ thống chính trị,
là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí nguyện vọng

23
của, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tập
hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc luôn là nhiệm vụ cơ bản xuyên
suốt của MTTQ Việt Nam. Cuốn sách bao gồm tập hợp các bài viết của các
cán bộ khoa học, cán bộ lãnh đạo. Dưới đây là một số bài viết tiêu biểu:
Nguyễn Văn Pha: “Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
trong hoạt động giám sát và phản biện xã hội, góp phần xây dựng Đảng và
Nhà nước trong sạch vững mạnh”[76]. Trong bài viết này, tác giả khẳng định,
giám sát và phản biện xã hội là một chức năng quan trọng của Mặt trận. Mặt
trận thực hiện giám sát hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, cán bộ,
công chức, đảng viên, tham gia góp ý kiến xây dựng đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước trước khi ban hành.
Tác giả Nguyễn Lam, trong bài, “Đổi mới nội dung, phương thức hoạt
động của Mặt trận Tổ quốc”[62] đã phân tích và khẳng định đổi mới nội dung
và phương thức hoạt động là yêu cầu cần thiết, khách quan và có tính lịch sử cụ

thể của MTTQ Việt Nam. Hoạt động của MTTQ gắn liền với nhiệm vụ chính
trị từng giai đoạn cách mạng, gắn với quá trình đổi mới đất nước. Trước yêu
cầu nhiệm vụ cách mạng hiện nay, và để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình,
MTTQ Việt Nam phải tự vươn lên, tự đổi mới. Hà Văn Núi: “Công tác đối
ngoại nhân dân của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và Hội
nhập quốc tế” [74]. Tác giả khẳng định, trong bối cảnh hiện nay nước ta đang
tham gia một cách chủ động vào quá trình hội nhập quốc tế, việc đổi mới và
tăng cường công tác đối ngoại của Đảng và ngoại giao nhân dân trở thành
chiến lược của cách mạng. Mặt trận với tư cách là thành viên của hệ thống
chính trị phải đẩy mạnh công tác đối ngoại nhân dân để góp phần tạo nên môi
trường hoà bình, ổn định, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước. Nguyễn Văn Vĩnh: “Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách và
lực lượng cộng tác viên của hệ thống tổ chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

24
trong thời kỳ mới” [113]. Trong bài viết này, tác giả đề cập trên cơ sở xác
định đúng chức năng, nhiệm vụ Uỷ ban MTTQ các cấp phải kết hợp xây
dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách với xây dựng đội ngũ cộng tác viên không
chuyên trách là những chuyên gia giỏi trên các lĩnh vực liên quan đến công
tác Mặt trận. Xây dựng bộ máy cơ quan chuyên trách hợp lý khoa học, biên
chế gọn nhẹ, coi trọng chất lượng. Đồng thời mở rộng đội ngũ cộng tác viên
không chuyên trách để tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân. Thống nhất về
phương pháp tiếp cận mác-xít về dân chủ, về quyền lực chính trị và quyền
dân chủ của nhân dân, về vai trò của hệ thống chính trị ở cơ sở trong thực
hiện dân chủ, Tiến sĩ Phan Xuân Sơn với cuốn “Các Đoàn thể nhân dân với
việc đảm bảo dân chủ ở cơ sở hiện nay” [82], và Tiến sĩ Nguyễn Thị Hiền
Oanh với cuốn “Vai trò của Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam đối với việc thực
hiện quyền làm chủ của nhân dân ở nước ta hiện nay” [75] đã thống nhất
khẳng định: Nội dung, bản chất của dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân
mà trước hết là quyền lực về chính trị. Quyền lực chính trị của nhân dân

thực chất là quyền làm chủ, quyền dân chủ của nhân dân. Nhân dân làm chủ
thông qua Nhà nước và lực lượng, phương tiện của mình, đó là MTTQ và
các đoàn thể quần chúng - phương thức quan trọng nhất để thực hiện quyền
làm chủ của nhân dân.
Những năm gần đây cũng có một số công trình nghiên cứu, đề tài luận
văn trong quân đội nghiên cứu về hệ thống chính trị với việc thực hiện dân
chủ. Có thể dẫn ra ở đây một số công trình tiêu biểu:
Tổng cục Chính trị (2008): Xây dựng nền tảng chính trị - xã hội của lực
lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ mới, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân,
Hà Nội, 2008. Công trình đã chỉ rõ, trong hệ thống chính trị Việt Nam, Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức xã hội rộng lớn nhất, vừa có tính liên hiệp
rộng rãi, vừa có tình quần chúng sâu sắc. Từ thực tiễn lịch sử tổ chức và hoạt

×