Tải bản đầy đủ (.doc) (16 trang)

phật giáo trong văn học dân gian

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (111.15 KB, 16 trang )

PHẦN MỞ ĐẦU
Việt Nam – một dân tộc đã trải qua bao phen vật đổi sao dời trong chiến
tranh – một dân tộc đã trải qua bao cơn nguy biến, tưởng chừng dân tộc đó phải
quỵ ngã, không thể tồn tại được nhưng kì lạ thay những con người của dân tộc ấy
lại chứa đựng một sức sống tiềm tàng, mãnh liệt chưa từng thấy. Dân tộc Việt Nam
có bề dày lịch sử 4000 năm văn hiến và văn học Việt Nam có hàng nghìn năm
truyền thống. Riêng về văn học dân gian, ít nhất lịch trình phát triển cũng đã trải
qua 4000 năm, kể từ thời vua Hùng dựng nước. Từ xa xưa, những truyền thống tốt
đẹp của dân tộc đã được cha ông ta gói gọn vào những câu chuyện cổ tích đầy chất
huyền ảo, qua những câu ca dao ngọt ngào, tình tứ…
Chức năng của văn học là phản ánh hiện thực của cuộc sống. Ðời sống tinh
thần của con người nhất là đời sống tinh thần có đức tin là một mảng đời sống tồn
tại trong hiện thực cuộc sống. Chính vì thế, nội dung tục ngữ, ca dao, ngụ ngôn,
truyện cổ tích, truyện cười thuộc kho tàng văn học dân gian cũng đề cập đến nội
dung tôn giáo, phản ánh nội dung về tôn giáo.
Phật giáo Việt Nam là một thực thể tinh thần đã hiện diện , tồn tại hàng ngàn
năm cùng dân tộc Việt Nam, trở thành một phần tâm linh tinh thần dân tộc, một
thành tố trọng yếu về văn hóa tư tưởng. Từ nền văn hóa cực thịnh của các triều đại
Lý, Trần đến kho tàng văn học dân gian đều nêu bật lý tưởng thương người yêu đời
của Phật giáo.
Qua văn học, ta tiếp nhận mọi cái đẹp về cuộc sống thông qua cảm quan
thẩm mỹ quần chúng. Nền tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng cũng được nhân
dân phản ánh vào văn học bằng cái nhìn thẩm mỹ của nhân dân lao động. Chính vì
những lí do trên mà tôi quyết định chọn đề tài 
 làm đề tài nghiên cứu của mình. Với đề tài 
 người viết muốn đi vào những biểu hiện cụ thể của chân lí về nỗi
khổ và sự giải thoát để khẳng định sự ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Phật giáo
trong văn học dân gian.
PHẦN NỘI DUNG
1. Lịch sử Phật giáo Việt Nam
Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, ngay từ đầu c ông nguyên


với truyện cổ tích Chử Đồng Tử (ở Hưng Yên ngày nay) học đạo của một nhà sư
Ấn Độ. Luy Lâu (thuộc tỉnh Bắc Ninh) là trị sở của quận Giao Chỉ sớm trở thành
trung tâm Phật giáo quan trọng. Các truyền thuyết về Thạch Quang Phật và Man
Nương Phật Mẫu xuất hiện cùng với sự giảng đạo của Khâu Đà La () trong
khoảng các năm 168-189.
Do tiếp thu Phật giáo trực tiếp từ Ấn Độ nên từ  (bậc giác ngộ) được
phiên âm trực tiếp thành , từ  được dùng nhiều trong các truyện dân
gian. Phật giáo Việt Nam lúc ấy mang màu sắc của Tiểu thừa, Bụt được coi như
một vị thần chuyên cứu giúp người tốt, trừng phạt kẻ xấu. Sau này, vào thế kỷ thứ
IV – V, do ảnh hưởng của Đại thừa đến từ Trung Quốc mà từ  bị mất đi và
được thay thế bởi từ . Trong tiếng Hán, từ  được phiên âm thành
 ! rồi được rút gọn thành .
Phật giáo ăn sâu, bám rễ vào Việt Nam từ rất sớm. Đến đời nhà Lý, nhà
Trần, Phật giáo phát triển cực thịnh, được coi là quốc giáo, ảnh hưởng đến tất cả
mọi vấn đề trong cuộc sống. Đến đời nhà Hậu Lê thì Nho giáo được coi là quốc
giáo và Phật giáo đi vào giai đoạn suy thoái. Đến cuối thế kỷ XVIII, vua Quang
Trung cố gắng chấn hưng đạo Phật, chỉnh đốn xây chùa, nhưng vì mất sớm nên
việc này không có nhiều kết quả. Đến thế kỷ 20, mặc dù ảnh hưởng mạnh của quá
trình Âu hóa, Phật giáo Việt Nam lại phát triển mạnh mẽ khởi đầu từ các đô thị
miền Nam với các đóng góp quan trọng của các nhà sư Khánh Hòa và Thiện
Chiếu. Tóm lại, lịch sử Phật giáo Việt Nam trải qua bốn giai đoạn:
• Từ đầu công nguyên đến hết thời kỳ Bắc thuộc là giai đoạn hình thành và
phát triển rộng khắp;
• Thời Nhà Lý - Nhà Trần là giai đoạn cực thịnh;
• Từ đời Hậu Lê đến cuối thế kỷ XIX là giai đoạn suy thoái;
• Từ đầu thế kỷ XX đến nay là giai đoạn phục hưng.
2. Yếu tố Phật giáo trong văn học dân gian
2.1. Yếu tố Phật giáo trong truyện cổ tích.
Truyện cổ tích là thể loại phong phú nhất trong kho tàng văn học dân gian
Việt Nam, nó không chỉ là tấm gương phản chiếu một cách phong phú, chân thực

đời sống của con người thời cổ mà nó còn là một pho tài liệu vô giá về phong tục,
tập quán, về nghi lễ, hội hè, về tín ngưỡng của nhân dân. Không những vậy, truyện
cổ tích còn là những thước phim tài liệu của đời xưa lí giải nguồn gốc của sự vật,
hiện tượng hôm nay. Ở truyện cổ tích, ông cha ta đã gửi gắm vào đấy ước mơ, khát
vọng hạnh phúc, công bằng trong xã hội. Những ước mơ nhỏ nhoi đó của nhân dân
đều nằm trong quan điểm của Phật giáo: luôn đề cao tinh thần bình đẳng, tình yêu
thương đồng loại, quần chúng lao khổ. Chính vì vậy mà ta thấy trong truyện cổ tích
xuất hiện khá nhiều yếu tố Phật giáo. Xuất hiện trong truyện cổ tích, thuyết luân
hồi của Phật giáo một mặt trở thành chỗ dựa vững chắc cho phương tiện nghệ
thuật, một mặt giúp nhân dân ta thực hiện ước mơ công bằng xã hội và liên tưởng
thẩm mĩ của mình một cách thuận lợi. Truyện cổ tích nói chung hay truyện cổ
mang nhiều màu sắc hoang đường và huyền ảo nói riêng, nó vừa thể hiện một nét
tâm lí tích cực của nhân dân đó là yêu chính nghĩa và mong muốn sống đẹp hơn
giữa đời, vươn tới sự thanh cao của những người coi đạo Phật là chân tu.
Truyện cổ tích lịch sử kể về các nhà tu hành chịu ảnh hưởng của Phật giáo
như truyện Không Lộ, Giác Hải, Minh Không (có tài liệu đồng hóa làm một, hai
nhà sư như Không Lộ, Minh Không). Nhưng "#$%&, thì lại coi là hai
người: Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không). Truyện cổ tích lịch sử một mặt
mang yếu tố mê tín, một mặt lại biểu lộ niềm tin tự hào về nhân vật có tài năng kỳ
lạ của nước Ðại Việt. Truyện '(, phảng phất phong thái của thần thọai và
chất liệu Phật giáo khá đậm.
Truyện cổ tích thế sự cũng ảnh hưởng từ Phật giáo, mang yếu tố của đạo
Phật như truyện )*$+$. Ông Bụt trong )*$+$ đã hình tượng hóa tấm lòng
cưu mang của người Việt bằng màu sắc Phật giáo. Ngay đoạn kết của truyện Tấm
Cám cũng mang tư tưởng Phật giáo của nhân dân "),-", "+%#
-", Tấm sống lại và trở thành người sau bao lần bị tiêu diệt và hóa thân
thành "$./.01.23". Ở đây thuyết luân hồi của
đạo Phật đã trở thành chỗ dựa và phương tiện nghệ thuật, giúp cho tác giả dân gian
thực hiện ước mơ công bằng xã hội và liên tưởng thẩm mỹ của mình một cách
thuận lợi trong trí tưởng tượng và bằng trí tưởng tượng sáng tạo.

Ông Bụt trong )*$+$ đã dùng phép sai khiến đàn chim nhặt thóc ra khỏi
gạo cho Tấm, biến xương hóa nón, hài, quần áo, ngựa hồng cho Tấm dự hội.
Những truyện như )*$+$, 4520 ra đời thời kỳ công xã thị
tộc tan rã để phản ánh những mâu thuẫn nảy sinh khi xuất hiện gia đình riêng lẻ thì
những truyện +26$, 7285 xuất hiện sau đó, tố cáo sự gian ác
của bọn địa chủ và sự khổ cực của nhân dân.
Ở +26$, nhân vật Bụt giúp kẻ thật thà chất phác đến mức vụng
dại. Câu truyện bế tắc - ông Bụt xuất hiện - tình tiết phát triển nhanh chóng chuyển
bại thành thắng, ánh sáng do ông Bụt mang đến là ánh sáng thông minh trí tuệ, bởi
vì ông Bụt không hoá phép để tạo cây tre trăm đốt mà chỉ bày cho anh chặt từng
đốt tre rời ra và ghép lại thành cây tre dài trăm đốt. Những câu thần chú "0-
9 0-/*" mới nghe có vẻ thần bí nhưng lại mang nội dung ý nghĩa hiện
thực, ông Bụt đã bày cho anh Khoai cách thức, còn phải do sức lao động của anh
tạo nên, ông Bụt chỉ xuất hiện hai lần chỉ anh cách ghép và tháo rời. Như thế chính
anh Khoai đã nắm bí quyết để tự mình hoàn thành công việc và đạt tới mục đích.
Trong truyện cổ tích, nhân vật Bụt xuất hiện khá nhiều. Có thể nói trong
những khái niệm vốn có của nhà Phật, dân gian chỉ giữ lại một điều đơn giản
nhưng có ý nghĩa nhất: Bụt có sức mạnh vô biên, thần thông quảng đại, thường
xuyên giúp đỡ những người hiền lành. Vai trò của Bụt là vai trò của yếu tố thần kỳ,
một thủ pháp nghệ thuật quan trọng và quen thuộc của truyện cổ tích trong việc
giải quyết số phận nhân vật và sự phát triển của cốt truyện. Bụt xuất hiện nhiều
nhưng không phải để tuyên truyền giáo lý mà chỉ tạo điều kiện cho nhân vật giành
lại hạnh phúc ngay trong cõi trần, ngay trong chính cuộc đời.
Những truyện )*$+$, :$;&8 8< rõ ràng là chuyên chở
các bài học đạo đức của lý nhân quả - nghiệp báo, khuyên con người ăn hiền ở
lành. Truyện =>$)3% là truyện rút ra từ kinh Phật, trình bày những mẫu
người - mẫu đời theo quan niệm đạo Phật.
Như thế, biểu hiện của Phật giáo trong truyện cổ tích là biểu hiện có ích cho
nghệ thuật xây dựng truyện là một trong nhiều cách để chuyện kết thúc có hậu.
Nếu vội nhận xét sự hiện diện của nhân vật Phật giáo trong truyện cổ tích làm ảnh

hưởng tiêu cực, giảm giá trị chiến đấu là đã quên rằng dân gian từng mượn khái
niệm hoặc nhân vật tôn giáo để khẳng định hạnh phúc trần gian. Hơn nữa nhân vật
Phật giáo trong truyện cổ tích cũng không tránh khỏi danh hiệu quý tộc. Trong ký
ức tâm hồn người kể và nghe chuyện cổ tích, Bụt hiện lên thật hiền từ - nhân hậu -
thương người - gần gũi như một người ông. Ðó là ông Phật của dân gian. Nhân vật
Phật giáo này làm phong phú thế giới cổ tích, tạo nên sức lôi cuốn đối với người
nghe, đáp ứng thị hiếu thẩm mỹ và nhu cầu sáng tạo của dân gian.
Những cảm quan khát vọng của con người trước lẽ sống chứa đựng trong
truyện cổ, ta thấy rải rác ít nhiều tinh thần màu sắc Phật giáo.
2.2. Yếu tố Phật giáo trong tục ngữ, thành ngữ
Phật giáo tuy là tôn giáo ngoại lai, nhưng ngay từ khi du nhập vào Việt
Nam, Phật giáo đã tìm hướng đi hòa nhập với tín ngưỡng, phong tục bản địa để
cắm rễ sâu vào mảnh đất giàu truyền thống dân tộc. Ngược lại, người Việt cũng
tiếp nhận đạo Phật với tinh thần bao dung và thái độ vị tha. Vì vậy, nhiều thành
ngữ, tục ngữ có yếu tố Phật giáo phản ánh tục lệ xã hội ở các khía cạnh xã hội khác
nhau, và ở mỗi khía cạnh đều toát lên đặc trưng xã hội Việt Nam. Phải thừa nhận,
đến ngay cả tiếng Hán - một ngôn ngữ chịu ảnh hưởng đạo Phật sâu sắc cũng
không thể tìm ra nhiều thành ngữ, tục ngữ biểu thị quan hệ giữa tôn giáo và xã hội
như trong tiếng Việt. Thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt như ?* @A
98B A79<< B9<<@ C<&7< D@
&7@ +@EE FE$ ?45$@ G2@HB IG
@<45/( '898JA*2@K phản ánh tục lệ xã hội
Việt Nam coi chùa là nơi công cộng, là tài sản chung của một cộng đồng dân cư,
tục lệ đóng góp cóng tế ở làng xã Việt Nam, tục lệ đối nhân xử thế…
Bên cạnh việc phản ánh tục lệ xã hội, tục ngữ còn dạy con người biết sống
đời sống tốt lành, lương thiện: )4L4M4N4L I*298
JA*2AO PBQK
Triết lý nhân quả của đạo Phật cũng được dân gian Việt Nam hiểu một cách
giản dị như COR9A I6ERBS (EA1E0ET
Tinh thần bác ái, bố thí của đạo Phật được cụ thể vào thực tin bằng tinh thần

đoàn kết tương thân tương ái: '(DAU hay '82;$O$.
Giáo lý luân hồi nghiệp báo được văn học dân gian thể hiện hóa bằng chính
bản thân như CA5 5A 1A,94V, ?M
$R ?M04V.
Thói xấu trong xã hội thường được phô bày trong nhiều thể loại văn chương
nước nhà như thơ trào phúng, ca dao, tục ngữ, thành ngữ. Bằng cách sử dụng các
yếu tố Phật giáo thông thường nhưng liên hệ với các hiện thực của đời sống xã hội
Việt Nam, người Việt đã lên án, đả kích các thói hư tật xấu trong xã hội như vô ơn
bạc nghĩa, dối trên lừa dưới, ngạo ngược vô lễ, ăn thật làm giả, đổi trắng thay đen,
đảo lộn giá trị đạo đức xã hội… Ví dụ: :L$ G2@ W
2<G2* /2&X/ YMG2;$ 
G2 ",80K
Đặc trưng phản ánh thói hư tật xấu trong xã hội của các thành ngữ, tục ngữ
chứa yếu tố Phật giáo trong tiếng Việt chứng tỏ Phật giáo đã ăn sâu vào đời sống
văn hóa của người Việt ở khía cạnh đạo đức xã hội. Tính giáo dục của các thành
ngữ, tục ngữ kiểu này có giá trị đặc biệt không chỉ ở phương diện ngôn ngữ – văn
hóa, mà còn có những đóng góp tích cực trong phương diện xã hội.
Việc đi lễ chùa chiền cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận giáo hòa, làm nên
ăn gia, gia đình hòa thuận, con cháu thành đạt… đã trở thành một tập quán tốt đẹp
của người Việt từ ngàn đời nay. Tập tục đi lễ chùa rất đơn giản, không cầu kỳ về
mặt hình thức lẫn nội dung nên được chấp nhận. Người ta có thể đi lễ chùa vào
những ngày sóc vọng, ngày vía Phật hay thậm chí quanh năm suốt tháng có thể với
mục đích cụ thể hay chỉ là S8@ để tìm giây phút thanh tịnh trong tâm
hồn, có thể đến chùa với những lễ vật cống cầu kỳ( thường là 6 thứ hương, hoa,
đăng, trà, quả, thực), hay đơn giản chỉ là nén hương, đĩa hoa tươi gọi là hương hoa
hoặc chút tiền bỏ vào hòm công đức. Trước kia thường hay chỉ thấy các bà vãi già
mặc áo nâu đi lễ chùa thì ngày nay tín đồ của Phật giáo còn thêm cả những thiện
nam tín nữ trẻ tuổi. Người ta đến chùa dâng hương, lễ vật rồi thành kính khấn vái.
Các bài văn khấn ở chùa nhiều kiểu mẫu với nội dung phong phú. Phật tử cống lễ
xong, ai ai đều hoan hỉ ra về với chút lộc Phật (thường là phẩm oản, quả chuối) để

cho con cháu, mọi người tin rằng ';$A;BQ$;A;G: ?
AZ&$0(BQQ$[ )\ @ +GM
0* ]6$;O@ ?$E8K
Tinh thần Phật giáo trong tục ngữ là một tổng hợp kết tinh của những triết lý
dân gian có ý nghĩa nhân sinh cao đẹp thấm đượm tình người. Nguyên lý cao đẹp
của Phật giáo trong tục ngữ nhằm thể hiện khát vọng của con người bình dân trong
cuộc sống.
2.3. Yếu tố Phật giáo trong ca dao dân ca
Hoài Thanh từng nhận định: +A$;0RB,^
%($ EA7RB,^$;;T)8^JB
EENA4M0(BJ4# 1 E
_($ _EETĐọc ca dao Việt Nam, ai cũng dễ nhận thấy
rằng, tư tưởng Phật giáo vừa được đề cập đến, trình bày dưới nhiều khía cạnh tình
cảm, suy nghĩ khác nhau vừa chiếm một số lượng lớn, quan trọng. Phật giáo là tôn
giáo tiêu biểu nhất trong ca dao, nơi thể hiện niềm tin của quần chúng nhân dân.
Có thể nói rằng hình ảnh và những tư tưởng Phật giáo trong kho tàng ca dao rất
phong phú và đậm nét.
Ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống nhân dân rất sâu đậm, nhất là đức
tin về nghề báo, luân hồi, nhân quả. Tư tưởng nhân quả, luân hồi nghiệp báo là
niềm tin cố hữu của dân tộc.
`LaWS2DA
92XR9 N09T
Người bình dân tin hiện kiếp là sự tiếp nối của tiền kiếp và là điều kiện tạo
quả ở hậu kiếp. Thế nên họ xem xét trau dồi thiện tâm là để tạo phúc ở kiếp sao. Ta
có thể hiểu được điều đó ở bài ca dao sau:
Y4M!2U 4ML
)!2bNMOT
Họ bảo nhau lánh xa phiền muộn khổ đau để an tâm hưởng cuộc sống thâm
tâm an lạc hạnh phúc.
CO<AUR9A

CR9J 4LT
Giáo lý nhân quả của nhà Phật được lọc qua lăng kính của nhân dân, biến
thành những nguyên tắc sống đẹp: A$,<H98#&8.
=8BS2
:L$S2H /cS22T
Bên cạnh đó, người bình dân còn nặng lòng hiếu kính, nhân dân lao động
hình dung công ơn sinh thành dưỡng dục như sự vĩ đại, vĩnh hằng của trời cao bể
rộng.
+(4F)PL
Y#$d44V!82
';AeM$d0%
+eJ$VAUT
Trên cơ sở đó, lòng hiếu thảo trở thành một nền luân lý đạo đức thiết yếu
mà bổn phận làm con phải chu toàn:
"$^$4M
)4V[O U4M/42T
Hiếu hạnh trong Phật giáo trong ca dao còn thể hiện ở tâm nguyện đối với
tiền nhân, tổ tiên trong quá khứ:
(M*$(
"$[98f(9MT
gUA$VEJM
86$0%$M_[$T
Phật trời là hình ảnh tinh khiết tiêu biểu tượng trưng cho tình yêu thương,
cảm ứng thiêng liêng chứng giám cho lòng thành của người con hiếu thảo:
"$$0*M
]$dMVT
Phật giáo thấm sâu tư tưởng toàn thiện toàn mỹ vào đời sống dân gian rất
sâu đậm. Người dân lao động đã tìm về với Phật giáo như đó là nơi nương tựa an
ủi, nơi để bày tỏ niềm tin và thể hiện khát vọng thanh bình giải thoát của mình
trước tục lụy phù du của cõi đời ô trọc.

'4M$A4AU!
';2UL!AU[T
Ngôi chùa là nơi người dân gởi gắm bao kỷ niệm vui buồn với tất cả thâm
tình. Rằm - mùng một họ dâng hương hoa phẩm vật cúng Phật.
)2B4&89@
)-9AU2 /B@6$6T
Hay
"[@AZ&22
+Gff02OT
Tóm lại những tư tưởng giáo điều tốt đẹp của Phật giáo đã được người dân
chọn lọc tiếp nhận, phù hợp với nhân sinh quan của cả nhân dân. Có thể nói ca dao
trong văn học Việt Nam vô cùng phong phú như những kỳ hoa dị thảo tô thắm
vườn văn học Việt Nam nói chung và tinh thần Phật giáo trong ca dao cũng hòa
quyện với văn hóa dân tộc góp phần tăng giá trị tư tưởng văn hóa dân tộc, bồi đắp
cho nền văn hóa dân tộc được trường tồn.
2.4. Ý nghĩa của yếu tố Phật giáo trong văn học dân gian
Nhìn lại nội dung một số sáng tác văn học dân gian ở nhiều thể loại như tục
ngữ, ca dao, truyện cổ tích… trong quan hệ ảnh hưởng với tinh thần Phật giáo ta
thấy ít nhiều văn học dân gian đã phản ánh một thái độ sống, có một sức tác động
mãnh liệt trong đời sống tín ngưỡng, tạo nên một sự kết hợp nhuần nhuyn giữa bản
sắc dân tộc và tư tưởng Phật giáo. Qua một số nét cơ bản vừa phân tích tìm hiểu ta
thấy được Phật giáo có sức ảnh hưởng không nhỏ, gắn bó mật thiết với tâm hồn
người Việt Nam.
Nhẹ nhàng mà sâu lắng, Phật giáo đi vào đời sống của người dân Việt Nam
rồi khéo léo ngự trị trên mảnh đất văn học dân gian – một kho tàng văn hóa, văn
học quý báu của dân tộc ta. Không biết tự bao giờ, những yếu tố của Phật giáo đã
xuất hiện trong nếp sống, nếp ăn, nếp nghĩ của mỗi người. Đạo Phật trong văn học
dân gian chứa đựng nội dung và ý nghĩa hết sức phong phú, to lớn. Không chỉ phản
ánh lịch sử, chính trị; phản ánh tư tưởng đạo Phật mà mỗi tác phẩm dân gian còn
phản ánh mối tương quan giữa hai đại diện cho cái tốt và cái xấu; phản ánh tục lệ

xã hội; phản ánh thói hư tật xấu… để từ đó khuyên con người sống tốt đời, đẹp
đạo.
PHẦN KẾT LUẬN
Xuyên suốt lịch sử dân tộc Việt Nam, Phật giáo trong quá trình du nhập đã
hòa mình, thích nghi với tâm hồn dân Việt kết thành mối dây bền chặt giữa Phật
giáo và dân tộc. Ông cha ta vừa tiếp thu tư tưởng Phật giáo làm kim chỉ nam vừa
tạo nền luân lý nhân bản. Với quá khứ trên hai ngàn năm lịch sử, Phật giáo Việt
Nam, với ảnh hưởng mạnh mẻ của mình ở khía cạnh tích cực nhất, đã có mặt trong
dòng văn học tràn đầy tình thương cao cả của đức từ bi hỷ xã, là hình bóng của lý
tưởng Bồ Tát thường ban vui cứu khổ.
Tóm lại, nếu trên những trang sử oai hùng của dân tộc, Phật giáo chưa bao
giờ bỏ rơi dân tộc thì trong văn học nói chung, văn học dân gian nói riêng, đạo
Phật đã và đang là nguồn hứng khởi vô biên cho những tâm hồn nghệ sĩ trong
sáng, viết lên cái tinh túy - nỗi khát khao nghìn đời được sống trong một thế giới
đại đồng đầy tình người. Ðấy là tất cả ý nghĩa cao cả của lòng từ bi đã hội nhập
vào dòng văn hóa truyền thống dân tộc.
h
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Đổng Chi (2000), 2,f%i,Y$, Nxb
Giáo dục, H.
2. Lê Bá Hán – Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (2006), )_N
J, Nxb Giáo dục.
3. Lệ Như Thích Trung Hậu (2005), +Ji,
Y$, Nxb TP. Hồ Chí Minh.
4. Đinh Gia Khánh (2006), ii,Y$, Nxb Giáo dục.
5. Lê Đức Luận (2005), I<, Đại học Đà nẵng
-Đại họa Sư phạm.
6. Nguyễn Tài Thi (1991), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb Khoa học
xã hội.
7. Đỗ Bình Trị (1995), W4Vj<$N2,)*$+$TTrong

sách %9k$TNxb. Giáo dục, H.
8. Thích Đồng Văn, l4D^
i,Y$TmmmTAT$nTTTn`......i..

×