Tải bản đầy đủ (.pdf) (144 trang)

Những biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh chuyên ngành kỹ thuật tại Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp trong giai đoạn hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.12 MB, 144 trang )



1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC






HOÀNG THỊ OANH
















NHỮNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG
ANH CHUYÊN NGÀNH KỸ THUẬT TẠI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP TRONG


GIAI ĐOẠN HIỆN NAY




Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05



LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC







Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ NGỌC BÍCH





HÀ NỘI - 2010










1

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BCHTW
Ban chấp hành Trung ương
Bộ GD & ĐT
Bộ Giáo dục và Đào tạo
BGH
Ban giám hiệu
BMNN
Bộ môn Ngoại ngữ
CB
Cán bộ
CBGV
Cán bộ giảng viên
CBQL
Cán bộ quản lý
CBQLGD
Cán bộ quản lý giáo dục

Cao đẳng
CĐ - ĐH
Cao đẳng, đại học
CLDH
Chất lượng dạy học
CNTT

Công nghệ thông tin
CNTT & TT
Công nghệ thông tin và truyền thông
CNH-HĐH
Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá
CSVC
Cơ sở vật chất
CTXH
Công tác xã hội
DH
Dạy học
ĐH
Đại học
ĐHQGHN
Đại học quốc gia Hà Nội
GD
Giáo dục
GV
Giảng viên
HĐDH
Hoạt động dạy học
HQDH
Hiệu quả dạy học
HS
Học sinh
HSSV
Học sinh- sinh viên
GD&ĐT
Giáo dục và Đào tạo



2
KT
Kế toán
KTX
Ký túc xá
ĐHKTKTCN
Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp
NXB
Nhà xuất bản
PP
Phương pháp
PPDH
Phơng pháp dạy học
QTDH
Quá trình dạy học
QL
Quản lý
QLGD
Quản lý giáo dục
QLNT
Quản lý nhà trường
SGK
Sách giáo khoa
SV
Sinh viên
SL
Số lượng
TA
Tiếng Anh

TACN
Tiếng Anh chuyên ngành
TDTT
Thể dục thể thao
TH
Trung học
UBND
Uỷ Ban nhân dân
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
XHCN
Xã hội chủ nghĩa










3


MỤC LỤC


Tran
g

Mục lục

1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
4
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4
4. Các nhiệm vụ nghiên cứu
4
5. Câu hỏi nghiên cứu
4
6. ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu
5
7. Giới hạn đề tài và phạm vi nghiên cứu
5
8. Phương pháp nghiên cứu
6
9. Cấu trúc luận văn
6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
7
1.1. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
7
1.1.1. Quá trình dạy học và Quản lý quá trình dạy học
7
1.1.2. Quản lý hoạt động dạy học
10
1.1.3. Đặc trưng cơ bản của dạy học ở đại học
12

1.1.4. Đặc trưng dạy học ngoại ngữ nói chung và dạy học ngoại ngữ
chuyên ngành

17
1.2. Quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh chuyên ngành
24
1.2.1. Quản lý hoạt động dạy tiếng Anh chuyên ngành của giảng viên
26


4
1.2.2. Quản lý hoạt động học tiếng Anh chuyên ngành của sinh viên
28
Tiểu kết chương 1
29
Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học môn
Tiếng Anh chuyên ngành tại trƣờng Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công
nghiệp




31
2.1. Vài nét giới thiệu về trường
31
2.1.1. Vị trí chức năng, bộ máy nhà trường
31
2.1.2. Quy mô đào tạo của trường
31
2.1.3. Bộ môn Ngoại ngữ trường ĐHKTKTCN

33
2.2. Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh chuyên
ngành kỹ thuật ở trường ĐHKTKTCN

35
2.2.1.Thực trạng dạy học tiếng Anh chuyên ngành ở trường ĐHKTKTCN
35
2.2.2. Thực trạng quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh chuyên ngành ở
trường ĐHKTKTCN

60
2.2.3. Đánh giá chung công tác quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh
chuyên ngành ở trường ĐHKTKTCN

68
Tiểu kết chương 2
72
Chƣơng 3: Những biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh
chuyên ngành kỹ thuật tại trƣờng Đại học KTKTCN trong giai đoạn hiện
nay





74
3.1. Nguyên tắc xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng
Anh chuyên ngành ở trường ĐHKTKTCN

74

3.1.1. Đảm bảo tính đồng bộ của các biện pháp
74
3.1.2. Đảm bảo tính thực tiễn của các biện pháp
75
3.1.3. Đảm bảo tính khả thi của các biện pháp
75
3.2. Những biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh chuyên
ngành ở trường ĐHKTKTCN

76


5
3.2.1. Biện pháp 1: Cải tiến phương pháp dạy học
76
3.2.2. Biện pháp 2: Tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ giảng dạy
tiếng Anh chuyên ngành.

82
3.2.3. Biện pháp 3: Tăng cường quản lý hoạt động học tiếng Anh chuyên
ngành của sinh viên

85
3.2.4. Biện pháp 4: Cải tiến về kiểm tra, đánh giá
90
3.2.5. Biện pháp 5: Tổ chức biên soạn giáo trình tiếng Anh chuyên ngành
95
3.3. Thăm dò tính cấp thiết, tính khả thi và tính hiệu quả của các biện pháp
98
3.4. Mối quan hệ giữa các biện pháp

100
Tiểu kết chương 3
101
Kết luận và khuyến nghị
102
1. Kết luận
102
2. Khuyến nghị
104
Danh mục tài liệu tham khảo
107
Phụ lục
















6



MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc
tế, ngày 2 tháng 11 năm 2005, chính phủ đã ban hành nghị quyết số
14/2005/NQ-CP về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt nam giai
đoạn 2006- 2020. Xu thế hội nhập quốc tế đòi hỏi phải có một nguồn nhân
lực chất lượng cao làm việc được trong một môi trường đa ngôn ngữ, đa văn
hóa. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cũng đã xác định mục
tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2001-2010) là: “Đưa nước
ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành
nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa
học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được
tăng cường, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình
thành về cơ bản, vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao…”.
Cùng với chủ trương đổi mới giáo dục đại học của chính phủ, Bộ Giáo dục và
Đào tạo đã có dự thảo ngày 5-7-2007 trình chính phủ “ Đề án đổi mới dạy và
học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2007- 2015”. Dự
thảo đã xác định: “ Hiệu quả sử dụng ngoại ngữ của học sinh, sinh viên tốt
nghiệp còn thấp. Phần lớn sinh viên cao đẳng, đại học chưa có khả năng sử
dụng ngoại ngữ để tham khảo, nghiên cứu tài liệu nước ngoài hoặc theo học
các chương trình đào tạo bằng tiếng nước ngoài. Trong môi trường làm việc,
đặc biệt trước yêu cầu hội nhập thì ngoại ngữ là điểm yếu kém của lực lượng
lao động Việt nam.” [21; tr. 2]
Ngoại ngữ - ngôn ngữ nước ngoài – chuyên ngành ngày càng được
nhắc tới như một yếu tố không thể thiếu trong quá trình tạo tiền đề cho hội
nhập quốc tế. Trong quá trình này, vấn đề đặt ra là ngành giáo dục và đào tạo



7
cần có những đổi mới cơ bản và mạnh mẽ nhằm cung cấp cho đất nước những
con người lao động có chuyên môn và hiệu quả cao trong hoàn cảnh mới.
Việc dạy và học ngoại ngữ chuyên ngành ở bậc đại học cũng không nằm
ngoài mục đích trên. Ngoại ngữ chuyên ngành như “chiếc cầu nối” kinh tế và
văn hoá Việt Nam với thế giới bên ngoài.
Thuộc hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, Trường Đại học Kinh tế-
Kỹ thuật Công nghiệp, tiền thân là trường Trung học, thành lập từ năm 1956
và là một trong những trường đầu tiên được nâng cấp thành trường Đại học
năm 2007 với nhiệm vụ: Đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho các ngành
kinh tế và kỹ thuật thuộc các lĩnh vực công nghiệp có từ trình độ công nhân
kỹ thuật đến đại học; bồi dưỡng cán bộ; nghiên cứu khoa học và chuyển giao
công nghệ phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Hơn 50 năm phấn đấu và trưởng thành, nhà trường luôn quán triệt quan điểm
“Chất lượng đào tạo là sự sống còn của nhà trường” và xác định uy tín của
nhà trường phụ thuộc vào chất lượng đào tạo. Chất lượng đào tạo phụ thuộc
chủ yếu vào chất luợng dạy học của nhà trường, trong đó Quản lý nói chung
và Quản lý hoạt động dạy học nói riêng có ý nghĩa chiến lược đối với chất l-
ượng đào tạo. Vì vậy bên cạnh những nhiệm vụ chính trị, công tác quản lý
hoạt động dạy học được nhà trường hết sức quan tâm và coi đó là một trong
những nhiệm vụ quan trọng của nhà trường.
Trong chiến lược phát triển 2008-2015, Trường ĐH Kinh tế Kỹ thuật
Công nghiệp nhấn mạnh nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao
nên đã đặt một trong những mục tiêu chính là phải trang bị cho sinh viên một
năng lực ngoại ngữ (tiếng Anh) để có thể làm việc trong môi trường hội nhập,
có khả năng tự phát triển và học tập suốt đời. Ngoại ngữ nói chung và tiếng
Anh nói riêng được coi là điều kiện tiên quyết, là một công cụ, phương tiện
đắc lực và hữu hiệu trong quá trình hội nhập và phát triển. Vấn đề nâng cao
khả năng sử dụng ngoại ngữ để phát triển chuyên môn nghiệp vụ và làm việc
hiệu quả đã trở nên cấp thiết hơn trong những năm gần đây.



8
Trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập vào nền kinh tế thế giới, vấn
đề dạy và học tiếng Anh trong chương trình giáo dục ở nước ta hiện nay đang
được nhà nước và xã hội quan tâm. Nhiều cuộc hội thảo chuyên đề đã được tổ
chức ở các bậc đại học về những vấn đề như: nội dung chương trình, đổi mới
phương pháp giảng dạy, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng giáo viên, tăng
cường cơ sở vật chất, thiết bị, tài liệu tham khảo, thậm chí cải cách phương
pháp kiển tra, đánh giá và công nhận trình độ người học. Tuy nhiên những nỗ
lực nói trên vẫn chưa thể đáp ứng yêu cầu của một thực tế xã hội năng động
như hiện nay; vì thế có nhiều vấn đề phải xem xét lại, trong đó có vấn đề dạy
và học tiếng Anh chuyên ngành kỹ thuật ở bậc đại học.
Giáo dục đại học Việt Nam hiện nay nói chung và việc giảng dạy tiếng
Anh chuyên ngành nói riêng vẫn chưa thoái khỏi ảnh hưởng của hình thức
giáo dục theo hướng thi cử. Hầu hết sinh viên đều coi trọng bài thi hơn là khả
năng sử dụng tiếng Anh như một ngoại ngữ giao tiếp. Trên thực tế, mặc dù
tiếng Anh được giảng dạy khá lâu và đặc biệt được quan tâm ở Trường ĐH
Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp, song kết quả chưa khả quan: HSSV sau khi
hoàn thành môn tiếng Anh ở nhà trường hầu như không sử dụng được ngôn
ngữ này như một phương tiện giao tiếp và cũng chưa đọc được tài liệu chuyên
ngành. Kết luận này dựa trên thực tế dạy và học tại Trường ĐH Kinh tế Kỹ
thuật Công nghiệp và đánh giá tổng kết của Khoa tiếng Anh năm học 2007-
2008. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, ví dụ: giáo viên không
được đào tạo lại hay không được đào tạo tiếng Anh chuyên ngành một cách
bài bản, cơ sở vật chất còn thiếu, chưa có các phương pháp dạy và học thích
hợp, v.v.
Nhiệm vụ của giáo viên là giúp cho học viên mở mang trí tuệ, trở thành
người có năng lực tự định hướng và tự học. Để đáp ứng những yêu cầu trên
của nhà trường, bộ môn Ngoại ngữ đã có nhiều cố gắng đổi mới quy trình, nội

dung, phương pháp dạy học. Tuy nhiên chất lượng và hiệu quả của những cố
gắng đó còn chưa được khẳng định bởi chính những biện pháp quản lý việc


9
dạy học bộ môn cần được bổ sung và hoàn thiện. Để đảm bảo và nâng cao
chất lượng dạy học môn tiếng Anh, đặc biệt là tiếng Anh chuyên ngành kỹ
thuật, tôi nghĩ cần phải đánh giá đúng thực trạng, trên cơ sở đó xây dựng kế
hoạch dạy học và các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh
khả thi, tạo nên sự đổi mới trong việc dạy học ngoại ngữ nhằm đáp ứng nhu
cầu xã hội và phát triển đất nước. Với mong muốn việc dạy học tiếng Anh đạt
kết quả tốt, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của trường, tôi chọn đề tài:
“Những biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh chuyên
ngành Kỹ thuật tại trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp trong giai
đoạn hiện nay”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động dạy và học môn tiếng Anh
chuyên ngành Kỹ thuật ở trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp phù
hợp với các yêu cầu giáo dục đại học hiện nay nói chung và nhiệm vụ nâng
cao chất lượng đào tạo cử nhân kỹ thuật của nhà trường nói riêng.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động dạy học môn tiếng Anh chuyên ngành Kỹ thuật tại trường Đại
học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Những biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh chuyên
ngành Kỹ thuật ở trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp trong giai
đoạn hiện nay.
4. Các nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Nghiên cứu các cơ sở lý luận công tác quản lý hoạt động dạy học ngoại

ngữ.
4.2. Khảo sát kết quả học tập môn tiếng Anh, hiệu quả sử dụng sau tốt nghiệp
ở các khóa đào tạo cử nhân hệ chính quy từ năm 2005 đến 2009, phân tích và
đánh giá thực trạng công tác quản lý và các hoạt động dạy học môn tiếng Anh


10
chuyên ngành Kỹ thuật ở trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp.
4.3. Nghiên cứu, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng
Anh chuyên ngành Kỹ thuật phù hợp với những yêu cầu hiện nay của nhà
trường, xã hội và nhu cầu của người học.
5. Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài tập trung trả lời câu hỏi nghiên cứu: sự bất cập của công tác quản
lý hoạt động dạy học tiếng Anh chuyên ngành Kỹ thuật trong giai đoạn hiện
nay (với những yêu cầu thay đổi và phát triển mới ) của nhà trường là gì?
Nếu có vì sao và có giải pháp gì phù hợp?
6. Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu
6.1. Ý nghĩa lý luận
Hệ thống hóa và vận dụng lý luận quản lý giáo dục để đưa ra được cơ
sở lý luận cho các biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở bộ môn Ngoại ngữ,
góp phần tăng cường hiệu quả ứng dụng lý luận chung vào thực tế chuyên
ngành/chuyên môn cụ thể.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Thông qua điều tra, khảo sát và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, đánh
giá những mặt mạnh, mặt yếu trong quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh
chuyên ngành Kỹ thuật của Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp sẽ
phát hiện được nguyên nhân liên quan đến chất lượng dạy học chưa cao.
- Nếu các biện pháp được đánh giá khả thi ở trường Đại học Kinh tế Kỹ
thuật Công nghiệp thì kết quả nghiên cứu này có thể xem xét vận dụng thành
công trong quá trình dạy học ngoại ngữ ở các trường đại học, cao đẳng không

chuyên ngữ có điều kiện tương tự.
7. Giới hạn đề tài và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận cơ bản của QLGD nói chung và quản lý sự
thay đổi; quản lý hoạt động dạy học và biện pháp quản lý hoạt động dạy học
môn tiếng Anh chuyên ngành Kỹ thuật cho sinh viên Đại học Kinh tế Kỹ thuật
Công nghiệp hệ chính quy tại trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp.


11
- Khảo sát kết quả học tập môn tiếng Anh, hiệu quả sử dụng sau tốt
nghiệp ở các khóa đào tạo cử nhân hệ chính quy từ năm 2005 đến 2009, và
công tác quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh chuyên ngành Kỹ thuật.
- Nghiên cứu và đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn
tiếng Anh chuyên ngành Kỹ thuật tại trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công
nghiệp trong xu thế đổi mới.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
8.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
+ Phân tích, tổng hợp những lý luận có liên quan đến nhiệm vụ nghiên
cứu của đề tài qua sách, báo và các tài liệu
+ Tham khảo Luật giáo dục, các Văn kiện của Đảng, các quy định của
Bộ Giáo dục và Đào tạo.
8.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp khảo sát, điều tra.
+ Phương pháp thực nghiệm.
+ Phương pháp phỏng vấn.
+ Phương pháp chuyên gia.
+ Phương pháp toán thống kê, xử lý số liệu.
8.3. Các phương pháp bổ trợ khác
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, và khuyến nghị, luận văn được cấu

trúc thành 3 chương.
Chương 1. Cơ sở lý luận
Chương 2. Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng
Anh chuyên ngành tại trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp.
Chương 3. Những biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh
chuyên ngành kỹ thuật tại trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp trong
giai đoạn hiện nay.



12


13
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Để có cơ sở lý luận lý thuyết cơ bản của đề tài, trong chương 1, tôi xin
trình bày các khái niệm cơ bản sau:
1.1. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.1.1. Quá trình dạy học và Quản lý quá trình dạy học
1.1.1.1. Quá trình dạy học
DH là bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, là một trong những
con đường để thực hiện mục đích GD. QTDH được tổ chức trong nhà
trường bằng phương pháp sư phạm đặc biệt, nhằm trang bị cho HS hệ
thống kiến thức khoa học và hình thành hệ thống kỹ năng vận dụng kiến
thức vào thực tiễn [59, tr.52].
Quá trình dạy học là một hệ thống toàn vẹn, cân bằng động gồm ba
thành tố cơ bản: khái niệm khoa học (tri thức), dạy và học. Những thành tố
này tương tác với nhau theo một quy luật riêng, thâm nhập vào nhau, quy
định lẫn nhau để thực hiện các nhiệm vụ dạy học nhằm đạt được chất lượng
và hiệu quả dạy học. Ở đây, cần chú ý đến các nguyên tắc cơ bản như nguyên

tắc dạy học phải xuất phát từ đầu vào, học sinh là trung tâm; nguyên tắc hoạt
động; nguyên tắc học theo các đoạn ngắt; nguyên tắc xác nhận ngay.
- Khái niệm khoa học: là nội dung của bài học và là đối tượng lĩnh hội
của sinh viên. Khái niệm khoa học là một trong hai yếu tố khách quan quyết
định tính lôgic của bản thân quá trình dạy học về mặt khoa học.
- Hoạt động học: là yếu tố khách quan thứ hai quy định tính lô gic của quá
trình dạy học về mặt lý luận dạy học; nghĩa là trình độ trí dục và quy luật lĩnh hội
của sinh viên có ảnh hưởng quyết định đến tổ chức quá trình dạy học. Hoạt động
học bao gồm hai chức năng thống nhất với nhau: lĩnh hội và tự điều khiển.
- Hoạt động dạy: có chức năng kép vì hai quá trình truyền đạt và điều
khiển luôn tương tác và thống nhất với nhau. Dạy luôn phải xuất phát từ lôgic
khoa học của khái niệm và lôgic sư phạm của sự lĩnh hội. [42; tr. 76]
Các thành tố của quá trình dạy học ở đại học luôn tương tác với nhau


14
theo những quy luật riêng, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau để tạo nên
sự thống nhất biện chứng:
Giữa dạy và học.
Giữa truyền đạt và điều khiển trong dạy.
Giữa lĩnh hội và tự điều khiển trong học. [42, tr. 81]
Bên cạnh ba thành tố cơ bản như vừa nêu, quá trình dạy học còn có sự
tham gia của nhiều các nhân tố khác bao gồm: mục đích và nhiệm vụ dạy học,
nội dung và các hình thức tổ chức dạy học, phương pháp và phương tiện dạy
học, cùng với môi trường văn hóa – chính trị – xã hội, môi trường kinh tế –
khoa học – kỹ thuật của đất nước trong trào lưu phát triển chung của thời đại.
Sự vận động và phát triển của quá trình dạy học là kết quả của quá trình tác
động biện chứng giữa các nhân tố kể trên. Kết quả dạy học là kết quả phát
triển tổng hợp của toàn hệ thống. Muốn nâng cao chất lượng của quá trình dạy
học phải nâng cao chất lượng của từng thành tố và đồng thời nâng cao chất

lượng tổng hợp của toàn hệ thống.
Dưới đây là cấu trúc chức năng của quá trình dạy học đại học theo tác
giả Lưu Xuân Mới. [42; tr. 77]










Sơ đồ 1.1: Cấu trúc chức năng của quá trình dạy học đại học
1.1.1.2. Quản lý quá trình dạy học
KHÁI NIỆM KHOA HỌC

DẠY
Điều khiển
HỌC

Môi trường
kinh tế –xã
hội- chính
trị và môi
trường
khoa học
công nghệ
Cộng
tác

Truyền đạt
Lĩnh hội
Tự điều
khiển


15
Quá trình: là tổng thể nói chung những hiện tượng nối nhau trong thời
gian theo một trình tự nhất định của sự việc nào đó.
Quá trình truyền thụ học vấn chỉ quá trình trang bị tri thức, kỹ năng, kỹ
xảo, thái độ.
Dạy học là khái niệm chỉ hoạt động chung của người dạy và người học,
hai hoạt động này song song tồn tại và phát triển trong cùng một quá trình
thống nhất. Quá trình dạy học là quá trình giáo dục tổng thể, trong đó vai trò
của nhà sư phạm là định hướng tổ chức, thực hiện việc truyền thụ tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo đến người học một cách hợp lí, khoa học do đó nhà sư phạm có
vai trò và tác dụng chỉ đạo.
Quản lý QTDH là quản lý một quá trình xã hội, một quá trình sư phạm
đặc thù, nó tồn tại như là một hệ thống bao gồm nhiều thành tố cấu trúc. Quản
lý QTDH là "hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật
của chủ thể quản lý, nhằm làm cho quá trình dạy học vận hành theo đường lối
của Đảng, Nhà nước, thực hiện được những yêu cầu của nền giáo dục xã hội
trong việc đào tạo con người theo tiêu chuẩn của thời đại, tập trung vào hoạt
động dạy học và giáo dục đưa hệ vận động từ trạng thái ban đầu đến mục
tiêu".[42, tr.77]
- Mục tiêu quản lý quá trình dạy học:
Mục tiêu quản lý quá trình dạy học là chất lượng dạy học toàn diện cho
HSSV với các tiêu chuẩn về chính trị, tư tưởng, đạo đức, văn hoá, khoa học
kỹ thuật, thể chất được quy định trong mục tiêu giáo dục. Một cách chung
nhất, mục tiêu quản lý quá trình dạy học là:

+ Bảo đảm thực hiện các mục tiêu, kế hoạch đào tạo, nội dung chương
trình giảng dạy theo đúng tiến độ, thời gian quy định.
+ Bảo đảm quá trình dạy học đạt chất lượng, hiệu quả cao.
- Nội dung quản lý quá trình dạy học:
Quản lý quá trình dạy học bao gồm các vấn đề sau:
+ QL mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo


16
+ QL hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của HSSV
+ QL chất lượng dạy học
+ QL kiểm tra, đánh giá
+ QL các hoạt động giáo dục ngoài lớp, ngoài nhà trường
Như vậy, quản lý việc thực hiện phương pháp giảng dạy cũng là một
nội dung quản lý quan trọng trước yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn
hiện nay. Để đưa ra được các biện pháp quản lý hiệu quả cho hoạt động này
việc tìm hiểu và nắm vững các cơ sở lý luận trên là thực sự cần thiết.
1.1.2. Quản lý hoạt động dạy học
1.1.2.1. Hoạt động dạy [42; tr. 65]
Dạy là sự tổ chức và điều khiển tối ưu quá trình học sinh chiếm lĩnh tri
thức (khái niệm khoa học). Trong và bằng cách đó, hình thành và phát triển
nhân cách. Chủ thể của hoạt động dạy là giáo viên - người tổ chức mọi hoạt
động học tập của học sinh, người quyết định chất lượng giáo dục. Đối tượng
hoạt động của giáo viên là hệ thống kiến thức và sự phát triển trí tuệ và nhân
cách của học sinh.
- Mục đích của hoạt động dạy là làm cho học sinh nắm vững kiến thức
và hình thành kỹ năng hoạt động mà từ đó phát triển trí tuệ và nhân cách. Hay
nói cách khác, mục đích của dạy là làm cho học sinh trở thành người lao động
thông minh, người công dân có ý thức.
- Chức năng của dạy: dạy có chức năng kép: truyền đạt thông tin dạy và

điều khiển hoạt động học.
- Nội dung hoạt động dạy là tổ chức cho học sinh nhận thức, truyền đạt
kiến thức, hướng dẫn luyện tập hình thành kỹ năng, kiểm tra uốn nắn và giáo
dục thái độ học tập cho học sinh.
- Phương pháp giảng dạy bao gồm phương pháp tổ chức nhận thức,
phương pháp điều khiển các hoạt động trí tuệ và thực hành, phương pháp giáo
dục ý thức học tập cho học sinh.
1.1.2.2. Hoạt động học [42; tr. 65]


17
Học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa
học, dưới sự điều khiển sư phạm của thầy.
Học là hoạt động có đối tượng. Trong đó người học là chủ thể, khái
niệm khoa học là đối tượng để chiếm lĩnh. Đối tượng hoạt động học là hệ
thống tri thức và hệ thống kỹ năng tương ứng.
Bản chất của học là sự tiếp thu, xử lý thông tin chủ yếu bằng các thao
tác trí tuệ dựa vào vốn sinh học và vốn đạt được của cá nhân. Từ đó có được
tri thức, kỹ năng, thái độ mới.
- Mục đích của học là chiếm lĩnh khái niệm khoa học, tiếp thu nền văn
hóa nhân loại để chuyển hóa thành trí tuệ và nhân cách bản thân để trở thành
người lao động thông minh năng động và sáng tạo.
- Chức năng của học: học có hai chức năng thống nhất với nhau: lĩnh
hội (tiếp thu thông tin dạy của thầy) và tự điều khiển quá trình chiếm lĩnh khái
niệm khoa học của mình (tự giác, tích cực, tự lực).
- Nội dung của học: là toàn bộ hệ thống khái niệm của môn học, cấu trúc
lôgic của môn học, các phương pháp đặc trưng của khoa học, ngôn ngữ của khoa
học và biết vận dụng những hiểu biết đó vào việc tiếp tục học tập và lao động.
- Phương pháp học là phương pháp nhận thức và phương pháp rèn luyện
để hình thành kỹ năng thực hành (chiếm lĩnh khái niệm khoa học phản ánh đối

tượng của nhận thức, biến các hiểu biết của nhân loại thành học vấn của bản
thân. Đó là phương pháp mô tả, giải thích và vận dụng khái niệm khoa học).
Hoạt động dạy học: Hoạt động dạy học bao gồm hai hoạt động liên
quan với nhau: hoạt động dạy và hoạt động học. Đây là quá trình hoạt động
của hai chủ thể. Trong đó dưới sự tổ chức, hướng dẫn và điều khiển của giáo
viên, học sinh nhận thức lại nền văn minh nhân loại và rèn luyện hình thành
kỹ năng hoạt động, tạo lập thái độ sống tốt đẹp.
1.1.2.3. Quản lý họat động dạy học
Quản lý HĐDH là một bộ phận cấu thành chủ yếu của toàn bộ hệ thống
quản lý HĐDH trong nhà trường. Qui định DH được thực hiện theo một


18
chương trình, kế hoạch hoạt động cụ thể trên lớp học. Quản lý HĐDH được
phân hoá thành hai quá trình cơ bản:
- Quản lý quá trình dạy học trên lớp
- Quản lý quá trình dạy học ngoài giờ lên lớp
Hai quá trình này đã được ghi nhận trong mục tiêu, kế hoạch hoạt động
giáo dục của mỗi cấp bậc học
“QL xã hội lấy tiêu điểm là quản lý giáo dục (giáo dục là quốc sách
hàng đầu) thì quản lý giáo dục phải coi nhà trường là nút bấm (quản lý lấy
nhà trường làm nền tảng School - based management) và quản lý nhà trường
phải lấy quản lý việc dạy học là khâu cơ bản, việc dạy học phải xuất phát (từ)
và hướng (vào) người học (learnner centred teaching). [2, tr. 30]
Hoạt động dạy học là hoạt động chính trong nhà trường. QL hoạt động
dạy học là một trong những nội dung của quản lý nhà trường. Quản lý hoạt
động dạy học là quản lý việc chấp hành những quy định, quy chế về hoạt
động giảng dạy của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh, sinh viên
nhằm đảm bảo cho các hoạt động đó được thực hiện một cách nghiêm túc, tự
giác có chất lượng, hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. QL hoạt động

dạy học bao gồm : quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên, quản lý hoạt
động học tập của sinh viên, quản lý dạy học cả ở trên lớp và ngoài giờ học
trên lớp.
Việc quản lý hoạt động dạy học ở trường đại học không chỉ đòi hỏi
phải dựa trên cơ sở lý luận về quản lý mà còn cần phải dựa trên cơ sở lý
luận dạy học.
Quản lý hoạt động dạy của giáo viên là quản lý chương trình, nội dung
và phương pháp dạy học thông qua qui chế chuyên môn, thông qua chỉ đạo
việc đổi mới phương pháp dạy học, thông qua kiểm tra, đánh giá
Quản lý hoạt động học của học sinh là quản lý quá trình lĩnh hội tri thức
của học sinh, hướng học sinh vào những nội dung trọng tâm của môn học, của
từng bài với phương pháp học tập cá nhân phù hợp, đạt hiệu quả cao nhất.


19
Như vậy: Quản lý hoạt động dạy học là quản lý nội dung chương trình
theo mục tiêu của nhà trường, quản lý quá trình truyền thụ kiến thức của giáo
viên, quản lý việc thực hiện chương trình dạy học và quản lý sự lĩnh hội kiến
thức của học sinh.
1.1.3. Đặc trưng cơ bản của dạy học ở đại học
Nghiên cứu mối quan hệ giữa HĐDH nói chung với hoạt động nhận
thức thế giới khách quan của loài người và mối quan hệ biện chứng gữa hoạt
động dạy của thầy với hoạt động học của trò trong các trường đại học, người
ta có thể khẳng định rằng: “Quá trình dạy học ở đại học, về bản chất, là quá
trình nhận thức độc đáo có tính chất nghiên cứu của sinh viên được tiến hành
dưới vai trò tổ chức, điều khiển của giáo viên nhằm thực hiện tốt các nhiệm
vụ dạy học ở đại học” [26, tr. 42].
Giáo dục đại học giữ vai trò chủ đạo trong toàn bộ hệ thống giáo dục vì
nó trực tiếp tác động đến trình độ phát triển của khoa học và công nghệ. Đào
tạo nhân lực là nhiệm vụ của nhà trường nói chung và trường đại học nói riêng.

Việc đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu xã hội là yếu tố sống còn của
các nhà trường đại học. Đây chính là những đơn đặt hàng của xã hội đối với
các nhà trường. Từ những đơn đặt hàng này, các nhà trường xây dựng cho
mình hệ mục tiêu đào tạo. Trên cơ sở những mục tiêu đã xây dựng, các nhà
trường lựa chọn nội dung dạy học, lựa chọn phương pháp dạy học và hình
thức kiểm tra đánh giá thích hợp.
a) Mục tiêu của giáo dục đại học là đào tạo người học có phẩm chất
chính trị đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực
hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu
cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đào tạo trình độ đại học giúp sinh viên nắm
vững kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành, có khả năng phát hiện, giải
quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành được đào tạo. [40, tr. 25]
Mục tiêu đào tạo đại học là đào tạo ra những con người năng động sáng
tạo, tự chủ, có óc phê phán, có năng lực giải quyết vấn đề mới nảy sinh, có


20
năng lực tự học, tự nghiên cứu suốt đời, có năng lực tạo nghiệp, tiến thân, lập
nghiệp trong “thị trường sức lao động” [42, tr. 27].
Người tốt nghiệp đại học ngày nay phải có những năng lực trội sau:
năng lực thích ứng với những thay đổi rất nhanh; năng lực trí tuệ, năng lực
hành động, năng lực tự học và năng lực quốc tế (thông qua sử dụng thành
thạo ngoại ngữ, nắm vững những môn học như: luật quốc tế, thương mại quốc
tế, những kỹ năng giao tiếp quốc tế, … [42, tr. 28]
b) Nhiệm vụ của dạy học đại học: Dạy học đại học có ba nhiệm vụ cơ
bản. Ba nhiệm vụ này có mối quan hệ chặt chẽ không thể tách rời, biểu hiện
sự tương quan giữa dạy học, giáo dục và phát triển. [42, tr. 68]
c) Nội dung giáo dục đại học phải có tính hiện đại và phát triển, đảm
bảo cơ cấu hợp lý giữa kiến thức khoa học cơ bản với kiến thức chuyên ngành
và các bộ môn khoa học Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kế thừa và phát

huy truyền thống tốt đẹp , bản sắc văn hóa dân tộc; tương ứng với trình độ
chung của khu vực và thế giới. Đào tạo trình độ đại học phải bảo đảm cho
sinh viên có những kiến thức khoa học cơ bản và chuyên ngành tương đối
hoàn chỉnh; có phương pháp làm việc khoa học; có năng lực vận dụng lý
thuyết vào công tác chuyên môn. [40, tr. 26]
Nội dung, chương trình đào tạo đại học phải phù hợp với xu thế tiến bộ
của thời đại, sự phát triển của khoa học công nghệ, vừa phải gắn chặt với yêu
cầu phát triển đất nước, phù hợp với văn hóa truyền thống dân tộc. Như vậy
nội dung đào tạo đại học phải đảm bảo các yêu cầu: cơ bản, hiện đại, sát với
thực tiễn Việt nam, đảm bảo sự cân đối giữa truyền thống và hiện đại, giữa
dân tộc và nhân loại, giữa khu vực và toàn cầu, giữa phần cứng và phần mềm. [42,
tr.28]
d) Về bản chất, quá trình dạy học đại học là quá trình nhận thức độc
đáo, có tính chất nghiên cứu của sinh viên dưới sự tổ chức, điều khiển của
giảng viên nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học. Người học không tiếp thu
chân lý một cách máy móc mà tiếp nhận với óc phê phán ở trình độ cao. Họ


21
bắt đầu có thói quen hồ nghi, lật lại vấn đề, nhìn nhận vấn đề từ nhiều góc độ
để có thể hiểu được bản chất. Hơn thế nữa, sinh viên đã bắt đầu tham gia tìm
kiếm chân lý mới.
Ngày nay, sinh viên có khả năng làm việc độc lập, hiểu biết về mọi lĩnh
vực được mở rộng. Cơ hội học tập để làm giàu kiến thức và kỹ năng của sinh
viên rộng mở hơn. Họ linh hoạt hơn, thực tế hơn và nhạy cảm hơn. Trước sức
ép từ xã hội và để có thể có được cơ hội việc làm và việc làm tốt, để có thể
tồn tại và khẳng định mình trong tương lai, sinh viên hiện nay có xu hướng
vượt ra khỏi khuôn khổ cố định của chương trình, giáo trình trong học
đường; biết tận dụng tối đa cơ hội học tập để chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng.
Như vậy, nhà trường đại học đang đứng trước những nhiệm vụ giáo dục to

lớn khi có sự thay đổi về ý thức, thái độ, nền tảng kiến thức và kỹ năng của
người học. Do vậy nền giáo dục đại học cần phải thay đổi cách tiếp cận đối
với đối tượng này và làm tốt hơn vai trò của mình thông qua việc xác định,
thực hiện đúng đắn vai trò của người dạy, người học trong quá trình dạy học.
Một cuộc cách mạng về phương pháp nhằm chuẩn bị cho sinh viên thích ứng
với đời sống xã hội thông qua sự tôn trọng mục đích, nhu cầu, khả năng, hứng
thú và lợi ích học tập của người học.
e) Phương pháp giáo dục đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng năng
lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng
tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm ứng
dụng. [40, tr.26]. Tăng cường áp dụng các phương pháp sư phạm tích cực
hướng vào việc đặt và giải quyết vấn đề, áp dụng công nghệ dạy học: tận
dụng tối đa những công cụ và công nghệ mới mà các thành tựu to lớn của
khoa học đem lại. [42, tr.29]
Phương pháp dạy học đại học phải được thiết kế phù hợp với đối tượng
để hướng tới mục đích cuối cùng là phát triển nguồn nhân lực cho đất nước.
Về cơ bản, phương pháp dạy học ở đại học diễn ra theo hướng:
- Tích cực hóa người học (dạy học tích cực) dựa trên nguyên tắc phát


22
huy tính tích cực, tự giác và sáng tạo của người học. Quá trình tích cực hóa
người học có thể thông qua các hoạt động cụ thể như: tổ chức cho sinh viên tự
nghiên cứu, làm việc tại nhóm, chuẩn bị báo cáo và thuyết trình trước lớp, …
- Cá thể hóa: dạy học cá nhân hóa dựa trên nguyên tắc tôn trọng người
học, lấy người học làm trung tâm của quá trình đào tạo. Mỗi sinh viên là một
cá nhân với những cách tiếp cận vấn đề, sự ưu tiên, mối quan tâm, sở thích, có
những đầu tư về thời gian khác nhau, trí tuệ, công sức cho những nội dung
học tập khác nhau đều có cơ hội như nhau trong học tập.
- Công nghệ hóa quá trình dạy học: Dựa trên nguyên tắc tiến hành

chuyển giao công nghệ dạy học đại học nhằm tiến đến một sự thống nhất,
hiệu quả chung trong cả hệ thống giáo dục mà trước hết là trong từng trường
và giữa các trường đại học với nhau. [50, tr.19]
f) Nội dung, phương pháp giáo dục đại học phải được thể hiện thành
chương trình giáo dục. Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chương trình khung
gồm cơ cấu nội dung các môn học, thời gian đào tạo, tỷ lệ phân bổ thời gian
đào tạo giữa các môn học cơ bản và chuyên ngành; giữa lý thuyết với thực
hành, thực tập. Căn cứ vào chương trình khung, trường đại học xác định
chương trình giáo dục của trường mình. [40, tr.29]
g) Mục tiêu quan trọng nhất của việc giảng dạy ở trường đại học là dạy
cách học cho sinh viên, trang bị cho họ những phương pháp và kỹ năng cơ
bản để tăng cường khả năng tự học, thói quen học suốt đời.
Hoạt động học tập của sinh viên ở trường đại học phải được hiểu là
hoạt động do bản thân sinh viên quyết định và thực hiện một cách tự giác,
tích cực, chủ động, độc lập và sáng tạo để hoàn thành những nhiệm vụ học
tập, làm thỏa mãn nhu cầu nhận thức của bản thân và đạt được mục tiêu đã
định. Hoạt động học tập của sinh viên phải hướng tới rèn luyện kỹ năng tự
học để người học có thể học tập thường xuyên, suốt đời. Việc rèn luyện kỹ
năng tự học phải được nâng dần lên từng bước:


23
- Tự học diễn ra dưới sự điều khiển trực tiếp của giảng viên.
- Tự học diễn ra dưới sự điều khiển gián tiếp của giảng viên.
- Tự học hoàn toàn thoát ly khỏi sự điều khiển của giảng viên.
h) Hình thức tự học có sự hướng dẫn trực tiếp của thầy có vai trò định
hướng cho sự hình thành các kỹ năng tự học khi họ còn ngồi trên ghế nhà
trường và có thể tự học khi họ đã tốt nghiệp ra trường. Điều này có nghĩa là
việc hình thành, bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh gắn chặt với vai trò
của người thày. Người thày đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và

bồi dưỡng khả năng tự học cho sinh viên thông qua thực hiện các phương
pháp dạy học tích cực, dạy học cá nhân hóa và công nghệ hóa quá trình dạy
học như đã trình bày ở trên.

1.1.4. Đặc trưng dạy học ngoại ngữ nói chung và dạy học ngoại ngữ
chuyên ngành
1.1.4.1. Đặc trưng dạy học ngoại ngữ
Ngoại ngữ là ngôn ngữ của một dân tộc ở nước ngoài, nói gọn là tiếng
nước ngoài.
- Dạy học ngoại ngữ là một hoạt động truyền thụ và lĩnh hội một thứ
tiếng nước ngoài một cách có mục đích, chương trình, nội dung, phương pháp,
kế hoạch, biện pháp tổ chức rõ ràng nhằm hình thành ở người học khả năng
hiểu biết, thu nhận, tái tạo và sử dụng ngôn ngữ được học đạt mục tiêu đã định.
- Kỹ năng sử dụng ngoại ngữ được chia thành: kỹ năng thu nhận (bao
gồm: nghe, đọc) và kỹ năng tái tạo (bao gồm: nói, viết). Trên cơ sở phân biệt
yêu cầu từng kỹ năng mà người dạy có phương pháp dạy và người học có
phương pháp học tương ứng, thích hợp.
Cũng như hoạt động dạy học nói chung, hoạt động dạy học ngoại ngữ
bao gồm hai hoạt động thống nhất hữu cơ gắn bó, quy định lẫn nhau trong
cùng một hoạt động: Hoạt động dạy ngoại ngữ và Hoạt động học ngoại ngữ .


24
Hoạt động dạy ngoại ngữ:
Dạy là quá trình tổ chức sử dụng các thủ pháp thích hợp dẫn dắt người
học thâm nhập vào môi trường ngôn ngữ, nhận thức các hiện tượng và hành vi
ngôn ngữ để từ đó hình thành các kĩ năng nói, nghe, đọc, viết và dịch. Trong
quá trình này, sinh viên phải luôn hoạt động tích cực, phải được tăng cường,
củng cố và xác nhận đúng, sai ngay.
Trong hoạt động dạy ngoại ngữ, người dạy truyền thụ thứ ngoại ngữ là

ngôn ngữ sẵn có, đã và đang được dân tộc đó sử dụng. Điều này khác với hoạt
động nghiên cứu khoa học hay hoạt động sáng tạo nghệ thuật.
Hoạt động dạy ngoại ngữ là truyền thụ tiếng nước ngoài đó không phải
để cho bản thân người dạy, mà là để tổ chức quá trình này cho hoạt động học
ngoại ngữ của học sinh. Nói cách khác, hoạt động dạy ngoại ngữ của giáo
viên tạo ra nội dung cho hoạt động học ngoại ngữ của học sinh; còn hoạt động
học ngoại ngữ của học sinh là điều kiện duy trì hoạt động dạy ngoại ngữ của
giáo viên.
Hoạt động học ngoại ngữ: Tiếng nước ngoài cần học là đối tượng của
hoạt động học ngoại ngữ .
Học là quá trình hoạt động tự giác, tích cực của sinh viên nhằm phát
triển trí tuệ, thể chất và hình thành nhân cách của bản thân. Như vậy, học là
hoạt động nhằm thay đổi, phát triển bản thân mình cho phù hợp với yêu cầu
của xã hội. Nói cách khác, học là nhằm biến những yêu cầu của xã hội thành
những phẩm chất và năng lực của cá nhân.
Hoạt động học ngoại ngữ hướng vào làm biến đổi chính chủ thể (người
học) của hoạt động này.
Hoạt động học ngoại ngữ trong nhà trường khác với học ngoại ngữ diễn
ra trong đời sống thường ngày có tính tự phát như trẻ em học tiếng mẹ đẻ.
Hoạt động học ngoại ngữ trong nhà trường mang tính chất tự giác, có mục
đích, kế hoạch, chương trình – nội dung, biện pháp tổ chức rõ ràng. Bản chất
việc học nói chung, học ngoại ngữ nói riêng được hiểu là sự biến đổi – biến

×