Tải bản đầy đủ (.pdf) (97 trang)

Quản lý chi ngân sách nhà nước tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.73 MB, 97 trang )




ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ




TẠ ĐỨC SƠN






QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC TẠI
HUYỆN TÂN SƠN - TỈNH PHÚ THỌ


Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 603401




LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH











NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: NGUYỄN THÙY ANH








Hà Nội – 2014







LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất
kỳ công trình nào khác.


TÁC GIẢ LUẬN VĂN




Tạ Đức Sơn


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU V
CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ
NƢỚC CẤP HUYỆN VÀ KINH NGHIỆM MỘT SỐ ĐỊA PHƢƠNG 7
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ
NƢỚC CẤP HUYỆN 7
1.1.1. Khái niệm quản lý chi ngân sách nhà nước cấp huyện 7
1.1.2. Đặc điểm của quản lý chi ngân sách nhà nước cấp huyện 12
1.1.3. Vai trò của quản lý chi ngân sách nhà nước cấp huyện 14
1.1.4. Nội dung quản lý chi ngân sách nhà nước cấp huyện 14
1.1.5. Mô hình tổ chức bộ máy quản lý chi ngân sách nhà nước cấp huyện 26
1.1.6. Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý chi ngân sách nhà nước cấp huyện 27
1.2. KINH NGHIỆM QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC Ở MỘT SỐ
THÀNH PHỐ, THỊ XÃ TRỰC THUỘC TỈNH VÀ BÀI HỌC RÚT RA CHO
HUYỆN TÂN SƠN. 28
1.2.1. Kinh nghiệm quản lý chi ngân sách nhà nước ở thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình 28
1.2.2. Kinh nghiệm quản lý chi ngân sách nhà nước ở thị xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. 30
1.2.3. Bài học rút ra cho huyện Tân Sơn trong quản lý chi ngân sách nhà nước 31
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC
HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ 33
2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI VÀ THỰC TRẠNG CHI
NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ 33

2.1.1. Điều kiện tự nhiên 33
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội. 35
2.1.3. Thực trạng chi ngân sách nhà nước huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ. 43
2.2. TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC HUYỆN TÂN
SƠN, TỈNH PHÚ THỌ 49
2.2.1. Quản lý chi đầu tư xây dựng cơ bản 49
2.2.2. Thực trạng quản lý chi thường xuyên 53
2.2.3. Thực trạng công tác tổ chức và đội ngũ cán bộ công chức làm công tác quản lý chi
ngân sách của huyện Tân Sơn. 57
2.3. ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC CỦA
HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ 58


2.3.1 Kết quả đạt được trong công tác quản lý chi ngân sách nhà nước của huyện Tân Sơn,
tỉnh Phú Thọ 58
2.3.2 Những hạn chế, yếu kém trong công tác quản lý chi ngân sách nhà nước ở huyện Tân
Sơn, tỉnh Phú Thọ và nguyên nhân. 61
CHƢƠNG III: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN
LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC CỦA HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH
PHÚ THỌ 70
3.1. PHƢƠNG HƢỚNG HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ
NƢỚC HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ 70
3.1.1. Dự báo nhu cầu chi ngân sách nhà nước của huyện Tân Sơn 70
3.1.2. Định hướng ưu tiên chi ngân sách nhà nước của huyện Tân Sơn 71
3.1.3. Phương hướng hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước huyện Tân Sơn 71
3.2. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC
HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ 74
3.2.1. Hoàn thiện các cơ chế, chính sách về quản lý chi ngân sách nhà nước cấp huyện 74
3.2.2. Hoàn thiện bộ máy quản lý và nâng cao năng lực, trình độ của cán bộ quản lý chi ngân
sách nhà nước của huyện 75

3.2.3. Nâng cao ý thức, trình độ của đối tượng sử dụng ngân sách nhà nước 78
3.2.4. Các giải pháp khác 81
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
























DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
























STT
Ký hiệu viết tắt
Nội dung
1
CSHT
Cơ sở hạ tầng
2
CT-XH
Chính trị - xã hội

3
GPMB
Giải phóng mặt bằng
4
HCSN
Hành chính sự nghiệp
5
HĐND
Hội đồng nhân dân
6
KBNN
Kho bạc nhà nước
7
KT-XH
Kinh tế -xã hội
8
NSĐP
Ngân sách địa phương
9
NSNN
Ngân sách nhà nước
10
QLHC
Quản lý hành chính
11
SN
Sự nghiệp
12
TC-KH
Tài chính - Kế hoạch

13
UBND
Ủy ban nhân dân
14
XDCB
Xây dựng cơ bản


DANH MỤC CÁC BẢNG

STT
Số Hiệu
Nội Dung
Trang
1
Bảng 2.1
Thực trạng phân bố dân cư

2
Bảng 2.2
Cân đối nguồn lao động xã hội

3
Bảng 2.3
Tổng hợp chi ngân sách huyện từ
năm 2008-2012.

4
Bảng 2.4
Tổng hợp chi đầu tư XDCB

của huyện Tân Sơn

5
Bảng 2.5
Tổng hợp chi thường xuyên của
huyện Tân Sơn (2008-2012)

6
Bảng 2.6
Dự toán chi đầu tư XDCB của
huyện Tân Sơn (2008 - 2012)

7
Bảng 2.7
Thực hiện chi đầu tư XDCB của
huyện Tân Sơn




















DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ


STT
Số Hiệu
Nội Dung
Trang
1
Biểu đồ 2.1
Tỷ trọng chi đầu tư XDCB trong chi
cân đối NSĐP từ 2008-2012

2
Biểu đồ 2.2
Tỷ trọng chi sự nghiệp giáo dục, đào
tạo trong chi thường xuyên từ 2008-
2012



DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
STT
Số Hiệu
Nội Dung
Trang

1
Sơ đồ 1.1
Tổ chức bộ máy quản lý chi NSNN
cấp huyện









































MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới, đặc biệt là từ khi Việt
Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), quản lý nhà nước (QLNN) ở
lĩnh vực kinh tế là một trong những vấn đề cần được quan tâm. Những năm qua,
trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu rơi vào tình trạng khủng hoảng và suy thoái,
nền kinh tế Việt Nam mặc dù cũng gặp những khó khăn, thách thức nhất định
nhưng nói chung vẫn giữ được sự ổn định, duy trì được tăng trưởng khá, an sinh
xã hội được đảm bảo. Đạt được những kết quả đó là do sự kiên định của Đảng,
Nhà nước, nhân dân ta với con đường xây dựng và phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Để đảm bảo tính định hướng xã hội chủ
nghĩa thì không thể không nhắc tới vai trò quan trọng của nhà nước trong quản
lý và điều hành nền kinh tế. Nhà nước đã có sự can thiệp và điều chỉnh kịp thời
giúp cho nền kinh tế vượt qua những khó khăn, thách thức, duy trì tăng trưởng
kinh tế.
Một trong những công cụ hữu hiệu được nhà nước sử dụng để điều tiết nền

kinh tế chính là ngân sách nhà nước (NSNN). Hoạt động quản lý ngân sách (NS) đã
có những bước cải cách, hoàn thiện và đạt được một số thành tựu đáng ghi nhận:
tăng cường tiềm lực tài chính đất nước; quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia;
xây dựng NSNN lành mạnh; thúc đẩy sử dụng vốn và tài sản nhà nước tiết kiệm,
hiệu quả; tăng tích lũy để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; góp
phần vào đảm bảo các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và đối ngoại.
Đối với hệ thống ngân sách nhà nước, quản lý chi ngân sách nhà nước đóng
vai trò quan trọng, bởi đây là vấn đề nhạy cảm được toàn xã hội quan tâm, nếu thực
hiện không tốt công tác quản lý chi ngân sách sẽ dẫn đến hệ lụy như suy thoái về đạo
đức cán bộ, công chức quản lý, thất thoát tiền của nhà nước, đời sống xã hội gặp
nhiều khó khăn, thâm hụt ngân sách, xảy ra lãng phí, tiêu cực…Vì vậy, quản lý chặt
chẽ nguồn ngân sách nhà nước sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách
nhà nước.
Ngân sách huyện chính là một bộ phận cấu thành của NSNN và là
công cụ để chính quyền cấp huyện thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn trong quá trình quản lý kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng. Tuy nhiên,


thực tế hiện nay cho thấy, quá trình quản lý NS các cấp, trong đó có cấp huyện,
thành phố, thị xã vẫn còn những hạn chế nhất định, chưa đáp ứng được yêu cầu
mà Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 đã đặt ra.
Tân Sơn là huyện miền núi của tỉnh Phú Thọ, được thành lập và đi vào
hoạt động từ ngày 01/05/2007, với đặc thù là huyện đặc biệt khó khăn theo Nghị
quyết số 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo
nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo, đời sống nhân dân huyện Tân Sơn
chủ yếu dựa vào sản xuất nông, lâm nghiệp; phát triển du lịch, dịch vụ còn nhỏ
lẻ mới chỉ dừng lại ở mức sơ khai, tự phát; nguồn thu và các khoản chi hoạt
động thường xuyên, chi đầu tư xây dựng cơ bản và các khoản chi khác trên địa
bàn huyện vẫn chủ yếu dựa vào nguồn trợ cấp ngân sách của tỉnh. Do đó, việc
quản lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các khoản chi NSNN, đảm bảo đáp ứng kịp

thời đầy đủ nhu cầu chi tiêu của các cấp chính quyền, tăng cường nhiệm vụ chi
đầu tư phát triển và các khoản chi đột xuất khác, giảm thiểu các hạn chế trong
quản lý chi ngân sách nhà nước là yêu cầu và đòi hỏi tất yếu đối với các cơ quan
quản lý và sử dụng ngân sách nói chung, huyện Tân Sơn nói riêng. Trong bối
cảnh chung đó, thực tế tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, công tác quản lý chi
ngân sách tuy đã được đi vào nề nếp, cơ bản đúng Luật NS tuy nhiên vẫn còn
tồn tại những vấn đề bất cập: Chi NS mặc dù đã đáp ứng cơ bản các yêu cầu của
mục tiêu, nhiệm vụ phát triển KT-XH trên địa bàn song hiệu quả ở một số lĩnh
vực cụ thể chưa cao, vẫn còn tình trạng chi vượt dự toán, thực hiện chi khi chưa
có đầy đủ căn cứ, chi sai chế độ…
Để góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ KT-XH trong giai
đoạn 2010-2015 mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Tân Sơn lần thứ II đã đề
ra, một trong những yếu tố quan trọng là tăng cường quản lý chi NSNN; góp
phần tạo ra nguồn lực tài chính mạnh mẽ cho huyện Tân Sơn.
Bản thân tôi là một công chức công tác tại huyện Tân Sơn, trực tiếp tham
gia vào công tác thu chi ngân sách tại địa phương trong một thời gian tương đối
dài. Qua quá trình làm việc thực tế của bản thân cũng như thực tiễn tại địa
phương, trước đó cũng chưa có một đề tài nào nghiên cứu về quản lý chi NSNN
tại địa bàn huyện, tôi lựa chọn đề tài “ Quản lý chi ngân sách nhà nước tại
huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ” làm đề tài luận văn thạc sỹ.


2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Quá trình tham khảo tài liệu để phục vụ quá trình nghiên cứu, đã có rất
nhiều các công trình nghiên cứu về lĩnh vực quản lý chi NSNN như:
- Luận án tiến sỹ “ Nâng cao hiệu quả quản lý NSNN tỉnh An Giang giai
đoạn 2010 – 2015 và tầm nhìn đến 2020” của tác giả Tô Thiện Hiền, Đại học
Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2012.
- Luận văn thạc sỹ “Quản lý chi ngân sách nhà nước của thành phố Cẩm
Phả, tỉnh Quảng Ninh” của tác giả Phan Thị Thanh Hương, Học Viện Chính trị -

Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2012.
- Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên qua
Kho bạc nhà nước Khánh Hòa” của tác giả Đỗ Thị Thu Trang, Đại học Đà
Nẵng, năm 2012.
- Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn
thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa” của tác giả Nguyễn Thị Mai Phương, Học viện
Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2008.
- Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa
bàn thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình” của tác giả Đinh Phương Liên, Học
viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2012.
- Luận văn thạc sỹ “ Hoàn thiện công tác quản lý ngân sách Nhà nước
trên địa bàn Tỉnh Vĩnh Phúc” của tác giả Nguyễn Thị Thùy Dương, Trường Đại
học kinh tế quốc dân, năm 2007.
Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập tới nhiều khía cạnh trong quản lý
NSNN nói chung, cũng như quản lý NSNN cấp tỉnh và cấp huyện, thành phố trực
thuộc tỉnh nói riêng, đã đưa ra được thực trạng và những giải pháp cơ bản nhằm
hoàn thiện hơn nữa công tác quản lý thu, chi NS trong thời gian tới.
Luận án tiến sĩ của tác giả Tô Thị Hiền đã khái quát được công tác quản lý
ngân sách cấp tỉnh nói riêng và từ đó rút ra những lý luận tương đối cơ bản về
quản lý thu chi ngân sách nói chung trong giai đoạn 2010-2015 và tầm nhìn đến
năm 2020.
Hai luận văn thạc sỹ của tác giả Đinh Phương Liên và Phan Thị Thanh
Hương cũng nghiên cứu về quản lý chi NSNN của thành phố trực thuộc tỉnh trên
từng địa bàn riêng biệt, tuy nhiên chưa đưa ra được một số vấn đề lý luận cụ thể


về quản lý chi NSNN cấp thành phố trực thuộc tỉnh và cấp huyện như: vai trò,
nguyên tắc, mục tiêu và mô hình tổ chức bộ máy quản lý. Mặt khác, mỗi một địa
phương có một đặc thù khác nhau và trong từng giai đoạn phát triển KT-XH thì
nhiệm vụ quản lý chi NSNN cũng khác nhau. Xét riêng huyện Tân Sơn, tỉnh Phú

Thọ cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào về lĩnh vực quản lý chi NS.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này là một vấn đề hoàn toàn mới, thực sự cần
thiết và có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN của địa
phương nói chung và của huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ nói riêng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận và thực
tiễn về quản lý chi NSNN cấp huyện; đánh giá thực trạng công tác quản lý chi
NSNN huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ; từ đó đề xuất những giải pháp, kiến nghị
để góp phần hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN huyện Tân Sơn trong thời
gian tới.
3.2. Nhiệm vụ
+ Hệ thống hóa những cơ sở lý luận cơ bản về quản lý chi NSNN cấp huyện.
+ Phân tích, đánh giá thực trạng tình hình công tác quản lý chi NSNN
huyện Tân Sơn cả về những kết quả đạt được, rút ra những tồn tại và nguyên
nhân.
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý chi NSNN huyện
Tân Sơn trong thời gian tiếp theo.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý chi ngân sách nhà nước huyện Tân Sơn, tỉnh
Phú Thọ.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: Thực hiện tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
+ Thời gian: Dựa trên những tài liệu, số liệu về quản lý chi ngân sách nhà
nước đã được HĐND, UBND tỉnh Phú Thọ phân cấp cho huyện Tân Sơn từ năm
2008 đến 2012.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận



Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh; đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong quản lý nhà nước
về lĩnh vực ngân sách, mà cụ thể là quản lý chi NSNN.
- Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: phương pháp
luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp thống kê, phương pháp
phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh…
Sử dụng các bảng biểu so sánh để làm tăng tính trực quan và sức thuyết
phục của đề tài.
6. Dự kiến những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
- Hệ thống hóa có chọn lọc các vấn đề lý luận cơ bản về quản lý chi
NSNN cấp huyện nói chung, cũng như các huyện nghèo nói riêng.
- Phân tích, đánh giá rõ thực trạng công tác quản lý chi NSNN huyện Tân
Sơn.
- Đưa ra những đề xuất, giải pháp và kiến nghị đối với các cấp, các ngành
để hoàn thiện tốt hơn công tác quản lý chi NSNN cấp huyện nói chung và của
huyện Tân Sơn nói riêng trong thời gian tới, góp phần thúc đẩy phát triển KT-
XH của huyện Tân Sơn trong những năm tiếp theo.
- Tổng hợp, phân tích những đề xuất,giải pháp kiến nghị thành lý luận
chung đối với quản lý ngân sách cấp huyện ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
kết cấu bao gồm 3 chương, như sau:
Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý chi ngân sách nhà nước cấp huyện
và kinh nghiệm một địa phương
Chương II: Thực trạng quản lý chi ngân sách Nhà nước huyện Tân
Sơn, tỉnh Phú Thọ
Chương III: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý chi ngân
sách Nhà nước của huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ




CHƢƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC CẤP
HUYỆN VÀ KINH NGHIỆM MỘT SỐ ĐỊA PHƢƠNG

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ
NƢỚC CẤP HUYỆN
1.1.1. Khái niệm quản lý chi ngân sách nhà nƣớc cấp huyện
1.1.1.1. Khái niệm ngân sách nhà nước
* Khái niệm ngân sách nhà nước:
Trong lịch sử, thuật ngữ NSNN xuất hiện khi phương thức sản xuất tư bản
chủ nghĩa ra đời, nghĩa là khi nền sản xuất xã hội đã phát triển đến một giai đoạn
nhất định. Sự xuất hiện của phạm trù NSNN gắn liền với sự xuất hiện của nền
kinh tế hàng hóa và nhà nước. Chính vì vậy, NSNN vừa là một phạm trù kinh tế,
vừa mang bản chất chính trị.
Từ khi xuất hiện đến nay, xoay quanh khái niệm về NSNN vẫn còn tồn tại
nhiều quan điểm khác nhau.
Theo Philip.E.Taylor: “Ngân sách nhà nước là chương trình tài chính chủ
yếu của Chính phủ, tập trung các dữ liệu thu và chi trong khoảng thời gian tài
khóa bao hàm các chương trình hoạt động phải thực hiện và các phương tiện tài
trợ cho các hoạt động ấy” [19, tr.8].
Các nhà xã hội học quan niệm, NSNN thể hiện các mối quan hệ kinh tế
phát sinh trong quá trình nhà nước thực hiện huy động và chi tiêu các khoản
bằng tiền.
Theo Điều 1, Luật NSNN được Quốc hội khóa XI nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 2, năm 2002: “Ngân sách nhà
nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện
các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” [18, tr.5].

Xét về biểu hiện bên ngoài, NSNN là một bản dự toán thu, chi bằng tiền
của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm.
Xét về bản chất kinh tế: Bản chất kinh tế của NSNN là mối quan hệ về lợi
ích kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể khác trong nền kinh tế. Mối quan hệ


này được thể hiện thông qua quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ
NSNN. Để tạo lập được một NSNN bền vững, các chủ thể quản lý tài chính
công phải giải quyết hài hòa mối quan hệ về lợi ích giữa Nhà nước và các chủ
thể trong nền kinh tế.
Tóm lại, có thể hiểu một cách khái quát: Xét về hình thức, biểu hiện bên
ngoài của NSNN là một bản dự toán thu, chi bằng tiền của Nhà nước trong một
khoảng thời gian nhất định. Xét về mặt bản chất, NSNN phản ánh mối quan hệ
về lợi ích kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể khác trong nền kinh tế. NSNN là
công cụ chủ đạo được Nhà nước sử dụng để động viên, phân phối nguồn lực tài
chính quốc gia, nhằm duy trì sự hoạt động của bộ máy nhà nước và đảm bảo cho
Nhà nước thực hiện các chức năng, nhiệm vụ về KT-XH.
* Những đặc điểm cơ bản của ngân sách nhà nước:
Thứ nhất, các hoạt động thu, chi của NSNN luôn gắn chặt với quyền lực
kinh tế - chính trị của Nhà nước và việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của
Nhà nước.
Thứ hai, các hoạt động thu, chi NSNN đều được tiến hành dựa trên cơ sở
những văn bản luật nhất định. Các luật lệ này bao gồm: luật thuế; các tiêu chuẩn,
định mức thu, chi; các chế độ thu, chế độ chi …Đây là một đặc điểm mang tính
khách quan vì NSNN có sự tác động tới mọi chủ thể trong nền kinh tế và có
phạm vi hoạt động trên mọi lĩnh vực.
Thứ ba, NSNN được hình thành từ nguồn tài chính chủ yếu là giá trị thặng
dư của sản phẩm xã hội, thông qua quá trình phân phối lại.
Thứ tư, các hoạt động thu, chi NSNN chứa đựng trong nó các mối quan hệ
về lợi ích kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể khác trong nền kinh tế, gắn liền

với quá trình tạo tập, phân phối và sử dụng quỹ NS.
Thứ năm, hoạt động thu, chi của NSNN được thực hiện chủ yếu theo
nguyên tắc hoàn trả không trực tiếp. Nhà nước không mắc nợ khi thu và không
được hoàn trả khi chi (trừ các khoản ngân sách cho vay)
Thứ sáu, NSNN cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác nhưng
có nét khác biệt: được chia thành nhiều quỹ nhỏ có tác dụng riêng, sau đó mới
được chi dùng cho các mục đích đã định.
* Vai trò của NSNN:


NSNN có vai trò rất quan trọng đối với toàn bộ nền KT-XH của một
đất nước. NSNN là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền KT-XH, định hướng phát
triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và điều chỉnh đời sống xã
hội.
1.1.1.2. Khái niệm chi ngân sách nhà nước
Chi NSNN là quá trình Nhà nước phân phối và sử dụng quỹ NSNN để
thực hiện các nhiệm vụ KT-XH của mình trong từng thời kỳ nhất định.
Phạm vi chi NSNN rất rộng, rất đa dạng, bao trùm mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội, liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến mọi đối tượng. Điều này xuất
phát từ vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước trong việc phát triển KT-XH. Luật
NSNN năm 2002, tại Điều 2 có ghi rõ: “Chi ngân sách nhà nước bao gồm các
khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm
hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các
khoản chi khác theo quy định của pháp luật” [18, tr.6]
Chi NSNN bao gồm hai quá trình: quá trình phân phối và quá trình sử
dụng quỹ NSNN. Quá trình phân phối là quá trình cấp phát kinh phí từ NSNN
để hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng. Quá trình sử dụng là quá
trình trực tiếp chi dùng khoản tiền cấp phát từ NSNN mà không phải trải qua
việc hình thành các loại qũy trước khi đưa vào sử dụng.
Theo quy định tại khoản 2, Điều 5 của Luật Ngân sách nhà nước năm

2002, chi NSNN chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau:
- Đã có trong dự toán ngân sách được giao, trừ trường hợp quy định của
luật;
- Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền
quy định.
- Đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được ủy
quyền quyết định chi.
Chi NSNN gắn liền với vai trò và chức năng của Nhà nước nên có những
đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, chi NSNN đảm bảo hoạt động của bộ máy nhà nước, gắn liền
với những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước đảm nhiệm trong
từng thời kỳ. Nguồn NSNN là có hạn, do đó nó hạn chế phạm vi hoạt động của


Nhà nước, buộc Nhà nước phải lựa chọn phạm vi hoạt động của mình. Nhà nước
phải xác định rõ những nhiệm vụ trọng tâm, khoanh rõ phạm vi hoạt động để
xác định phạm vi chi NSNN, không được chi một cách tràn lan, phải tập trung
giải quyết những vấn đề lớn của đất nước.
Thứ hai, chi NSNN gắn liền với quyền lực nhà nước và mang tính pháp lý
cao. Cơ quan quyền lực nhà nước các cấp (Quốc hội, Chính phủ, HĐND các cấp)
là chủ thể quyết định cơ cấu, nội dung, mức độ của các khoản chi NSNN.
Thứ ba, hiệu quả của các khoản chi NSNN được xem xét trên tầm vĩ mô.
Hiệu quả chi NSNN khác với hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp, nó
phải được xem xét một cách toàn diện, là hiệu quả KT-XH, an ninh quốc phòng.
Thứ tư, các khoản chi của NSNN chủ yếu mang tính chất không hoàn trả
trực tiếp. Các khoản chi của NSNN cho các cấp, các ngành, các hoạt động văn
hóa - xã hội, xóa đói giảm nghèo, cung cấp các dịch vụ công cộng… không đòi
hỏi phải hoàn trả lại cho Nhà nước. Đặc điểm này xuất phát từ chức năng của
Nhà nước đối với sự đảm bảo phát triển KT-XH đất nước.
Thứ năm, chi NSNN là một bộ phận cấu thành và gắn chặt với sự vận

động của các luồng tiền tệ. Những sự điều chỉnh trong chi NSNN sẽ có sự tác
động mạnh mẽ đến tổng cung và tổng cầu về vốn tiền tệ và do đó sẽ tác động
đến tổng cung, tổng cầu của nền kinh tế. Đặc điểm này dẫn đến chi NSNN sẽ có
tác động đến sự vận động của các phạm trù giá trị khác như: giá cả, tiền lương,
lãi suất, tỷ giá hối đoái…
Muốn thực hiện tốt công tác quản lý chi NSNN đòi hỏi phải phân loại các
khoản chi, hay nói cách khác là làm rõ nội dung chi NSNN.
Có nhiều cách để phân loại các khoản chi NSNN, ví dụ như phân loại theo
tính chất phát sinh, theo nội dung kinh tế, theo mục đích sử dụng cuối cùng, theo
phương thức quản lý chi… Trong phạm vi của luận văn, tác giả tiếp cận cách
phân loại theo nội dung kinh tế. Theo cách phân loại này, các khoản chi NSNN
được chia thành: chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, chi trả nợ gốc và lãi
các khoản tiền do Chính phủ vay, chi viện trợ của ngân sách trung ương cho các
chính phủ và tổ chức ngoài nước, chi cho vay của ngân sách trung ương, chi trả
gốc và lãi các khoản huy động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, chi bổ sung quỹ
dự trữ tài chính, chi bổ sung ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới, chi


chuyển nguồn ngân sách từ ngân sách năm trước sang ngân sách năm sau.
Trong các khoản chi của NSNN, hai khoản chi chủ yếu, chiếm tỷ trọng
lớn là chi đầu tư phát triển, trong đó nghiên cứu cụ thể chi đầu tư xây dựng cơ
bản (XDCB) và chi thường xuyên. Trong phạm vi của luận văn, tác giả tập trung
vào nghiên cứu hoạt động quản lý hai khoản chi lớn này của NSNN.
Chi đầu tư phát triển của NSNN: là quá trình phân phối và sử dụng một
phần vốn tiền tệ từ quỹ NSNN để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KT-XH, phát
triển sản xuất và dự trữ vật tư hàng hóa của Nhà nước, nhằm thực hiện mục tiêu ổn
định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng khinh tế và phát triển xã hội.
Nội dung các khoản chi đầu tư phát triển của NSNN bao gồm: chi đầu tư
xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng KT-XH không có khả năng thu hồi vốn;
chi mua hàng hóa, vật tư dự trữ của Nhà nước; đầu tư hỗ trợ vốn cho các doanh

nghiệp nhà nước; góp vốn cổ phần liên doanh vào các doanh nghiệp cần thiết
phải có sự tham gia của Nhà nước; chi cho các chương trình, mục tiêu quốc gia,
dự án của Nhà nước.
Chi thường xuyên của NSNN: là quá trình phân phối, sử dụng vốn NSNN
để đáp ứng cho các nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ của
Nhà nước về lập pháp, hành pháp, tư pháp và một số dịch vụ công cộng khác mà
nhà nước vẫn phải cung ứng.
Các khoản chi thường xuyên bao gồm: chi thanh toán cho các cá nhân; chi
về hàng hóa, dịch vụ; chi trả lãi tiền vay và các lệ phí liên quan đến các khoản
vay; các khoản chi khác.
1.1.1.3. Khái niệm quản lý chi ngân sách nhà nước
Quản lý nói chung là sự tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản
lý nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra.
Quản lý chi NSNN là một bộ phận trong quản lý NSNN và cũng là một
bộ phận trong công tác quản lý nói chung.
Quản lý chi NSNN là sự tác động của Nhà nước vào quá trình chi NSNN
để đạt được những mục tiêu đề ra.
Quản lý chi NSNN phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau đây:
- Đảm bảo nguồn tài chính cần thiết để các cơ quan công quyền thực hiện các
nhiệm vụ được giao theo đúng đường lối, chính sách, chế độ của Nhà nước.


- Đảm bảo yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả.
- Gắn nội dung quản lý các khoản chi NSNN với nội dung quản lý các
mục tiêu của kinh tế vĩ mô.
1.1.1.4. Khái niệm quản lý chi ngân sách nhà nước huyện
NSNN cấp huyện là một cấp ngân sách hoàn chỉnh, là một bộ phận phân
cấp trong hệ thống NSNN nói chung.
Hoạt động chi NSNN cấp huyện được quản lý bằng pháp luật và theo dự
toán.

Chủ thể quản lý: cơ quan quyền lực nhà nước các cấp trên địa bàn (UBND
huyện; UBND xã, thị trấn và các đơn vị trực thuộc có liên quan)
Đối tượng quản lý: hoạt động chi NSNN mà cụ thể là các khoản chi
NSNN trên địa bàn như: các khoản chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển,…
UBND huyện dựa trên các cơ sở pháp lý như: dựa trên hiến pháp, hệ
thống luật pháp bao gồm luật chuyên biệt (Luật NSNN) và các luật có liên quan
(Luật tổ chức Quốc hội, Chính phủ, HĐND quyết định quyền của mỗi cấp chính
quyền về KT-XH, từ đó liên quan đến thẩm quyền về ngân sách; Luật đầu tư;
Luật doanh nghiệp;…). Trên các cơ sở pháp lý này, UBND huyện sẽ điều chỉnh
hoạt động chi NSNN trên địa bàn.
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm về quản lý chi NSNN cấp huyện như
sau: Quản lý chi ngân sách nhà nước cấp huyện là quá trình ủy ban nhân dân
huyện vận dụng các quy luật khách quan, dựa trên các cơ sở pháp lý, sử dụng
hệ thống các phương pháp quản lý tác động đến hoạt động chi ngân sách nhà
nước trên địa bàn nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội đã đề ra.
1.1.2. Đặc điểm của quản lý chi ngân sách nhà nƣớc cấp huyện
Thứ nhất, quản lý chi NSNN cấp huyện vừa bảo đảm hoàn thành các mục
tiêu kinh tế, vừa đảm nhiệm các mục tiêu chính trị, xã hội trên địa bàn.
Về mặt kinh tế, quản lý chi NSNN cấp huyện phải đảm bảo chi đúng theo
dự toán, chi hiệu quả, chi tiết kiệm, không lãng phí; đảm bảo hoàn thành các chỉ
tiêu phát triển kinh tế mà địa phương đã đặt ra.
Về mặt chính trị, xã hội, quản lý chi NSNN cấp huyện phải tuân thủ đúng
các thủ tục, quy trình đã được quy định để xã hội có thể giám sát hành vi của các
cơ quan và công chức nhà nước. Quản lý chi NSNN cũng tập trung đến các mục


tiêu ổn định chính trị, xã hội như chi hỗ trợ các đối tượng khó khăn, xóa đói,
giảm nghèo…
Thứ hai, quản lý chi NSNN cấp huyện là hoạt động mang tính pháp lý.
Tất cả các hoạt động trong quản lý chi NSNN cấp huyện như: Lập dự toán

chi, chấp hành dự toán chi, quyết toán chi đều phải được thực hiện tuân thủ theo
đúng các quy định của pháp luật.
Quản lý chi NSNN cấp huyện phải tuân thủ đúng các quy định về nhiệm
vụ chi của ngân sách địa phương đã được quy định tại Điều 24, Luật NSNN
năm 2002.
Trách nhiệm của các cơ quan và cá nhân trong việc quản lý chi NSNN
cũng được quy định cụ thể trong Luật NSNN năm 2002, tại Điều 52.
Thứ ba, quản lý chi NSNN cấp huyện là hoạt động vừa mang tính độc lập,
vừa mang tính phụ thuộc.
Theo Luật NSNN hiện hành, NSNN cấp huyện là một cấp ngân sách hoàn
chỉnh do đó việc quản lý chi NSNN cũng mang tính độc lập tương đối, đảm bảo
hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của huyện.
Tuy nhiên, bên cạnh tính độc lập tương đối đó, quản lý chi NSNN cấp huyện
cũng là hoạt động mang tính phụ thuộc. Quy mô và các khoản chi ngân sách trên địa
bàn huyện phụ thuộc vào việc phân cấp nhiệm vụ chi của tỉnh đối với huyện, thành,
thị (do UBND tỉnh quyết định). Các chính sách, chế độ về định mức chi cũng do
UBND tỉnh quyết định theo thẩm quyền. Trong chi ngân sách thường xảy ra tình
trạng mâu thuẫn giữa nhiệm vụ chi được giao và nguồn để trang trải nhiệm vụ chi.
Trong quá trình quản lý chi NSNN cấp huyện không được phép thay đổi tùy tiện quy
mô và định mức chi đã được quy định.
Thứ tư, quản lý chi NSNN cấp huyện là hoạt động mang tính tổng hợp.
Quản lý chi NSNN bao gồm nhiều công việc: lập dự toán, chấp hành dự
toán và quyết toán chi. Muốn đạt được hiệu quả thì đòi hỏi phải có sự phối hợp
giữa các cơ quan có liên quan như UBND, HĐND huyện; Phòng TC-KH, kho
bạc nhà nước (KBNN) huyện …
Mặt khác, các khoản chi NSNN cũng rất đa dạng và bao trùm nhiều lĩnh
vực khác nhau như: chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển,… Để quản lý tốt
đòi hỏi cán bộ quản lý phải có kiến thức, sự am hiểu về các lĩnh vực đó. Như



vậy, cán bộ quản lý chi NSNN phải có kiến thức tổng hợp và có sự phối hợp cao
trong công tác.
1.1.3. Vai trò của quản lý chi ngân sách nhà nƣớc cấp huyện
Thứ nhất, đảm bảo mục tiêu ổn định chính trị, phát triển KT-XH trên địa
bàn.
Thông qua việc quản lý có hiệu quả các khoản chi của NSNN sẽ có sự tác
động tích cực đến đời sống KT-XH, đảm bảo đạt được các mục tiêu phát triển đã
đề ra. Từ đó sẽ góp phần giữ vững ổn định chính trị, đặc biệt là giải quyết được
các vấn đề bức xúc của xã hội như: giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo,
thực hiện các chính sách an sinh xã hội, đầu tư vào các công trình công cộng,…
Thứ hai, thúc đẩy, nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản chi NSNN.
Các khoản chi NSNN nếu được quản lý một cách chặt chẽ, có khoa học sẽ
giúp nâng cao hiệu quả sử dụng, đảm bảo chi đúng, chi tiết kiệm.
Thông qua hoạt động quản lý các khoản chi NSNN sẽ tránh được tình
trạng chi dàn trải, chi cho những lĩnh vực chưa thực sự cần thiết và đặc biệt là
tình trạng thất thoát nguồn vốn ngân sách.
Thứ ba, điều tiết thu nhập dân cư, thực hiện công bằng xã hội trên địa bàn.
Thông qua công tác quản lý sẽ giúp đề xuất được những dự án chi ngân
sách nhằm hỗ trợ người nghèo, những vùng còn gặp nhiều khó khăn; giảm bớt
sự phân hóa giàu nghèo giữa các vùng, các khu vực, các tầng lớp dân cư trên địa
bàn; từ đó công bằng xã hội sẽ được cải thiện. Những người dân nghèo, những
khu vực còn gặp nhiều khó khăn sẽ có cơ hội tiếp cận với các sản phẩm, dịch vụ
công cộng như: chăm sóc sức khỏe, các dịch vụ văn hóa, giải trí… thông qua sự
hỗ trợ của các công trình, dự án được thực hiện bởi các khoản chi NSNN.
Thứ tư, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế địa phương.
Thông qua việc quản lý các khoản chi NSNN, mà đặc biệt là khoản chi
đầu tư phát triển sẽ giúp cơ quan quản lý nhà nước tạo ra được cơ cấu kinh tế
phù hợp nhằm kích thích sự tăng trưởng, phát triển của nền kinh tế địa phương,
với việc đầu tư vào các ngành kinh tế mũi nhọn, các khu du lịch, dịch vụ, các
làng nghề truyền thống, làng có nghề.

1.1.4. Nội dung quản lý chi ngân sách nhà nƣớc cấp huyện
Hoạt động chi NSNN thông thường gồm ba khâu: lập dự toán; chấp hành


dự toán; kế toán, kiểm toán và quyết toán chi. Vì vậy, quản lý chi NSNN cũng
chính là quản lý các khâu trên.
Quản lý chi NSNN cấp huyện bao gồm nhiều nội dung. Có thể tiếp cận
các nội dung này theo cách phân loại các khoản chi NSNN trên địa bàn. Trong
phạm vi của luận văn, tác giả đi sâu phân tích hai nội dung quản lý chi ngân
sách chủ yếu ở cấp huyện đó là: quản lý chi thường xuyên và quản lý chi đầu tư
XDCB.
1.1.4.1. Nội dung quản lý chi đầu tư xây dựng cơ bản
Chi đầu tư XDCB là một khoản chi lớn và chiếm tỷ trọng chủ yếu trong
tổng nguồn vốn chi đầu tư phát triển của NSNN. Chi đầu tư XDCB là các khoản
chi để đầu tư xây dựng các công trình thuộc kết cấu hạ tầng KT-XH không có
khả năng thu hồi vốn, các công trình của các doanh nghiệp nhà nước đầu tư theo
kế hoạch được duyệt, các dự án quy hoạch vùng và lãnh thổ… Chi đầu tư
XDCB có thể được thực hiện theo hình thức hình thức đầu tư xây dựng mới
hoặc theo hình thức đầu tư xây dựng mở rộng, cải tạo, nâng cấp, hiện đại hóa
các tài sản cố định và năng lực sản xuất phục vụ hiện có.
* Quản lý chi đầu tư XDCB của NSNN chịu sự chi phối, phải phù hợp với
các đặc điểm của sản phẩm đầu tư XDCB, bao gồm:
Thứ nhất, sản phẩm đầu tư XDCB là các công trình xây dựng gắn liền với
đất xây dựng công trình. Mỗi công trình có một địa điểm xây dựng và chịu sự
chi phối bởi các điều kiện của nơi đầu tư xây dựng công trình, nơi đầu tư xây
dựng công trình cũng là nơi đưa công trình vào khai thức, sử dụng. Do đó, quản
lý vốn đầu tư xây dựng công trình phải dựa vào dự toán chi phí đầu tư xây dựng
công trình đã dược xác định và phê duyệt trước khi thực hiện đầu tư xây dựng
công trình.
Thứ hai, sản phẩm đầu tư XDCB có tính đơn chiếc; mỗi hạng mục công

trình, công trình có một thiết kế và dự toán riêng tùy thuộc vào mục đích đầu tư
và điều kiện của nơi đầu tư xây dựng công trình. Vì vậy, quản lý chi đầu tư
XDCB phải gắn với từng hạng mục công trình, công trình xây dựng.
Thứ ba, sản phẩm đầu tư XDCB là các công trình thường có vốn đầu tư
lớn, được tạo ra trong một thời gian dài. Do đó, trong quản lý chi đầu tư XDCB
phải thiết lập các biện pháp quản lý và cấp phát vốn đầu tư phù hợp nhằm đảm


bảo tiền vốn được sử dụng đúng mục đích, tránh tình trạng ứ đọng và thất thoát
vốn đầu tư.
Thứ tư, đầu tư XDCB được tiến hành trong tất cả các ngành, các lĩnh vực
của nền kinh tế quốc dân, sản phẩm XDCB có nhiều loại hình và mỗi loại hình
có những đặc điểm kinh tế, kỹ thuật riêng. Quản lý chi đầu tư XDCB phải phù
hợp với đặc điểm của từng loại hình công trình.
Thứ năm, đầu tư XDCB thường được tiến hành ngoài trời nên chịu sự ảnh
hưởng của điều kiện tự nhiên và đội ngũ thi công xây dựng công trình thường
xuyên phải di chuyển theo nơi phát sinh nhu cầu đầu tư xây dựng. Quản lý chi
đầu tư XDCB phải thúc đẩy sự tổ chức hợp lý các yếu tố về nhân lực, máy móc
thi công… nhằm giảm bớt sự lãng phí, thiệt hại trong quá trình đầu tư xây dựng.
* Trong quản lý chi đầu tư XDCB cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc thứ nhất, quản lý và cấp phát vốn đầu tư XDCB phải đảm bảo
đúng đối tượng.
Các dự án thuộc đối tượng cấp phát vốn đầu tư XDCB của NSNN bao
gồm: các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng KT-XH, quốc phòng - an ninh không có
khả năng thu hồi vốn và được quản lý theo phân cấp quản lý chi NSNN cho đầu
tư phát triển; các dự án đầu tư của các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần
thiết có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật được NSNN hỗ
trợ; các dự án quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH chung của cả nước, vùng,
lãnh thổ, ngành; quy hoạch sử dụng đất đai cả nước, các vùng kinh tế và các
vùng kinh tế trọng điểm; quy hoạch xây dựng vùng; quy hoạch chung xây dựng

đô thị, nông thôn; quy hoạch chi tiết các trung tâm đô thị; các dự án khác theo
quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Nguyên tắc thứ hai, trong quản lý và cấp phát vốn đầu tư XDCB phải thực
hiện nghiêm chỉnh trình tự đầu tư và xây dựng, có đủ các tài liệu thiết kế và dự
toán được duyệt.
Tất cả các dự án đầu tư đều phải thực hiện theo đúng trình tự đầu tư và
xây dựng bao gồm 3 công đoạn: chuẩn bị đầu tư; thực hiện đầu tư và kết thúc
xây dựng, đưa dự án vào khai thác sử dụng.
Các tài liệu thiết kế và dự toán công trình xây dựng đã được duyệt là căn
cứ pháp lý trong quản lý và cấp phát vốn đầu tư XDCB. Do đó, cần phải nâng


cao chất lượng của công tác lập, thẩm định và phê duyệt thiết kế và dự toán các
công trình xây dựng. Khi có quyết định đầu tư của cấp có thẩm quyền, chủ đầu
tư phải tuân thủ đúng trình tự các công việc lập, thẩm định, trình phê duyệt tài
liệu thiết kế, dự toán công trình và gửi tài liệu, dự toán đã được phê duyệt đến cơ
quan quản lý cấp phát vốn.
Nguyên tắc thứ ba, quản lý và cấp phát vốn đầu tư XDCB phải đảm bảo
đúng mục đích, đúng kế hoạch.
Vốn đầu tư XDCB chỉ được sử dụng cho mục đích đầu tư XDCB đã được
cấp có thẩm quyền phê duyệt, không được sử dụng cho các mục đích khác.
Đồng thời, khi cấp phát vốn đầu tư XDCB phải tuân thủ đúng theo kế hoạch vốn
đã được duyệt cho từng công trình.
Nguyên tắc thứ tư, quản lý và cấp phát vốn đầu tư XDCB phải theo mức
độ khối lượng thực tế hoàn thành kế hoạch và chỉ trong phạm vi giá dự toán
được duyệt.
Khối lượng XDCB hoàn thành được cấp vốn thanh toán phải là khối
lượng đã thực hiện, đúng bản vẽ thiết kế thi công được duyệt, thực hiện đúng
trình tự đầu tư và xây dựng, có trong dự toán, có trong kế hoạch XDCB năm và
đã được nghiệm thu, bàn giao theo đúng chế độ quy định của Nhà nước. Nguyên

tắc này xuất phát từ những đặc điểm của sản phẩm XDCB: sản phẩm XDCB có
vốn đầu tư lớn, thời gian xây dựng dài do dó phải quản lý và cấp vốn theo mức
độ khối lượng thực tế hoàn thành kế hoạch; mặt khác, đây cũng là sản phẩm có
tính đơn chiếc, mỗi công trình có một thiết kế và dự toán riêng nên khi quản lý
phải dựa vào dự toán đã dược duyệt và chỉ trong phạm vi dự toán đã được duyệt.
Nguyên tắc thứ năm, quản lý và cấp phát vốn đầu tư XDCB phải thực hiện
giám đốc bằng đồng tiền.
Theo nguyên tắc này, phải kiểm tra bằng đồng tiền đối với việc sử dụng
tiền đúng mục đích, đúng kế hoạch, có hiệu quả. Giám đốc bằng đồng tiền được
thực hiện đối với mọi dự án đầu tư, trong tất cả các giai đoạn, bao gồm giám đốc
trước, trong và sau khi cấp phát vốn.
Thực hiện nguyên tắc này có tác dụng đảm bảo việc sử dụng tiết kiệm tiền
vốn, đúng mục đích, đúng kế hoạch và thúc đẩy thực hiện tốt công trình đầu tư
XDCB.


* Quản lý chi đầu tư XDCB của cấp huyện bao gồm các nội dung sau:
Nội dung thứ nhất, lập kế hoạch vốn đầu tư XDCB hàng năm.
Quy trình và thời gian lập, trình, duyệt giao kế hoạch vốn đầu tư XDCB
hàng năm các dự án đầu tư thuộc nguồn vốn NSNN được thực hiện theo quy
định của Luật NSNN.
Đối với cấp huyện: Phòng Tài chính – Kế hoạch (TC-KH) phối hợp với
các cơ quan chức năng tham mưu cho UBND huyện phương án phân bổ vốn đầu
tư XDCB cho từng dự án do huyện quản lý. Sau khi phân bổ, UBND huyện thực
hiện gửi kế hoạch vốn đầu tư cho Sở Tài chính cấp tỉnh.
Sau đó, trên cơ sở kế hoạch vốn đầu tư XDCB đã được phân bổ, đã được
các cơ quan tài chính thẩm tra, chấp thuận, Phòng TC-KH huyện có trách nhiệm
thông báo kế hoạch vốn đầu tư cho KBNN cùng cấp để làm căn cứ kiểm soát
thanh toán vốn cho các dự án, đồng thời gửi cho các ngành quản lý dự án để
theo dõi, phối hợp quản lý.

Để thuận tiện cho công tác kiểm tra, thông báo kế hoạch thanh toán vốn
đầu tư cho từng dự án, chủ đầu tư phải gửi cho cơ quan tài chính các cấp, trong
đó có Phòng TC-KH huyện các tài liệu, hồ sơ của dự án.
Định kỳ, UBND huyện rà soát tiến độ thực hiện và mục tiêu đầu tư của
các dự án trong năm để điều chỉnh kế hoạch vốn đầu tư. Phòng TC-KH huyện
rà soát để thông báo danh mục và kế hoạch vốn đầu tư điều chỉnh cho từng dự
án.
Nội dung thứ hai, cấp phát vốn đầu tư XDCB.
Cấp phát vốn đầu tư XDCB thuộc khâu thứ hai: chấp hành dự toán chi
trong hoạt động chi NSNN.
Việc cấp phát vốn đầu tư XDCB được quy định rõ tại Điều 53-Luật
NSNN 2002, trong đó:
Căn cứ vào dự toán ngân sách năm được giao, giá trị khối lượng công việc
đã thực hiện và điều kiện chi ngân sách, chủ đầu tư lập hồ sơ đề nghị thanh toán
kèm theo các tài liệu cần thiết theo quy định của pháp luật gửi cơ quan cấp phát
vốn [18, tr.73].
“Cơ quan được giao nhiệm vụ cấp phát vốn kiểm tra hồ sơ đề nghị thanh
toán của chủ đầu tư và thực hiện thanh toán khi có đủ các điều kiện theo quy

×