Tải bản đầy đủ (.doc) (86 trang)

Hoàn thiện cơ chế quản lý chi NSNN trên địa bàn huyện Thọ Xuân- tỉnh Thanh Hóa

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (378.65 KB, 86 trang )

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Việt Nam ngày càng phát triển và hội nhập sâu rộng vào kinh tế khu
vực, kinh tế thế giới. Cùng với sự phát triển và hội nhập đó là yêu cầu ngày
càng cao về trình độ, năng lực, cơ chế, công nghệ quản lý vĩ mô nền kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, việc đề cao vai trò của Nhà nước trong
quản lý vĩ mô nền kinh tế thông qua công cụ Tài chính công, đặc biệt là
NSNN - mắt khâu quan trọng nhất của Tài chính công là một trong những
nhân tố cơ bản để điều tiết sự phát triển của nền kinh tế nhằm đạt tới ổn định,
hiệu quả và công bằng.
Để NSNN nước ta thực sự trở thành công cụ quản lý hữu hiệu của Nhà
nước thì việc nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý ngân sách là tất yếu
khách quan. Trong đó nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý chi ngân sách
địa phương có ý nghĩa hết sức quan trọng bởi ngân sách địa phương là một bộ
phận hợp thành NSNN và là nội lực tài chính để phát triển kinh tế - xã hội.
Đồng thời thực tế cho thấy quản lý thu NSNN đã khó, quản lý chi NSNN lại
càng khó hơn bởi nguồn thu thì có hạn mà nhu cầu chi thì vô hạn.
Muốn nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý chi ngân sách địa phương
thì các địa phương phải tích cực, chủ động trong việc hoàn thiện cơ chế quản
lý chi NSNN của địa phương nhằm phát huy sức mạnh của chính quyền địa
phương. Nó có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao đời sống cho người
dân, thúc đẩy kinh tế - xã hội của địa phương. Đồng thời góp phần làm cho
NSNN thực sự trở thành công cụ quản lý hữu hiệu của Nhà nước nói chung
và của chính quyền địa phương nói riêng. Đó là vấn đề thiết thực góp phần
thực hiện tốt Luật NSNN và chủ trương, đường lối đổi mới cơ chế quản lý của
Đảng và Nhà nước.
1
Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó, tôi đã chọn đề tài “ Hoàn thiện cơ chế
quản lý chi NSNN trên địa bàn huyện Thọ Xuân- tỉnh Thanh Hóa” làm đề
tài luận văn thạc sỹ của mình.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài


- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về NSNN, chi NSNN, cơ
chế quản lý chi ngân sách nhà nước.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa
bàn huyện Thọ Xuân - tỉnh Thanh Hóa thời gian qua nhằm thấy rõ thành tựu
đạt được và những vấn đề còn tồn tại.
- Từ những thực trạng đó đề xuất các giải pháp chủ yếu góp phần hoàn
thiện cơ chế quản lý chi ngân sách huyện Thọ Xuân - tỉnh Thanh Hóa trong
thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là công tác quản lý chi ngân sách
trên địa bàn huyện Thọ Xuân - tỉnh Thanh Hóa, trong đó tập trung đi sâu vào
những vấn đề có liên quan tới cơ chế quản lý chi ngân sách trên địa bàn
huyện.
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn là từ năm 2010 đến năm 2012. Từ đó
luận văn đề ra các giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý chi ngân sách huyện
đến năm 2015.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận về NSNN, chi NSNN, cơ chế
quản lý chi NSNN nói chung cũng như Ngân sách huyện nói riêng. Và đánh
giá thực trạng quản lý chi ngân sách trên địa bàn huyện Thọ Xuân - tỉnh
Thanh Hóa. Luận văn đã đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý
chi ngân sách huyện Thọ Xuân - tỉnh Thanh Hóa trong thời gian tới nhằm
đảm bảo thực hiện các định hướng kinh tế xã hội của huyện.
2
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1 : Tổng quan về chi ngân sách nhà nước và cơ chế quản lý chi
ngân sách nhà nước.
Chương 2: Thực trạng quản lý chi ngân sách huyện Thọ Xuân - tỉnh

Thanh Hóa giai đoạn 2010-2012.
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý chi ngân sách
huyện Thọ Xuân-tỉnh Thanh Hóa trong thời gian tới.
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ
CƠ CHẾ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1 NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ HỆ THỐNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.1 Khái niệm ngân sách nhà nước
NSNN ra đời trên cơ sở tổ chức bộ máy Nhà nước và hệ thống pháp
luật đã hoàn thiện đến một mức độ nhất định, có sự phân lập chức năng lập
pháp và chức năng hành pháp của Nhà nước, có hệ thống luật pháp về tài
chính, dựa trên sự phát triển của kinh tế hàng hóa.
Khái niệm NSNN phải được xem xét cả biểu hiện bên ngoài và nội
dung thực chất bên trong.
Căn cứ vào biểu hiện bề ngoài thì NSNN là toàn bộ hoạt động thu, chi
của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để đảm
bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, do Nhà nước tiến hành
và gắn với việc tạo lập hoặc sử dụng quỹ NSNN. Các hoạt động thu, chi
NSNN đều được tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định do các cơ quan
có thẩm quyền ban hành.
Nội dung vật chất của NSNN là quỹ NSNN. Ở Việt Nam, quỹ NSNN
được quản lý tại KBNN.
Nội dung kinh tế xã hội của NSNN là các quan hệ lợi ích kinh tế giữa
Nhà nước với các chủ thể khác như doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân trong
và ngoài nước gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ ngân
sách. Các hoạt động tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn chặt với quyền
lực kinh tế, chính trị của Nhà nước và việc thực hiện các chức năng của Nhà
nước. Nói một cách rõ ràng hơn, quyền lực Nhà nước và các chức năng của
4

nó là những nhân tố quyết định mức thu, mức chi, nội dung và cơ cấu thu chi
NSNN.
1.1.2 Đặc điểm ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước có các đặc điểm:
- NSNN là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước. Nó cũng có
những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác. Nét khác biệt của NSNN so với các
qỹ tiền tệ khác là nó được chia thành nhiều quỹ nhỏ có tác dụng riêng, sau đó
mới được chi dùng cho những mục đích đã định;
- NSNN là khâu chủ đạo trong hệ thống các khâu tài chính vì NSNN do
Nhà nước nắm giữ, chi phối và là công cụ để Nhà nước kiểm soát và cân đối
vĩ mô. Hoạt động thu - chi của ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với quyền
lực kinh tế - chính trị của nhà nước và việc thực hiện các chức năng của nhà
nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định;
- NSNN luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước, luôn chứa đựng những lợi
ích chung, lợi ích công cộng. Hoạt động thu chi của NSNN được thực hiện
theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu.
1.1.3 Hệ thống ngân sách nhà nước
Hệ thống NSNN gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương.
Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có
HĐND và UBND, bao gồm:
- Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân
sách tỉnh), bao gồm ngân sách cấp tỉnh và ngân sách của các huyện, quận,
thành phố thuộc tỉnh;
- Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là
ngân sách huyện), bao gồm ngân sách cấp huyện và ngân sách các xã,
phường, thị trấn;
- Ngân sách các xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã).
5
Mô hình tổ chức hệ thống NSNN:
Quan hệ giữa các cấp NSNN được thực hiện thông qua cơ chế cấp bổ

sung và điều tiết nhằm đảm bảo công bằng và phát triển cân đối giữa các các
vùng, các địa phương.
1.2 CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm chi ngân sách Nhà nước
Khái niệm:
Chi NSNN là quá trình phân phối và sử dụng vốn tiền tệ từ quỹ ngân
sách nhà nước nhằm đáp ứng các nhu cầu chi phục vụ thực hiện các chức
năng và nhiệm vụ của nhà nước trong từng thời kỳ.
Phân phối vốn tiền tệ từ quỹ ngân sách là quá trình xác lập dự toán chi
ngân sách nhà nước. Sử dụng quỹ ngân sách là quá trình Kho bạc nhà nước
cấp phát kinh phí Ngân sách nhà nước để trang trải các nhu cầu chi ngân sách
nhà nước theo dự toán đã được duyệt.
Ngân sách
nhà nước
Ngân sách
trung ương
Ngân sách
địa phương
Ngân sách
cấp tỉnh
Ngân sách
huyện
Ngân sách
cấp huyện
Ngân sách
cấp xã
6
Đặc điểm chi ngân sách nhà nước:
- Chi NSNN có quy mô và mức độ rộng lớn, ở mọi địa phương, ở tất cả
các cơ quan công quyền, bao trùm mọi lĩnh vực đời sống, liên quan trực tiếp

hoặc gián tiếp đến mọi đối tượng trong xã hội. Thật vậy, chi NSNN phải
đảm bảo được hoạt động của tất cả các cơ quan công quyền ở mọi địa
phương nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Bên cạnh
đó, một trong những nội dung quan trọng của chi NSNN là cung cấp các
hàng hóa, dịch vụ công mà khu vực kinh tế tư nhân không muốn làm hoặc
không có khả năng làm được vì không đạt mục tiêu hiệu quả như mong
muốn hoặc không có khả năng thu hồi chi phí. Những hàng hóa dịch vụ công
cộng này có ở tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội như: an ninh quốc phòng,
bảo vệ trật tự an toàn xã hội, ngoại giao, phát thanh, giáo dục phổ cập, y tế
cộng đồng, vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch, nhằm phục vụ cho
mọi cá nhân trong xã hội.
- Chi NSNN đóng vai trò quan trọng trong việc phân phối thu nhập
thông qua các chương trình hỗ trợ công cộng và bảo hiểm xã hội nhằm giúp
những người nghèo, người về hưu, tàn tật, thất nghiệp, ốm đau, góp phần vào
việc giảm chênh lệch giàu nghèo.
- Chi NSNN vừa mang tính chất không hoàn trả trực tiếp thông qua các
khoản chi từ thuế, lại vừa có tính chất hoàn trả trực tiếp thông qua các khoản
chi từ phí, lệ phí. Lợi ích mà các khoản chi NSNN mang lại thường ít gắn liền
với lợi ích cụ thể.
- So với các khoản chi ở các khâu tài chính khác trong nền kinh tế, các
khoản chi NSNN nói chung có tỷ trọng lớn và có ảnh hưởng đến toàn bộ các
vấn đề kinh tế, xã hội của đất nước. Vì vậy các khoản chi NSNN không đúng
mục đích, không tiết kiệm, hiệu quả, thất thoát, lãng phí kém sẽ gây tổn hại to
lớn đến quá trình phát triển kinh tế xã hội.
7
Như vậy chi NSNN là công cụ để Nhà nước điều hành nền kinh tế theo
mục đích của mình, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, giải quyết những
vấn đề xã hội phát sinh, giảm thiểu chênh lệch giàu nghèo, khắc phục khiếm
khuyết của thị trường, thực hiện công bằng xã hội. Việc quản lý các khoản chi
NSNN sao cho các khoản chi này tiết kiệm, hiệu quả, công bằng là việc

không hề dễ dàng.
1.2.2 Nội dung chi ngân sách nhà nước
Chi NSNN gắn với chủ thể là nhà nước, có phạm vi rộng lớn, liên quan
đến hầu hết mọi ngành, lĩnh vực, cá nhân, tổ chức, công dân. Tuy nhiên, tùy
theo cách phân loại người ta có thể xem xét nội dung chi NSNN theo các góc
độ sau:
Theo ngành kinh tế quốc dân, chi NSNN bao gồm:
Chi cho các ngành kinh tế như: Nông nghiệp - lâm nghiệp - thủy lợi;
thủy sản; công nghiệp khai thác mỏ; công nghiệp chế biến; xây dựng; khách
sạn nhà hàng và du lịch; giao thông vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc; tài
chính, tín dụng; khoa học và công nghệ; quản lý nhà nước và an ninh quốc
phòng; giáo dục và đào tạo; y tế và các hoạt động xã hội; hoạt động văn hóa
và thể thao…
Theo thời hạn tác động, chi NSNN bao gồm:
- Các khoản chi có thời hạn tác động ngắn: là những khoản chi có thời
hạn tác động thường dưới một năm, được thực hiện trong năm ngân sách, chủ
yếu phục vụ cho chức năng quản lý và điều hành xã hội một cách thường
xuyên của Nhà nước trong các lĩnh vực như quốc phòng, anh ninh, sự nghiệp
giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa thông tin, thể dục thể thao, khoa học công
nghệ và những khoản chi khác.
- Các khoản chi có thời hạn tác động dài: là những khoản chi có thời
hạn tác động thường trên một năm, được thực hiện trong nhiều năm ngân
8
sách, các khoản chi này thường hình thành nên những tài sản vật chất có khả
năng tạo được nguồn thu, làm tăng cơ sở vật chất như: chi cho các chương
trình mục tiêu, dự án của Nhà nước, chi các chương trình giao thông, điện lực,
bưu chính viễn thông,…
Theo tính chất phát sinh, chi NSNN bao gồm:
- Chi thường xuyên: là những khoản chi đảm bảo hoạt động bình
thường cho các đối tượng chi và mức chi tương đối ổn định trong thời gian

dài. Hầu hết các khoản chi này phát sinh đều đặn, lặp đi lặp lại giữa các
khoảng thời gian trong một năm và giữa các năm, mức chi cho các đối tượng
này chủ yếu dựa trên chế độ, định mức chi do cấp có thẩm quyền ban hành,
mang tính chất thanh toán trực tiếp và không để lại hình thái vật chất, đồng
nghĩa với tiêu dùng trực tiếp.
Thuộc nhóm này gồm chi cho các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào
tạo, dạy nghề, y tế, xã hội, văn hóa, thể dục thể thao, khoa học công nghệ, các
hoạt động sự nghiệp y tế như duy tu bão dưỡng đường giao thông, công trình
thủy lợi, công tác khuyến nông, khuyến lâm, đo đạc, môi trường; hoạt động
của bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể, các tổ chức chính trị, xã hội, nghề
nghiệp; các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; chi thường xuyên trong các
chương trình dự án; trợ giá; trợ cấp cho các đối tượng chính sách, hưu trí,…
- Chi không thường xuyên: là các khoản chi không được lặp lại đều đặn
mà chỉ phát sinh một lần hoặc một số lần, mức chi cũng không ổn định, chủ
yếu phụ thuộc theo tính chất và quy mô công việc cụ thể.
Thuộc nhóm chi này gồm chi đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng
kinh tế xã hội không có khả năng thu hồi vốn; đầu tư hỗ trợ vốn cho các
thành phần kinh tế khác hoặc góp vốn liên doanh chi đầu tư phát triển các
chương trình, dự án; hỗ trợ các tổ chức tài chính Nhà nước, bổ sung dự trữ
9
Nhà nước, bổ sung cho ngân sách cấp dưới; chi trả nợ gốc và lãi; chi cho
vay; chi viện trợ…
Theo nội dung kinh tế, chi NSNN bao gồm:
- Chi thường xuyên
Chi thường xuyên của NSNN là quá trình phân phối, sử dụng vốn
NSNN để đáp ứng cho các nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm
vụ của Nhà nước về lập pháp, hành pháp, tư pháp và một số dịch vụ công
cộng khác mà Nhà nước vẫn phải cung ứng.
Theo từng lĩnh vực chi, chi thường xuyên của NSNN bao gồm các lĩnh
vực chi

+ Chi cho các hoạt động thuộc lĩnh vực văn - xã
Hoạt động sự nghiệp văn - xã thuộc phạm vi chi thường xuyên của
NSNN bao gồm nhiều loại hình đơn vị tham gia vào các lĩnh vực này như:
các đơn vị sợ nghiệp Giáo dục - Đào tạo, sự nghiệp Y tế, Sự nghiệp văn hóa -
thể dục - thể thao, sự nghiệp phát thanh - truyền hình…khi các đơn vị đó do
Nhà nước thành lập và giao nhiệm vụ cho nó hoạt động. Tuy nhiên mức cấp
kinh phí cho các đơn vị là bao nhiêu lại tùy thuộc vào nhiệm vụ mà mỗi đơn
vị phải đảm nhận và cơ chế quản lý tài chính mà Nhà nước cho phép mỗi đơn
vị thuộc hoạt động sự nghiệp văn -xã được phép áp dụng và hiện đang có
hiệu lực thi hành.
+ Chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế của Nhà nước
Việc lập các đơn vị sự nghiệp kinh tế để phục vụ cho hoạt động của
mối ngành và hoạt động của nền kinh tế quốc dân là hết sức cần thiết. Trong
điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay hầu như ngành nào cũng có một số đơn
vị sự nghiệp kinh tế do ngành đó quản lý. Tuy nhiên, kết quả do các hoạt
động của các đơn vị sự nghiệp kinh tế này tạo không nhất thiết chỉ mang lại
lợi ích riêng cho một ngành đó, mà nhiều khi lại mang lại lợi ích cho toàn bộ
10
nền kinh tế quốc dân. Ví dụ, các đơn vị sự nghiệp giao thông do ngành giao
thông quản lý, nhưng kết quả hoạt động của sự nghiệp giao thông được thông
suốt, an toàn lại là lợi ích chung cho rất nhiều ngành được hưởng. Những ví
dụ tương tự như trên có thể cho thấy rõ các hoạt động sự nghiệp của các
ngành khác như: Sự nghiệp nông nghiệp, ngư nghiệp, thủy lợi, lâm nghiệp; sự
nghiệp khí tượng, thủy văn; sự nghiệp đo - vẽ bản đổ; sự nghiệp định canh,
định cư và kinh tế mới v.v.
Một bộ phận kinh phí để đáp ứng cho nhu cầu của đa số các đơn vị sự
nghiệp kinh tế được hình thành thông qua số chi thường xuyên của NSNN và
các đơn vị được cấp phát từ nguồn vốn của NSNN tại Kho bạc nhà nước. Bên
cạnh đó một bộ phận nguồn kinh phí do các đơn vị tự thu, được phép giữ lại
để dùng vào quản lý qua NSNN như: các khoản phí, lệ phí, các khoản thu sự

nghiệp khác. Về thực chất những khoản này vẫn phải tính vào cơ cấu chi
thường xuyên của NSNN và được xử lý qua các nghiệp vụ ghi thu - ghi chi
của NSNN tại Kho bạc nhà nước.
+ Chi cho các hoạt động quản lý nhà nước
Khoản chi này phát sinh hầu hết ở các ngành trong nền kinh tế quốc dân.
Bởi với chức năng quản lý toàn diện mọi hoạt động kinh tế - xã hội nên bộ
máy quản lý nhà nước được thiết lập từ Trung ương tới địa phương và có ở
mọi ngành kinh tế quốc dân. Cụ thể:
Để thực hiện quyền lập pháp, bộ máy quản lý nhà nước được thiết lập ở
cấp trung ương có Quốc hội, cấp địa phương có Hội đồng nhân dân các cấp.
Để thực hiện quyền hành pháp, bộ máy quản lý nhà nước cấp trung
ương có Chính phủ, Bộ, ngành giúp nhà nước thực hiện chức năng quản lý
nhà nước về từng ngành, lĩnh vực cụ thế. Ví dụ, giúp Chính phủ quản lý nhà
nước về lĩnh vực Giáo dục - Đào tạo trên cả nước thì có Bộ Giáo dục - Đào
tạo, giúp Chính phủ quản lý nhà nước về Y tế có Bộ Y tế… Bộ máy quản lý
11
nhà nước được thiết lập ở cấp địa phương có Ủy ban nhân dân mỗi cấp thực
hiện chức năng quản lý nhà nước về từng ngành, từng lĩnh vực cụ thế, như Sở
Văn hóa - Thông tin giúp Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý nhà nước về hoạt
động văn hóa - thông tin trên địa bàn tỉnh. Sở nông nghiệp phát triển nông
thôn giúp UBND quản lý nhà nước về hoạt động sản xuất Nông nghiệp, Lâm
nghiệp, Thủy lợi và diện tích đất đai sử dụng cho mục đích này.
Bộ máy quản lý nhà nước về tư pháp thực hiện thông qua cơ cấu tổ chức
của 02 cơ quan: Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân. Hai cơ quan này
được tổ chức dọc từ TW tới địa phương.
Tất cả các cơ quan quản lý trên, muốn tồn tại và hoạt động để thực hiện
các chức năng nhiệm vụ của nhà nước thì về cơ bản phải trông cậy vào sự cấp
phát của nguồn kinh phí của NSNN đảm bảo.
+ Chi cho các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội và các tổ chức khác được
cấp phát từ nguồn NSNN

Được xếp vào các tổ chức này bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, các tổ
chức chính trị đoàn thể - xã hội như: Đoàn thanh niên cộng sản HCM, Mặt
trận tổ quốc, Hội cựu chiến binh, Hội nông dân tập thể, Hội Liên hiệp phụ nữ

Có thể đây là nét đặc thù trong cơ cấu chi thường xuyên của NSNN ở nhà
nước ta vì các tổ chức chính trị - xã hội coi như là cánh tay nối dài để tổ chức
các hoạt động mà Đảng và nhà nước giao cho các tổ chức đó.
+ Chi cho quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội.
Phần lớn số chi NSNN cho an ninh quốc phòng được tính vào cơ cấu chi
thường xuyên của NSNN (trừ chi đầu tư XDCB cho các công trình an ninh
quốc phòng). Sở dĩ sắp xếp như vậy là do nhu cầu chi cho an ninh quốc phòng
được coi là tất yếu và phải được quan tâm khi còn tồn tại giai cấp, tồn tại nhà
nước ở mỗi quốc gia riêng biệt. Như vậy số chi cho binh sĩ, cho sĩ quan, vũ
12
khí và khí tài riêng biệt của lực lượng vũ trang đều được tính vào chi thường
xuyên của NSNN hàng năm.
+ Chi khác
Ngoài các khoản chi lớn được sắp xếp vào năm lĩnh vực trên, còn có một
số khoản chi khác cũng được sắp xếp và các khoản chi thường xuyên như: chi
trợ giá theo chính sách của nhà nước, chi hỗ trợ cho quỹ BHXH, chi thường
xuyên thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án Nhà nước …. Nếu xếp
riêng từng khoản chi này thì nó không phát sinh đều đặn và liên tục trong các
tháng của ngân sách, nhưng lại được coi là những giao dịch thường niên tất
yếu của Chính phủ .
Theo nội dung kinh tế chi thường xuyên của NSNN bao gồm:
+ Các khoản chi cho con người thuộc khu vực hành chính - sự nghiệp,
như: Tiền lương, tiền công, phụ cấp, phúc lợi tập thể, tiền thưởng, các khoản
đóng góp theo tiền lương và các khoản thanh toán khác cho cá nhân, học bổng
cho sinh viên và học sinh theo chế độ Nhà nước quy định;
+ Các khoản chi về nghiệp vụ chuyên môn như: các chi phí về nguyên

liệu, vật liệu; chi phí về năng lượng, nhiên liệu; chi phí cho nghiên cứu, hội
thảo khoa học; chi phí thuê mướn chuyên gia, giáo viên để tư vấn hay đào tạo
cho đội ngũ nghiên cứu; chi phí để tiến hành khảo sát, tham quan học tập
những điển hình tiên tiến …;
+ Các khoản chi mua sắm, sữa chữa như: Chi mua sắm thêm tài sản;
Chi sữa chữa thường xuyên và sữa chữa lớn tài sản cố định;
+ Các khoản chi khác như: thanh toán dịch vụ công cộng; công tác
phí; chi đoàn ra, đoàn vào thuộc các giao dịch mang tính chất đối ngoại;
chi tiếp khách…
13
Các khoản chi thường xuyên có đặc điểm:
+ Đại bộ phận các khoản chi thường xuyên mang tính ổn định khá rõ nét.
+ Xét theo cơ cấu chi NSNN ở từng niên độ và mục đích sử dụng cuối
cùng của vốn cấp phát thì đại bộ phận các khoản chi của NSNN có hiệu lực
tác động trong khoảng thời gian ngắn và mang tính chất tiêu dùng xã hội.
+ Phạm vi, mức độ chi thường xuyên của NSNN gắn chặt với cơ cấu tổ
chức của bộ máy Nhà nước và sự lựa chọn của Nhà nước trong việc cung ứng
các hàng hóa công cộng.
- Chi đầu tư phát triển:
Chi đầu tư phát triển quá trình phân phối và sử dụng một phần vốn tiền
tệ từ quỹ NSNN để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển
sản xuất và dự trữ vật tư hàng hóa của Nhà nước nhằm thực hiện mục tiêu ổn
định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.
Chi đầu tư phát triển của NSNN bao gồm nhiều khoản chi với những
mục đích khác nhau, có tính chất và đặc điểm khác nhau. Căn cứ vào mục
đích các khoản chi thì các khoản chi đầu tư phát triển bao gồm:
+ Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
không có khả năng thu hồi vốn nhằm phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội của nền kinh tế quốc dân như: công trình đường bộ, đường sắt, đường
thủy, đường không; các công trình đê điều, hồ đập, kênh mương, các công

trình bưu chính viễn thông, điện lực, cấp thoat nước, phúc lợi công cộng,…;
+ Chi đầu tư hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp; góp vốn cổ phần, liên doanh
vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước;
+ Chi dự trữ nhà nước;
+ Chi cho các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án của Nhà nước,
như: chương trình 135; chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm
nghèo…
14
Đặc điểm chi đầu tư phát triển NSNN:
+ Chi đầu tư phát triển là khoản chi lớn của NSNN nhưng không có
tính ổn định.
+ Chi đầu tư phát triển là một khoản chi lớn của NSNN, có xu hướng
ngày càng tăng cả về số tuyệt đối và tỷ trọng trong tổng chi NSNN
+ Xét theo mục đích kinh tế - xã hội và thời hạn tác động thì chi đầu tư
phát triển của NSNN mang tính chất chi cho tích lũy. Nó là những khoản chi
nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất phục vụ, tăng tích lũy
tài sản.
+ Phạm vi và mức độ chi đầu tư phát triển của NSNN luôn gắn liền với
việc thực hiện mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.
Việc phân loại các khoản chi thành chi thường xuyên và chi đầu tư phát
triển là rất cần thiết trong quản lý chi NSNN. Nó cho phép so sánh, đánh giá
các khoản chi phải bỏ ra cho các họat động quản lý kinh tế - xã hội của Nhà
nước làm cơ sở để xác định được hiệu quả của các đơn vị.
- Chi cho vay hỗ trợ quỹ và tham gia góp vốn của chính phủ
- Chi trả nợ gốc các khoản vay Nhà nước
1.3 Chi ngân sách huyện
1.3.1 Khái niệm, đặc điểm chi ngân sách huyện
Khái niệm chi ngân sách huyện
Chi ngân sách huyện là quá trình phân phối và sử dụng vốn tiền tệ từ
quỹ ngân sách huyện nhằm đáp ứng các nhu cầu chi phục vụ thực hiện các

chức năng và nhiệm vụ của huyện trong từng thời kỳ.
Đặc điểm chi ngân sách huyện
Là một bộ phận của NSNN, Ngân sách huyện vừa mang những đặc
điểm chung của NSNN, vừa có những đặc điểm riêng gắn với việc thực hiện
chức năng, nhiệm vụ quản lý tài chính Nhà nước ở huyện:
15
- Là một cấp ngân sách trung gian, vừa trực thuộc ngân sách tỉnh, vừa
có ngân sách xã trực thuộc.
- Là một quỹ tiền tệ của Nhà nước, do huyện quản lý, sử dụng để duy
trì sự tồn tại của bộ máy Nhà nước và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà
nước trên địa bàn huyện;
- Nguồn thu, nhiệm vụ chi của Ngân sách huyện (Ngân sách cấp huyện
và Ngân sách xã) được phân định cụ thể và có tính chất pháp lý;
- Quan hệ lợi ích phát sinh trong quá trình thu - chi ngân sách huyện là
quan hệ lợi ích chung của một bên đại diện là chính quyền trên địa bàn huyện
với một bên là các chủ thể kinh tế khác trong xã hội.
1.3.2 Nội dung chi ngân sách huyện
Về cơ bản nội dung chi của các cấp ngân sách là giống nhau. Nhưng
việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước ở mỗi cấp ngân sách là
không hoàn toàn giống nhau do đó nội dung chi ngân sách ở mỗi cấp ngân
sách vẫn có những điểm khác biệt. Theo đó, nội dung chi ngân sách huyện
bao gồm:
- Chi đầu tư phát triển về :
+ Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không
có khả năng thu hồi vốn do huyện quản lý;
+ Phần chi đầu tư phát triển trong các chương trình quốc gia do các cơ
quan huyện thực hiện;
+Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật.
- Chi thường xuyên về :
+ Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y tế, xã hội, văn

hóa thông tin văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ,
môi trường, các sự nghiệp khác do huyện quản lý: Giáo dục phổ thông, bổ túc
văn hóa, nhà trẻ, mẫu giáo, phổ thông dân tộc nội trú và các hoạt động giáo
16
dục khác; Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, đào tạo nghề, đào tạo
ngắn hạn và các hình thức đào tạo bồi dưỡng khác; Phòng bệnh, chữa bệnh và
các hoạt động y tế khác; Các trại xã hội, cứu tế xã hội, cứu đói, phòng chống
các tệ nạn xã hội và các hoạt động xã hội khác; Bảo tồn, bảo tàng, thư viện, biểu
diễn nghệ thuật và hoạt động văn hóa khác; Phát thanh, truyền hình và các hoạt
động thông tin khác; quản lý các cơ sở thi đấu thể dục, thể thao và các hoạt
động thể dục, thể thao; Nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ; Các sự
nghiệp khác do huyện quản lý.
+ Các hoạt động sự nghiệp kinh tế do huyện quản lý: Sự nghiệp giao
thông: duy tu, bảo dưỡng và sửa chữa cầu đường và các công trình giao thông
khác; lập biển báo và các biện pháp bảo đảm an toàn giao thông trên các
tuyến đường; Sự nghiệp nông nghiệp, thủy lợi, ngư nghiệp, diêm nghiệp và
lâm nghiệp: duy tu, bảo dưỡng các tuyến đê, các công trình thủy lợi, các trạm
trại nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp; công tác khuyến lâm, khuyến nông,
khuyến ngư; chi khoanh nuôi, bảo vệ, phòng chống cháy rừng, bảo vệ nguồn
lợi thủy sản; Sự nghiệp thị chính: duy tu, bảo dưỡng hệ thống đèn chiếu sáng,
vỉa hè, hệ thống cấp thoát nước, giao thông nội thị, công viên và các sự
nghiệp thị chính khác; Đo đạc, lập bản đồ và lưu trữ hồ sơ địa chính và các
hoạt động sự nghiệp địa chính khác; Điều tra cơ bản; Các hoạt động sự nghiệp
về môi trường; Các sự nghiệp kinh tế khác.
+ Các nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội do ngân
sách huyện thực hiện theo quy định của Chính phủ;
+ Hoạt động của các cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng Cộng sản Việt
Nam ở địa bàn huyện;
+ Hoạt động của các cơ quan huyện của ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội

Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
17
+ Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ
chức xã hội - nghề nghiệp ở huyện theo quy định của pháp luật;
+ Thực hiện các chính sách xã hội đối với các đối tượng do huyện
quản lý;
+ Phần chi thường xuyên trong các chương trình quốc gia do huyện
thực hiện;
+ Trợ giá theo chính sách của Nhà nước;
+ Các khoản chi thường xuyên khác theo quy định của pháp luật.
- Chi bổ sung cho ngân sách cấp xã;
- Chi chuyển nguồn ngân sách huyện năm trước sang ngân sách huyện
năm sau .
1.4 CƠ CHẾ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH
1.4.1 Khái niệm cơ chế quản lý chi ngân sách
Về mặt pháp lý và chính thống thì không có khái niệm “cơ chế”. Theo
từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học biên soạn thì cơ chế là cách thức
mà theo đó một quá trình được thực hiện.
Chi ngân sách là quá trình khá phức tạp bao gồm hai giai đoạn kế tiếp
nhau là phân phối và sử dụng quỹ ngân sách. Chính phủ, các cấp chính quyền
địa phương đều có mong muốn làm sao các khoản chi ngân sách phải đảm
bảo tính hiệu quả, tiết kiệm. Từ đó, người ta sử dụng nhiều yếu tố như chính
sách, biện pháp khác nhau để quản lý chi ngân sách. Tập hợp tất cả các yếu tố
đó được gọi chung là cơ chế quản lý chi ngân sách.
Cơ chế quản lý chi ngân sách được hiểu là tổng hợp tất cả các cách
thức, biện pháp được áp dụng để quản lý chi ngân sách theo một quy trình
thống nhất nhằm đạt các mục tiêu chi ngân sách đã đề ra. Như vậy khi nghiên
cứu, xem xét về cơ chế quản lý chi ngân sách ta phải xem xét cả một quy trình
thống nhất từ khâu lập dự toán đến thẩm định dự toán, công bố dự toán, chấp
18

hành dự toán, kiểm tra, giám sát việc chấp hành dự toán, quyết toán ngân
sách, đánh giá hiệu quả chi ngân sách.
1.4.2 Nội dung quản lý chi ngân sách huyện
NSNN được quản lý theo năm ngân sách và chu trình ngân sách. Chu
trình ngân sách dùng để chỉ toàn bộ hoạt động của một ngân sách kể từ khi
bắt đầu hình thành cho tới khi kết thúc chuyển sang ngân sách mới. Một chu
trình ngân sách gồm ba khâu nối tiếp nhau: lập ngân sách, chấp hành ngân
sách và quyết toán ngân sách. Chu trình ngân sách thường bắt đầu từ trước
năm ngân sách và kết thúc sau năm ngân sách. Trong một năm ngân sách
đồng thời diễn ra cả ba khâu của chu trình ngân sách đó là: chấp hành ngân
sách của chu trình ngân sách hiện tại; quyết toán ngân sách của chu trình ngân
sách trước đó và lập ngân sách cho chu trình tiếp theo.
Quản lý chi ngân sách nói chung và quản lý chi ngân sách địa phương
nói riêng trong đó có quản lý chi ngân sách huyện cũng không nằm ngoài
phương thức quản lý thông qua chu trình ngân sách đó.
Theo đó cơ chế quản lý chi là một quy trình thống nhất bao gồm từ
khâu lập dự toán đến thẩm định dự toán, chấp hành dự toán, kiểm tra, giám
sát, đánh giá hiệu quả và điều chỉnh ngân sách. Cụ thể:
1.4.2.1 Lập dự toán chi ngân sách huyện
Dự toán chi ngân sách huyện là một bản tổng hợp chi ngân sách huyện.
Nó thể hiện tổng số và chi tiết các khoản chi của ngân sách huyện trong năm
tài chính đó, qua đó cơ quan chủ quản cấp huyện như UBND và HĐND thấy
được nhiệm vụ chi của cấp mình quản lý.
Yêu cầu của việc lập dự toán chi ngân sách huyện:
Lập dự toán chi là khâu đầu tiên trong chu trình quản lý ngân sách. Để
chu trình quản lý ngân sách được thực hiện hiệu quả, quá trình lập dự toán
ngân sách huyện cần đảm bảo:
19
- Dự toán chi ngân sách huyện phải tổng hợp theo từng lĩnh vực chi và
theo cơ cấu giữa chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển. Bên cạnh đó khi lập

dự toán ngân sách huyện phải đảm bảo tổng số thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn
hơn tổng số chi thường xuyên.
- Dự toán chi ngân sách huyện phải được lập theo đúng nội dung, biểu
mẫu, thời hạn và phải thể hiện đầy đủ các khoản chi theo Mục lục ngân sách
nhà nước và hướng dẫn của Bộ tài chính.
Đối với lập dự toán chi đầu tư phát triển phải căn cứ vào những dự án
đầu tư có đủ các điều kiện bố trí vốn theo quy định và quy chế quản lý vốn
đầu tư xây dựng, phù hợp với kế hoạch tài chính của thời kỳ ổn định ngân
sách và khả năng ngân sách hàng năm. Đồng thời ưu tiên bố trí đủ vốn phù
hợp với tiến độ triển khai của các chương trình, dự án đã được cấp có thẩm
quyền quyết định và đang thực hiện dở dang.
Đối với lập dự toán chi thường xuyên phải tuân theo các chính sách,
chế độ, tiêu chuẩn, định mức do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy
định. Các định mức chi lại phải đảm bảo các yêu cầu: Định mức chi phải
được xây dựng một cách khoa học từ việc phân loại đối tượng đến trình tự,
cách thức xây dựng định mức; Định mức chi phải có tính thực tiễn cao. Tức
là, nó phải phản ánh mức độ phù hợp của các định mức với nhu cầu kinh phí
cho các hoạt động; Định mức chi phải đảm bảo thống nhất đối với từng khoản
chi và với từng đối tượng thụ hưởng NSNN cùng loại hình hoặc cùng hoạt
động và định mức chi phải đảm bảo tính pháp lý cao.
- Dự toán chi ngân sách huyện phải kèm theo báo cáo thuyết minh rõ
cơ sở, căn cứ tính toán.
Căn cứ lập dự toán chi Ngân sách huyện:
Việc xây dựng dự toán chi Ngân sách huyện phải căn cứ vào:
20
- Chủ trương, đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước nói
chung và của tỉnh, huyện nói riêng.
- Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh quốc phòng
của huyện.
- Các chính sách, chế độ của NSNN hiện hành

- Quyết định phân cấp nhiệm vụ chi ngân sách địa phương của HĐND
tỉnh trong thời kỳ ổn định ngân sách ở địa phương.
- Số kiểm tra về dự toán chi Ngân sách huyện do UBND tỉnh, thành
phố thông báo.
- Kết quả phân tích tình hình thực hiện dự toán chi Ngân sách huyện
năm hiện hành và năm trước chẳng hạn: Tính phù hợp của các chính sách, chế
độ, định mức; Tính phù hợp của các hình thức cấp phát, phương thức quản lý
tài chính, về cơ cấu, xu hướng của các khoản chi…
Trình tự lập dự toán NSNN huyện phải tuân theo các bước:
Bước 1: hướng dẫn lập và thông báo số kiểm tra
Căn cứ hướng dẫn lập dự toán của Bộ tài chính, hướng dẫn và thông
báo số kiểm tra về dự toán ngân sách của UBND tỉnh cho UBND huyện,
UBND huyện hướng dẫn và thông báo số kiểm tra về dự toán ngân sách cho
các cơ quan, đơn vị trực thuộc và UBND cấp xã.
Bước 2: lập, tổng hợp và trình phê duyệt kế hoạch
Các cơ quan, đơn vị trực thuộc và các xã căn cứ hướng dẫn và số kiểm
tra tiến hành lập dự toán chi ngân sách của đơn vị mình trong phạm vi nhiệm
vụ được giao, báo cáo Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện.
Phòng Tài chính - Kế hoạch xem xét dự toán Ngân sách của các cơ
quan, đơn vị trực thuộc và các xã, sau khi thảo luận với các cơ quan, đơn
vị cùng trực thuộc, UBND các xã Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện sẽ
thực hiện tổng hợp và lập dự toán chi ngân sách huyện trình chủ tịch và
21
phó chủ tịch HĐND huyện, đồng thời gửi Sở tài chính và UBND tỉnh xem
xét phê duyệt.
Đối với lập kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản: chủ đầu tư các dự án
sử dụng vốn đầu tư phát triển căn cứ vào tiến độ mục tiêu thực hiện dự án lập
kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản của dự án gửi cơ quan quản lý cấp trên.
Chủ đầu tư các dự án sử dụng vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư căn cứ vào
nhu cầu sửa chữa, cải tạo, mở rộng, nâng cấp các cơ sở vật chất hiện có của

đơn vị lập kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản gửi cơ quan quản lý cấp trên.
Đối với lập dự toán chi thường xuyên: căn cứ vào mức độ phân cấp về
chi thường xuyên, Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện xem xét và tổng hợp dự
toán kinh phí của các cơ quan, đơn vị dự toán cấp I của ngân sách cấp huyện
để lập dự toán chi thường xuyên của ngân sách huyện; đồng thời báo cáo dự
toán chi thường xuyên của ngân sách huyện cho Sở tài chính.
Bước 3: phân bổ, thẩm tra và thông báo kế hoạch
Sau khi nhận được quyết định giao nhiệm vụ chi Ngân sách của UBND
tỉnh, phòng Tài chính - Kế hoạch huyện có nhiệm vụ giúp UBND huyện trình
HĐND huyện quyết định dự toán chi ngân sách huyện, phương án phân bổ
ngân sách.
UBND huyện có trách nhiệm báo cáo UBND tỉnh, Sở tài chính dự toán
chi ngân sách huyện và kết quả phân bổ dự toán chi ngân sách huyện được
HĐND huyện quyết định.
Căn cứ vào Nghị quyết của HĐND, UBND huyện quyết định giao
nhiệm vụ chi ngân sách cho từng cơ quan, đơn vị trực thuộc huyện; nhiệm vụ
chi và mức bổ sung ngân sách cho từng xã trong huyện.
Sau khi xã nhận được quyết định giao nhiệm vụ chi ngân sách của
UBND huyện; UBND xã trình HĐND xã quyết định dự toán chi ngân sách và
phương án phân bổ chi tiết dự toán ngân sách xã. UBND xã có trách nhiệm
22
báo cáo UBND huyện, phòng Tài chính - Kế hoạch huyện dự toán ngân sách
xã và kết quả phân bổ dự toán ngân sách đã được HĐND xã quyết định.
Đối với lập kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản: Phòng Tài chính -
Kế hoạch huyện cùng các cơ quan chức năng của huyện tham mưu cho
UBND cấp huyện phân bổ vốn đầu tư cho từng dự án do huyện quản lý. Bộ
máy quản lý tài chính ngân sách ở xã tham mưu cho UBND cấp xã lập
phương án phân bổ vốn đầu tư cho các dự án thuộc phạm vi cấp xã quản lý
được phân cấp. Việc phân bổ vốn đầu tư cho các dự án đầu tư thuộc nguồn
vốn ngân sách huyện phải tuân thủ các nguyên tắc: Đảm bảo các điều kiện

của dự án được ghi kế hoạch đầu tư hàng năm; Khớp đúng với chỉ tiêu được
giao về tổng mức đầu tư; Tuân thủ các quy định về vốn bổ sung có mục tiêu
từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương; Bố trí đủ vốn để thanh
toán cho các dự án đã đưa vào sử dụng và đã được phê duyệt quyết toán vốn
đầu tư dự án hoàn thành mà còn thiếu vốn, vốn để thanh toán chi phí kiểm
toán, thẩm tra phê quyệt quyết toán của dự án hoàn thành nhưng chưa được
thanh toán do chưa phê duyệt quyết toán; Ghi chú rõ vốn đầu tư được bố trí
vốn trong kế hoạch thực hiện đầu tư nhưng để thực hiện công tác chuẩn bị
thực hiện dự án. Đối với các dự án do cấp huyện, cấp xã quản lý thì Phòng
Tài chính - Kế hoạch huyện hoặc Bộ phận quản lý tài chính ngân sách ở xã có
trách nhiệm thông báo kế hoạch vốn đầu tư cho KBNN để làm căn cứ kiểm
soát thanh toán vốn cho các dự án, đồng gửi cho các nghành quản lý có dự án
để theo dõi và phối hợp quản lý.
Đối đầu tư xây dựng cơ bản, việc điều chỉnh kế hoạch vốn đầu tư năm
phải đảm bảo kế hoạch vốn đầu tư của dự án sau khi điều chỉnh không thấp
hơn số vốn KBNN đã thanh toán, trường hợp thừa thì số vốn thừa được điều
chỉnh cho đơn vị khác theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
23
1.4.2.2 Chấp hành chi ngân sách huyện
Chấp hành NSNN là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế,
tài chính và hành chính nhằm đảm bảo các chỉ tiêu chi trong kế hoạch NSNN
năm trở thành hiện thực.
Để thực thi Ngân sách được hiệu quả, vai trò của khâu lập dự toán là
không thể phủ nhận. Một Ngân sách dự toán tốt có thể thể thực hiện không tốt
nhưng một dự toán tồi thì không thể thực hiện tốt. Tuy nhiên điều đó không
có nghĩa thực hiện Ngân sách chỉ đơn thuần là đảm bảo tuân thủ Ngân sách
dự kiến ban đầu, mà phải thích ứng các thay đổi khách quan trong quá trình
thực hiện, đồng thời tính đến hiệu quả hoạt động.
Mục tiêu của chấp hành chi NSNN nói chung và chi ngân sách huyện
nói riêng là việc đảm bảo các chỉ tiêu ghi trong kế hoạch ngân sách năm từ

khả năng dự kiến thành hiện thực. Qua đó góp phần thực hiện các chỉ tiêu của
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, của địa phương.
Đối với công tác quản lý điều hành chi NSNN, chấp hành chi NSNN là
khâu cốt yếu có ý nghĩa quyết định với một chu trình ngân sách. Nếu khâu lập
kế hoạch tốt thì cơ bản chỉ dừng lại trên giấy tờ, nằm trong dự kiến, còn việc
dự kiến trở thành hiện thực hay không tất cả là nhờ khâu chấp hành dự toán.
Hơn nữa, chấp hành chi ngân sách có tốt thì khâu tiếp theo là quyết toán chi
NSNN mới thực hiện tốt được.
Nội dung chấp hành chi ngân sách huyện gồm: Tổ chức chi ngân sách,
kiểm tra, giám sát các hoạt động của chi ngân sách huyện
Tổ chức chi NSNN huyện:
Sau khi được HĐND phê duyệt giao dự toán ngân sách, UBND huyện
căn cứ vào đó thực hiện phân bổ và giao dự toán chi cho các cơ quan, đơn vị
trực thuộc và các xã.
24
Việc chấp hành chi thường xuyên cần phải dựa trên các căn cứ: Dựa
vào mức chi của từng chỉ tiêu (hoặc tổng mức chi nếu là kinh phí nhận khoán)
đã được duyệt trong dự toán, căn cứ này mang tính quyết định nhất trong chấp
hành dự toán chi thường xuyên nhằm đảm bảo tính luật hóa về định mức, tiêu
chuẩn; Dựa vào khả năng nguồn kinh phí có thể dành cho nhu cầu chi thường
xuyên trong mỗi kỳ báo cáo theo đúng quan điểm “lường thu mà chi”, nhất là
khi các khoản chi thường xuyên luôn bị giới hạn khả năng huy động các
khoản thu thường xuyên. Do đó cắt giảm những khoản chi không cần thiết có
ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần vào việc cân đối thu chi; Dựa vào các
chính sách, chế độ chi ngân sách hiện hành.
Mục tiêu cơ bản của việc tổ chức chấp hành dự toán chi thường xuyên
là đảm bảo phân phối, cấp phát và sử dụng nguồn vốn một cách hợp lý, tiết
kiệm, hiệu quả. Do đó, trong quá trình tổ chức chấp hành dự toán chi thường
xuyên cần đảm bảo các yêu cầu: Đảm bảo phân phối nguồn vốn một cách hợp
lý, tập trung có trọng điểm trên cơ sở dự toán chi đã xác định; Đảm bảo việc

cấp phát vốn, kinh phí một cách kịp thời, chặt chẽ tránh mọi sơ hở gây lãng
phí, tham ô làm thất thoát nguồn vốn; Trong quá trình sử dụng các khoản vốn,
kinh phí phải hết sức tiết kiệm nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của
mỗi khoản chi đó.
Cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản nhằm để trang trải các chi phí
đầu tư xây dựng các công trình thuộc dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân
sách cấp. Cấp phát tạm ứng, thu hồi tạm ứng phải đảm bảo đúng các quy định
về đối tượng tạm ứng và mức vốn tạm ứng. Cấp phát thanh toán khối lượng
xây dựng cơ bản hoàn thành phải đảm bảo các quy định về xác định khối
lượng hoàn thành và mức vốn cấp phát thanh toán, kiểm soát và cấp phát
thanh toán khối lượng hoàn thành.
25

×