Tải bản đầy đủ (.pdf) (105 trang)

Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cấp xã ở tỉnh Hải Dương hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (931.22 KB, 105 trang )


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ




TRẦN THỊ HỒNG NHUNG





NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN
CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CẤP XÃ
Ở TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAY







LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC











HÀ NỘI - 2012

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ




TRẦN THỊ HỒNG NHUNG





NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN
CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CẤP XÃ
Ở TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAY



Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 80


LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC





Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. TRẦN VĂN PHÒNG






HÀ NỘI - 2012


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC
NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ CẤP XÃ 7
1.1. Bản chất và đặc trưng của lý luận chính trị 7
1.1.1. Lý luận chính trị và trình độ lý luận chính trị 7
1.1.2. Đặc trưng của lý luận chính trị 15
1.2. Vai trò của lý luận chính trị đối với hoạt động của đội ngũ cán
bộ cấp xã 21
1.2.1. Khái niệm đội ngũ cán bộ cấp xã 21
1.2.2. Các chức năng cơ bản của đội ngũ cán bộ cấp xã 23
1.2.3. Tầm quan trọng của lý luận chính trị đối với hoạt động của đội
ngũ cán bộ cấp xã 26
Chƣơng 2. NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ CẤP XÃ Ở TỈNH HẢI DƢƠNG HIỆN NAY - THỰC
TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA 36

2.1.
Thực trạng của việc nâng cao trình độ lý luận chính trị của cán
bộ cấp xã ở tỉnh Hải Dương hiện nay 36

2.1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hoá - xã hội của tỉnh
Hải Dương 36
2.1.2. Thực trạng trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ cấp xã ở
tỉnh Hải Dương hiện nay 39
2.1.3. Mặt tích cực và hạn chế của việc nâng cao trình độ lý luận chính
trị của đội ngũ cán bộ cấp xã ở tỉnh Hải Dương hiện nay 49
2.1.4. Nguyên nhân của những kết quả đạt được và của những yếu
kém, tồn tại của việc nâng cao trình độ lý luận chính trị 55


2.2. Một số vấn đề đặt ra đối với việc nâng cao trình độ lý luận
chính trị đối với đội ngũ cán bộ cấp xã ở tỉnh Hải Dương hiện
nay 58
2.2.1. Nội dung chương trình còn dàn trải, trùng lặp 58
2.2.2. Một số giảng viên, giáo viên kiêm chức còn yếu về chất lượng 61
2.2.3. Sự thiếu thốn về điều kiện vật chất phục vụ cho quá trình học
tập nâng cao trình độ lý luận chính trị 65
2.2.4. Một số cán bộ cấp xã tỉnh Hải Dương còn thiếu ý chí vươn lên
trong quá trình học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị 67
Chƣơng 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ
LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CẤP XÃ Ở TỈNH HẢI
DƢƠNG HIỆN NAY 72
3.1.
Đổi mới nội dung chương trình, giáo trình và phương pháp
giảng dạy cho phù hợp với trình độ cán bộ và điều kiện thực tế
của địa phương 72

3.2.
Từng bước xây dựng đội ngũ giáo viên làm công tác lý luận có
phẩm chất chính trị đủ về số lượng, giỏi về chuyên môn 79
3.3.
Gắn chặt việc nâng cao trình độ lý luận chính trị với việc tăng
cường tổng kết thực tiễn 86
3.4.
Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách tạo
điều kiện, động lực khuyến khích cán bộ cấp xã tự giác học tập
nâng cao trình độ lý luận chính trị 89
KẾT LUẬN 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96




DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ


Biểu đồ 2.1: Kết cấu độ tuổi của đội ngũ cán bộ cấp xã tỉnh Hải Dương 43
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu giới tính của cán bộ cấp xã tỉnh Hải Dương 44
Biểu đồ 2.3: Trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ cấp xã
tỉnh Hải Dương 46




1
MỞ ĐẦU


1. Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua hơn 25 năm, đổi mới toàn diện đất nước do Đảng ta khởi
xướng và lãnh đạo, nhân dân đồng tình hưởng ứng, đã đạt được những thành
tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Những thành tựu đó chứng tỏ đường lối đổi
mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của
nước ta phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Thế giới hiện nay biến động nhanh chóng và chứa đựng nhiều yếu tố
khó lường trong điều kiện kinh tế tri thức, trong cơn lốc toàn cầu hoá, như
vậy thì thực tiễn sẽ biến động nhanh hơn rất nhiều so với tư duy lý luận.
Trước tình hình đó đòi hỏi Đảng, Nhà nước và tất cả mọi đảng viên, cán bộ,
đặc biệt là cán bộ cấp xã phải đổi mới tư duy, nâng cao trình độ lý luận chính
trị của mình lên một tầm cao mới.
Đội ngũ cán bộ cấp xã có vai trò đặc biệt quan trọng trong các tổ chức
Đảng, nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội ở cấp cơ sở. Họ là những
người bám dân, sống với dân nên chính họ là cầu nối giữa Đảng với nhân dân.
Họ vừa là người lãnh đạo, vừa là người trực tiếp triển khai, tổ chức thực hiện,
kiểm nghiệm tính đúng đắn, khả thi các chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách pháp luật của Nhà nước. Vì vậy đội ngũ này phải là những người
có lập trường giai cấp và lý luận chính trị kiên định, có phẩm chất đạo đức và
năng lực công tác, nhất là họ phải có trình độ lý luận chính trị vững vàng
nhằm đáp ứng yêu cầu của cách mạng trong thời kỳ mới.
Là một nhà hoạt động chính trị chuyên nghiệp, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã thấy rất rõ vai trò của người cán bộ trong sự nghiệp cách mạng. Người
thường cho rằng, cán bộ là cái gốc của mọi công việc; muốn việc thành công
hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Người cán bộ, trong quá trình hoạt


2
động, ít nhiều đều phải trải qua quá trình đào tạo, bồi dưỡng với nhiều hình
thức khác nhau và huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng. Từ quan

điểm đó của Người, việc nâng cao trình độ lý luận chính trị và trình độ
chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ cấp xã là việc làm cấp bách và
trọng tâm hiện nay.
Hải Dương là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng. Trong sự nghiệp
xây dựng đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là từ khi có Nghị quyết
Hội nghị lần thứ Năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về đổi mới
và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn
(Tháng 03 năm 2002) và thực hiện đề án “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ và công tác cán bộ nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cách
mạng mới” (2010) của Tỉnh uỷ, thì trình độ chuyên môn, trình độ lý luận
chính trị của đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ cấp xã nói riêng ở tỉnh Hải
Dương ngày càng phát triển. Họ luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, có
phẩm chất đạo đức trong sáng, kiên định lập trường, mục tiêu, lý tưởng xã hội
chủ nghĩa, quyết tâm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng.
Tuy nhiên, đa số đội ngũ cán bộ cấp xã tỉnh Hải Dương trưởng thành từ
thực tế, thiếu vốn kiến thức chuyên môn, kiến thức lý luận chính trị nên trong
nhận thức và chỉ đạo thực tiễn họ thường mắc phải bệnh kinh nghiệm, giáo
điều, năng lực lãnh đạo và quản lý còn yếu, xử lý công việc một cách máy
móc, kém hiệu quả. Chính điều này đã ảnh hưởng đến hoạt động của các tổ
chức ở địa phương.
Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp nông thôn thì đội ngũ cán bộ cấp xã phải không ngừng rèn luyện nâng
cao trình độ lý luận chính trị. Có như vậy mới nắm bắt được quy luật phát
triển của thời đại, mới vận dụng một cách đúng đắn chủ trương, đường lối,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước tại địa phương mình phụ trách.


3
Với ý nghĩa như vậy chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Nâng cao trình
độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cấp xã ở tỉnh Hải Dương hiện nay”

là luận văn thạc sĩ Triết học mong muốn góp một phần nhỏ vào sự nghiệp bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ cấp xã ở tỉnh Hải Dương hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Từ Đại hội Đảng VI đến nay, Đảng ta đã đưa ra nhiều chủ trương,
chính sách và những quy định về trình độ lý luận chính trị đối với đội ngũ cán
bộ lãnh đạo, quản lý các cấp góp phần quan trọng vào việc nâng cao trình độ
lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên.
Trong những năm gần đây, khi nghiên cứu về vấn đề lý luận, chính trị
nói chung và vấn đề nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ
trong đó có cán bộ lãnh đạo cấp xã nói riêng cũng đã có nhiều bài viết liên
quan đăng tải trên các sách, báo, tạp chí của nhiều tác giả như; “Năng lực tư
duy lý luận trong quá trình đổi mới tư duy” của Nguyễn Ngọc Long, Tạp chí
Cộng sản số 10/1987; “Mấy vấn đề trong công tác lý luận” của Đỗ Nguyên
Phương, Tạp chí Tư tưởng Văn hoá, số 7/1992; “Một số vấn đề về mối quan
hệ giữa lý luận và chính trị” của Nguyễn Thế Phấn, Tạp chí Cộng sản số
8/1992; “Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay” của Nguyễn Đức
Bình, Tạp chí Cộng sản, số 6/1992; “Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và
thực tiễn với việc nâng cao năng lực tư duy lý luận cho giảng viên Mác-Lênin
ở các trường chính trị tỉnh” của Nguyễn Đình Trãi, Tạp chí Triết học,
số1/1993; “Phấn đấu vươn lên ngang tầm những nhiệm vụ công tác tư tưởng
trong thời kỳ mới” của Nguyễn Đức Bình, Tạp chí Cộng sản, số 10/1996;
“Góp phần bàn thêm về khái niệm chính trị” của Hồ Tấn Sáng, Tạp chí Sinh
hoạt Lý luận, số 5/1995; “Đào tạo, bồi dưỡng, phục vụ công tác quy hoạch
cán bộ” của Tô Huy Rứa, Tạp chí Cộng sản, số 21/1998; “ Tạo chuyển biến
mới trong việc học tập lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên” của Nguyễn
Phú Trọng, Tạp chí Cộng sản, số 11/1999; “Tư duy lý luận đối với người cán
bộ lãnh đạo chỉ đạo thực tiễn” của Trần Thành, Tạp chí Lý luận Chính trị , số


4

2/2001; “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý cấp xã trong thời kỳ
mới” của Ngô Kim Ngân, Tạp chí Giáo dục Lý luận, Số 7/2001, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Bên cạnh đó đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, các luận án,
luận văn, xoay xung quanh vấn đề này như: “Vai trò của lý luận đối với quá
trình đổi mới xã hội ở nước ta hiện nay” của Phạm Đình Đạt, Luận văn thạc
sĩ Triết học năm 1993; “Nâng cao trình độ lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh cho cán bộ đảng viên trong công cuộc đổi mới hiện nay” của
Hoàng Thị Xuân Thanh, Luận văn thạc sĩ Triết học năm 1998; “Nâng cao
năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện ở
nước ta hiện nay” của Vũ Đình Chuyên, Luận văn thạc sĩ Triết học năm
2000; “Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản
lý cấp huyện ở tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn hiện nay” của Nông Văn Tiềm,
Luận văn thạc sĩ Triết học năm 2001; “Nâng cao trình độ lý luận chính trị
cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã tỉnh Hà Giang hiện nay” của Cao Thị
Hà, Luận văn thạc sĩ Triết học năm 2009…
Đối với tỉnh Hải Dương hiện nay đã cũng đang đặt ra yêu cầu phải
nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cấp xã. Vấn đề này chỉ
được đề cập trong một chừng mực nhất định như: Báo cáo tổng kết 10 năm
thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước năm 2008 của Tỉnh ủy tỉnh
Hải Dương. Báo cáo tổng kết công tác tuyên giáo năm 2011 và phương
hướng 2012 của Tỉnh ủy tỉnh Hải Dương hay Báo cáo công tác bồi dưỡng cán
bộ năm 2011 và phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch năm 2012 của Trường
Chính trị tỉnh Hải Dương. Tuy nhiên, trong khuôn khổ những báo cáo thường
niên, những bài nghiên cứu về việc nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội
ngũ cán bộ cấp xã ở tỉnh Hải Dương chưa được nghiên cứu một cách hệ thống
và chuyên sâu. Vì vậy việc nghiên cứu đề tài của tác giả mang tính cần thiết.



5
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Trên cơ sở làm sáng tỏ thực trạng trình độ lý luận chính trị của đội ngũ
cán bộ cấp xã ở tỉnh Hải Dương hiện nay, từ đó tác giả đề xuất một số giải
pháp chủ yếu nhằm nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ này.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Phân tích làm rõ bản chất của lý luận chính trị, trình độ lý luận chính
trị và vai trò của nó đối với hoạt động lãnh đạo cấp xã.
- Đánh giá đúng thực trạng của việc nâng cao trình độ lý luận chính trị
của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở ở tỉnh Hải Dương hiện nay, nêu ra được những
mặt tích cực và những mặt hạn chế, nguyên nhân của nó.
- Đề ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao trình độ lý luận chính
trị cho đội ngũ cán bộ cấp xã ở tỉnh Hải Dương trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tƣợng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu việc nâng cao trình độ lý luận chính trị
cho đội ngũ cán bộ cấp xã ở tỉnh Hải Dương hiện nay.
4.2. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu của luận văn
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung làm rõ vai trò của việc nâng cao
trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cấp xã ở tỉnh Hải Dương hiện nay.
- Giới hạn nghiên cứu: Luận văn khảo sát số liệu và phân tích trong
giới hạn từ 2006 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận của luận văn
Luận văn được thực hiện trên cơ sở của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước ta về
đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị và vai trò của trình độ lý luận chính trị đối
với hoạt động của cán bộ cấp xã ở tỉnh Hải Dương hiện nay.



6
5.2. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử đồng thời kết hợp với các phương
pháp khác như: phương pháp lôgíc kết hợp với phương pháp lịch sử, phương
pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê
6. Cái mới và những đóng góp về mặt khoa học của luận văn
6.1. Cái mới của luận văn
Về lý luận: Luận văn góp phần làm sáng tỏ vai trò của việc nâng cao
trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cấp xã nói chung và đội ngũ cán
bộ cấp xã nói riêng ở tỉnh Hải Dương hiện nay
Về thực tiễn: Bằng các phương pháp điều tra, thống kê, phân tích
Luận văn đã đánh giá đúng thực trạng về trình độ và năng lực của đội ngũ cán
bộ cấp xã ở tỉnh Hải Dương hiện nay. Từ đó, đề xuất một số giải pháp chủ
yếu nhằm nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ này.
6.2. Những đóng góp về mặt khoa học của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong
việc đổi mới phương pháp giảng dạy, nội dung, chương trình, giáo trình lý
luận chính trị ở các Trường Chính trị. Đồng thời góp phần vào vào việc thực
hiện đề án “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ nhằm
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới” ở tỉnh Hải Dương
hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn
được chia thành 3 chương, 8 tiết:
Chương 1: Lý luận chính trị và tầm quan trọng của việc nâng cao trình
độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cấp xã.
Chương 2: Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cấp
xã ở tỉnh Hải Dương hiện nay - thực trạng và vấn đề đặt ra.

Chương 3: Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao trình độ lý luận
chính trị cho đội ngũ cán bộ cấp xã ở tỉnh Hải Dương hiện nay.


7
Chƣơng 1
LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VÀ TẦM QUAN TRỌNG
CỦA VIỆC NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CẤP XÃ

1.1. Bản chất và đặc trƣng của lý luận chính trị
1.1.1. Lý luận chính trị và trình độ lý luận chính trị
Lịch sử loài người đã và đang trải qua năm hình thái kinh tế - xã hội,
tương ứng với nó là các thời đại lớn và các chế độ xã hội khác nhau. Trong xã
hội có sự phân hoá giai cấp thì việc giữ chính quyền và giành chính quyền có
vai trò đặc biệt quan trọng, nó quy định sự tồn tại của chính chế độ xã hội đó.
Các giai cấp thống trị không ngừng xây dựng, phát triển trình độ lý luận nhằm
bảo vệ địa vị, quyền lợi cho giai cấp và chính dảng của mình. Vậy lý luận
chính trị và trình độ lý luận chính trị là gì? Nó có vai trò như thế nào đối với
giai cấp thống trị? Để hiểu rõ chúng ta cùng đi nghiên cứu các khái niệm có
liên quan.
Theo Từ điển Tiếng Việt “Lý luận là hệ thống những tư tưởng được
khái quát từ những kinh nghiệm thực tiễn, có tác dụng chỉ đạo thực tiễn. Lý
luận là những kiến thức được khái quát và hệ thống hoá trong lĩnh vực nào
đó” [50, tr.544-545].
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người rất quan tâm đến vấn đề lý luận, theo
Người “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp
những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử” [43,
tr.497].
Theo triết học Mác-Lênin thì cho rằng lý luận là một hệ thống các tri

thức được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn phản ánh những mối quan hệ
bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong thế giới


8
khách quan và được biểu đạt bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù, nguyên
lý, quy luật Ngày nay lý luận được hiểu là “Hệ thống các quan điểm, tư
tưởng được khái quát từ thực tiễn, từ thế giới khách quan” [47, tr.54].
Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau về lý luận nhưng đều khẳng
định lý luận được hình thành từ thực tiễn, là sự tổng hợp các tri thức về tự
nhiên, xã hội của con người và nó có vai trò chỉ đạo hoạt động nhận thức và
hoạt động thực tiễn.
Để có thể duy trì sự tồn tại và phát triển của mình con người cần phải
khám phá tự nhiên, trinh phục tự nhiên và chính trong quá trình hoạt động
thực tiễn đó mà nhận thức của con người được hình thành và phát triển. Ban
đầu con người thu nhận những tài liệu cảm tính, trực quan sau đó tiến hành so
sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá để phản ánh bản
chất, quy luật vận động của các sự vật, hiện tượng trong thế giới từ đó xây
dựng thành các lý luận khoa học. Hoạt động thực tiễn giúp con người biến đổi
tự nhiên đồng thời biến đổi cả bản thân mình, nó giúp con người ngày càng
phát triển năng lực trí tuệ, trình độ tư duy góp phần làm phong phú và sâu sắc
hơn vào kho tàng tri thức của loài người.
Như chung ta đã biết, từ khi khoa học xuất hiện vào khoảng hai nghìn
rưỡi năm qua, trong tư duy loài người đã cùng tồn tại hai cấp độ nhận thức
các sự vật, hiện tượng với hai tầm nông sâu khác nhau đó là nhận thức kinh
nghiệm và nhận thức lý luận.
Trong đó nhận thức kinh nghiệm là trình độ thấp, còn nhận thức lý luận
là trình độ cao của nhận thức khoa học. Hai trình độ này có mối quan hệ mật
thiết với nhau, làm tiền đề, cơ sở cho nhau cùng phát triển, phản ánh ngày
càng gần đúng hơn, đầy đủ hơn và sâu sắc hơn về thế giới vật chất đang vận

động không ngừng.
Nhận thức kinh nghiệm là sự phản ánh cái hiện tượng, cái đơn nhất, cái
cụ thể, cái trực tiếp, bề ngoài của sự vật. Nó mới chỉ là một hình thức, một


9
trình độ của nhận thức, nên chưa thể nắm bắt được một cách đầy đủ, toàn diện
cái tất yếu, cái bản chất sâu sắc, cũng như mối liên hệ bên trong của sự vật,
hiện tượng. Do đó, “Sự quan sát dựa vào kinh nghiệm tự nó không bao giờ có
thể chứng minh được đầy đủ tính tất yếu” [37, tr.718]. Cho nên trong quá
trình nhận thức không nên dừng lại ở nhận thức kinh nghiệm mà cần phát
triển lên trình độ lý luận.
Nhận thức lý luận được khái quát từ nhận thức kinh nghiệm. Nó tồn tại
trong hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật, giả thuyết, lý thuyết, học
thuyết nào đó. Lý luận hình thành từ kinh nghiệm nhưng nó không xuất hiện
một cách trực tiếp, tự phát và không phải mọi lý luận đều xuất phát trực tiếp
từ kinh nghiệm. Nhận thức lý luận mang lại những hiểu biết có tính bản chất,
bên trong, vạch ra những mối liên hệ tất nhiên, và tính quy luật của đối tượng.
Như vậy, lý luận thể hiện sự phản ánh sự vật sâu sắc hơn, chính xác
hơn, hệ thống hơn. Do đó, phạm vi ứng dụng của nó cũng phổ biến, rộng hơn
nhiều so với kinh nghiệm. Nhờ có ưu điểm như vậy mà lý luận có vai trò rất
lớn trong quá trình hoạt động của con người. Nó là kim chỉ nam cho hành
động, soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn, giúp cho hoạt động của con người
trở nên chủ động, tự giác, hạn chế tình trạng mò mẫm, tự phát.
Nói tóm lại tri thức kinh nghiệm chính là cơ sở dữ liệu để hình thành tri
thức lý luận, nó giúp cho tri thức lý luận phát triển lên một trình độ mới về
chất. Từ chỗ là cái cụ thể cảm tính, đơn nhất thành cái khái quát, phổ biến và
bản chất. Tri thức kinh nghiệm càng được tích luỹ nhiều thì càng có cơ sở
vững chắc cho sự hoàn thiện tri thức lý luận, lý luận chỉ thực sự là lý luận
khoa học khi nó được khái quát từ những kinh nghiệm thực tiễn.

Từ những quan điểm về lý luận trên ta có thể hiểu lý luận theo nghĩa
chung nhất: là hệ thống những tri thức được khái quát từ những kinh nghiệm
thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, tính quy luật của


10
sự vật, hiện tượng trong thế giới hiện thức và được biểu đạt bằng hệ thống
nguyên lý, quy luật, phạm trù.
Nhờ có lý luận khoa học chỉ đạo hoạt động thực tiễn, nên con người đã
tạo ra nhiều nghành, nhiều lĩnh vực khác nhau. Mỗi một nghành, một lĩnh vực
đều có đối tượng nghiên cứu riêng như lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực văn hoá, lĩnh
vực xã hội, lĩnh vực chính trị Trong đó, lĩnh vực chính trị đóng vai trò là
một trụ cột phát triển và tồn tại của mỗi quốc gia, dân tộc. Chính trị xuất hiện
khi xã hội có sự phân chia giai cấp, nó thường là công cụ để bảo vệ địa vị và
lợi ích của giai cấp cầm quyền. Vậy chính trị là gì?
Cũng giống như khái niệm lý luận, khi nghiên cứu về khái niệm chính
trị đã có rất nhiều các quan điểm khác nhau.
Khổng Tử (551-471 TCN) là một trong những nhà tư tưởng đầu tiên có
cách tiếp cận riêng đối với vấn đề chính trị. Theo ông, chính trị là cách cai trị
của người cầm quyền, quân tử, người cầm quyền cần học tính kỷ luật, để cai
trị người dân của mình bằng chính gương của mình và nên đối xử với họ bằng
tình thương và sự quan tâm. Vì vậy “Nếu nhà cầm quyền tự mình giữ theo
chính đạo chẳng đợi ra lệnh dân cũng ăn ở trúng phép, còn như tự mình chẳng
giữ theo chính đạo, dẫu có ra lệnh buộc dân theo họ cũng không theo” [55,
tr.200-201].
Chính trị, theo tiếng Hy Lạp là “Politics” có nghĩa là những công việc
liên quan đến thành bang, những công việc của quốc gia. “Là nghệ thuật cai
trị đất nước. Trong đó điều cốt lõi nhất, quan trọng nhất, thực chất nhất là tổ
chức ra cơ quan cai trị hay là chính phủ. Sau này từ thế kỷ XVI trở đi gọi là
nhà nước” [8, tr.7].

Theo Bách khoa Triết học “Chính trị - theo nguyên nghĩa của nó, là
những công việc của Nhà nước, là phạm vi hoạt động gắn với những quan hệ
giai cấp, dân tộc và các nhóm xã hội khác nhau mà hạt nhân của nó là vấn đề
giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước” [1, tr.507].


11
Chủ nghĩa Mác-Lênin xem xét chính trị với tư cách là một hiện tượng xã
hội, mang tính lịch sử, nó có vai trò quan trọng đối với việc tồn vong, thăng
trầm của mỗi quốc gia dân tộc. Vì “ Chính trị là sự tham gia vào công việc nhà
nước, là sự vạch hướng đi cho nhà nước, là việc xác định hình thức, nhiệm vụ,
nội dung của nhà nước” [28, tr.404]. Vậy có thể nói chính trị là công cụ đắc lực
của giai cấp thống trị nhằm duy trì địa vị và lợi ích kinh tế của mình thông qua
nhà nước. V.I.Lênin khẳng định: “Chính trị là sự biểu hiện tập trung kinh tế”
[32, tr.349]. Điều đó có nghĩa là các tổ chức chính trị, các hình thức nhà nước
thay đổi và phát triển dựa trên cơ sở kinh tế, trong xã hội có giai cấp thì giai
cấp nào thống trị về mặt kinh tế thì giai cấp đó thống trị về mặt chính trị. Mặc
dù chính trị bị quy định bởi kinh tế nhưng chính trị cũng có tính độc lập tương
đối, nó tác động trở lại lĩnh vực kinh tế theo hai chiều hướng: có thể kìm hãm,
cản trở hoặc thúc đẩy sự phát triển của kinh tế. Vì lẽ đó mà V.I.Lênin cho rằng
chính trị không thể không chiếm vị trí ưu tiên so với kinh tế. Ưu tiên chính trị ở
đây là ưu tiên cho việc giành, giữ quyền lực chính trị từ đó đề ra những quyết
sách đúng, phù hợp với yêu cần khách quan để phát triển kinh tế đất nước, dẫn
dắt các giai cấp và các tầng lớp đi theo ý chí của mình, “Chính trị là vận mệnh
thực tế của hàng triệu con người” [30, tr.150].
Hiện nay còn có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về chính trị như:
chính trị là hệ thống các chính sách và sách lược hành động của các giai cấp
và các chính đảng để giành và giữ chính quyền nhằm phục vụ lợi ích của giai
cấp mình, hay chính trị là một hoạt động đó là hoạt động cai trị con người của
một tập đoàn hoặc của một cá nhân nhất định triển khai xung quanh quyền lực

nhà nước
Kế thừa các quan điểm trên có thể hiểu một cách khái quát về chính trị
như sau: chính trị là những vấn đề về điều hành bộ máy nhà nước hoặc những
hoạt động của giai cấp, chính đảng nhằm giành hoặc duy trì quyền điều hành
nhà nước.


12
Từ sự phân tích về khái niệm lý luận và chính trị có thể nêu nên khái
niệm lý luận chính trị như sau: lý luận chính trị là lý luận trong lĩnh vực chính
trị bao gồm hệ thống các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của
một chính đảng, một giai cấp nhằm giành, giữ và thực thi quyền lực nhà
nước. Và như thế thì lý luận chính trị của chủ nghĩa Mác-Lênin là lý luận của
giai cấp vô sản đại diện cho ý chí, nguyện vọng của đại đa số nhân dân lao
động với chính đảng của nó - Đảng Cộng sản.
Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam lý luận chính trị là lý luận về thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội, về xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, về vấn đề đấu tranh giai cấp, xây dựng Đảng và nhà nước
Trong đó, Đảng ta xác định nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh. Điều này được Đảng ta khẳng định rõ trong Văn kiện
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI: tư tưởng Hồ Chí Minh “cùng với chủ
nghĩa Mác-Lênin, mãi mãi là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động
của Đảng và cách mạng Việt Nam” [19, tr.6]. Chủ nghĩa Mác-Lênin là hệ
thống quan điểm và học thuyết khoa học do C.Mác, Ph.Ănggen xây dựng và
do V.I.Lênin phát triển trong giai đoạn của chủ nghĩa đế quốc. Nó ra đời vào
những năm 40 của thế kỷ XIX trên cơ sở kế thừa những giá trị tư tưởng nhân
loại và tổng kết thực tiễn của thời đại. Nó là thế giới quan, phương pháp luận
khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao
động khỏi chế độ áp bức, bóc lột tiến tới giải phóng con người nhằm xây
dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc
về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng
và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta,
kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh
hoa văn hóa nhân loại. Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai
cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội,


13
kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân,
của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nhà
nước thật sự của dân, do dân, vì dân; xây dựng đảng trong sạch, vững mạnh
Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là sợi chỉ đỏ xuyên
suốt soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến
thắng lợi khác. Đây là những thành quả mà chúng ta không thể phủ nhận
được. Nên việc học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị là nhiệm vụ của toàn
Đảng, toàn dân và toàn quân ta nhằm: “Xây dựng, phát triển, truyền bá chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm đường lối của Đảng,
hình thành hệ giá trị cách mạng khoa học trong cán bộ, đảng viên và toàn xã
hội” [21, tr.2-4].
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng công tác học tập lý luận.
Người thường Mác-Lênin nhắc nhở cán bộ: học tập, nghiên cứu lý luận Mác-
Lênin cốt nắm lấy tinh thần và phương pháp của nó để ứng xử với con người
và công việc và Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt Đảng mà
không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ
nam. Muốn vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện đặc thù của cách
mạng Việt Nam một cách đúng đắn sáng tạo đòi hỏi phải dựa trên cơ sở nắm
vững và kiên định những nguyên lý cơ bản, coi trọng, lĩnh hội phương pháp
tư duy lý luận khoa học. Để làm được điều đó, phải kiên quyết chống căn
bệnh chủ quan, giáo điều, kinh viện, vận dụng máy móc các nguyên lý. Thực

tế lịch sử cho thấy, thành bại của cách mạng phụ thuộc vào năng lực sáng tạo
lý luận. Hồ Chí Minh luôn cảnh báo khuynh hướng coi thường lý luận chính
trị, tách rời lý luận với thực tiễn. Người cho rằng thiếu lý luận, coi khinh lý
luận giống như người một mắt sáng một mắt mờ.
Trong những năm đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, chế độ xã hội
chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ đã gây ra những tổn thất nặng nề cho
các nước đi theo con đường chủ nghĩa xã hội trong đó có Việt Nam. Chính


14
điều này đã tạo điều kiện cho các thế lực thù địch tìm cách chống phá chủ
nghĩa xã hội, bôi nhọ chủ nghĩa Mác-Lênin, một số kẻ cơ hội đòi xét lại con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trước tình hình đó, Đảng ta vẫn kiên
trì chủ nghĩa Mác-Lênin, kiên trì con đường phát triển đất nước mà Đảng, Bác
Hồ và cả dân tộc đã lựa chọn. Điều đó được thể hiện rõ qua các kỳ đại hội.
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI một lần nữa Đảng ta khẳng định:
“Trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối
và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng hồ Chí Minh ” [19, tr.21], “Toàn Đảng nghiêm túc học
tập chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” [16, tr.139].
Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống mở,
nên trong quá trình học tập và nghiên cứu chúng ta không được sao chép
nguyên xi, dập khuôn máy móc, không được xem nó là vấn đề đã hoàn hảo.
Khi nói về chủ nghĩa Mác, V.I.Lênin cho rằng: “Chúng ta không hề coi lý
luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái
lại, chúng ta tin rằng, lý luận đó chỉ đặt nền tảng cho môn khoa học mà những
người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không
muốn lạc hậu đối với cuộc sống” [24, tr.232]. “Chủ nghĩa Mác-Lênin là kim
chỉ nam cho hành động chứ không phải là kinh thánh” [42, tr.247] cho nên
phải luôn luôn bổ sung, phát triển trong điều kiện mới nhằm giải quyết những

vấn đề do thực tiễn đất nước và thời đại đặt ra.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm Ban chấp hành Trung ương khóa IX
đã đề ra nhiệm vụ của việc nghiên cứu lý luận trong tình hình mới với những
nội dung sau: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; con đường
công nghiêp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta;
đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị; xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong
điều kiện mới; phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực; đặc điểm, nội
dung của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại và sự phát triển của


15
kinh tế tri thức; những tác động nhiều mặt của quá trình toàn cầu hóa; dự báo
xu thế phát triển chủ yếu của thế giới và khu vực; những vấn đề lý luận phục
vụ quốc phòng, an ninh, đối ngoại, đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn biến
hòa bình” của các thế lực thù địch” [17, tr.135].
Từ đó có thể hiểu bản chất lý luận chính trị của Đảng ta hiện nay là:
chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương,
chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Do vậy nâng cao trình độ lý
luận chính trị của Đảng ta là nâng cao lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, về quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Ngày nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của nền kinh tế thị trường,
nước ta đang đứng trước những thời cơ và thách thức lớn. Một số cán bộ đã
có biểu hiện về suy thoái đạo đức, chạy theo lối sống tiêu cực, thương mại
hóa, công việc bị đồng tiền chi phối, nạn tham ô, tham nhũng gia tăng, gây
mất niềm tin vào con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Chính điều này đòi hỏi
cán bộ lãnh đạo các cấp trong đó có cán bộ cấp xã phải tin tưởng vào sự lãnh
đạo của Đảng, phải thường xuyên trau dồi đạo đức, nhạy bén với thời cuộc,
phải nắm được những thách thức và thời cơ. Muốn như vậy, cán bộ lãnh đạo
các cấp phải thường xuyên học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, nắm

vững lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để thực hiện
những mục tiêu mà Đảng đã đề ra, sớm đưa nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội.
1.1.2. Đặc trưng của lý luận chính trị
Tính trừu tượng hóa và tính khái quát hoá
Để nghiên cứu và xây dựng hệ thống lý luận, trong quá trình nhận thức
tư duy con người phải diễn ra quá trình khái quát hoá và trừu tượng hoá. Như
chúng ta đã biết, tư duy là vấn đề cốt lõi của nhận thức, nếu không có tư duy
nhận thức của chúng ta chỉ dừng lại ở nhận thức bề ngoài, cảm tính, hình thức
mà không phản ánh được cái bản chất, quy luật bên trong của sự vật, hiện


16
tượng. Các hình thức biểu hiện của lý luận nói chung và lý luận chính trị nói
riêng như khái niệm, nguyên lý, quy luật, phạm trù đều là sản phẩm của quá
trình khái quát hoá và trừu tượng hoá. Trừu tượng hoá là một trong những
phương pháp của nhận thức. Trừu tượng hóa có thể hướng con người trong
việc tìm tòi chân lý, nắm bắt những mối liên hệ khách quan, bản chất, phát
hiện ra những quy luật tri phối sự vận động và phát triển của các sự vật, hiện
tượng. Còn khái quát hóa có vai trò quan trọng trong việc hình thành các khái
niệm, phạm trù, các nguyên lý, từ đó góp phần quan trọng trong việc xây
dựng các học thuyết khoa học.
Khái quát hóa và trừu tượng hóa là hai quá trình có mối liên hệ chặt chẽ
không tách rời nhau, xâm nhập lẫn nhau, bổ sung cho nhau. Thông qua đó con
người có được những tri thức về các mối liên hệ bản chất, có tính quy luật
trong sự vận động và phát triển của sự vật. Với đặc tính phản ánh cái chung,
cái phổ biến, cái bản chất nên nó có tính chính xác, khái quát, chặt chẽ, lôgíc
và độ tin cậy cao, nó là một hệ thống thống nhất. Mặc dù những khái niệm,
phạm trù, nguyên lý phản ánh những khía cạnh khác nhau, nội dung khác
nhau nhưng chúng luôn bổ sung, hỗ trợ, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Lý
luận Mác-Lênin chính là một môn khoa học điển hình cho sự thống nhất, chặt

chẽ và lôgíc.
Mang đặc trưng trừu tượng hóa và khái quát hóa cao nên lý luận chính
là hệ thống tri thức đem lại cho con người sự hiểu biết sâu sắc về bản chất và
quy luật của hoạt động chính trị, từ đó giúp con người không ngừng tìm tòi,
sáng tạo ra những cái mới, cái khoa học đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng
cao của thực tiễn chính trị.
Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Chủ nghĩa Mác-Lênin coi đây là nguyên tắc cơ bản và xem xét nó trong
sự thống nhất biện chứng. Thực tiễn là hoạt động vật chất còn lý luận là hoạt
động tinh thần, nên thực tiễn đóng vai trò quyết định trong quan hệ đối với lý


17
luận. V.I.Lênin viết: “Thực tiễn cao hơn nhận thức (lý luận) nó có ưu điểm
không những của tính phổ biến mà của tính hiện thực trực tiếp” [27, tr.230].
Tính phổ biến của thực tiễn đối với lý luận thể hiện ở chỗ, thực tiễn là khâu
quyết định đối với hoạt động lý luận. Một lý luận được áp dụng trong thời gian
càng dài, không gian càng rộng thì càng rõ đâu là chân lý. Ngay cả một giả
thiết khoa học muốn trở thành lý luận phải thông qua hoạt động thực nghiệm
khoa học để đánh giá, kiểm tra. Như vậy thì chỉ có thông qua hoạt động thực
tiễn thì lý luận mới có giá trị tham gia vào quá trình biến đổi hiện thực.
Lý luận và thực tiễn có mối quan hệ thống nhất biện chứng. Nên khi
nhấn mạnh vai trò của thực tiễn đối với lý luận thì cũng khẳng định sự tác động
trở lại của lý luận với thực tiễn. V.I.Lênin khẳng định: “Không có lý luận cách
mạng thì không có phong trào cách mạng” [25, tr.30]. Lý luận là “kim chỉ
nam” cho hành động thực tiễn, nó đem lại cho thực tiễn những tri thức đúng
đắn về những quy luật vận động và phát triển của thế giới khách quan.
Thấm nhuần quan điểm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh:
“Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc cơ bản của Chủ nghĩa
Mác-Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù

quáng. Lý luận mà không có liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” [43,
tr.496]. Như vậy, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn được Hồ Chí Minh hiểu
trên tinh thần biện chứng: thực tiễn cần tới lý luận soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo,
định hướng để không mắc phải bệnh kinh nghiệm, còn lý luận phải dựa trên
cơ sở thực tiễn, phản ánh thực tiễn và luôn liên hệ với thực tiễn, nếu không sẽ
mắc phải bệnh giáo điều. Nghĩa là thực tiễn, lý luận cần đến nhau, hậu thuẫn,
bổ sung nhau.
Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ, Đảng viên rằng, quán triệt tốt
nguyên tắc này thì phải ra sức học tập, nâng cao trình độ lý luận cũng như
chuyên môn nghiệp vụ. Mặt khác, phải có phương pháp học tập đúng đắn, học
phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tiễn, tránh sách vở, câu


18
chữ Còn đối với Đảng và Nhà nước trước khi đưa ra đường lối, chủ trương,
chính sách, pháp luật thì phải dựa vào cơ sở thực tiễn, vào tình hình cụ thể của
xã hội, tức là: “Lý luận phải đem ra thực hành. Thực hành nhằm vào lý luận”
[41, tr.451].
Khi còn sống Hồ Chí Minh luôn phê phán kiểu học thuộc lòng chủ
nghĩa Mác-Lênin, “Học sách vở Mác-Lênin nhưng không học tinh thần Mác-
Lênin” [44, tr.292]. Học tập chủ nghĩa Mác-Lênin là “Phải học tinh thần của
chủ nghĩa Mác-Lênin, học lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ
nghĩa Mác-Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà
giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng
ta” [43, tr.497]. Hay “Học tập chủ nghĩa Mác-Lênin là học tập cái tinh thần
xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình, là học tập những
chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào
hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm” [44, tr.292]. Điều này khẳng
định lý luận chính trị chỉ phát huy được vai trò của mình khi nó được vận
dụng vào hoạt động thực tiễn và chỉ có thông qua tổng kết thực tiễn thì lý luận

đó mới được bổ sung, phát triển.
Thực tế đã chứng minh, nhờ nắm vững tinh thần cách mạng của chủ
nghĩa Mác-Lênin và sự vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam,
nên Đảng ta mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa con thuyền cách
mạng Việt Nam vượt qua bao khó khăn, thử thách để giành được những thắng
lợi to lớn. Ngày nay, trong quá trình xây dựng đất nước, việc đẩy mạnh tổng
kết thực tiễn, học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, Đảng
viên trở thành nhiệm vụ hàng đầu trong công tác lý luận chính trị hiện nay.
Thống nhất giữa tính đảng, tính giai cấp và tính khoa học
Nói tới tính đảng, tính giai cấp là nói tới lợi ích của giai cấp còn tính
khoa học là sự phản ánh đúng quy luật khách quan. Lý luận chính trị bao hàm
trong nó sự thống nhất giữa tính đảng và tính khoa học. Lý luận chính trị của


19
giai cấp công nhân là chủ nghĩa Mác-Lênin, phản ánh đúng nhu cầu và lợi ích
của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, phù hợp với nguyện vọng của đại
đa số nhân dân lao động trên thế giới.
Thực tiễn chứng minh, việc xuyên tạc sự thật thường gắn liền với việc
xa rời thực tiễn, xa rời lập trường, quan điểm, lợi ích của giai cấp công nhân.
Mọi xem xét, đánh giá nếu trái với quan điểm, lập trường, lợi ích của giai cấp
công nhân đều không phản ánh đúng xu thế phát triển của lịch sử và như thế
sẽ không đảm bảo tính đảng, tính giai cấp và tính khoa học.
Lý luận chính trị của Đảng ta được xây dựng trên nền tảng của chủ
nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nên có vai trò to lớn trong việc
tìm tòi, sáng tạo, xây dựng các luận cứ khoa học. Từ đó đề ra những giải
pháp, phương hướng và tổ chức thực hiện thắng lợi những mục tiêu, đường
lối chính trị mà Đảng đề ra. Lý luận đó là sự tổng hợp tinh hoa trí tuệ của dân
tộc và của thời đại, là sự đúc rút kinh nghiệm thực tiễn của quá trình đấu tranh
dựng nước và giữ nước của dân tộc và là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa

Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện, hoàn cảnh mới.
Trong lý luận chính trị tính đảng, tính giai cấp và tính khoa học có mối
quan hệ biện chứng không thể tách rời, nó là điều kiện, tiền đề thúc đẩy nhau
cùng phát triển, trong đó tính đảng, tính giai cấp càng cao thì tính khoa học
càng sâu sắc. Cho nên không thể loại bỏ cái này mà coi trọng cái kia. Khẳng
định tính thống nhất đó, Ph.Ăngghen cho rằng: "Khoa học càng được tiến
hành một cách dũng cảm và kiên quyết thì nó càng phù hợp với lợi ích và
nguyện vọng của giai cấp công nhân" [38, tr.451]. Mục đích của lý luận chính trị
là thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của cách mạng, giúp con người định hướng về
nhận thức, về hành động để cải tạo thế giới. Vì vậy, tại Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VIII, Đảng ta đã khẳng định: "Phát triển và kết hợp chặt chẽ các ngành
khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên và công nghệ làm chỗ dựa
khoa học cho việc triển khai thực hiện Cương lĩnh, Hiến pháp, xác định


20
phương hướng, bước đi của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng pháp
luật, các chính sách, kế hoạch và chương trình kinh tế - xã hội" [14, tr.104].
Tính khoa học là cơ sở, tiền đề còn tính đảng là định hướng cách mạng để xóa
bỏ cái cũ, xây dựng cái mới phù hợp với quy luật chung của sự phát triển.
Tính giai cấp là bảo vệ lợi ích cho toàn thể nhân dân lao động. V.I.Lênin nói:
"Sức hấp dẫn không gì cưỡng nổi, đã lôi cuốn những người xã hội chủ nghĩa
của tất cả các nước theo lý luận đó chính là ở chỗ nó kết hợp tính khoa học
chặt chẽ và cao độ (đó là đỉnh cao nhất của khoa học xã hội), với tinh thần cách
mạng" [23, tr.421].
Tính đảng đòi hỏi việc nghiên cứu lý luận chính trị phải xuất phát từ
tình hình, đặc điểm cụ thể của đất nước, từ thực tiễn chính trị của mỗi nước,
của thế giới, đưa ra những dự báo khoa học về sự phát triển của tình hình, trên
cơ sở đó đề ra được những giải pháp khoa học đúng đắn để giải quyết, kịp
thời bổ sung những vấn đề mới làm cho chủ trương, chính sách của Đảng và

pháp luật của Nhà nước ngày càng hoàn thiện, sát với thực tiễn cuộc sống.
Ngày nay, trước yêu cầu và nhiệm vụ mới, Đảng phải luôn đổi mới và tự
chỉnh đốn, trước hết phải không ngừng nâng cao trình độ trí tuệ, tính tiên
phong về lý luận bởi "Chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn
thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong" [25, tr.32].
Để làm tròn vai trò lãnh đạo cách mạng trong giai đoạn mới hiện nay,
xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng phải
không ngừng phát triển lý luận chính trị. Lý luận chính trị đó phải thể hiện
được trí tuệ, sức mạnh của Đảng, của dân tộc và của thời đại, phải hội tụ đầy
đủ các đặc trưng, không chỉ mang tính khái quát, tính trừu tượng, tính chính
xác, chặt chẽ lôgíc mà còn phải đảm bảo sự thống nhất chặt chẽ giữa lý luận
và thực tiễn, giữa tính đảng, tính giai cấp và tính khoa học Đó chính là lý
luận chính trị mác - xít, được xây dựng trên cơ sở của chủ nghĩa Mác-Lênin

×