4
MỘT SỐ TỪ NGỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BLDS
BỘ LUẬT DÂN SỰ
BLHĐ
Bộ luật Hồng Đức
BLGL
BỘ LUẬT GIA LONG
CNH – HĐH
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CNTTLH
Công nhận thuận tình ly hôn
HN&GĐ
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
TANDTC
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI
CAO
Tp. HCM
Thành phố Hồ Chí Minh
TR
TRANG
5
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU
1
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận chung về chế định cấp dƣỡng
trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000
6
1.1. Khái niệm chung về chế định cấp dưỡng
6
1.2. Chế định cấp dưỡng trong pháp luật Việt Nam qua
các giai đoạn phát triển và sự cần thiết phải ban hành
Luật HN&GĐ năm 2000, yêu cầu sự điều chỉnh của
chế định cấp dưỡng
15
Chƣơng 2: Nội dung của chế định cấp dƣỡng theo Luật Hôn
nhân và Gia đình năm 2000
32
2.1. Các qui định chung về cấp dưỡng
34
2.2. Các trường hợp cấp dưỡng cụ thể
58
2.3. Chế tài của Chế định cấp dưỡng
75
Chƣơng 3: Thực trạng thi hành và áp dụng pháp luật về cấp
dƣỡng và một số giải pháp hoàn thiện chế định cấp
dƣỡng trong giai đoạn hiện nay
79
3.1. Thực trạng thi hành pháp luật về cấp dưỡng và những
nguyên nhân của nó
79
3.2. Một số giải pháp hoàn thiện chế định cấp dưỡng
92
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
106
6
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hoá, ở nước ta trong những năm qua
với đường lối đổi mới của Đảng cùng với sự phát triển toàn diện về mọi mặt:
Kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội…Cùng với sự điều chỉnh của pháp luật đã tác
động đến sự thay đổi trong đời sống hôn nhân và gia đình, quyền tự do dân chủ
của nhân dân ta ngày càng được ghi nhận và đảm bảo, các thành viên sống trong
gia đình có trách nhiệm với nhau hơn: Ông bà, cháu chắt thì thương yêu và tôn
trọng lẫn nhau, cha mẹ thì chăm lo cho con cái, anh chị em thì quan tâm và giúp
đỡ lẫn nhau. Song cũng do tác động từ những mặt trái của cơ chế thị trường
ngoài những truyền thống văn hóa quí giá chúng ta cũng tiếp nhận các luồng văn
hoá của nhiều nước khác nhau, và nó đã để lại cho chúng ta những hạn chế: một
số cá nhân đã lợi dụng quyền tự do dân chủ để sống vượt quá cái gọi là “tự do cá
nhân”, sống ích kỷ, vô trách nhiệm với những người thân trong gia đình. Vì vậy
số vụ ly hôn ngày càng gia tăng. Đặc biệt là các vụ án ly hôn có yếu tố nước
ngoài. Như một sự phát triển theo tỷ lệ thuận nếu số vụ án ly hôn tăng thì số trẻ
em lang thang cơ nhỡ, số người độc thân, số người tàn tật không nơi nương tựa
cũng tăng lên nhanh chóng. Những người rơi vào hoàn cảnh khó khăn rất cần sự
giúp đỡ về vật chất và tinh thần của xã hội nhưng đặc biệt và trước tiên là sự
giúp đỡ của các thành viên trong gia đình. Nhưng từ trước đến nay vấn đề cấp
dưỡng ở nước ta phần lớn được đặt ra dựa trên đạo đức truyền thống là chủ yếu.
Vì vậy mà hiệu quả của vấn đề cấp dưỡng không cao. Do đó mà những số phận
không may mắn vẫn chưa nhận được sự giúp đỡ khi những thành viên trong gia
đình là người bạc bẽo hoặc không có điều kiện để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
cho người khác, và những gánh nặng đó lại đè nặng lên vai xã hội. Chúng tôi
thiết nghĩ đã đến lúc chúng ta cần phải tạo ra một hành lang pháp lý hoàn thiện
7
và đảm bảo cho nó được thực thi trong cuộc sống, nhằm điều chỉnh các quan hệ
giữa các thành viên trong gia đình đặc biệt là quan hệ cấp dưỡng phát triển theo
chính sách của Đảng và Nhà nước đã đặt ra, không ngừng thực hiện việc quản lý
xã hội bằng pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là cấn
thiết và cấp bách đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay. Chúng ta ngày càng
phải hoàn thiện mình hơn để có thể sánh vai cùng các nước trong khu vực và thế
giới, xây dựng xã hội văn minh ở đó không có tình trạng người già và trẻ em
lang thang cơ nhỡ, mọi số phận hẩm hiu trong xã hội sẽ được gia đình và xã hội
cưu mang. Xuất pháp từ những lý do nêu trên mà chúng tôi chọn đề tài: “Chế
định cấp dưỡng trong pháp luật hôn nhân và gia đình năm 2000”. Nhằm nghiên
cứu về lý luận và thực tiễn, chỉ rõ những bất cập và vướng mắc trong quá trình
thực hiện chế độ cấp dưỡng và nêu ra những phương hướng góp phần vào công
cuộc hoàn thiện pháp luật về cấp dưỡng nói riêng và pháp luật hôn nhân gia đình
nói chung.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Luật hôn nhân và gia đình là một mảng đề tài hấp dẫn đối với các nhà
nghiên cứu luật học. Đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về hôn nhân và gia đình,
nhưng đối với đề tài cấp dưỡng thì vẫn ít người quan tâm nghiên cứu nó một cách
sâu rộng và hoàn thiện. Đã có một số đề tài có đề cập đến vấn đề cấp dưỡng
nhưng trong phạm vi hẹp như trong luận văn tốt nghiệp cử nhân luật của sinh viên
Nguyễn Thị Hồng Oanh “ Hậu quả pháp lý của ly hôn” Khoa luật Đại học quốc
gia Hà Nội, luận văn “ Chế độ tài sản của vợ chồng” của cử nhân Phí Thùy Linh,
Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội năm 1998. Đặc biệt trong thời gian này có
luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Cừ, giảng viên đại học Luật Hà Nội với đề
tài “Chế độ tài sản của vợ chồng”. Luận án thạc sĩ “ Ly hôn có yếu tố nước ngoài
tại thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Lê Hồng Quang thuộc viện nghiên cứu
nhà nước và pháp luật 1998.
8
Cho đến nay vấn đề cấp dưỡng mới chỉ qui định một cách tương
đối tập trung ở trong chương VI luật HN&GD năm 2000 và NĐ
70/2001/ NĐ CP có sửa đổi bổ sung 2004 - Luật bảo vệ và chăm sóc
trẻ em. Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng chủ yếu phục vụ cho công tác
nghiên cứu chế độ cấp dưỡng, bên cạnh đó các giáo trình luật HNGĐ của các
trường đại học: ĐH luật Hà Nội, Khoa luật trường ĐHQGHN, Khoa luật ĐH
Huế, Trường ĐH luật TP HCM, cũng có đề cập đến những vấn đề này nhưng
ở mức độ vĩ mô và đại cương. Ngoài ra còn có một số bài viết phân tích đánh
giá về vấn đề cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình trong một số tạp
chí. Trong đó phải kể đến bài: “Vấn đề cấp dưỡng trong HNGĐ năm 2002”
của tác giả Nguyễn Phương Lan - giảng viên tư pháp Trường Đại học luật Hà
Nội đăng trên tạp chí Luật học số 01/2001 trang 34-39.
Qua nghiên cứu cho thấy vấn đề cấp dưỡng là một nội dung nghiên cứu
ở nhiều góc độ, khía cạnh và mức độ khác nhau. Song chưa có một công trình
nghiên cứu nào nghiên cứu về vấn đề này một cách toàn diện và chuyên sâu.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
3.1. Mục tiêu:
Tìm ra các luận cứ khoa học và thực tiễn, so sánh với các qui định cấp
dưỡng của các nước khác trên thế giới nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực
hiện chế độ cấp dưỡng ở nước ta hiện nay. Từ đó chỉ ra một số giải pháp cho
việc hoàn thiện các qui định pháp luật về cấp dưỡng nói riêng và hệ thống
pháp luật nước ta nói chung nhằm gìn giữ và phát huy những truyền thống tốt
đẹp của dân tộc ta.
3.2. Nhiệm vụ:
- Cơ sở lý luận về chế định cấp dưỡng, nghiên cứu một cách toàn diện
lịch sử về vấn đề cấp dưỡng trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
9
- Đánh giá đúng đắn và toàn diện thực trạng của việc thực thi pháp luật
về cấp dưỡng.
- Phân tích nguyên nhân.
- Xác định yêu cầu mới đặt ra với việc xây dựng pháp luật về cấp
dưỡng trong giai đoạn hiện nay.
- Đưa ra phương hướng, giải pháp và kiến nghị để hoàn thiện pháp luật
về cấp dưỡng nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn đặt ra.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận án
Đề tài “Chế định cấp dưỡng trong luật hôn nhân và gia đình năm 2000”
vì vậy trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ luật học tác giả chỉ tập trung nghiên
cứu các qui định pháp luật về cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình.
Cơ sỡ lý luận, thực tiễn đánh giá thực trạng để từ đó nhận thức rõ yêu cầu cơ
bản và đưa ra phương hướng giải quyết, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả
của việc cấp dưỡng đồng thời hoàn thiện hơn pháp luật về cấp dưỡng trong
giai đoạn hiện nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu của luận án
- Phương pháp chính được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu luận
án là chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy biện chứng, phép biện chứng của
chủ nghĩa Mác- Lê, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật.
- Ngoài ra luận án còn sử dụng các biện pháp cụ thể: phân tích, so sánh,
thống kê, tổng hợp.
6. Ý nghĩa và điểm mới của luân án
- Luận án đã nghiên cứu và phân tích một cách toàn diện về ý nghĩa, mục
đính, các điều kiện của quan hệ cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình.
- Luận án còn đánh giá thực trạng thi hành các qui định pháp luật về
cấp dưỡng, đưa ra một số kiên nghị sửa đổi, bổ sung các qui định pháp luật về
10
cấp dưỡng từ đó góp phần củng cố mối quan hệ hôn nhân gia đình theo xu
hướng bền vững trước sự tác động của cơ chế thị trường.
7. Cơ cấu của luân án
Luận văn này gồm phần mở đầu, 3 chương và phần kết luận.
Phần mở đầu giới thiệu về tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài,
mục đích , ý nghĩa, phương pháp nghiên cứu của đề tài.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về chế định cấp dưỡng trong
luật hôn nhân gia đình năm 2000
Chương 2: Nội dung của chế định cấp dưỡng theo Luật hôn nhân và
gia đình năm 2000
Chương 3: Thực trạng thi hành và áp dụng pháp luật về cấp dưỡng và
một số giải pháp hoàn thiện chế định cấp dưỡng trong giai đoạn hiện nay.
Phần kết luận: Tóm tắt lại quá trình nghiên cứu và đưa ra một số kiến
nghị cho việc hoàn thiện chế định cấp dưỡng
11
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ ĐỊNH CẤP DƢỠNG
TRONG LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH NĂM 2000
1.1 Khái niệm chung về chế định cấp dƣỡng
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm quan hệ cấp dưỡng
Quan hệ cấp dưỡng là quan hệ gia đình trước hết dựa trên cơ sở huyết
thống, quan hệ huyết hệ tự nhiên và thông thường được thực hiện một cách tự
nguyện giữa những người có nghĩa vụ phải nuôi dưỡng nhau mà không tự
giác thực hiện hoặc vì nguyên nhân nào đó không trực tiếp nuôi dưỡng nhau
thì phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng.
Quan hệ cấp dưỡng là một quan hệ đặc trưng về hôn nhân và gia đình.
Những quan hệ này được các qui phạm pháp luật HN&GĐ điều chỉnh thì trở
thành quan hệ pháp luật.
Quan hệ cấp dưỡng là một quan hệ xã hội phát sinh giữa các cá nhân
với nhau trên cơ sở hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng được các qui phạm
pháp luật cấp dưỡng điều chỉnh. Quan hệ pháp luật cấp dưỡng bao gồm: Chủ
thể quan hệ pháp luật cấp dưỡng, quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng, khách thể của
quan hệ cấp dưỡng
Chủ thể của quan hệ cấp dưỡng bao gồm chủ thể có quyền được cấp
dưỡng và chủ thể của nghĩa vụ cấp dưỡng
Chủ thể của quyền được cấp dưỡng là cá nhân có quyền được nhận cấp
dưỡng để đảm bảo cuộc sống. Đó là trẻ chưa thành niên, người đã thành niên
12
mà không có hoặc hạn chế khả năng và không có tài sản hoặc có nhưng tài
sản đó không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của cuộc sống.
Chủ thể có nghĩa vụ cấp dưỡng là người phải chu cấp tiền hoặc hiện
vật để đáp ứng nhu cầu thiết yếu cho người khác. Trên thực tế nếu là cấp
dưỡng tự nguyện thì việc xem xét khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng hầu
như không có ý nghĩa. Chỉ trong trường hợp cấp dưỡng theo qui định của Toà
án thì vấn đề khả năng thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ cấp dưỡng
mới thực sự có ý nghĩa. Theo pháp luật Việt Nam thì một người chỉ trở thành
chủ thể của nghĩa vụ cấp dưỡng khi người đó đã thành niên và có khả năng
kinh tế để thực hiện nghĩa vụ.
Quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng là nội dung của quan hệ cấp dưỡng
Quyền cấp dưỡng là quyền chủ thể trong quan hệ cấp dưỡng mà cụ thể
là khả năng xử sự của bên có nghĩa vụ cấp dưỡng cũng như bên có quyền
được cấp dưỡng theo qui định của pháp luật về cấp dưỡng và được pháp luật
bảo vệ
Nghĩa vụ cấp dưỡng là cách xử sự bắt buộc mà pháp luật qui định đối với
người có nghĩa vụ nhằm đắp ứng nhu cầu cho người có quyền được cấp dưỡng.
Như vậy quyền được cấp dưỡng là một mặt trong nội dung của quan hệ
cấp dưỡng và nghĩa vụ cấp dưỡng là mặt thứ hai không thể thiểu trong quan
hệ cấp dưỡng. Nếu quyền được cấp dưỡng là khả năng mà pháp luật qui định
cho chủ thể hưởng thì nghĩa vụ cấp dưỡng là sự bắt buộc mà pháp luật đòi hỏi
các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật HN&GĐ phải thực hiện. Quyền
được cấp dưỡng và nghĩa vụ cấp dưỡng là hai hiện tượng pháp lý không thể
thiếu trong quan hệ cấp dưỡng. Không thể có quyền được cấp dưỡng nếu
không có nghĩa vụ cấp dưỡng để đảm bảo cho quyền cấp dưỡng được thực
hiện. Ngược lại sẽ không có nghĩa vụ cấp dưỡng nếu không có quyền được
13
cấp dưỡng cần được đáp ứng. Quyền được cấp dưỡng và nghĩa vụ cấp dưỡng
là hai mặt của một vấn đề.
Khách thể của quan hệ cấp dưỡng là những lợi ích mà các chủ thể tham
gia vào quan hệ cấp dưỡng hướng tới. Xuất phát từ đặc điểm riêng biệt của
quan hệ pháp luật HN&GĐ nhằm thoả mãn những lợi ích vật chất và tinh
thần. Cấp dưỡng là nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu của người được cấp
dưỡng nên trong quan hệ cấp dưỡng lợi ích chính mà các chủ thể hướng tới là
vật chất. Với hoàn cảnh phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng thì vật chất là những gì
thuộc về nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, nói chung là nhu cầu thể xác
của con người nên có thể là tiền hoặc lương thực bởi tiền và lương thực là yếu
tố bảo đảm đáp ứng nhu cầu của cuộc sống cho chủ thể có quyền cấp dưỡng
một cách hợp lý nhất và có hiệu quả nhất. Tuy nhiên trong quan hệ cấp dưỡng
các chủ thể còn hướng tới lợi ích tinh thần vì khi hưởng các lợi ích vật chất
chủ thể của quyền được cấp dưỡng còn cảm nhận được tình yêu thương, sự
quan tâm, chăm sóc của chủ thể có nghĩa vụ cấp dưỡng dành cho mình.
Để hiểu rõ hơn về chế định cấp dưỡng với tư cách là một loại quan hệ
pháp luật dân sự, sau đây chúng ta đi tìm hiểu các đặc điểm của quan hệ pháp
luật cấp dưỡng.
- Quan hệ cấp dưỡng là một loại quan hệ tài sản đặc biệt phát sinh giữa
giữa các cá nhân với nhau khi có những điều kiện nhất định do đó không thể
thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác vì nó
gắn liền với nhân thân chủ thể (người cấp dưỡng và người được cấp dưỡng)
mà người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải tự mình thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
Do tính chất của nghĩa vụ cấp dưỡng là đảm bảo cho người chưa thành niên,
người đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả
năng lao động, không có tài sản tự nuôi mình được chăm sóc nuôi dưỡng,
đảm bảo cho họ đủ điều kiện để tồn tại và phát triển. Vì vậy, nghĩa vụ cấp
14
dưỡng là một trong các nghĩa vụ về tài sản nhưng mang tính chất đặc biệt là
không thể được thay thế bằng nghĩa vụ khác và cũng không thể chuyển giao
cho người khác. Bởi vì, nghĩa vụ cấp dưỡng là nghĩa vụ về tài sản. Trong
quan hệ pháp luật HN&GĐ các quyền và nghĩa vụ về tài sản luôn phát, tồn tại
và chấm dứt cùng với việc phát sinh, tồn tại và chấm dứt các quyền và nghĩa
vụ về nhân thân. Vì vậy, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các chủ thể trong quan hệ
pháp luật HN&GĐ phải gắn với các nghĩa vụ và quyền về nhân thân mà
không thể chuyển giao cho người khác. Trong trường hợp người có nghĩa vụ
cấp dưỡng không còn khả năng để thực hiện nghĩa vụ thì họ tạm thời không
phải thực hiện nghĩa vụ và khi đó thì việc cấp dưỡng cho người cần được cấp
dưỡng sẽ do người khác có đủ điều kiện thực hiện. Chỉ khi nào các chủ thể có
mối quan hệ nhân thân với nhau thì khi đó giữa họ mới có nghĩa vụ cấp
dưỡng cho nhau. Khi quan hệ nhân thân chấm dứt thì nghĩa vụ về cấp dưỡng
cũng theo đó mà chấm dứt. Ví dụ: Cha mẹ phải cấp dưỡng cho con nhưng khi
cha mẹ chết thì nghĩa vụ cấp dưỡng của họ đối với con chấm dứt (nghĩa vụ đó
không thể chuyển giao cho người thừa kế). Tương tự như vậy, người được
cấp dưỡng có quyền và nghĩa vụ nhận tiền hoặc hiện vật từ phía người có
nghĩa vụ cấp dưỡng để đảm bảo cuộc sống mà không thể nhường quyền được
cấp dưỡng cho người khác bởi lẽ quyền được cấp dưỡng thuộc về những
người không có khả năng tự mình bảo đảm cuộc sống. Nếu chủ thể của quyền
được cấp dưỡng nhượng quyền của mình cho người khác thì cũng đồng nghĩa
với việc từ chối các điều kiện thiết yếu để duy trì sự sống. Đồng thời quyền và
nghĩa vụ cấp dưỡng không mang tính chất hàng hoá nên cũng không thể là đối
tượng trong các giao lưu dân sự. Nên quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng không thể
là đối tượng của một hợp đồng chuyển nhượng.
Cần khẳng định rằng nguyên tắc không thể chuyển giao trong việc thực
hiện quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng khác với việc thực hiện quyền và nghĩa vụ
15
cấp dưỡng thông qua người thứ ba. Các chủ thể tham gia quan hệ cấp dưỡng
không thể chuyển giao quyền và nghĩa vụ của mình cho người khác nhưng lại
có thể thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình thông qua người thứ ba. Trong
thực tế có những trường hợp vì điều kiện và hoàn cảnh nào đó mà người có
nghĩa vụ cấp dưỡng không thể trực tiếp thực hiện nghĩa vụ của mình thì họ có
thể thông qua người khác để thực hiện nghĩa vụ của mình. Ví dụ: Người cha
đang cư trú ở nước ngoài phải cấp dưỡng cho con sau ly hôn theo phương
thức định kỳ hàng tháng thì người cha có thể gửi tiền về cho người thân của
mình để hàng tháng người này chuyển tiền cấp dưỡng cho con.
- Quan hệ cấp dưỡng chỉ phát sinh giữa các thành viên trong gia đình
trên cơ sở hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng được
thực hiện giữa cha me và con, anh chị em với nhau, giữa ông bà nội ngoại và
các cháu, giữa vợ và chồng.
- Quan hệ cấp dưỡng là quan hệ mang tính bền vững và lâu dài hơn các
quan hệ HN&GĐ và các quan hệ dân sự. Nó chỉ chấm dứt khi có những sự
kiện pháp lý nhất định: người được cấp dưỡng đã thành niên và có khả năng
lao động, người được cấp dưỡng và người cấp dưỡng chết, người được cấp
dưỡng được nhận làm con nuôi…Khoảng thời gian từ khi quan hệ cấp dưỡng
phát sinh tồn tại đến khi chấm dứt là một khoảng thời gian có thể là năm,
mười năm và có thể lâu hơn nữa chứ không như quan hệ dân sự ( quan hệ
mua bán).
- Quan hệ cấp dưỡng mang tính bình đẳng và thoả thuận nhưng bao giờ
cũng dựa trên cơ sở qui phạm pháp luật HN&GĐ chứ không giống thoả thuận
trong quan hệ dân sự mang tính tự do ý chí của các bên. Bên cạnh đó sự bình
đẳng trong quan hệ dân sự là sự bình đẳng giữa các chủ thể còn sự bình đẳng
trong quan hệ cấp dưỡng dựa trên cơ sở bình đẳng của nam nữ do Hiến pháp
16
qui định: Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia
đình.
- Quan hệ cấp dưỡng là quan hệ tài sản có đi có lại nhưng không mang
tính chất đồng thời, tuyệt đối và cũng không mang tính chất đền bù ngang giá
(như trong quan hệ pháp luật dân sự về tài sản). Sự chăm sóc, giúp đỡ lẫn
nhau giữa những người ruột thịt bên cạnh ý nghĩa vật chất còn là nhu cầu tình
cảm cần được thực hiện nhằm bảo đảm bảo sự gắn bó lẫn nhau giữa họ. Khi
thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, người cấp dưỡng thường tiến hành một cách tự
giác và không tính toán nhiều đến giá trị tài sản phải bỏ ra, và không nghĩ đến
việc người được cấp dưỡng sẽ phải cấp dưỡng lại một số tài sản tương ứng.
Mặt khác, không phải lúc nào nghĩa vụ cấp dưỡng cũng được đặt ra mà nghĩa
vụ đó chỉ phát sinh trong những trường hợp nhất định với những điều kiện
nhất định.
Nguyên tắc không đền bù ngang giá của quan hệ cấp dưỡng thể hiện ở
chỗ pháp luật qui định khi một người cần được cấp dưỡng thì người thân của
họ có nghĩa vụ cấp dưỡng nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu của họ. Khi người
được cấp dưỡng có khả năng tự đảm bảo cuộc sống thì nghĩa vụ cấp dưỡng
chấm dứt. Người được cấp dưỡng không có nghĩa vụ hoàn lại số tiền hoặc
hiện vật đã nhận từ người cấp dưỡng cho mình, kể khi họ đã rất có khả năng
về kinh tế. Tương tự như vậy, người phải cấp dưỡng không có quyền đòi lại
số tiền hoặc hiện vật mà trước đây họ đã chu cấp cho người được cấp dưỡng.
Đồng thời người có quyền được cấp dưỡng ở thời điểm này không đương
nhiên phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho người đã từng cấp dưỡng cho mình tại
thời điểm khác. Có thể có khả năng là người phải thực hiện nghĩa vụ cấp
dưỡng không bao giờ được hưởng quyền được cấp dưỡng chính từ người mà
họ đã từng phải cấp dưỡng. Và cũng có thể theo thời gian, người mà trước
đây được hưởng quyền cấp dưỡng nay lại có nghĩa vụ cấp dưỡng cho chính
17
người trước đây đã cấp dưỡng cho mình thì số tiền hoặc hiện vật mà họ có
nghĩa vụ chu cấp cho người được cấp dưỡng không nhất thiết là phải ngang
bằng với phần trước đây họ đã nhận, mà số tiền hoặc hiện vật đó có thể lớn
hơn rất nhiều cũng có thể ít đi rất nhiều. Vì vậy quan hệ cấp dưỡng không
mang tính đền bù tương đương, không có tính chất tuyệt đối và không diễn ra
đồng thời.
- Nghĩa vụ cấp dưỡng là nghĩa vụ bổ sung, nó chỉ phát sinh khi nghĩa
vụ chính không được thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, nó chỉ phát sinh
trong những điều kiện nhất định, khi người được cấp dưỡng không có tài sản
để tự nuôi mình.
1.1.2. Khái niệm chế định cấp dưỡng
Trong khoa học pháp lý, các thuật ngữ: hệ thông pháp luật, ngành luật,
chế định pháp luật, quy phạm pháp luật được sử dụng một cách phổ biến. Nhà
nước điều chỉnh các quan hệ xã hội trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội thông
qua các quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật của Nhà nước. Khác với
các nước theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ, các nước theo hệ thống pháp luật
Châu Âu lục địa trong đó có Việt Nam phân chia hệ thống pháp luật quốc gia
thành các ngành luật, trong mỗi ngành luật có các chế định pháp luật, trong
mỗi chế định pháp luật có các quy phạm pháp luật dựa trên các quan hệ xã hội
mà nó điều chỉnh. Mỗi ngành luật đều có đối tượng điều chỉnh và phương
pháp điều chỉnh riêng. Chế định pháp luật là các hệ thống quy phạm pháp luật
điều chỉnh các quan hệ xã hội cùng loại có quan hệ mật thiết với nhau. Dựa
vào các nhóm quan hệ mà một ngành luật điều chỉnh, căn cứ vào những đặc
thù của khách thể quan hệ pháp luật mà mỗi ngành luật được chia thành các
chế định pháp luật lớn tương ứng. Giả sử như trong ngành Luật Dân sự, dựa
vào các nhóm quan hệ đặc trưng mà Luật Dân sự điều chỉnh - Luật Dân sự
18
được chia thành các chế định lớn: Chế định quyền sở hữu; Chế định nghĩa vụ
và hợp đồng; Chế định thừa kế; Chế định quyền sử dụng đất; Chế định quyền
sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ
Chế định quyền sở hữu là nhóm các qui phạm pháp luật xác nhận hình
thức sở hữu của Nhà nước qua từng giai đoạn cách mạng cụ thể, cách thức
phát sinh quyền sở hữu, trình tự hình thành các quyền năng của quyền sở hữu
và các qui phạm nhằm bảo vệ quyền sở hữu.
Tương tự như vậy, dựa vào các nhóm quan hệ mà Luật Hành chính
điều chỉnh các qui phạm pháp luật hành chính được phân thành các chế định
lớn khác nhau. Mỗi chế định là nhóm các quan hệ pháp luật điều chỉnh những
quan hệ pháp luật hành chính cùng loại. Ví dụ: Chế định về các chủ thể quản
lý, trách nhiệm hành chính, về thanh tra kiểm tra…
Luật Hôn nhân và Gia đình cũng dựa vào nguyên tắc đó phân chia ra
các chế định khác nhau: Chế định kết hôn, chế định ly hôn, chế định cấp
dưỡng, chế định nuôi con nuôi…Chế định cấp dưỡng là toàn bộ những quy
phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội về cấp dưỡng.
Thực tiễn phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến
nay cho thấy Luật HN&GĐ thường được xem là một ngành luật độc lập có
đối tượng điều chỉnh là các quan hệ nhân thân và tài sản giữa các chủ thể có
mối quan hệ hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên để phù hợp với xu thế chung
của nhiều quốc gia trong hệ thống pháp luật châu Âu lục địa như Pháp, Nhật,
Ba Lan, trong quá trình xây dựng dự thảo Bộ luật Dân sự đã có nhiều ý kiến
cho rằng nên thiết kế các quan hệ hôn nhân - gia đình là một chế định của Bộ
luật Dân sự để tránh sự trùng chéo trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội
về nhân thân và tài sản. Nhóm quan hệ xã hội luôn luôn được coi là đối tượng
19
điều chỉnh của ngành luật Dân sự - ngành luật gốc của Luật HN&GĐ. Bởi vì
thực chất của quan hệ hôn nhân cũng chỉ là một loại khế ước do các bên thoả
thuận trên nguyên tắc bình đẳng và tự nguyện giống như một quan hệ dân sự.
Tuy nhiên quan hệ pháp luật HN&GĐ vẫn có những nét riêng biệt so với các
quan hệ pháp luật dân sự bởi yếu tố tình cảm thân thiết gắn bó giữa các chủ
thể dựa trên cơ sở pháp lý quan trọng: Hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi
dưỡng. Trong quan hệ hôn nhân và gia đình không thể áp đặt phương pháp
điều chỉnh sòng phẳng như trong các quan hệ pháp luật dân sự (không mang
tính đền bù ngang giá). Chính vì vậy hiện nay trong Bộ luật Dân sự của nước
ta chỉ quy định một số điều cơ sở cho luật HN&GĐ. Ví dụ như quy định về
quyền tự do kết hôn, quyền bình đẳng của vợ chồng, quyền được hưởng sự
chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình, quyền ly hôn, quyền nhận,
không nhận cha mẹ, con, quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận làm
con nuôi. Mặt khác trong thực tiễn xét xử và giải quyết các vụ án về hôn nhân
và gia đình chúng ta vẫn phải áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng dân
sự và Pháp lệnh thi hành án dân sự. Chẳng hạn Khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh thi
hành án dân sự sửa đổi bổ sung ngày 14 tháng 1 năm 2004 có ghi: “Bản án
quyết định dân sự nói tại Pháp lệnh này bao gồm: Bản án quyết định về dân
sự, hôn nhân gia đình, kinh tế, lao động” hoặc trong Khoản 2 Điều 2 Pháp
lệnh này cũng quy định “bản án quyết định sơ thẩm, phúc thẩm về cấp dưỡng
sẽ được thi hành ngay sau khi tuyên án”. Hay trong Điều 5 - Luật HN&GĐ
năm 2000 quy định; “Trong trường hợp pháp luật HN&GĐ không có quy
định thì áp dụng các quy định của Luật Dân sự”. Từ sự phân tích trên cho
thấy mặc dù về mặt lý thuyết thì hôn nhân gia đình là một ngành luật độc lập
so với ngành luật Dân sự và các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật Việt
Nam. Song trong thực tiễn đời sống pháp lý kể cả trong xét xử, thi hành án
chúng ta lại luôn coi Luật HN&GĐ là một bộ phận của Luật Dân sự vì chúng
20
có cùng đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh. Tuy nhiên trong
thực tiễn chế định pháp luật còn được hiểu theo nghĩa là một thiết chế pháp lý
để điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội có cùng chung tính chất, mối liên hệ
mật thiết với nhau. Do đó chúng ta cần phải hiểu chế định cấp dưỡng bao gồm
tất cả các quy phạm pháp luật về cấp dưỡng trong các văn bản pháp luật khác
nhau, trong rất nhiều ngành luật khác nhau.
Chế định cấp dưỡng là một bộ phận cấu thành của Luật HN&GĐ. Với
tư cách là một chế định của Luật HN&GĐ, cấp dưỡng được quy định thành
một chương trong Luật HN&GĐ năm 2000. Chế định cấp dưỡng có mối quan
hệ nội tại thống nhất với các nguyên tắc cơ bản của Luật HN&GĐ, cũng như
với các nhóm quy phạm khác của Luật HN&GĐ. Trong chế định cấp dưỡng,
các vấn đề như: Điều kiện để một người có thể trở thành chủ thể của quan hệ
cấp dưỡng, mức cấp dưỡng, phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, thời
điểm chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng… được quy định một cách cụ thể và toàn
diện. Các bên tham gia quan hệ cấp dưỡng có các quyền và nghĩa vụ theo quy
định của pháp luật. Các bên không thể tùy ý thoả thuận để làm thay đổi các
quyền và nghĩa vụ đó. Việc không thực hiện các quyền và nghĩa vụ về cấp
dưỡng hoặc thực hiện không đúng các quyền và nghĩa vụ đó sẽ phải xử lý
bằng các biện pháp chế tài theo pháp luật.
Cấp dưỡng là một chế định trong pháp luật hôn nhân và gia đình, bao
gồm các quy định điều chỉnh mối quan hệ và đảm bảo cho việc thực hiện các
quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể của quan hệ cấp dưỡng.
Như vậy, chế định cấp dưỡng với tính cách là một bộ phận của Luật
Dân sự- HN&GĐ đó là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan
hệ xã hội phát sinh giữa các thành viên gắn bó với nhau trên cơ sở hôn nhân,
huyết thống và nuôi dưỡng nhằm xác định quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng,
21
trách nhiệm giữa các chủ thể đó đóng góp phí tổn (tiền, tài sản…) cấp dưỡng
cho nhau trong những điều kiện nhất định, bảo đảm ổn định trật tự các quan
hệ cấp dưỡng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ
pháp luật hôn nhân và gia đình.
1.2. Chế định cấp dƣỡng trong pháp luật Việt Nam qua các giai đoạn
phát triển và sự cần thiết phải ban hành Luật HN&GĐ năm 2000, yêu
cầu sự điều chỉnh của chế định Cấp dƣỡng
1.2.1.Khái quát một số nét về vấn đề cấp dưỡng trước năm 1945
1.2.1.1. Khái quát một số nét về vấn đề cấp dưỡng ở Nhà nước Phong
kiến
Pháp Luật thời Phong kiến Việt Nam là bức tranh thời đại, không những
phản ánh trung thực tổ chức của xã hội và gia đình trong mỗi giai đoạn lịch sử
mà còn biểu lộ cả trạng thái và phản ứng phức tạp của tâm hồn người dân Việt
Nam trước những biến cố lịch sử. Do đó trong mỗi thời kỳ khác nhau của lịch sử
pháp luật đều có sự thay đổi phù hợp với bối cảnh xã hội thời bấy giờ. Tuy nhiên
việc nghiên cứu pháp luật thời phong kiến sẽ gặp rất nhiều khó khăn do chính
sách đồng hóa, ngu dân mà Trung Quốc đã áp dụng triệt để ở Việt Nam hơn 10
thế kỷ nên các tài liệu, sử sách sao chép luật lệ đều bị thất lạc và mai một. Tiêu
biểu cho pháp luật thời kỳ phong kiến còn sót lại đến ngày nay là: Bộ Luật Hồng
Đức và Bộ Luật Gia Long.
Sự kết hợp giữa Nho giáo và khung cảnh xã hội Việt Nam thời bấy giờ
để tạo ra một nét văn hoá độc đáo. Từ ngàn xưa gia đình được coi là nền tảng
của xã hội, gia đình có vững mạnh thì xã hội mới ổn định. Vì vậy mà đạo lý gia
đình được đặc biệt quan tâm trong pháp luật. Điều 375 BLHĐ qui định: "Vợ
chồng không có con hoặc ai chết trước không có chúc thư, mà điền sản chia về
22
vợ hay chồng, cùng là để việc tế tự không đúng phép, thì xử phạt 50 roi, biếm
một tự. Người trong họ không được giữ phần điền sản về việc tế tự ấy nữa"
[3,Tr.146]. Điều luật này được hiểu là nếu chồng chết trước thì điền sản được
chia làm hai phần, phần về người họ ăn thừa tự 1 phần để giữ việc tế tự, về vợ
một phần. Phần của người vợ chỉ để nuôi đời mình chứ không được làm của
riêng. Vợ chết trước hoặc tái giá thì phần ấy thuộc về người thừa tự. Nếu cha
mẹ còn sống thì thuộc về cha mẹ tất cả. Vợ chết trước chồng cũng thế chỉ
không bắt buộc hễ lấy vợ khác thì mất phần ấy. Còn đối với điền sản vợ chồng
làm ra thì chia làm 2 phần mỗi vợ chồng một nửa, phần của vợ được nhận làm
của riêng, phần của chồng được chia làm 3 phần cho vợ 2 phần, để vào việc tế
tự và phần mộ 1 phần. Hai phần cho vợ cũng chỉ được để nuôi đời mình không
được nhận làm của riêng. Vợ chết hoặc cải giá thì phần ấy để lại cho việc tế tự.
Như vậy BLHĐ cũng đã đề cập đến vấn đề cấp dưỡng trong gia đình nhưng
chưa rõ ràng. Nghĩa vụ cấp dưỡng được hiểu như nghĩa vụ nuôi dưỡng là chủ
yếu. Hơn thế trong các sắc luật của Nhà vua về đạo đức xã hội và gia đình thì
đạo hiếu đứng hàng thứ hai sau chữ trung với Vua. Chính vì vậy mà trong
Quốc triều hình luật (QTHL) có qui định về 10 tội thấp ác thì trong đó có tội
bất hiếu. Một trong những hành vi của tội bất hiếu là nuôi nấng cha mẹ thiếu
thốn không chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ. Chữ hiếu không chỉ dừng lại trong
phạm vi hẹp là nghĩa vụ của con đối với cha mẹ mà rộng hơn nữa đó là là
nghĩa vụ của cháu đối với ông bà, người dưới đối với người trên. Điều 506-
BLHĐ qui định: “Con cháu trái lời dạy bảo và không phụng dưỡng bề trên, mà
bị ông bà cha mẹ trình lên quan thì xử tội khoa đinh, con nuôi, con kế tự mà
thất hiếu với cha nuôi, cha kế thì xử giảm tội trên một bậc, và mất tài sản đã
được chia” [3, tr.193]. Đặc biệt trong QTHL cũng có qui định rất rõ nghĩa vụ
cấp dưỡng, đùm bọc lẫn nhau giữa những người cùng thôn xóm. Điều 295 -
BLHĐ qui định “Những người góa vợ, góa chồng, mồ côi và người tàn tật
23
nặng, nghèo khổ không có người thân thích nương tựa, không thể tự mình mưu
sống được thì quan sở tại phải thu nuôi họ, mà bỏ rơi thì bị xử đánh 50 roi,
biếm một tự. Nếu họ được cấp cơm áo mà quan lại ăn bớt thì phải khép vào tội
như người giữ kho ăn bớt của công” [3,Tr.123]. Ở đây có sự đan xen giữa đạo
đức và pháp luật. Cha mẹ chăm sóc và nuôi dưỡng con, con phụng dưỡng cha
mẹ là nghĩa vụ đạo đức. Nhưng khi nghĩa vụ đạo đức không được thực hiện
một cách tự nguyện thì pháp luật qui định những biện pháp trừng trị thích đáng.
Bên cạnh đó Điều 284-BLHĐ cũng qui định rất rõ trách nhiệm của các
quan ti trong việc để cho người dân phải nghèo khổ đến mức phải phiêu bạt đi
nơi khác. Điều này nên chăng chính quyền địa phương ngày nay nên kế thừa và
phát triển. Hơn thế trong Điều 294-BLHĐ ghi: “Trong kinh thành hay phường,
ngõ, làng xóm có kẻ ốm đau mà không ai nuôi nấng nằm ở đường xá, cầu,
điếm, chùa thì xã quán đó phải dựng lều lên mà giữ gìn chăm sóc cho họ cơm
cháo, thuốc men, sốt cao thì phải cứu cho họ sống, không được bỏ mặc họ rên
rỉ khốn khổ. Nếu không may họ chết thì phải trình lên quan tùy theo điều kiện
mà chôn cất, không được để lộ thi hài, nếu trái lệnh thì quan phường xã đó phải
tội biếm, hay bãi chức” [3,Tr. 122]. Như vậy ở thời Lê người ta gần như đồng
nhất cấp dưỡng với trợ cấp xã hội. Nhưng dẫu sao Pháp luật nhà Lê cũng đã rất
quan tâm đến cấp dưỡng cho những người gặp hoàn cảnh khó khăn, cũng như
qui kết trách nhiệm cho quan sở tại và những người có nghĩa vụ cấp dưỡng.
Dưới triều Nguyễn do ảnh hưởng của giặc ngoại xâm Trung quốc và sau
đó là Thực Dân Pháp đã đánh dấu một sự suy vi về phương diện pháp lý. BLGL
nó gần như sao chép lại Luật Nhà Thanh nên nội dung chủ yếu là hình luật và
hình phạt được qui định hết sức hà khắc. Ngay cả quan hệ giữa các thành viên
trong gia đình cũng được qui định dưới các điều khoản về hình luật. Tại mục 15
quyển 16 về hình luật qui định về tội con cháu vi phạm lời dạy bảo của ông bà
cha mẹ: “Con cháu vi phạm lời dạy bảo của ông bà, cha mẹ hoặc phụng dưỡng
24
mà cố ý làm thiếu sót thì phạt 100 trượng” [24, tr.847]. Như vậy dù không có
điều khoản qui định về nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng hoặc phụng dưỡng giữa
các thành viên trong gia đình nhưng BLGL đã gián tiếp khẳng định nghĩa vụ đó.
Điều đó cũng được thể hiện rõ trong quyển 2, phần về danh lệ, tại mục 17 qui
định về trường hợp người phạm tử tội nhưng phải nuôi dưỡng cha mẹ. Theo qui
định này nếu người phạm tử tội không được ân xá mà ông bà nội, cha mẹ già yếu
(trên 70 tuổi hay bị già yếu) cần được săn sóc mà trong gia đình không còn ai từ
16 tuổi trở lên thì pháp quan phải tâu lên Vua. Nếu phạm tội đồ lưu thì xử 100
trượng, tội còn thừa thì nhận giá chuộc và cho ở nhà nuôi dưỡng ông bà cha mẹ
[24, tr.133].
Trong xã hội Việt Nam thời kỳ Phong kiến khái niệm gia đình được
hiểu theo nghĩa rất rộng. Theo quan niệm chung thì gia đình được hiểu là một
tập thể lớn bao gồm các thành viên mấy đời liên tiếp chung sống với nhau
dưới quyền của người tộc trưởng. Gia đình lý tưởng là "ngũ đại đồng đường".
Do đó phạm vi điều chỉnh của Luật HN&GĐ không chỉ bao gồm các quan hệ
xã hội về kết hôn, ly hôn, hôn sản mà bao gồm cả các quan hê xã hội về thừa
tự, dưỡng tử, giữa các thành viên trong gia tộc. Trong đó vấn đề thờ cúng tổ
tiên rất được xem trọng. Tuy nhiên do ảnh hưởng của chế độ gia trưởng nên
mọi quan hề trong phạm vi gia đình thường được các thành viên trong gia
đình giải quyết trên cơ sở tôn trọng tuyệt đối ý kiến của người tộc trưởng và
những qui tắc đạo đức truyền thống mà đôi khi không cần sự can thiệp của
pháp luật. Song dẫu sao pháp luật phong kiến quan tâm đặc biệt đến nghĩa vụ
phụng dưỡng của con cháu đối với ông bà cha mẹ. Pháp luật thời kỳ này qui
định nghĩa vụ nuôi dưỡng và cấp dưỡng của cha me đối với con cái trong các
trường hợp thông thường mà không qui định nghĩa vụ này trong các trường
hợp đặc biệt như khi cha mẹ ly hôn hoặc cha, mẹ cấp dưỡng cho con ngoài
giá thú. Bởi lẽ trong trường hợp cha mẹ ly hôn thì con thường ở lại với cha.
25
Tất cả tài sản của mẹ (kể cả tài sản người mẹ đem về nhà chồng và những tài
sản được cho trong thời kỳ hôn nhân) được gộp vào tài sản người cha tạo
thành một khối do người cha nắm giữ và dùng để nuôi con. Và nếu họ chia
nhau con thì họ cũng chia nhau tài sản. Do đó không đặt ra vấn đề cấp dưỡng.
Trong trường hợp người cha có con ngoài giá thú, nếu quan hệ giữa mẹ đứa
trẻ và người đàn ông bị bắt quả tang thì người đàn ông phải nuôi dưỡng đứa
trẻ. Nếu quan hệ giữa mẹ đứa trẻ và người đàn ông không bị bắt quả tang thì
người mẹ phải nuôi dưỡng đứa trẻ. Hơn nữa pháp luật thời phong kiến không
cho phép con ngoài giá thú được quyền kiện tìm cha để hưởng quyền cấp
dưỡng [24, tr.115-116]. Do đó vấn đề cấp dưỡng của cha đối với con ngoài
giá thú không được pháp luật qui định. Trong quan hệ vợ chồng, pháp luật qui
định nghĩa vụ phù trợ. Thực chất đây là nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc về mặt
vật chất giữa vợ và chồng chứ không phải là nghĩa vụ cấp dưỡng, bởi lẽ sau
khi kết hôn vợ chồng có nghĩa vụ sống chung và phù trợ lẫn nhau và khi ly
hôn thì người vợ chuyển về nương tựa gia đình cha mẹ đẻ của mình. Trong
trường hợp vợ chồng ly hôn mà người vợ không còn bà con họ hàng để trở về
nương tựa thì thuộc trường hợp tam bất khứ nên người chồng không được bỏ
vợ. Đồng thời nếu người vợ không có lỗi mà bị chồng bỏ (như không có con)
thì được mang điền sản của mình về. Do đó cuộc sống của người vợ sau khi
ly hôn đã được pháp luật dự liệu và có biện pháp đảm bảo nên vấn đề cấp
dưỡng của chồng đối với vợ không được đặt ra. Tuy nhiên theo ủy ban cố vấn
án lệ thì trong trường hợp ly hôn (không phải là trường hợp rẫy vợ) quyền lợi
của người vợ được bảo đảm hơn. Họ có thể được người chồng cấp dưỡng nếu
thắng kiện.
26
1.2.1.2.Khái quát một số nét về vấn đề cấp dưỡng thời kỳ Pháp thuộc.
Dưới thời pháp thuộc, với chính sách chia để trị, Thực Dân Pháp đã
chia nước ta ra ba miền: Bắc, Trung, Nam tương ứng với ba miền là ba Bộ
luật. ở miền Bắc có Bộ dân luật bắc kỳ (DLBK) năm 1931, ở miền Trung có
Bộ dân luật trung kỳ (DLTK) năm 1936 và miền Nam có Bộ dân luật giản yếu
(DLGY) năm 1883. Các nhà làm luật Việt Nam thời kỳ này cũng dựa trên
những Điều luật của BLHĐ và BLGLđể tạo ra những qui định phù hợp với
truyền thống gia đình Việt Nam. Nhưng do ảnh hưởng bởi tư tưởng Phong
kiến “trọng nam khinh nữ” và quan niệm về gia tộc thừa tự quá lớn. Vì vậy
quan hệ cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình vẫn chịu sự chi phối
tuyệt đối của người gia trưởng (thường là người con trai trưởng, chồng, cha).
Pháp luật thời kỳ này qui định về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cha mẹ và
con cái, giữa vợ và chồng và các thành viên trong gia đình một cách rõ nét
hơn so với pháp luật thời phong kiến.
Trong quan hệ giữa cha mẹ và con cái bất kể là con đẻ hay con nuôi,
pháp luật qui định cha mẹ có nghĩa vụ nuôi nấng, cưu mang con. Điều đó
được thể hiện trong qui định về nghĩa vụ của vợ chồng tại Điều 91 Bộ DLBK
và Điều 91 Bộ BLTK: Vợ chồng phải cùng nhau làm cho gia đình hưng thịnh
và lo toan việc nuôi nấng, dạy dỗ con cái. Xuất phát từ nghĩa vụ nuôi nấng
con cái mà trong đó nó chứa đụng cả nghĩa vụ cấp dưỡng cho con cái. Như
vậy pháp luật thời kỳ này có sự đồng nhất giữa nuôi dưỡng và cấp dưỡng.
Chẳng hạn trong Điều 207 Bộ DLBK và Điều 207 Bộ DLTK qui định: Làm
người con phải suốt đời hiếu thuận, cung kính ông bà cha mẹ, Lại phải cấp
dưỡng cho cha mẹ ông bà. Cấp dưỡng trong trường hợp này là nuôi dưỡng.
Tuy nhiên trong một số trường hợp thì việc sử dụng thuật ngữ cấp dưỡng và
nuôi dưỡng được phân biệt rõ ràng. Đó chính là trường hợp người có nghĩa vụ
27
cấp dưỡng và người được cấp dưỡng không sống chung với nhau. Pháp luật
qui định cha mẹ có nghĩa vụ nuôi nấng và cưu mang con cái nhưng trong
trường hợp cha hoặc mẹ không sống chung với con để thực hiện nghĩa vụ của
mình thì phải cấp dưỡng cho con. Đó là trường hợp cha phải cấp dưỡng cho
con ngoài giá thú. Điều 182 Bộ DLBK và Điều 180 Bộ DLTK qui định: Khi
Toà án tuyên bố một người đàn ông là cha của con ngoài giá thú thì đồng thời
Toà án cũng phải tuyên bố người đó phải cấp dưỡng cho đứa con đến khi nó
18 tuổi. Nếu cha mang con về nuôi dưỡng, chăm sóc như con chính thức thì
không phải cấp dưỡng nữa. Trong quan hệ vợ chồng pháp luật qui định về
nghĩa vụ cấp dưỡng trong trường hợp hôn nhân còn tồn tại và cả trong trường
hợp vợ chồng ly hôn.
+ Đối với trường hợp hôn nhân còn tồn tại, người chồng phải cấp
dưỡng cho vợ lẽ, bởi người vợ lẽ không được sống chung với chồng nhưng có
quyền được chồng cưu mang và phù trợ. Còn người vợ cả vấn đề cấp dưỡng
không được đặt ra, nhưng án lệ lại cho phép người vợ cả có quyền được yêu
cầu người chồng cấp dưỡng nếu dẫn chứng được rằng người chồng đã không
cho chung sống hoặc đã làm tổn hại nhân cách của mình tại nơi ở chung làm
cho người vợ cả không thể sống chung với người chồng được (người chồng
đã nuôi dưỡng tại nhà một người tình nhân không có hôn thú). Đồng thời
pháp luật cũng qui định người chồng phải cấp dưỡng cho vợ trong thời gian
giải quyết việc ly hôn. Điều 139 Bộ DLBK và Điều 137 Bộ DLTK qui định:
Sau khi quan chánh án đã thụ lý đơn xin ly hôn thì có thể truyền cho thi hành
các phương án tạm thời: Định chỗ ở cho vợ chồng, việc trông nom con cái,
nếu cần định cả tiền cấp dưỡng.
+ Khi vợ chồng ly hôn thì pháp luật qui định người chồng có nghĩa vụ
cấp dưỡng cho vợ (3, Điều 144), (4, Điều 142). Tuy nhiên trong trường hợp
người vợ tái giá, vô hạnh, hoặc ăn ở tư tình với người khác thì không được
28
nhận tiền cấp dưỡng. Pháp luật thời kỳ này không qui định nghĩa vụ cấp
dưỡng của vợ đối với chồng. Bởi nó ảnh hưởng thuyết vô năng lực của người
đàn bà và thuyết tam tòng lúc bây giờ.
Tiền cấp dưỡng chỉ có ý nghĩa đảm bảo ổn định cuộc sống của người
vợ sau khi ly hôn mà hoàn toàn không mang tính chất của khoản tiền bồi
thường. Vì vậy pháp luật không đặt vấn đề xác định yếu tố lỗi của các bên.
Người chồng dù không có lỗi vẫn phải cấp dưỡng và người vợ dù có lỗi vẫn
được cấp dưỡng.
Tóm lại, hệ thống pháp luật trước Cách mạng tháng Tám dựa trên nền
tảng đạo lý gia đình nên đã qui định các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ
cấp dưỡng cho nhau. Mặc dù chưa có sự phân biệt giữa nghĩa vụ cấp dưỡng
và nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng trong từng hoàn cảnh khác nhau đã cho chúng
ta thấy rõ nghĩa vụ cấp dưỡng được qui định và tồn tại song song với nghĩa vụ
nuôi dưỡng. Cùng với sự tồn tại của ba Bộ dân luật, ủy ban cố vấn án lệ có
nhiệm vụ khảo cứu các tục lệ về gia đình. Do vậy ở thời kỳ này án lệ được áp
dụng rộng rãi trong quá trình giải quyết các quan hệ hôn nhân gia đình. Chính
vì vậy mà vấn đề cấp dưỡng giữa cha mẹ và con cái, giữa vợ và chồng bên
cạnh việc áp dụng các qui định pháp luật còn có sự vận dụng sáng tạo và hợp
lý các phong tục, tập quán và truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam.
1.2.2. Khái quát một số nét về vấn đề cấp dưỡng từ 1945 đến nay
1.2.2.1. Khái quát một số nét về vấn đề cấp dưỡng từ năm 1945 đến 1975
Khi Cách mạng tháng tám thành công, việc xây dựng các quan hệ
HN&GĐ tiến bộ cũng là một mục tiêu quan trọng của Cách mạng. Vì vậy
Nhà nước đã xoá bỏ dần những lạc hậu, bất công, thiếu bình đẳng giữa nam
và nữ, giữa cha mẹ và con trong quan hệ hôn nhân gia đình nhằm tạo ra