Tải bản đầy đủ (.doc) (46 trang)

trách nhiệm hình sự của pháp nhân

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (286.08 KB, 46 trang )

Tóm tắt công trình
Phần I - lời mở đầu.......................................................................3
phần ii - giảI quyết vấn đề
I - mục tiêu công trình..............................................................................4
Ii - phơng pháp nghiên cứu:...................................................................4
1-phơng pháp phân tích và tổng hợp............................................................4
2-phơng pháp so sánh...........................................................................................5
3-sự kết hợp giữa các phơng pháp..................................................................
Chơng i-cơ sở quy định trách nhiệm hình sự của
pháp nhân
i-cơ sở lý luận:..........................................................................................6
a-một số kháI niệm:.................................................................................................6
1-trách nhiệm hình sự:........................................................................................6
2-trách nhiệm hình sự của pháp nhân:......................................................11
2.1-pháp nhân.......................................................................................................11
2.2-trách nhiệm hình sự của pháp nhân................................................12
b-cơ sở lý luận:.......................................................................................................12
ii-mặt thực tiễn:........................................................................................14
iii-mặt pháp luật:.......................................................................................16
chơng ii-trách nhiệm hình sự của pháp nhân các
nớc trên thế giới
i-trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình sự
các nớc theo truyền thống common law
1-lịch sử vấn đề:.....................................................................................................18
2-phạm vi áp dụng trách nhiệm hình sự của pháp nhân:.................22
3-các tội phạm có thể quy kết cho pháp nhân:...................................23
4-các điều kiện áp dụng trách nhiệm hình sự đối với pháp
nhân:.............................................................................................................25
5-hình phạt áp dụng đối với pháp nhân phạm tội:...............................30
6-kết luận:................................................................................................................30
1


ii-trách nhiệm hình sự của pháp nhân của các nớc theo
truyền thống civil law
1-lịch sử vấn đề:...................................................................................................31
2-các pháp nhân chịu trách nhiệm hình sự:.........................................33
3-các tội phạm có thể quy kết cho pháp nhân:..................................35
4-những điều kiện để có thể quy kết trách nhiệm hình sự cho pháp
nhân:.............................................................................................................35
5-hình phạt áp dụng đối với pháp nhân phạm tội:.............................37
6-kết luận:..............................................................................................................38
iii-trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình sự
các nớc x hội chủ nghĩaã
1-liên xô cũ:...........................................................................................................39
2-cộng hoà nhân dân trung hoa:.............................................................40
Chơng iii-vấn đề quy định trách nhiệm hình sự của pháp
nhân vào việt nam
i-vấn đề quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân vào
việt nam...................................................................................................41
ii-những yếu tố để vấn đề quy định Tnhs của pháp nhân có
tính khả thi.............................................................................................42
Phần iii-kết luận......................................................................44
2
Phần i-lời mở đầu
Pháp nhân có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những tội phạm đợc
thực hiện trong khuôn khổ các hoạt động của pháp nhân hoặc vì lợi ích của pháp
nhân không? Nói cách khác, có cần thiết phải thiết lập chế định trách nhiệm hình
sự (TNHS) của pháp nhân trong luật hình sự không? Đó là vấn đề từ thời La Mã cổ
đại đến nay đã và đang gây ra nhiều tranh luận gay gắt trong giới khoa học hình sự
của nhiều nớc trên thế giới. Những tranh luận này có thể hình dung về mặt thực
tiễn và lý thuyết đã đợc vợt qua các nớc theo truyền thống Common law nh Anh,
Hoa Kỳ, Canada, Australia , khi toà án các n ớc này đã chấp nhận nguyên tắc

TNHS của pháp nhân rất sớm và hiện nay chế định TNHS của pháp nhân đã đợc
thiết lập và trở thành một nguyên tắc cơ bản trong luật hình sự mỗi nớc. Tuy nhiên
các cơ sở lý thuyết và cách thức thừa nhận, thiết lập nguyên tắc này cũng có sự khác
nhau ở mỗi quốc gia theo truyền thống pháp luật này.
Trong quá trình xây dựng Bộ luật Hình sự sửa đổi của nớc ta hiện nay đã
xuất hiện một vấn đề gây nhiều tranh cãi: Có nên quy định pháp nhân là chủ thể
của tội phạm hay không? Hay nói cách khác là các biện pháp pháp lý hình sự có
thể đợc áp dụng với pháp nhân hay không?
Có thể nói vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân là vấn đề rất mới
không chỉ trong thực tiễn pháp lý mà còn cả trong khoa học pháp lý nớc ta. Do đó,
không thể kết luận một cách đơn giản rằng: nên hay không nên quy định nếu
những kết luận đó cha đợc hậu thuẫn bằng những luận điểm khoa học.
Với trình độ hiểu biết còn hạn chế, em rất mong nhận đợc sự nhận xét của
các thầy cô và các bạn để em có thể tiến bộ hơn.
Phần ii-GiảI quyết vấn đề
i-Mục tiêu công trình
Nh chúng ta đã biết, vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân là một vấn
đề rất mới trong việc áp dụng Luật hình sự của nớc ta hiện nay. Vì vậy khi tiến
hành nghiên cứu vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân thì mục tiêu trớc hết đ-
ợc đặt ra là mục tiêu nhận thức.
Qua việc đặt vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân, tôi đã đi sâu phân
tích các quan điểm khác nhau về khái niệm trách nhiệm hình sự và quan trọng hơn
là có thể đa ra quan điểm về vấn đề trách nhiệm hình sự. Mục tiêu thứ hai là có thể
nêu ra những luận cứ pháp lý và thực tiễn cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự
của pháp nhân đồng thời tìm hiểu về vấn đề quy định trách nhiệm hình sự của
pháp nhân của một số nớc trên thế giới.
Mục tiêu quan trọng nhất trong đề tài này là góp mộy ý kiến cho các nhà
làm luật trong quá trình sửa đổi, bổ sung bộ luật hình sự Việt Nam trong thời gian
gần nhất. Những vấn đề đợc trình bày và kết luận trong đề tài là hệ thống quan
niệm, định nghĩa có giá trị tham khảo trong việc quy định truy cứu trách nhiệm

hình sự của pháp nhân.
3
ii-Phơng pháp nghiên cứu
1-phơng pháp phân tích và tổng hợp
Đây là phơng pháp đợc sử dụng rộng rãi, thờng xuyên trong quá trình
nghiên cứu về pháp luật và nhà nớc.Trong quá trình nghiên cứu đề tài này em có
sử dụng phơng pháp phân tích và tổng hợp để tiến hành nghiên cứu. Thực chất của
phơng pháp phân tích là phơng pháp dựng để chia cái toàn thể hay một vấn đề
phức tạp ra thành những bộ phận, những mặt, những yếu tố đơn giản hơn để
nghiên cứu và làm sáng rõ vấn đề. Chẳng hạn để có thể làm rõ khái niệm trách
nhiệm hình sự của pháp nhân thì em đã đi vào phân tích từ khái niệm trách nhiệm
hình s, khái niệm pháp nhân, rồi em mới đi vào chỉ rõ khái niệm trách nhiệm hình
sự của pháp nhân.
Còn tổng hợp là phơng pháp liên kết thống nhất lại các bộ phận, các yếu tố ,
các mặt đã đợc phân tích, vạch ra mối liên hệ giữa chúng nhằm khái quát hoá các
vấn đề trong sự nhận thức tổng thể. Thực ra trong quá trình nghiên cứu bất cứ vấn
đề gì chúng ta rất hay phải sử dụng phơng pháp tổng hợp. Và trong quá trình
nghiên cứu đề tài này em đã sử dụng phơng pháp tổng hợp này để làm rõ vấn đề
trách nhiệm hình sự của pháp nhân trên cơ sở làm rõ cơ sở pháp lý và cơ sở thực
tiễn để áp dụng vào Việt Nam. Chính phơng pháp tổng hợp này đã giúp em có thể
khái quát lại vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Cùng với sự kết hợp ph-
ơng pháp phân tích đã tạo ra hiệu quả trong quá trình em viết đề tài này.
2-Phơng pháp so sánh
Đây là phơng pháp nghiên cứu đợc áp dụng trong nhiều lĩnh vực khoa học
khác nhau trong đó có khoa học Luật hình sự.áp dụng phơng pháp so sánh trong
quá trình thực hiện đề tài này em đã tiến hành so sánh vấn đề quy định trách
nhiệm hình sự của pháp nhân trong các hệ thống pháp luật lớn trên thế giới nh hệ
thống Common law, Civil law, và hệ thống pháp luật Xã hội chủ nghĩa. Nhng
trong quá trình tiến hành nghiên cứu em đã đi vào so sánh những chế định nh
phạm vi áp dụng trách nhiệm hình sự của pháp nhân, các tội phạm có thể quy kết

cho pháp nhân, các điều kiện áp dụng TNHS đối với pháp nhân, và đặc biệt là hình
phạt áp dụng đối với pháp nhân phạm tội. áp dụng phơng pháp so sánh để nghiên
cứu đã cho phép em phát hiện ra những điểm giống nhau và khác nhau của các
hiện tợng liên quan tới vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân đã và đang tồn
tại trong lịch sử, đồng thời phân tích những nguyên nhân dẫn đến sự đồng nhất và
dị biệt đó.
Nhờ phơng pháp so sánh hệ thống tri thức về trách nhiệm hình sự của pháp
nhân các nớc trên thế giới mới có đợc tính khách quan và khoa học.
3-Sự kết hợp giữa các phơng pháp
Khi nghiên cứu về vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân tôi có sử dụng
kết hợp những phơng pháp chung là phơng pháp duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử với những phơng pháp riêng (phơng pháp so sánh, phơng pháp phân tích và
tổng hợp). Không thể sử dụng một trong hai nhóm phơng pháp đó, hoặc sử dụng
4
chúng một cách tách biệt nhau. Những phơng pháp chung là cơ sở, nhng những
phơng pháp riêng lại thể hiện tính đặc thù của khoa học lý luận về Luật hình sự.
Mỗi phơng pháp riêng đợc sử dụng để nghiên cứu về trách nhiệm hình sự của pháp
nhân chỉ có thể mang lại kết quả tốt khi nó đợc sử dụng cùng phơng pháp biện
chứng duy vật, với t cách là một trong những hình thức cụ thể hoá của nó và đợc
phát triển trong sự nhận thức khoa học.


CHƯƠNG I
5
Cơ sở quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân
I- Cơ sở lý luận
A- Một số khái niệm
1-Trách nhiệm hình sự
Trách nhiệm hình sự là một trong những thuật ngữ đợc dùng phổ biến trong
sách báo pháp lý và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự. Tuy nhiên, cho đến nay

xung quanh khái niệm trách nhiệm hình sự vẫn còn những ý kiến khác nhau.
1.1. Liên Xô trớc đây và Liên Bang Nga hiện nay, có nhiều quan điểm
khác nhau về khái niệm trách nhiệm hình sự. Có thể nêu ra năm quan điểm chính
nh sau:
Quan điểm 1: Trách nhiệm hình sự là việc thực hiện chế tài pháp lý hình sự,
nghĩa là quan điểm này coi trách nhiệm hình sự chính là việc áp dụng hình phạt.
Những ngời theo quan điểm này khẳng định trách nhiệm hình sự phát sinh từ khi
áp dụng hình phạt đối với ngời phạm tội.
Quan điểm 2: Trách nhiệm hình sự là nghĩa vụ của ngời phạm tội phải chịu
trách nhiệm trớc nhà nớc vì việc thực hiện tội phạm của họ trên cơ sở các quy
phạm pháp luật hình sự và trách nhiệm hình sự bắt đầu từ thời điểm ngời phạm tội
thực hiện tội phạm.
Quan điểm 3: Trách nhiệm hình sự là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của
các chủ thể của quan hệ pháp luật, phát sinh từ việc thực hiện tội phạm. Những ng-
ời theo quan điểm này coi khái niệm trách nhiệm hình sự nh khái niệm độc lập
với khái niệm thực hiện trách nhiệm hình sự và cho rằng trách nhiệm hình sự phát
sinh từ thời điểm ngời pham tội thực hiện tội phạm, còn thời điểm thực hiện trách
nhệm hình sự lại đợc bắt đầu từ khi truy cứu trách nhiệm hình sự.
Quan điểm 4: Trách nhiệm hình sự là hậu quả của việc phạm tội, thể hiện ở
các biện pháp cỡng chế nhà nớc và bắt đầu từ khi truy cứu trách nhiệm hình sự.
Quan điểm 5: Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, là
kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự và đợc thể hiện trớc hết
ở việc kết án của toà án nhân danh nhà nớcc đối với ngời phạm tội.
1.2. Vấn đề án tích có thuộc nội dung của trách nhiệm hình sự không?
Trong khoa học luật hình sự Liên Xô trơc đây và Liên Bang Nga hiện nay cũng có
những quan điểm khác nhau. Một số nhà luật hình sự học cho rằng trong trờng
hợp một ngời phải chịu hình phạt thì trách nhiệm hình sự thể hiện ở hình phạt và
do vậy trách nhiệm hình sự kết thúc ở thời điểm một ngời đã chấp hành xong hình
phạt hoặc đợc miễn chấp hành hình phạt. Những ngời theo quan điểm cho rằng án
tích không thuộc nội dung của trách nhiệm hình sự mà chỉ là hậu quả của việc

chấp hành hình phạt.
Một số nhà luật hình sự học khác lại cho rằng án tích là một phần của trách
nhiệm hình sự. Do vậy, thời điểm kết thúc của trách nhiệm hình sự là thời điểm
một ngời đợc xoá án tích.
6
1.3. ở Việt Nam, cho đến nay, xung quanh khái niệm trách nhiệm hình sự
cũng có những ý kiến khác nhau nh:
Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của một ngời đã thực hiện một tội
phạm, phải chịu biện pháp cỡng chế của nhà nớc là hình phạt của ngời phạm tội
của họ.
Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của viêc phạm tội, thể hiện ở chỗ
ngời đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm trớc hành vi của mình trớc nhà nớc;
Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của ngời khi thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xã hội đợc quy định trong pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do
toà án áp dụng tuỳ thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà ngời
đó thực hiện;
Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của ngời phạm tội phải chịu những hậu
quả pháp lý bất lợi về hành vi phạm tội của mình....bao gồm: nghĩa vụ phải chịu sự
tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, chịu biện
pháp cỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp t pháp) và chịu mang
án tích;
Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và đợc
thể hiện bằng việc áp dụng đối với ngời phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cỡng
chế của nhà nớc do luật hình sự quy định;
Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm mà cá
nhân ngời phạm tội phải gánh chịu trớc nhà nớc về hành vi phạm tội của mình và
đợc thực hiện bằng hình phạt và các biện pháp cỡng chế hình sự khác theo quy
định của bộ luật hình sự.
1.4. Trong số các biện pháp cỡng chế của nhà nớc có tính chất pháp lý hình
sự áp dụng đối với ngời phạm tội thì hình phạt là biện pháp cỡng chế chủ yếu. Tuy

nhiên, trách nhiệm hình sự và hình phạt là những khái niệm không giống nhau
trách nhiệm hình sự là một chế định pháp lý, còn hình phạt cỡng chế chỉ là một
trong những phơng pháp để thực hiện, để cụ thể hoá trách nhiệm hình sự. Trong
bộ luật hình sự nớc ta, giữa khái niệm trách nhiệm hình sự và hình phạt cũng đợc
phân biệt qua một số quy định cụ thể. Điều 2 Bộ luật hình sự quy định: Chỉ ngời
nào phạm một tội đợc Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình
sự, còn đoạn cuối điều 26 Bộ luật hình sự quy định: hình phạt . là do toà án
quyết định. Điều 25 BLHS quy định về miễn trách nhiệm hình sự, còn điều
54BLHS lại quy định về miễn hình phạt, trong đó ghi rõ: Ngời phạm tội có thể đ-
ợc miễn hình phạt trong trờng hợp phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định
tại khoản 1 điều 46 của bộ luật này, đáng đợc khoan hồng đặc biệt, nhng cha đến
mức đợc miễn trách nhiệm hình sự.
Nh vậy trách nhiệm hình sự và hình phạt là hai khái niệm hoàn toàn khác
nhau. Trách nhiệm hình sự là khái niệm rộng hơn khái niệm hình phạt. Trách
nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, còn hình phạt chỉ là một trong
những biện pháp cỡng chế thể hiện nội dung của trách nhiệm hình sự. Ngoài hình
7
phạt trách nhiệm hình sự còn có thể đợc thể hiện với hình thức khác. Chính vì thế,
quan điểm coi trách nhiệm hình sự chỉ là trách nhiệm của ngời phải chịu biện pháp
cỡng chế nhà nớc là hình phạt là không phù hợp.
1.5. Quan điểm coi trách nhiệm hình sự là nghĩa vụ của một ngời phải chịu
các biện pháp cỡng chế nhà nớc do việc ngời đó thực hiện tội phạm thì cũng cha
phù hợp. Về bản chất, nghĩa vụ pháp lý và trách nhiệm pháp lý là không giống
nhau. Nghĩa vụ pháp lý nói lên khả năng có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý của
một ngời, còn trách nhiệm pháp lý chính là việc thực hiện nghĩa vụ pháp lý trái với
ý chí của ngời có nghĩa vụ. Do vậy, trách nhiệm hình sự, với tính cách là một dạng
của trách nhiệm pháp lý, không phải là nghĩa vụ mà một ngời có thể phải chịu hậu
quả pháp lý bất lợi do việc ngời đó thực hiện tội phạm và chính là hậu quả pháp lý
bất lợi mà ngời phạm tội phải chịu trớc nhà nớc đó việc ngời đó thực hiện tội
phạm. Trách nhiệm - đó không phải là nghĩa vụ phải chịu những hậu quả pháp lý

phát sinh từ sự vi phạm pháp luật và chính là hậu quả của nó trong tình trạng bị c-
ỡng chế Trách nhiệm - đó là nghĩa vụ đã đ ợc thực hiện bằng sự cỡng chế. Nghĩa
vụ thì có thể đợc thực hiện hoặc không đợc thực hiện, nhng khi đã bắt đầu trách
nhiệm, nghĩa là khi bộ máy bộ máy cỡng chế đã đi vào hoạt động thì ngời có trách
nhiệm không đợc lựa chọn. Ngời đó không thể không thực hiện hành vi của mình
tạo thành nội dung của nghĩa vụ phải thực hiện.
1.6. Chúng ta cũng không nên đồng ý với quan điểm cho rằng trách nhiệm
hình sự là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể quan hệ pháp luật hình
sự, phát sinh từ việc thực hiện tội phạm và đợc thực hiện từ khi truy cứu trách
nhiệm hình sự. Quan điểm này vô hình chung đã đồng nhất trách nhiệm hình sự
với quan hệ pháp luật hình sự. Thực chất, quan hệ pháp luật hình sự và trách
nhiệm hình sự là khác nhau. Quan hệ pháp luật hình sự phát sinh từ thời điểm một
ngời thực hiện tội phạm. Từ thời điểm một ngời thực hiện tội phạm, giữa nhà nớc
và ngời thực hiện tội phạm phát sinh những quyền và nghĩa vụ nhất định. Khi đó
ngời phạm tội bắt đầu có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm hình sự trớc nhà nớc về
hành vi phạm tội của mình và nhà nớc có quyền áp dụng các biện pháp cỡng chế,
buộc ngời phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự. Nhng nghĩa vụ phải chịu trách
nhiệm hình sự của ngời phạm tội sẽ không trở thành trách nhiệm hình sự thực tế
nếu tội phạm không bị phát hiện, nếu tội phạm đã hết thời hiệu truy cứu trách
nhiệm hình sự hoặc ngời phạm tội đợc miễn trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm
hình sự không phải tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể của quan hệ
pháp luật hình sự mà chính là hậu quả bất lợi mà ngời phạm tội phải chịu trớc nhà
nớc do ngời đó thực hiện tội phạm. Việc tách khái niệm thực hiện trách nhiệm
hình sự với khái niệm trách nhiệm hình sự thì có thể đợc nhng nếu chỉ coi trách
nhiệm hình sự nh nghĩa vụ phải chịu hậu quả bất lợi trớc nhà nớc thì không phù
hợp.
1.7. Chúng ta cũng không nên cho rằng trách nhiệm hình sự là hậu quả của
việc phạm tội, thể hiện ở các biện pháp cỡng chế nhà nớc và bắt đầu từ khi truy
cứu trách nhiệm hình sự. Đúng là từ thời điểm khởi tố bị can, nghĩa là từ thời điểm
bắt đầu của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một ngời, các cơ quan

tiến hành tố tụng áp dụng đối với một ngời phạm tội (thậm chí các biện pháp cỡng
8
chế còn đợc áp dụng từ trớc khi khởi tố bị can, ví dụ, biện pháp bắt ngời trong tr-
ờng hợp khẩn cấp, bắt ngời phạm tội quả tang, tạm giữ). Tuy nhiên các biện pháp
cỡng chế mà các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với một ngời trớc khi ngời
đó có thể bị kết án bằng bản án kết tội của toà án không thể là sự thể hiện của
trách nhiệm hình sự nếu sau đó các cơ quan tiến hành tố tụng đã ra quyết định
đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì hành vi của bị can không cấu thành tội phạm
hoặc có cơ sở để miễn trách nhiệm hình sự hoặc tại phiên toà, toà án ra bản án
tuyên vô tội hoặc tuyên miễn trách nhiệm hình sự đối với ngời đã bị truy tố.
Nếu chấp nhận quan điểm cho rằng trách nhiệm hình sự bắt đầu từ khi truy
cứu trách nhiệm hình sự, nghĩa là từ khi khởi tố thì trong trờng hợp này, phải
chăng trớc khi có bản án mà toà án tuyên miễn trách nhiệm hình sự đối với ngời
phạm tội, ngời đó đã phải chịu một phần trách nhiệm hình sự? Điều này khó có
thể chấp nhận đợc. Khi đã nói đến miễn trách nhiệm hình sự là nói đến việc miễn
toàn bộ hậu quả pháp lí thể hiện nội dung của trách nhiệm hình sự chứ không thể
nói đến miễn một phần trách nhiệm hình sự. Một ngời đã phải chịu trách nhiệm
hình sự thì không thể nói đến miễn trách nhiệm hình sự đối với ngời phạm tội.
Nếu ngòi phạm tội đã phải chịu trách nhiệm hình sự trớc nhà nớc trớc khi có bản
án của toà án tuyên thì toà án sẽ không thể nhân danh nhà nớc mà tuyên miễn
trách nhiệm hình sự đối với ngời phạm tội đã bị viện kiếm sát truy tố.
Trớc khi bị kết tội, một ngời có thể đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng áp
dụng những biện pháp ngăn chặn nh bắt tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi c
trú .Những biện pháp ngăn chặn này đ ợc áp dụng nhằm mục đích ngăn chăn tội
phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra
truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội cũng nh khi cần bảo đảm thi hành án. Về
bản chất, các biện pháp ngăn chặn không phải trách nhiệm hình sự. Mặc dù các
biện pháp ngăn chặn chỉ có thể đợc áp dụng đối với ngời phạm tội nhng không
phải là hậu quả tất yếu của việc phạm tội. Việc các cơ quan tiến hành tố tụng có áp
dụng hay không áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với một ngời không phải là

do đã xác định đợc ngời đó phạm tội hay không mà là ở chỗ có căn cứ chứng tỏ
nếu không áp dụng các biện pháp ngăn chặn thì ngời đó có thể gây khó khăn cho
việc điều tra truy tố xét xử hoặc có thể phạm tội Một ng ời đã bị áp dụng biện
pháp ngăn chặn vẫn có thể đợc miễn trách nhiệm hình sự nếu sau đó xác định đợc
là có các điều kiện để miễn trách nhiệm hình sự. Ngợc lại, một ngời có thể không
bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn nhng vẫn có thể phi chịu trách nhiệm hình sự
nếu bản án kết tội ngời đó có hiệu lực pháp luật. Các biện pháp ngăn chặn là một
phạm trù tố tụng thuần tuý, có ý nghĩa phòng ngừa.
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là các biện pháp ngăn chặn đợc áp
dụng trớc khi có bản án kết tội của toà án không có ảnh hởng gì đến trách nhiệm
hình sự mà ngời phạm tội phi chịu sau đó. Một số biện pháp ngăn chặn áp dụng
đối với ngời phạm tội sau đó có thể chuyển thành bộ phận cấu thành của trách
nhiệm hình sự khi ngời đã bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn sau đó bị toà án kết
án bằng bản án kết tội có kèm theo việc quyết định một số loại hình phạt nào đó.
Theo diều 31 BLHS, nếu ngời bị kết án cải tạo không giam giữ đã bị tạm giữ tạm
9
giam trớc khi chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thì thời gian tạm giữ
tạm giam đợc trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ
một ngày tạm giữ, tạm giam bằng ba ngày cải tạo không giam giữ. Còn điều 33
BLHS, nếu ngời bị kết án phạt tù có thời hạn đã bị tạm giữ tạm giam trớc khi chấp
hành hình phạt tù có thời hạn đã bị tam giữ, tạm giam trớc khi chấp hành hình phạt
tù thì thời hạn tạm giữ, tạm giam đợc trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ
một ngày tạm giữ, tạm giam bằng một ngày tù. Nh vậy, khi ngời phạm tội bị toà
án kết tội bằng bản án kết tội có hiệu lực pháp luật thì các biện pháp tạm giữ tạm
giam đã áp dụng đối với ngời phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc tù có
thời hạn đợc chuyển thành một bộ phận cấu thành của việc chấp hành hình phạt,
nghĩa là một bộ phận cấu thành của trách nhiệm hình sự.
Cũng giống nh các biện pháp ngăn chặn, các biện pháp t pháp cũng có thể
đợc áp dụng đối với ngời phạm tội trớc khi có bản án kết tội của toà án có hiệu lực
pháp luật nhng chúng không phải là biện pháp để thực hiện trách nhiệm hình sự.

Ngời bị áp dụng các biện pháp t pháp vẫn có thể đợc miễn trách nhiệm hình sự.
Tuy nhiên theo quy định tại điều 44 BLHS, nếu ngời phạm tội đã bị áp dụng biện
pháp t pháp bắt buộc chữa bệnh mà sau đó đã bị kết án phạt tù đối với ngời đó -
thời gian bắt buộc chữa bệnh đợc trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù. Điều
này chứng tỏ việc thực hiện biện pháp bắt buộc chữa bệnh của ngời phạm tội trớc
khi bị kết án, giống nh biện pháp tạm giữ tạm giam, cũng có thể đợc chuyển thành
một bộ phận của việc thực hiện trách nhiệm hình sự.
1.8. Chúng ta nên theo quan điểm cho rằng: nếu không có bản án kết tội của
toà án có hiệu lực pháp luật thì không thể nói đến trách nhiệm hình sự đối với một
ngời. Điều 72 Hiến pháp 1992 nớc ta đã khẳng định nguyên tắc quan trọng nhằm
bảo vệ cấc quyền của con ngời trong hoạt động t pháp hình sự - nguyên tắc suy
đoán vô tội, với nội dung nh sau: Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt
khi cha có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật. Nguyên tắc này một
lần nữa đợc nhắc lại tại điều 10 bộ luật tố tụng hình sự. Bản án kết tội của toà án
có hiệu lực pháp luật là cơ sở pháp lý xác nhận ngời phạm tội chính thức bị coi là
có tội. Bản án kết tội của toà án đối với ngời phạm tội chính là hậu quả pháp lý thể
hiện một trong những nội dung quan trọng của trách nhiệm hình sự mà ngời phạm
tội phải chịu trớc nhà nớc. Kể từ khi bản án kết tội của toà án có hiệu lực pháp
luật, ngời phạm tội bắt đầu phải chịu mang án tích. Chính vì vậy, chúng ta nên
đồng ý với quan điểm cho rằng trách nhiệm hình sự đợc thể hiện ở bản án kết tội
của toà án (bản án kết tội có quyết định hình phạt hoặc bản án kết tội có miễn hình
phạt) và trách nhiệm hình sự mà một ngời phải chịu trớc nhà nớc chỉ có thể đợc
xác nhận một cách chính thức khi có bản án kết tội của toà án có hiệu lực pháp
luật.
Chỳng ta cng nên đồng ý với quan điểm cho rằng án tích thực chất cũng
chính là một trong những hình thức thể hiện nội dung của trách nhiệm hình sự.
Đây cũng là một trong những hình thức nghiêm khắc nhất của trách nhiệm hình sự
so với các loại trách nhiệm pháp lý khác. Trách nhiệm hình sự và các dạng trách
nhiệm pháp lý khác có thể có những điểm giống nhau về hình thức thể hiện. Ví dụ,
trách nhiệm hình sự và trách nhiệm hành chính đều có hình thức chế tài là cảnh

10
cáo, phạt tiền. Nhng cảnh cáo, phạt tiền, với t cách là hình thức xử phạt vi phạm
hành chính ở chỗ ngời bị cảnh cáo, phạt tiền với t cách là hình phạt hình sự luôn
gắn với hậu quả là ngời đó bị coi là có án tích. án tích chỉ có thể đợc xoá khi đáp
ứng những điều kiện do luật định (từ điều 63 đến điều 67 BLHS). án tích gắn liền
với bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của toà án. Một ngời bị coi là còn án
tích nghĩa là bản án kết tội đối với ngới đó vẫn còn hiệu lực pháp luật.án tích cha
đợc xoá có nghĩa là bản án vẫn còn hiệu lực cả khi một ngời đã chấp hành xong
hình phạt quyết định đối với ngời đó. Trong trờng hợp một ngời cha đợc xoá án
tích lại phạm tội mới thì dấu hiệu án tích có ý nghĩa quan trọng ảnh hởng trực tiếp
đến việc giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự của ngời đó. Ngời cha đợc xoá án
tích lại phạm tội mới có thể bị coi là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm (Điều 49
BLHS) và gắn với nó là việc ngời phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn
những ngời không có án tích mà phạm tội khi các điều kiện không giống nhau.
Trên cơ sở các phân tích trên chúng ta có thể đa ra định nghĩa khoa học về
trách nhiệm hình sự nh sau: Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lí của việc thực
hiện tội phạm mà ngời phạm tội phải chịu trớc nhà nớc, thể hiện ở bản án kết tội
của toà án, cũng nh hình phạt mà toà án tuyên. Hay nói cách khác, trách nhiệm
hình sự là hậu quả pháp lý bất lợi mà ngời phạm tội phải chịu trớc nhà nớc. Chịu
sự tác động của hoạt động điều tra, mà hình phạt là biểu hiện cụ thể nhất. Trách
nhiệm hình sự thể hiện nội dung trong quan hệ cá nhân ngời phạm tội với nhà nớc
phản ánh trong quyết định của toà án.
2- Trách nhiệm hình sự của pháp nhân
2.1- Pháp nhân
Trớc khi làm rõ khái niệm trách nhiệm hình sự của pháp nhân chúng ta cần
làm rõ khái niệm pháp nhân. Pháp nhân là một tổ chức thống nhất, độc lập, hợp
pháp có tài sản riêng và chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình nhân danh mình
tham gia vào các quan hệ một cách độc lập.
Nh vậy các dấu hiệu của pháp nhân có thể nói tới là: Sự tồn tại độc lập của
pháp nhân mà không phụ thuộc vào sự thay đổi các thành viên trong pháp nhân đó.

Thứ hai là pháp nhân phải có tài sản riêng độc lập với tài sản của các thành viên
của nó. Thứ ba là pháp nhân có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt, tài sản và
thực hiện những hành vi pháp lý nhân danh mình. Pháp nhân có quyền làm nguyên
đơn, bị đơn trớc toà án và chịu trách nhiệm độc lâp về tài sản của mình.
Trong Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 chia pháp nhân ra làm các loại
sau đây: các pháp nhân là cơ quan nhà nớc, đơn vị vũ trang. Thứ hai là các tổ chức
chính trị, tổ chức chính tri - xã hội, nghề nghiệp. Thứ ba là các tổ chức kinh tế.
Thứ t là các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các quỹ xã hội, quỹ từ
thiện.
2.2-Trách nhiệm hình sự của pháp nhân
Khi đặt vấn đề về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thì đây là một vấn đề
rất mới và đang còn nhiều tranh cãi. Chúng ta có thể căn cứ trên khái nim trách
11
nhiệm hình sự để làm rõ khái niệm trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Trớc hết,
chúng ta phải hiểu rằng, trách nhiệm hình sự của pháp nhân cũng chỉ là một loại
trách nhiệm hình sự. Và trong khoa học luật hình sự nớc ta vẫn cha làm rõ đợc
khái niệm TNHS của pháp nhân. Đặt khái niệm này trong mối tơng quan với các
khái niệm trách nhiệm hành chính và trách nhiệm dân sự sẽ giúp chúng ta hiểu rõ
hơn vấn đề. Nh chúng ta đã biết, trách nhiệm hành chính của pháp nhân đã đợc n-
ớc ta thừa nhận. Và việc một pháp nhân vi phạm hành chính bị xử phạt vi phạm
hành chính là điều đơng nhiên. Và chúng ta cũng hiểu rằng giữa vi phạm hành
chính và tội phạm nó chỉ khác nhau về mức độ nguy hiểm của hành vi. Nh vậy khi
chúng ta đã thừa nhận trách nhiệm hành chính của pháp nhân thì tại sao chúng ta
lại không thừa nhận pháp nhân cũng có thể phải chịu trách nhiệm hình sự? Trên cơ
sở khái niệm trách nhiệm hình sự chúng ta có thể đa ra khái niệm trách nhiệm
hình sự của pháp nhân nh sau: Trách nhiệm hình sự của pháp nhân là hậu quả pháp
lý bất lợi mà pháp nhân phạm tội phải chịu trớc nhà nớc do hành vi phạm tội của
pháp nhân gây ra.
B - Cơ sở lý luận
Trớc hết, vi phạm pháp luật là hiện tợng xã hội mang tính giai cấp và tính

lịch sử. Tội phạm là một trong các loại vi phạm pháp luật nên nó cũng có những
tính chất nh vậy. Việc quy định hành vi nào là tội phạm, ai là chủ thể của tội phạm
phụ thuộc vào ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội. Tuy nhiên trong mọi lĩnh
vực, ý chí của giai cấp thống trị không phải là bất biến mà ngợc lại, nó cũng thay
đổi theo tiến trình phát triển của xã hội. Vào thời kì này, Nhà nớc coi hành vi này
là tội phạm, những ngời này là chủ thể của tội phạm nhng vào thời kì khác do
những điều kiện lịch sử cụ thể chi phối, nhà nớc có thể thay đổi những quy định
của mình về tội phạm. Đây chính là biểu hiện của tính lịch sử của tội phạm.
Xuất phát từ tính giai cấp và tính lịch sử của tội phạm nên việc quốc gia nào
đó có sự thay đổi về quan niệm cũng nh các quy định về chủ thể của tội phạm
cũng là điều dễ hiểu, cũng chính vì thế không thể vội vàng nhận xét luật hình sự
của nớc này không khoa học khi nó quy định hay không quy định pháp nhân là
chủ thể của tội phạm. Trong trờng hợp này, điều cần đánh giá là vào thời điểm
nào đó khi luật hình sự quy định hay không quy định pháp nhân là chủ thể của tội
phạm có phù hợp với những điều kiện lịch sử cụ thể hay không.
1- Có thể nói vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân là vấn đề rất mới
không chỉ trong thực tiễn pháp lý mà còn cả trong khoa học pháp lý nớc ta. Không
tán thành cách đặt vấn đề về trách nhiệm hình sự của pháp nhân, nhiều nhà khoa
học đã lên tiếng cho rằng pháp nhân cha bao giờ và không bao giờ là chủ thể của
luật hình sự. Xuất phát từ những điều kiện cụ thể khác nhau (về kinh tế xã hội,
pháp luật, văn hoá lịch sử ) trong giai đoạn phát triển hiện nay của xã hội Việt
Nam thì vấn đề TNHS của pháp nhân cũng cha cần cấp bách phải ghi nhận trong
luật hình sự Việt Nam. Họ đa ra cơ sở lý luận sau:
1.1-Thông thờng lỗi trong luật hình sự theo cách hiểu truyền thống và từ tr-
ớc đến nay vẫn là ý kiến phổ biến và đợc thừa nhận chung trong khoa học luật
hình sự về cơ bản vẫn chỉ đợc coi là lỗi của cá nhân ngời phạm tội thái độ tâm lý
12
của ngơì đó đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm và hậu quả
do hành vi đó gây ra. Còn pháp nhân là do con ngời lập ra và hoạt động của nó chỉ
có thể đợc thực hiện thông qua những con ngời cụ thể nên pháp nhân không thể và

không bao giờ có lỗi thái độ tâm lý chủ quan của con ngời (nh suy nghĩ tính toán,
dự toán, mong muốn ) và vì vậy theo lôgíc của sự việc và phép biện chứng triết
học - không có lỗi hình sự thì cũng không có TNHS.
1.2- Đến lúc nào đó thì cha rõ, nhng trong giai đoạn hiện nay có lẽ chính vì
không thể chấp nhận lỗi hình sự của pháp nhân mà nhà làm luật nớc ta trong quá
trình pháp điển hoá luật hình sự Việt Nam lần thứ hai đã không quy định trong
luật hình sự Việt Nam năm 1999 vấn đề TNHS của pháp nhân nh là nguyên tắc
quy tội khách quan tức là truy cứu TNHS chủ thể nào đó mà không chứng minh đ-
ợc lỗi hình sự của chủ thể đó, nguyên tắc phi dân chủ không thể chấp nhận đợc đã
từng tồn tại trong luật hình sự của nhà nớc chiếm hữu nô lệ, phong kiến.
1.3- Do tính không khắc nghiệt của các chế tài pháp lý phi hình sự trong các
ngành luật tơng ứng nh luật dân sự, luật hành chính hay luật môi trờng cho nên
trong các ngành luật này có thể chấp nhận đợc nguyên tắc trách nhiệm tuyệt đối-
trách nhiệm pháp lý của một chủ thể khi không chứng minh đợc lỗi của ai cả, mà
có thể chỉ căn cứ vào hành vi khách quan. Nhng do tính khắc nghiệt của một số
chế tài hình sự nên trong PLHS nớc ta không thể chấp nhận đợc nguyên tắc quy tội
khách quan là hợp lý.
2- Một số nhà khoa học khác với cách tiếp cận so sánh đã đi đến quan điểm
trái ngợc. Sau đây là một số cơ sở lý luận:
2.1- Việc đặt vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong điều kiện
ngày nay không phải là một vấn đề l m phức tạp cơ chế điều chỉnh của luật hình
sự mà là một vấn đề cần thiết. Chế định TNHS của pháp nhân đã chỉ ra một loại
chủ thể đặc thù có khả năng thực hiện hành vi phạm tội. Dù rằng pháp nhân là chủ
thể trừu tợng, không thể tự mình thực hiện các hành vi phạm tội song hoàn toàn có
lý khi cho rằng một hành vi phạm tội đợc thực hiện thông qua đại diện của pháp
nhân và ngời đó hành động vì quyền lợi của pháp nhân đó.
2.2- Để có thể hình dung một cách cụ thể và rõ nét hơn về trách nhiệm hình
sự của pháp nhân chỳng ta cần xem xét trách nhiệm hành chính của pháp nhân.
Pháp nhân là chủ thể của luật hành chính-điều này đã đợc thông nhất về mặt lý
luận và ghi nhận về mặt pháp lý. Một pháp nhân nào đó thực hiện hành vi trốn

thuế với số lợng nhỏ thì sẽ bị xử lý hành chính. Song nếu pháp nhân đó đã bị xử lý
hành chính một lần hoặc trốn thuế với số lợng lớn thì có bị truy cứu trách nhiệm
hình sự hay không? Điều 169 BLHS cuả nớc ta quy định loại hành vi này là tội
phạm. Rõ ràng ở đây cũng là một loại hành vi trốn thuế song pháp luật nớc ta có
sự phân biệt đối tợng phải chịu trách nhiệm hình sự, trong pháp luật hành chính là
pháp nhân còn trong pháp luật hình sự lại là chủ thể trực tiếp thực hiện hành vi
trốn thuế đó tức là cá nhân.
2.3- Một cơ sở nữa là, do ngời đại diện pháp nhân thực hiện tội pham vì lợi
ích của nó, để đảm bảo nguyên tắc công minh của pháp luật nói chung và pháp
13
luật hình sự nói riêng nên trong trờng hợp này theo nguyên tắc không tránh khỏi
trách nhiệm thì pháp nhân cũng phải chịu trách nhiệm với ngời đại diện đã phạm
tội của mình. Lẽ đơng nhiên nếu nh ai thực hiện chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên
mà không nhận thức đợc tính trái pháp luật của cấp trên thì không phải chịu trách
nhiệm mà pháp nhân đó phải đứng ra chịu trách nhiệm.
2.4- Khi ngời đại diện của pháp nhân thực hiện nhiệm vụ hoặc nghĩa vụ của
pháp nhân thì ý chí và hành vi của họ đợc coi là ý chí, hành vi của pháp nhân nhng
điều đó không nhất thiết là ngời đại diện của pháp nhân phạm tội (vì lợi ích của
pháp nhân) bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì pháp nhân cũng phải chịu bị truy
cứu trách nhiệm hình sự, nhất là khi trong PLHS có các biện pháp cỡng chế về
hình sự có thể áp dụng đợc cho thể nhân thì cũng có thể đợc áp dụng cho pháp
nhân nh phạt tiền và một số hình phạt khác sẽ nói đến ở phần sau.
2.5- Mặc dù pháp nhân là thực thể trừu tợng nhng nó đợc con ngời lập ra và
hành vi khách quan của nó chỉ có thể đợc thực hiện thông qua những con ngời cụ
thể. Những ngời đó hoặc là chỉ huy hoặc là lãnh đạo hoặc là đại diện của pháp
nhân. Khi những ngời này thực hiện nghĩa vụ hoặc nhiệm vụ cuả pháp nhân thì ý
chí và hành vi của họ đợc coi là ý chí và hành vi của pháp nhân. Trong điều kiện
hiện nay, các hoạt động của xã hội về cơ bản là hoạt động mang tính kinh tế do
các cá nhân hoặc pháp nhân thực hiên. Các vi phạm và tội phạm kinh tế hoặc là do
cá nhân hoặc do pháp nhân thực hiện, vì vậy nếu không coi pháp nhân là chủ thể

của tội phạm tức là mọi hành vi của pháp nhân dù là cho có nguy hiểm cho xã hội
đến đâu cũng không đợc coi là tội phạm và không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Nh vậy, Nhà nớc sẽ không kiểm soát đợc hành vi vi phạm pháp luật của pháp nhân
và đặc biệt là đã không sử dụng biện pháp hữu hiệu nhất là biện pháp hình sự để
chống lại các vi phạm, phục hồi các quan hệ xã hội. Cũng nh đối với thể nhân,
việc truy cứu trách nhiệm hình sự với pháp nhân có ý nghĩa quan trọng trong
phòng và chống tội phạm. Nếu pháp luật chỉ truy cứu TNHS với ngời đó mà không
truy cứu TNHS pháp nhân trong khi chính pháp nhân lại đợc hởng nhiều quyền lợi
mang lại từ hành vi phạm tội thì có nghĩa là pháp luật đã bỏ lọt tội phạm và đây rõ
ràng nh kích thích tố khuyến khích và những hành vi sai trái của pháp nhân. ở tất
cả các quốc gia mà pháp luật hình sự coi pháp nhân là chủ thể của tội phạm thì
đồng thời pháp luật hình sự cũng có hệ thống hình phạt riêng áp dụng cho pháp
nhân phạm tội. Thực tiễn đã chứng minh rằng, những hành vi phạm tội của pháp
nhân thờng xảy ra trong các hoạt động kinh tế với mục đích kiếm lời và vì vậy
hình phạt tiền với số lợng lớn hoặc những hình phạt hạn chế quyền tự do kinh
doanh của pháp nhân đợc coi là những hình phạt có tác dụng giáo dục và phòng
ngừa hơn cả.
II. Mặt thực tiễn
1. Về mặt này, các nhà khoa học có khuynh hớng cho rằng cha nên đa
TNHS của pháp nhân trong thời điểm hiện nay vào luật hình sự Việt Nam đã da ra
các cơ sở sau:
a) Thực tiễn lập pháp hình sự, cũng nh thực tiễn đấu tranh phòng chống tội
phạm mà các loại tội phạm có ngời đại diện cho pháp nhân thực hiện vì lợi ích của
14
pháp nhân ở Việt Nam trong thời gian qua cho thấy động thái loại tội phạm này
cha đến mức phải ghi nhận chế định TNHS của pháp nhân trong BLHS của nớc ta.
b) Nền kinh tế thị trờng của nớc ta do mới chuyển sang từ nền kinh tế quan
liêu bao cấp chứ cha phải nền kinh tế thị trơng mang tính tự do nh ở các nớc phát
triển cao. Nên trong tình trạng hiện nay trong PLHS chỉ cần áp dụng nguyên tắc
TNHS của thể nhân là đủ.

2. Để phản biện lại quan điểm trên vấn đề truy cứu TNHS của pháp nhân
dựa trên các cơ sở thực tiễn sau:
a) Có thể nói hiện nay ở nớc ta không chỉ tồn tại hiện tợng phạm tội có tổ
chức mà còn tồn tại các tổ chức phạm tội. Các tổ chức này đợc núp dới nhiều danh
nghĩa khác nhau nh các doang nghiệp, các hội có thu nhập chính từ các hoạt
động phạm tội và các vi phạm pháp luật khác. Các thành viên của tổ chức có sự
liên kết chặt chẽ và hoạt động một cách thống nhất. Nếu chỉ áp dụng nguyên tắc
trách nhiệm hình sự của cá nhân thì chúng ta chỉ đấu tranh đợc với từng thành viên
trong tổ chức phạm tội. Ngoài tịch thu tài sản của ngời phạm tội, chúng ta cũng
khó có khả năng tịch thu đợc các tài sản của tổ chức do thực hiện tội phạm mà có.
Kinh nghiệm đấu tranh phòng và chống tội phạm ở nớc ngoài đã cho thấy, đối với
các tổ chức tội phạm cần phải tập trung đấu tranh không chỉ với ngời thực hiện tội
phạm mà còn cả cho nguồn nuôi dỡngcho sự hoạt động của các tổ chức phạm
tội này
b) Nếu đa ra so sánh nền kinh tế thị trờng nớc ta hiện nay với các nớc phát
triển thì rõ ràng có sự phát triển chậm hơn. Nhng chính vì chúng ta đi sau và lại
chịu sự tác động của bối cảnh toàn cầu hoá mạnh mẽ nh hiện nay thì việc các pháp
nhân phạm tội là hoàn toàn có thể xảy ra. Nhất là khi chúng ta đã ra nhập WTO thì
việc ghi nhận chế định này sẽ có ý nghĩa quan trọng về mặt đối ngoại, vì nó cho
thấy nhà nớc Việt Nam thực sự tôn trong khuôn khổ pháp lý quốc tế. Đặc biệt
trong giai đoạn hiện nay khi hệ thống tài chính - ngân hàng của chúng ta cha
mạnh thì các hoạt động rửa tiền sẽ ngày càng trở nên phổ biến và do đó công tác
đấu tranh phòng chống tội phạm sẽ gặp rất nhiều khó khăn.
c) So với một số quốc gia khác mà ở đó pháp luật hình sự coi pháp nhân là
chủ thể của tội phạm thì nhịp độ phát triển kinh tế của nớc ta cha cao. Tuy nhiên
trong những năm gần đây, trong số các tội phạm kinh tế có không ít các tội phạm
do pháp nhân thực hiện. Báo cáo của ngành thuế hàng năm cho thấy, mỗi năm
nhà nớc thất thu hàng nghìn tỷ đồng tiền thuế mà nguyên nhân của tình trạng này
là do các cơ sở sản xuất kinh doanh cả của quốc doanh và ngoài quốc doanh trốn
thuế. Báo cáo của ngành quản lý thị trờng cũng chỉ ra tình trạng kinh doanh trái

phép, làm và buôn bán hàng giả, lu hành sản phẩm kém chất lợng, vi phạm các
quy định về quảng cáo đang ngày càng trở nên trầm trọng hơn. Mặc dù vậy việc
xử lý các hành vi vi phạm trên là rất khó vì luật hình sự nớc ta không coi pháp
nhân là chủ thể của tội phạm. Trong thực tiễn, đã có không ít vụ trốn thuế của các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh bị đa ra giải quyết bằng tố tụng hình sự và những
trờng hợp này cá nhân bị truy tố là giám đốc hoặc phó giám đốc. Các vụ trốn thuế
ở các cơ sở quốc doanh không đợc giải quyết bằng kênh tố tụng hình sự và thậm
15
chí cả kênh hành chính cũng đang bị lên án. Có lẽ chính vì nhà nớc không sử dụng
các biện pháp cứng rắn là biện pháp hình sự để xử lý pháp nhân nên tình trạng dây
da, nợ đọng thuế của các doanh nghiệp với số lợng ngày càng lớn và tới một số l-
ợng nào đó đẩy doanh nghiệp tới bờ vực phá sản, Nhà nớc lại phải dùng biện pháp
đậy nợ và gây ra gánh nặng cho ngân sách nhà nớc, là một nguyên nhân làm cho
nhà nớc không thc hiện đợc chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Nghiên cứu tình hình tội phạm
nớc ta gần đây thì ngoài trờng hợp lợi dụng danh nghĩa cơ quan nhà nớc để phạm
tội còn không ít trừơng hợp chính các cơ quan nhà nớc đã lợi dụng kẽ hở của pháp
luật trong việc không quy định pháp nhân là chủ thể của tội phạm để phạm tội.
Viết về vấn đề này TS. Phạm Hồng Hải có đa ra vụ án đất đai theo điều 180 BLHS
xảy ra ở xã Ngọc Thuỵ, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội là một điển hình. Xuất
phát từ chỗ ngân sách nhà nớc cấp cho xã quá eo hẹp trong khi địa phơng lại có
nhu cầu xây dựng trờng học, trạm xá, đờng đi nên đảng uỷ, hội đồng nhân dân,
Đại hội xã viên đều nhất định bán một diện tích rất lớn mặt hồ cho một số cơ quan
nhà nớc và cá nhân ở Hà Nội để lấy tiền đầu t cho công trình phúc lợi. Sau khi có
nghị quyết của Đảng uỷ, Hội đồng nhân dân và đại hội xã viên, chủ nhiệm hợp tác
xã và một số trởng thôn đợc giao trực tiếp thi hành nhiệm vụ. Sau một thời gian
các nghị quyết đã đợc thực hiện, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân xã
Ngọc Thuỵ đã dợc cải thiện và đó cũng là lúc toàn bộ ban lãnh đạo, đảng uỷ, uỷ
ban nhân dân, Hội đồng nhân dân, Hợp tác xã và các trởng thôn phải đứng trớc
vành móng ngựa về tội danh nh đã nêu trên và nhận các mức án khác nhau. Rõ
ràng ở đây ta thấy những điều bất hợp lý là những ngời trực tiếp thực hiện nghị

quyết của tập thể thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự còn một tập thể ngời đợc h-
ởng lợi ích từ hành vi phạm tội lại vô can. Trong luật hình sự (mặc dù cha có điều
luật nào trong BLHS nớc ta quy định) ngời ta vẫn thừa nhận thi hành mệnh lệnh
cấp trên trong những trờng hợp không nhận thức đợc đó là mệnh lệnh trái pháp
luật đợc coi là tình tiết loại trừ tính nguy hiểm của hành vi. Trong vụ việc nêu trên
chắc chắn không ít ngời không thể nhận thức đợc các nghị quyết của Đảng uỷ, Hội
đồng nhân dân, Đại hội xã viên là sai trái và vì vậy họ phải đợc loại khỏi phạm vi
những ngời bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, dù thế nào chăng nữa, các
tổ chức đã có nghị quyết sai trái và nghị quyết đó đã đợc rhực hiện trên thực tế
thông qua hành vi của những ngời đại diện thì tổ chức ấy không thể không chịu
trách nhiệm .Trong trờng hợp nêu trên, những ngời đợc tập thể uỷ quyền đã rơi
vào hoàn cảnh khó xử, nếu thực hiện sự uỷ quyền của tập thể họ trở thành tội
phạm, còn nếu không thực hiện họ đã vi phạm điều lệ của tổ chức và có thể bị kỉ
luật. Và rõ ràng nh vậy là điều không công bằng này cần phải đợc khắc phục.
III. Mặt pháp luật
1. Để cho rằng không nên đa chế định TNHS của pháp nhân vào luật hình
sự các nhà khoa học đa ra các cơ sở pháp luật sau:
a) Thể hiện tính kế thừa trong pháp luật hình sự của nớc ta hơn nửa thế kỷ
qua (từ sau cách mạng tháng 8/1945 đến nay cha bao giờ coi pháp nhân là chủ thể
của tội phạm nên nhà làm luật trong lần thứ hai pháp điển hoá luật hình sự Việt
16
Nam đã không ghi nhận chế định TNHS của pháp nhân trong BLHS năm 1999
mới đợc thông qua.
b) BLHS năm 1999 (Điều 2) đã một cách dứt khoát khẳng định chủ thể của
TNHS chỉ có thể là cá nhân và chính vì thế việc coi pháp nhân là chủ thể của
TNHS là không cần phải đặt ra nữa. Vì họ cho rằng làm nh vậy sẽ làm phức tạp cơ
chế điều chỉnh của luật hình sự. Và không chỉ sửa đổi điều 2 mà còn phải xem xét
lại toàn bộ các quy phạm liên quan đến chế định TNHS nữa.
c) Hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành có các chế tài pháp lý phi hình
sự đợc quy định bởi từng nghành luật tơng ứng (nh luật hành chính, dân sự, môi tr-

ờng). Mà nếu các chế tài ấy đợc xây dựng lại một cách khoa học phù hợp thì cũng
có thể đấu tranh tích cực áp dụng với pháp nhân .
2. Tuy nhiên các cơ sở pháp luật vừa nêu ra phía trên có nhiều điểm cha
thuyết phục:
a) Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin thì lý luận xuất phát từ thực
tiễn, từ trực quan sinh động đến t duy trừu tợng. Vì vậy việc các nhà khoa học
cho rằng trong luật hình sự Việt Nam từ 1945 đền nay cha coi pháp nhân là chủ
thể tội pham thì không có nghĩa là pháp nhân không thể trở thành chủ thể của tội
phạm. Nhất là khi thực tiễn nớc ta đã thay đổi nh đã nêu ở trên.
b) Hơn nữa viêc quy định TNHS của pháp nhân cũng không nên coi là làm
phức tạp cơ chế điều chỉnh của luật hình sự. Mà vấn đề dặt ra là nếu không truy
cứu TNHS của pháp nhân sẽ dẫn đến tình trạng bỏ lọt tội phạm. Thậm chí có ý
kiến cho rằng nên sửa đôỉ mức xử phạt trong luật dân s, hành chính, môi trờng.
Với việc sửa đổi nh vậy có phải cũng làm phức tạp cơ chế điều chỉnh cũng nh ban
hành pháp luật của nớc ta hay không?
3. Qua thực tế thấy rằng, quan điểm coi pháp nhân là chủ thể của tội phạm
đã có từ lâu và hiện nay nó chính thức đợc thừa nhận ở một số quốc gia trong đó
có cả những quốc gia từ trớc tới nay không những không thừa nhận mà thậm chí
còn phê phán. Những quốc gia coi pháp nhân là chủ thể của tội phạm là những
quốc gia có nền kinh tế phát triển hoặc đang phát triển. Cơ sở truy cứu TNHS của
pháp nhân giải thích rằng, ở các quốc gia này những vụ phạm tội với thủ đoạn lợi
dung danh nghĩa pháp nhân không còn là cá biệt và đã trở thành tơng đối phổ
biến: mặc dù không phải là con ngời cụ thể nhng có thể coi pháp nhân là một con
ngời pháp lý, bản thân pháp nhân cũng có khả năng chịu hình phạt nhất định của
nhà nớc nh phạt tiền, giải thể, đình chỉ .
4. ở nớc ta, Luật hình sự là một trong những ngành luật ra đời sớm nhất.
Nhìn lại lịch sử nớc Việt Nam từ thời kì có pháp luật thành văn đến nay, pháp luật
hình sự vẫn đứng vị trí đầu tiên cả về thời điểm xuất hiện cũng nh số lợng các văn
bản. ở mỗi thời kì khác nhau, do những đặc điểm địa lý, chính trị xã hội nên pháp
luật hình sự nớc ta ít nhiều bị ảnh hởng bởi pháp luật nớc ngoài. Việc nớc ta học

hỏi những diểm tiến bộ trong luật hình sự nớc ngoài và áp dụng một cách phù hợp
trong thực tiễn Việt Nam là một điều hợp lý.
17
Chơng II
trách nhiệm hình sự của pháp nhân các nớc
trên thế giới
i- trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình sự
các nớc theo truyền thống common law
1- Lịch sử vấn đề
1.1. ở nớc Anh, vào giữa thế kỉ 19 các công ty, tập đoàn kinh tế lớn đã đợc
thành lập và phát triển cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế. Vai trò của các
tổ chức này ngày càng lớn mạnh và nó đã khống chế các lĩnh vực kinh tế, chính
trị, xã hội.
Chủ nghĩa t bản độc quyền hình thành, những khiếm khuyết của nền kinh tế
thị trờng bộc lộ sâu sắc. Lợi nhuận đã khiến các tổ chức kinh tế nói trên đa ra
quyết định và thực hiện nhiều vụ áp phe lớn mà hậu quả của nó là hàng loạt các
quan hệ xã hội quan trọng khác bị xâm phạm, các lợi ích căn bản của xã hội và
ngời tiêu dùng bị chà đạp, mà việc áp dụng các chế tài pháp lý của các ngành luật
nh luật hành chính, dân sự đã không đủ sức ngăn chặn. Bởi vậy xuất phát từ chính
18

×