Tải bản đầy đủ (.doc) (28 trang)

Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên trường tiểu học

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (214.11 KB, 28 trang )

Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên trường
tiểu học
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài tiểu luận
Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng đặt cơ sở cho việc hình thành và phát
triển toàn diện nhân cách con người, tạo nền móng vững chắc cho giáo dục
phổ thông và toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân. Để bậc Tiểu học xứng đáng
là bậc học nền tảng thì việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện là một vấn
đề then chốt. Trong nhà trường Tiểu học, đội ngũ giáo viên là lực lượng có
vai trò quyết định nhất đến chất lượng và hiệu quả giáo dục. Vì vậy, để có đội
ngũ giáo viên hội đủ tài, đức và năng lực đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
hiện nay thì phải chăm lo, thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội
ngũ giáo viên. Đây là một việc làm thường xuyên ý nghĩa chiến lược để nâng
cao chất lượng giáo dục.
Năm học 2002 - 2003, ngành Giáo dục tiến hành triển khai chương
trình Tiểu học mới (chương trình tiểu học 2000) đến nay đã trải qua 10 năm
học. Song trong thực tế 10 năm học triển khai đã xuất hiện một vấn đề bất
cập, đặc biệt bất cập giữa chương trình yêu cầu cao với trình độ hạn chế của
đội ngũ giáo viên tiểu học. Thực tiễn giáo dục chứng minh rằng: dù nội dung
chương trình, phương pháp dạy học đã đổi mới, dù cơ sở vật chất đã hiện đại
nhưng chất lượng giáo viên yếu kém, sẽ không thể nói gì đến việc nâng cao
chất lượng, hiệu quả giáo dục. Bởi vậy, để nâng cao chất lượng giáo dục, để
dạy tốt chương trình Tiểu học mới, nghành giáo dục phải hết sức quan tâm
đến chất lượng đội ngũ giáo viên của các nhà trường trong hệ thống giáo dục
quốc dân. Chính vì vậy mà yêu cầu nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên đang
trở thành vấn đề trọng tâm của ngành giáo dục, nhất là trong thời điểm chúng

ta đang tích cực thực hiện cuộc vận động “Hai không” của Bộ GD&ĐT, đảm
bảo việc dạy thực, học thực, thi thực, chất lượng thực trong mỗi nhà trường.
Xuất phát từ thực tiễn và những yêu cầu nêu trên, là một cán bộ quản lý
trong nhà trường Tiểu học, em chọn đề tài tiểu luận: “Một số giải pháp nhằm


nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên trường Tiểu học Sơn Đồng -
Huyện Hoài Đức - Thành phố Hà Nội”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực tiễn công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên của BGH trường
Tiểu học Sơn Đồng, Huyện Hoài Đức, Thành Phố Hà Nội từ đó đề xuất một số
giải pháp nhằm nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên của Nhà trường.
3. Phạm vi đối tượng nghiên cứu.
Hoạt động giáo dục, năng lực đội ngũ giáo viên ở trường Tiểu học Sơn
Đồng, Huyện Hoài Đức, Thành Phố Hà Nội
4. Kết cấu tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tiểu luận gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
Chương 2: Thực trạng của việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
ở Tiểu học Sơn Đồng, Huyện Hoài Đức, Thành Phố Hà Nội
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo
viên ở trường Tiểu học Sơn Đồng, Huyện Hoài Đức, Thành Phố Hà Nội


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
1.1. Gíáo viên với việc nâng cao chất lượng dạy học
1.1.1. Giáo dục đào tạo
Trong tiếng Anh, “giáo dục” là "education". Đây là một từ gốc Latin
ghép bởi hai từ: "Ex" và "Ducere" _ "Ex-Ducere". Có nghĩa là dẫn
("Ducere") con người vượt ra khỏi ("Ex") hiện tại của họ mà vươn tới những
gì thiện hảo, tốt lành hơn, hạnh phúc hơn.
Định nghĩa này cho thấy sự hoàn thiện của mỗi cá nhân mới là mục tiêu
sâu xa của giáo dục, người giáo dục (thế hệ trước) có nghĩa vụ phải hướng
dẫn, phải chuyển lại cho thế hệ sau tất cả những gì có thể để làm cho thế hệ

sau triển nở hơn, hạnh phúc hơn. Và như vậy giáo dục đào tạo là một hiện
tượng xã hội, xảy ra không phải ngẫu nhiên mà có mục đích, có tổ chức, có kế
hoạch, có kiểm tra đánh giá và được sự tham gia của cả cộng đồng. Giáo dục
là một hiện tượng như thế.
1.1.2. Chất lượng giáo dục
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về chất lượng giáo dục và chất
lượng dạy học, song có thể thấy rằng chất lượng giáo dục là trình độ và khả
năng thực hiện mục tiêu giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao nhu
cầu của người học và sự phát triển toàn diện xã hội.
Chất lượng giáo dục chính là chất lượng của người học (hay tri thức
phổ thông) mà người học lĩnh hội được vốn học phổ thông toàn diện, vững
chắc ở mỗi người.

1.1.3. Đội ngũ giáo viên
Đội ngũ giáo viên là một tập thể người được gắn kết với nhau bằng hệ
thống mục đích, có cùng nhiệm vụ trực tiếp dạy học và giáo dục học sinh,
cùng chịu sự ràng buộc của những quy tắc có tính hành chính sư phạm của
nghành và của Nhà nước.
Song trên thực tế đội ngũ giáo viên tiểu học nước ta đa dạng về nguồn
gốc đào tạo, trình độ không đều, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn thấp hơn các bậc
học khác (Nghị quyết TW 2 khóa VIII về giáo dục và đào tạo).
Để khẳng định vị trí hàng đầu của vấn đề giáo dục, đào tạo thì vấn đề
đặt ra với các cấp, các ngành và đặc biệt là ngành Giáo dục – Đào tạo phải có
chất lượng đào tạo tốt, có đội ngũ giáo viên tương ứng, có đầy đủ phẩm chất,
tư cách cũng như trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.
1.2. Vai trò của người giáo viên trong nền giáo dục
Người xưa có câu “Không thầy đố mày làm nên” và “Nhất tự vi sư, bán
tự vi sư” nhằm khẳng định vị trí của người thầy trong xã hội
V.I. Lênin, lãnh tụ thiên tài của giai cấp vô sản toàn thế giới đã viết:
“Phải đặt người giáo viên của đất nước chúng ta lên một tầm cao mà trong xã

hội tư sản từ trước tới nay về sau không thể có được.”
Đọc và làm theo mạch nghĩ của V.I. Lênin, Đảng ta đã đánh giá rất cao
vai trò và vị trí của người thầy. Bác Hồ khẳng định: “Có gì vẻ vang hơn là
đào tạo thế hệ sau này, tích cực xây dựng CNXH và CNCS. Người thầy giáo
tốt, thầy giáo xứng đáng là thầy giáo, là vẻ vang nhất, dù tên tuổi không đăng
trên báo, không được thưởng huân chương, song người thầy giáo tốt là
những anh hùng vô danh… vì nghề thầy giáo là nghề rất quan trong và rất vẻ
vang.” Với trọng trách là người “quyết định chất lượng giáo dục”, là người
đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách và thực hiện sứ mạng cao cả đầy
tính nhân văn và trách nhiệm, người giáo viên phải hội tụ được một cách đầy

đủ những yêu cầu về phẩm chất và năng lực chuyên môn để thực hiện mục
tiêu giáo dục. Cho nên khi bàn về nghệ thuật sư phạm, cố Tổng bí thư Lê
Duẩn đã nói: “Nghề thầy giáo là kết tinh các tinh hoa của con người. Là nghề
cao quý trong các nghề cao quý. Đảng ta, nhân dân ta giao phó việc dạy dỗ
con em mình cho các thầy giáo sứ mạng đào tạo thế hệ tương lai cho cả dân
tộc. Vì vậy, Đảng ta nhân dân ra giao phó việc dạy dỗ con em mình cho các
thầy giáo cũng tức là phó thác cho các thầy giáo sứ mệnh đào tạo thế hệ
tương lai cho cả dân tộc. Vì vậy, Đảng và nhân dân ta rất quý mến và biết ơn
các thầy giáo.”
Xuất phát từ mục tiêu và vị trí của giáo dục tiểu học nên trong quyết
định số 2957/QĐ-Đt ngày 4/10/1994 của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác định
vai trò của người giáo viên tiểu học: “Là lực lượng giáo dục chính, giữ vai trò
chủ đạo trong mọi hoạt động giáo dục, là người giáo viên tổng thể, người tổ
chức quá trình của trẻ bằng phương thức nhà trường”. Dạy học ở tiểu học -
“Nghề đậm đặc tính sư phạm, nghề dạy học ở tiểu học có những điểm giống
những nghề dạy học ở các bậc học khác nhưng có đặc thù riêng về mặt sư
phạm mà nghề dạy học ở bậc học khác không có được”.
Điều 14 - Luật giáo dục nêu rõ: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong
việc đảm bảo chất lượng giáo dục. Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn

luyện nêu gương tốt cho người học”.
Vai trò của giáo viên có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát
triển nhân cách học sinh. Trong nhà trường các em hòa nhập vào mối quan
hệ: Thầy - trò; trò - trò thông qua các mối quan hệ đó làm nảy nở những nét
phẩm chất nhân cách, làm phong phú hơn vốn từ ngữ, biết sử dụng tiếng việt
trong sáng, dễ hiểu trong các mối quan hệ đó, người thầy giáo giưc vị trí vô
cùng quan trọng, vì lứa tuổi các em hay bắt chước người lớn. trong suy nghĩ
của các em thì hình ảnh người thầy trở thành thần tượng, hình mẫu để các em
vươn tới. Vĩ vậy nghị quyết TW 2 đã nêu: “Để đảm bảo cho chất lượng giáo

dục và Đào tạo phải giải quyết tốt vấn đề thầy giáo, bởi vì không có thầy giáo
thì không có giáo dục”.
1.3. Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học
1.3.1. Nhiệm vụ của giáo viên tiểu học:
Giảng dạy và giáo dục theo đúng chương trình giáo dục, kế hoạch dạy
học; soạn bài, kiểm tra, đánh giá đúng qui định; lên lớp đúng giờ, không tùy
tiện bỏ giờ, bỏ buổi học, đảm bảo chất lượng và hiệu quả giảng dạy; quản lý
học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các
hoạt động của tổ chuyên môn; tham gia công tác phổ cập giáo dục tiểu học ở
địa phương; rèn luyện đạo đức, học tập văn hóa, bồi dưỡng chuyên môn
nghiệp vụ để nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy, hiệu quả giáo dục;
Thực hiện nghĩa vụ công dân, các qui định của pháp luật, các quyết
định của hiệu trưởng; nhận nhiệm vụ do hiệu trưởng phân công, chịu sự kiểm
tra của hiệu trưởng và các cấp quản lý giáo dục;
Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo; gương mẫu trước học
sinh, thương yêu, tôn trọng học sinh, đối xử công bằng với học sinh; bảo vệ
các quyền và lợi ích chính đáng của học sinh, đoàn kết, giúp đỡ các bạn đồng
nghiệp;
Chủ động phối hợp với Đội Thiếu niên Tiền Phong Hồ Chi Minh, Sao
Nhi Đồng Hồ Chí Minh, vời gia đình học sinh và các tổ chức xã hội có liên

quan trong hoạt động dạy học và giáo dục.
Thực hiện nhiệm vụ khác theo qui định của pháp luật.
1.3.2. Một số tiêu chuẩn người giáo viên tiểu học trong giai đoạn
hiện nay
Điều 61 (Luật Giáo dục) đã chỉ rõ, nhà giáo phải có phẩm chất, đạo
đức, tư tưởng tốt; đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ;
đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp và phải có lý lịch bản thân rõ ràng.

Theo quyết định số 14/2007/QĐ - Bộ GD&ĐT) chuẩn nghề nghiệp
giáo viên tiểu học bao gồm lĩnh vực: Phẩm chất đạo đức, chính trị, lối sống;
kiến thức; kỹ năng sư phạm.
* Các yêu cầu thuộc lĩnh vực phẩm chất đạo đức, chính trị, lối sống
- Nhận thức tư tưởng chính trị với trách nhiệm của một công dân, một
nhà giáo đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
- Chấp hành pháp luật, chính sách của nhà nước.
- Chấp hành qui chế ngành, qui định của nhà trường, kỷ luật lao động.
- Đạo đức, nhân cách và lối sống lành mạnh, trong sáng của nhà giáo;
tinh thần đấu tranh các biểu hiện tiêu cực; ý thức phấn đấu vươn lên trong
nghề nghiệp; sự tín nhiệm của đồng nghiệp, học sinh và cộng đồng.
- Trung thực trong công tác; đoàn kết trong quan hệ đồng nghiệp; phục
vụ nhân dân và học sinh.
* Các yêu cầu thuộc lĩnh vực kiến thức.
- Kiến thức cơ bản;
- Kiến thức về tâm lý học sư phạm và tâm lý học lứa tuổi, giáo dục tiểu học;
- Kiến thức về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của học sinh;
- Kiến thức phổ thông về chính trị, xã hội và nhân văn, kiến thức; tinh
thần đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực; ý thức phấn đấu vươn lên trong
nghề nghiệp; sự tín nhiệm của đồng nghiệp, học sinh và cộng đồng;
- Kiến thức địa phương về nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
của tỉnh, huyện, xã nơi giáo viên đang công tác.

* Các yêu cầu thuộc lĩnh vực kỹ năng sư phạm
- Lập kế hoạch dạy học; biết cách soạn giáo án theo hướng đổi mới;
- Tổ chức thực hiện các hoạt động dạy học trên lớp phát huy được tính
năng động sáng tạo của học sinh;

- Công tác chủ nhiệm lớp; tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp;
- Thực hiện thông tin hai chiều trong quản lý chất lượng giáo dục; hành
vi trong giáo tiếp, ứng xử có văn hóa mang tính giáo dục;
- Xây dựng, bảo quản và sử dụng có hiệu quả hồ sơ giáo dục và giảng dạy;
1.3.3. Nâng cao năng lực giáo viên tiểu học
Người giáo viên nói chung và người giáo viên tiểu học nói riêng là người
truyền thụ một phần không nhỏ tri thức của nhân loại, tinh hoa của dân tộc cho
lớp trẻ, khơi dậy trong các em truyền thống hiếu học, tác động vào các em hăng
hái học tập, rèn luyện tu dưỡng đạo đức trở thành người có ích cho xã hội.
Trong thời đại của nền kinh tế tri thức, khi mà khoa học và công nghệ
liên tục phát triển, các nguồn thông tin càng phong phú, các em không thể
nắm bắt tri thức từ giáo viên mà còn thu thập từ nhiều nguồn thông tin khác
nhau: sách, báo, đài, mạng internet,… Kiến thức giáo viên truyền thụ cho các
em không còn chiếm vị trí độc tôn như trước nữa. Ngày nay, chức năng của
giáo viên không chỉ đơn thuần là truyền thụ tri thức mà người thầy còn đóng
vai trò tổ chức điều khiển các hoạt động của học sinh (học tập, giao lưu, lao
động…). Qua các loại hoạt động như vậy học sinh vận dụng những điều đã
học vào thực tế cuộc sống.
Xã hội càng phát triển, chức năng của người thầy phải luôn luôn thay
đổi cho phù hợp với xã hội. Người thầy không chỉ có chức năng truyền thụ
kiến thức mình có cho học sinh mà phải dạy cho học sinh những gì học sinh
cần, xã hội hiện đại đòi hỏi. Vì vậy, công tác bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ
giáo viên là hết sức cần thiết.

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ
GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC SƠN ĐÒNG - HOÀI ĐỨC - HÀ
NỘI
2.1. Tình hình đội ngũ giáo viên trường Tiểu học Sơn Đồng
Năm học 2011 - 2012, trường tiểu học Sơn Đồng có 22 lớp với 695 học
sinh và 36 giáo viên. Đội ngũ giáo viên nhà trường có những đặc điểm sau:
* Số lượng và trình độ đào tạo
TS
GV
Giới tính Độ tuổi Trình độ đào tạo
Nam Nữ
Từ 21 - 30
Từ 31 - 40
Từ 41 trở lên
ĐẠI HỌC CAO ĐẲNG
TS % TS % TS % TS %
36 01 2,8 35 97,2 2 14 20 15 41,7 21 58,3
Bảng 1: Đội ngũ giáo viên của trường Tiểu học Sơn Đồng
* Năng lực chuyên môn và trình độ lí luận chính trị
Tổng
số GV
Năng lực chuyên môn Trình độ lý luận chính trị
Giỏi Khá Trung bình Sơ cấp Trung cấp
TS % TS % TS % TS % TS %
36 15 41,7 15 41,7 6 16,6 11 30,6 0 0
Bảng 2: Năng lực chuyên môn và trình độ lý luận chính trị

* Tthành tích đạt được của giáo viên trường Tiểu học Sơn Đồng
TSGV
GV giỏi cấp tỉnh GV giỏi cấp huyện GV giỏi cấp trường

SL % SL % SL %
36 1 2,7 14 38,9 9 25,0

Bảng 3: Danh hiệu thi đua
* Cơ cấu sắp xếp giáo viên trong nhà trường
Tổng số
GV
Cơ cấu sắp xếp
GV
cơ bản
GV
Âm nhạc
GV
Mĩ thuật
GV
T.Anh
GV
Thể dục
GV
Tin học
36 29 2 1 2 1 1
Bảng 4: Cơ cấu sắp xếp giáo viên, nhân viên của nhà trường
* Công tác bồi dưỡng Đảng viên của trường
Tổng số
GV
Đảng viên Nam Nữ
TS % TS % TS %
36 11 30,6 1 9,1 10 90,9
Bảng 5: Tình hình đảng viên của nhà trường
Phần đông giáo viên của nhà trường ở độ tuổi từ 35 trở lên, có kinh

nghiệm giảng dạy. 100% giáo viên có trình độ đào tạo trên chuẩn tạo điều

kiện thuận lợi cho việc bồi dưỡng, đổi mới phương pháp dạy học. Giáo viên
có tư tưởng cầu tiến, ham học hỏi, say mê công việc Trong nhiều năm, chất
lượng giáo dục của nhà trường cũng như chất lượng đội ngũ giáo viên từng
bước được nâng lên một cách vững chắc.
2.2. Quản lý chỉ đạo công tác bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ giáo viên
Quản lý chỉ đạo công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên là một công việc
rất quan trọng. Vì vậy, em đã tiến hành một số biện pháp như sau:
* Duy trì sinh hoạt chuyên môn đều đặn
Thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn để quán triệt mục tiêu, nội
dung, chương trình, nhiệm vụ năm học. Trao đổi, toạ đàm để rút ra những bài
học trong quá trình giảng dạy, giáo dục. Tổ chức học tập những kiến thức về
nội dung, chương trình, SGK mới; Kiến thức về phương pháp dạy học tích
cực.
Trường Tiểu học Sơn Đồng thường sinh hoạt tổ chuyên môn vào cuối
buổi dạy chiều thứ sáu hàng tuần. Trước khi họp chuyên môn,Hiệu trưởng
(P.Hiệu trưởng) đã làm việc với các tổ chuyên môn. Đây là những hạt nhân
trong tổ, khối. Họ chỉ đạo buổi sinh hoạt chuyên môn của tổ,khối mình khi
lĩnh vực hội những nội dung cần triển khai từ BGH.
Hiệu trưởng có sự phân công dự sinh hoạt chuyên môn của các tổ khối,
qua đó có các nhận xét, đánh giá và chỉ đạo tốt việc sinh hoạt tổ chuyên môn
nhằm nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên.
* Phối hợp với các tổ chức trong nhà trường (chi bộ, công đoàn, đoàn
thanh niên,…) phát động các phong trào thi đua “dạy tốt - học tốt ” học tập
đạo đức và lối sống Hồ Chí Minh để từ đó khơi dậy trong tập thể sư phạm ý
thức phấn đấu rèn luyện, xoá bỏ quan niệm chỉ cần dạy tốt, không quan tâm
đến chính trị, đạo đức, tác phong của người giáo viên, xây dựng một đội ngũ
đồng bộ về mọi mặt.


* Tổ chức các chuyên đề nghiệp vụ sư phạm
Các chuyên dề này được tổ chức dưới hình thức: Hội thảo, báo cáo
sáng kiến kinh nghiệm… về những vấn đề như là làm thế nào để trở thành
giáo viên giỏi, vận dụng các phương pháp mới vào giảng dạy, bồi dưỡng học
sinh giỏi, học sinh yếu, kém… nhờ đó mà giáo viên học hỏi được những kinh
nghiệm, sáng kiến hay từ bạn bè, đồng nghiệp.
* Thực hiện kế hoạch thăm lớp, dự giờ tổ chức hội giảng thi giáo viên
dạy giỏi cho đội ngũ giáo viên.
Việc dự giờ thăm lớp thường xuyên giúp ban giám hiệu nắm bắt được
tình hình dạy và học của các lớp, việc này đã trở thành nếp của nhà trường.
Sau mỗi tiết dạy đều tổ chức rút kinh nghiệm; bàn luận, trao đổi. Ban giám
hiệu thống nhất lại và bổ sung những vấn đề cần thiết. Luôn coi trọng và
khuyến khích phát huy tính sáng tạo trong giảng dạy của giáo viên, tránh áp
đặt trong công tác bồi dưỡng giáo viên.
Qua dự giờ, em phát hiện được những điểm mạnh, điểm yếu của mỗi
giáo viên cũng như học sinh lớp đó. Từ đó phân loại được đối tượng giáo
viên để có kế hoạch bồi dưỡng sát thực. Đặc biệt cần quan tâm chú ý đến
những giáo viên có tay nghề còn non để giúp họ vươn lên. Dự giờ thăm lớp
còn giúp giáo viên nâng cao năng lực sư phạm và nghệ thuật giảng dạy.
Thường xuyên tổ chức hội giảng, thao giảng nhân các ngày lễ lớn trong
năn học, đây cũng là hình thức để mỗi giáo viên tự nâng cao tay nghề, là dịp
để giáo viên trổ tài dạy học của mình. Qua hội giảng, em sẽ nắm vững đội ngũ
giáo viên để định ra những vấn đề cần bồi dưỡng có hiệu quả.
*Tổ chức các hoạt động bồi dưỡng thường xuyên
Nhà trường lấy đây là một tiêu chuẩn thi đua, đánh giá, xếp loại giáo viên.

BGH luôn động viên, tạo mọi điều kiện cho giáo viên tham gia học tập
vào các dịp hè, đầu năm học một cách đầy đủ và thi lấy chứng chỉ theo sự tổ
chức của Phòng Giáo dục huyện.
Sau những đợt học tập chung, BGH tổ chức cho giáo viên thảo luận về

nội dung đã học, từ đó rút ra được những bài học phục vụ cho công tác giảng
dạy và giáo dục của nhà trường, giúp giáo viên vận dụng những kiến thức đã
tiếp thu được vào công tác giảng dạy của mình được tốt hơn.
* Cử giáo viên đi học lớp ngắn hạn, dài hạn.
Về việc cử giáo viên đi học, BGH dựa trên nguyện vọng nhu cầu của cá
nhân và kế hoạch của nhà trường. Dựa trên kế hoạch bồi dưỡng của nhà
trường, giáo viên tự đề ra kế hoạch bồi dưỡng cho mình với những nội dung
còn thiếu, còn yếu trong từng tuần, từng tháng, từng kì, năm học.
* Đẩy mạnh công tác viết sáng kiến kinh ngiệm và tự làm đồ dùng dạy học
Sau mỗi đợt hội giảng, thi giáo viên dạy giỏi, BGH đều tổ chức cho
giáo viên viết sáng kiến kinh nghiệm theo các vấn đề mà giáo viên chọn. Mỗi
sáng kiến kinh nghiệm mà giáo viên nêu ra BGH xem xét, trao đổi những điều
khúc mắc và tổ chức thảo luận, báo cáo kinh nghiệm để các giáo viên khác
cùng học hỏi. Phát động các phong trào thi đua “Tự làm và sử dụng đồ dùng
dạy học” trong đội ngũ giáo viên theo từng học kỳ yêu cầu mỗi học kỳ mỗi
giáo viên ít nhất phải có một đồ dùng dạy học có chất lượng, sau đó chấm
điểm, xếp loại thi đua và có giải thưởng của nhà trường. Việc trình bày đồ
dùng tự làm giúp giáo viên xoá đi những mặc cảm tự ti, dám mạnh dạn thể
hiện và tự khẳng định mình. Đến nay không có giáo viên nào của nhà trường
ngại sử dụng đồ dùng dạy học và không còn tình trạng dạy chay như trước.
* Quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của giáo viên
Đời sống vật chất tinh thần của giáo viên có ảnh hưởng rất lớn tới chất
lượng giảng dạy và giáo dục. Nắm chắc được tình hình đó nên BGH và Công

đoàn phối hợp động viên thăm hỏi, giúp đỡ kịp thời khi giáo viên gặp khó
khăn, hoạn nạn nhằm tạo lên một tập thể đoàn kết nhất chí cao, mọi người gắn
bó với trường lớp và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Giải quyết kịp thời lương, phụ cấp, kinh phí giảng dạy…. không gây
phiền hà rắc rối trong giải quyết chế độ cho giáo viên.
Tham mưu với chính quyền địa phương hỗ trợ kinh phí để đưa giáo

viên đi thăm quan, học hỏi các đơn vị trường điển hình tiên tiến
* Đẩy mạnh các công tác thi đua khen thưởng, nêu gương người tốt
việc tốt
Thực hiện khen - thưởng đi đôi với nhau khen thưởng đúng mức, đúng
người, đúng việc nên đã tạo được niền tin, kích thích sự cố gắng, nỗ lực của
cán bộ giáo viên, nhân viên. Đây là việc làm tích cực thúc đẩy công tác bồi
dưỡng và tự bồi dưỡng của giáo viên.
Tiến hành trao phần thưởng cho giáo viên dạy giỏi và học sinh giỏi
toàn trường một cách long trọng, với sự có mặt của chính quyền địa phương.
Tham mưu với chính quyền địa phương các tổ chức xã hội, các thành
phần kinh tế khác hỗ trợ kinh phí cho công tác thi đua khen thưởng trong nhà
trường.
2.3. Công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên
Trong những năm gần đây, nhà trường đã rất quan tâm và chú trọng
đến chất lượng và hiệu quả giáo dục - đào tạo. Uy tín của nhà trường đối với
phụ huynh, với trường ban và các cấp quản lý ngày càng được nâng lên. Ban
Giám hiệu luôn tâm niệm rằng: muốn trường có tên tuổi, nhiều người biết đến
thì phải đưa chất lượng giáo dục học sinh lên. Điều đó phụ thuộc rất lớn vào
đội ngũ giáo viên vì “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục…”.
Chất lượng học sinh thực tế đã được nâng lên rõ rệt, song đối chiếu với yêu
cầu của ngành, của xã hội trong giai đoạn mới thì đội ngũ giáo viên hiện nay

vẫn còn bộc lộ rất nhiều hạn chế về kiến thức, phương pháp dạy học, kỹ năng
tổ chức các hoạt động học tập, giáo dục ngoài giờ,…
Để khắc phục tình trạng những hạn chế này BGH đã lập kế hoạch, tổ
chức, quản lý thực hiên bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ giáo viên góp phần
khắc phục tình trạng chưa vững về kiến thức, năng lực, trình độ sư phạm của
đội ngũ giáo viên nhằm nâng cao chất lượng toàn diện cho giáo viên. Mặc dù
trong quá trình tiến hành còn gặp nhiều khó khăn nhưng với ý chí và quyết
tâm của bản thân cùng tập thể giáo viên, công tác tự học, tự bồi dưỡng đã trở

thành một nhu cầu không thể thiếu và đã tổ chức thực hiện thường xuyên,
nghiêm túc. Và hơn ai hết, BGH luôn là người đi đầu trong công tác tự học, tự
bồi dưỡng nhằm hoàn thiện và quản lý tốt công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo
viên.
Lập kế hoạch là khâu đầu tiên trong chu kỳ quản lý, là khâu then chốt
và rất quan trọng. Qua việc lập kế hoạch người quản lý phân tích được tình
hình đội ngũ ngay từ đầu năm học, đánh giá phân loại trình độ và năng lực đội
ngũ giáo viên để kịp thời điều chỉnh nội dung bồi dưỡng cho phù hợp với tập
thể, cá nhân. Qua đó người quản lý sẽ lập được một danh sách cụ thể cho từng
giáo viên cần bồi dường những mặt nào? Trên cơ sở đó để lập kế hoạch bồi
dưỡng cụ thể và sát thực đồng thời có những quyết định đúng đắn trong việc
quản lý công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên.
BGH tổ chức dự giờ, thăm lớp thường xuyên, trực tiếp trò chuyện, trao
đổi với giáo viên để nắm bắt tình hình một cách cụ thể, chính xác. Qua đó
phát hiện ra những mặt mạnh, mặt yếu của từng giáo viên trong giảng dạy.
Căn cứ vào tình hình của nhà trường, người quản lý lập kế hoạch bồi dưỡng
giáo viên. Kế hoạch này bao gồm (Kế hoạch ngắn hạn và kế hoạch dài hạn)
+ Kế hoạnh ngắn hạn (tháng, năm) để bồi dưỡng cho giáo viên những
kiến thức mới về nội dung, phương pháp, kĩ năng tổ chức các hoạt động giáo
dục….

+ Kế hoạch dài hạn (từ 3 đến 5 năm)
Là kế hoạch chiến lược phát triển đội ngũ lâu dài (3 đến 5 năm hoặc lâu
hơn).
CHƯƠNG 3:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CHO ĐỘI
NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TIỂU HỌC SƠN ĐỒNG - HOÀI ĐỨC -
HÀ NỘI
3.1. Nâng cao nhận thức tầm quan trọng của công tác bồi dưỡng đội ngũ
giáo viên tiểu học đối với CBQL và giáo viên.

CBQL và giáo viên phải là những người tiên phong trong lĩnh vực bồi
dưỡng và tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực quản lý.
CQBL trường Tiểu học phải nhận thức rằng trong ngành giáo dục đội ngũ
giáo viên là lực lượng đông nhất, là lực lượng chủ yếu có tính quyết định đến
chất lượng giáo dục trong nhà trường. Cho nên vấn đề quan trọng và có tính
chiến lược hàng đầu trong nhà trường là bồi dưỡng đội ngũ giáo viên có đủ:
phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị; kiến thức và năng lực sư phạm nhằm
thực hiện mục tiêu của giáo dục trong giai đoạn hiện nay - giai đoạn của sự
phát triển trí tuệ do tác động của nền khoa học hiện đại. Đồng thời, CQBL
phải giúp cho giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của công tác bồi
dưỡng với chính bản thân mỗi giáo viên và mục tiêu phát triển của Nhà
trường trong giai đoạn từ nay đến 2020.
Tăng cường nâng cao nhận thức tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
trong tình hình mới, thực hiện cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh.

Quán triệt tinh thần các nghị quyết, các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà
nước và của ngành về công tác giáo dục , công tác xây dựng và bồi dưỡng đội
ngũ giáo viên.
Thường xuyên nghiên cứu, học tập Luật Giáo dục; Điều lệ trường Tiểu
học; nghiên cứu và thực hiện Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học. Nghiên
cứu và học tập các Nghị quyết của Đảng, Nghị định của Chính phủ về lĩnh
vực giáo dục. Thực hiện giao việc cho những đối tượng quần chúng, đoàn
viên tích cực để họ có sự phấn đấu vươn lên trong nghề nghiệp. Giới thiệu họ
đi học lớp cảm tình Đảng. Đây là nguồn đảng viên mới của chi bộ nhà trường
cũng như là những nguồn nhân lực ham học hỏi, có cố gắng không chỉ hoạt
động đoàn thể mà cả trong chuyên môn.
3.2. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên
3.2.1. Xây dựng quy hoạch đội ngũ giáo viên
Quy hoạch nhằm chuẩn bị đội ngũ cho tương lai. Việc xây dựng quy

hoạch đội ngũ giúp hiệu trưởng định hướng để đến đúng đích và lên kế hoạch
bồi dưỡng kịp thời, hợp lý. Trên cơ sở đó có dư kiến những biến động về
nhân lực có thể sảy ra để có kế hoạch bổ sung kịp thời (nghỉ hưu, thuyên
chuyển, nghỉ thai sản,…).Có tầm nhìn chiến lược về việc phát triển đội ngũ
giáo viên để đáp ứng đòi hỏi của xã hội, cũng như đón trước được sự phát
triển giáo dục của địa phương, của nghành trong công việc xây dựng trường
tiểu học chuẩn Quốc gia trong thế kỷ 21
Khi xây dựng quy hoạch cần phải dựa vào các căn cứ:
+ Căn cứ vào các nghị quyết của Đảng và chính sách của nhà nước,
Luật giáo dục, điều lệ của trường tiểu học, các văn bản pháp quy của Bộ giáo
dục và đào tạo.
+ Căn cứ vào các mục tiêu của sở, phòng giáo dục, các nghị quyết của
Đảng và chính quyền địa phươn và tình hình cụ thể của Nhà trường.

3.2.2. Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ giáo viên:
Kế hoạch bồi dưỡng toàn diện phải được xây dựng trong nhiều năm với
thời gian dài. Cần có sự phân loại giáo viên để xác định nhu cầu bồi dưỡng
cho từng loại đối tượng, với số lượng không nhiều nhưng rất cần thiết và đòi
hỏi phải thực hiện để dần nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Sau này, khi
về trường, chính họ sẽ là những giáo viên cốt cán trong công tác bồi dưỡng
đội ngũ và nâng cao chất lượng giảng dạy.
Kế hoạch này sẽ giúp CBQL kiểm tra đánh giá, xếp loại từng giáo viên.
Từ đó xác định nội dung, cách thức bồi dưỡng đội ngũ giáo viên sao cho họ
vừa cập nhật được kiến thức mới vừa khắc phục được những hạn chế của bản
thân trong quá trình giảng dạy và giáo dục.
Đối với giáo viên, bồi dưỡng nghiệp vụ cần được coi là quyền lợi đồng
thời cũng là trách nhiệm. Bởi vậy cần có sự quan tâm đúng mức nhằm động
viên, khuyến khích họ, xong cũng là bắt buộc để mọi giáo viên tự giác và có
kế hoạch riêng cho mình. Có như vậy công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên sẽ
mang lại hiệu quả giáo dục thiết thực cho mỗi giáo viên, mỗi nhà trường.

Khi xây dựng kế hoạch ngắn hạn, dài hạn cần tính đến việc đảm bảo
đội ngũ giáo viên khi có số giáo viên được cử đi bồi dưỡng (dài, ngắn hạn) để
có những biện pháp bổ sung giáo viên nhằm đảm bảo chất lượng dạy và học.
Tiếp tục bố trí cho giáo viên đi học bồi dưỡng bằng nhiều hình thức (tại chức,
chuyên tu, từ xa), tiến tới 100% giáo viên tiểu học đạt tiêu chuẩn.
3.3. Tập trung vào nội dung bồi dưỡng
Về vấn đề quản lý công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên đòi hỏi người
Hiệu trưởng phải xác định đúng nội dung cần bồi dưỡng trong từng giai
đoạn,cho từng đối tượng giáo viên. Kết hợp giữa bồi dưỡng cơ bản và nội
dung nâng cao cho phù hợp với đối tượng đại trà và mũi nhọn.
* Bồi dưỡng về kiến thức chuyên môn

CBQL phải căn cứ từ thực tế đội ngũ giáo viên của trường mình để có
nội dung,chương trình và hình thức phù hợp, tối ưu nhất đối với từng loại đối
tượng.
Đặc trưng lao động sư phạm của giáo viên tiểu học là dạy 9 môn học.
Vì vậy cần phải tập trung bồi dưỡng kiến thức ở tất cả các phân môn. Người
giáo viên tiểu học cần phải có trình độ văn hóa sâu rộng, có vốn hiểu biết trên
nhiều lĩnh vực mà những điều đó trong quá trình đào tạo giáo viên chưa được
học nhiều, chưa sâu và có những nội dung còn thiếu hụt, chưa cập nhật. Do
vậy cần được thường xuyên bổ sung để dạy đủ, dạy tốt 9 môn bắt buộc. Ngoài
ra còn phải bồi dưỡng về phương pháp công tác Đội và Sao Nhi đồng trong
nhà trường, các kiến thức về quan hệ giữa con người với con người, giữa con
người với tự nhiên - xã hội, kiến thức về giáo dục học, kiến thức về tâm lý
học lứa tuổi …
* Bồi dưỡng năng lực sư phạm
Năng lực người giáo viên là khả năng thực hiện các hoạt động dạy học /
giáo dục với chất lượng cao. Năng lực bộc lộ trong hoạt động và gắn liền với
một số kĩ năng tương ứng. Năng lực có tính tổng hợp, khái quát. Năng lực đạt
mức cao được xem là tinh thông nghề nghiệp. Do vậy cần bồi dưỡng một số

năng lực sư phạm như sau:
- Năng lực phán đoán
- Năng lực đánh giá
- Năng lực thiết lập mối quan hệ tốt với người khác, với học sinh
- Năng lực thiết kế và triển khai hoạt động giáo dục
* Bồi dưỡng các kĩ năng sư phạm
Kĩ năng bao gồm kỹ năng cụ thể, riêng lẻ; kỹ năng đạt mức thành thạo
thì thành kỹ xảo, cho nên cần tập trung bồi dưỡng một số hệ thống kỹ năng sư
phạm như sau:

- Những kỹ năng triển khai hoạt động dạy học và giáo dục.
- Những kỹ năng nhận thức và kỹ năng nghiên cứu khoa học
- Những kỹ năng hoạt động xã hội
- Những kỹ năng tự học, lập kế họach, so sánh, đối chiếu, ghi chép tài
liệu…
* Bồi dưỡng phương pháp giảng dạy mới
Để giáo viên tiểu học thực sự tiếp cận được với nội dung và chương
trình mới ở tiểu học cần phải tổ chức một cách đồng bộ việc triển khai dạy
học theo phương pháp mới ở tất cả các phân môn. Việc này phải trở thành
phong trào ở mọi nơi. Hiệu trưởng phải làm sao để toàn bộ giáo viên nắm
chắc được bản chất của phương pháp dạy học mới, phương pháp “lấy học sinh
làm trung tâm”. Giáo viên chỉ là người tổ chức, hướng dẫn - Học sinh tích cực
chủ động chiếm lĩnh kiến thức. Yếu tố cốt lõi nhất của bồi dưỡng phương
pháp dạy học mới chính là phát huy cao độ tính tích cực, chủ động, sáng tạo
của học sinh, nghĩa là người giáo viên không chỉ gợi mở, hướng dẫn cho học
sinh phát hiện ra vấn đề mà còn cung cấp cho học sinh phương pháp, con
đường, cách thức để học sinh tự tiếp cận, tự tìm ra chân lí, có bản lĩnh trước
hiện thực cuộc sống đa dạng và phong phú như hiện nay.
* Bồi dưỡng công tác chủ nhiệm.
Công tác chủ nhiệm là một nội dung rất cần thiết và quan trọng đối

với các giáo viên tiểu học. Việc bồi dưỡng năng lực tổ chức quá trình giáo
dục cần đặc biệt quan tâm đến năng lực tổ chức các hoạt động tập thể, năng
lực thuyết phục và cảm hóa học sinh khả năng hòa nhập với thế giới tâm hồn
trẻ, khả năng tiếp cận các đối tượng đặc biệt.
Cho nên Hiệu trưởng cần tổ chức các hội thảo giáo viên chủ nhiệm
giỏi để phát huy những sáng kiến kinh nghiệm trong giáo dục, khắc phục

những mặt hạn chế của giáo viên chủ nhiệm trong các hoạt động giáo dục
được giao .
Đa dạng hóa các hình thức bồi dưỡng
+ Bồi dưỡng thông qua các lớp tập huấn do sở phòng tổ chức
+ Bồi dưỡng thường xuyên hàng ngày, hàng tuần ở trường tiểu học
thông qua các họat động chuyên môn của tổ nhóm.
+ Sử dụng băng hình, băng tiếng phục vụ giảng dạy .
+ Sử dụng chương trình phát sóng trên các đài truyền hình, qua mạng
Internet.
+ Bồi dưỡng chuyên đề theo cụm trường, theo nhóm giáo viên…
+ Bồi dưỡng thông qua tự học, tự bồi dưỡng của mỗi giáo viên.
3.4. Tăng cường cơ sở vật chất cho hoạt động bồi dưỡng.
Tăng cường hệ thống thiết bị, đồ dùngdạy học phục vụ trong các lớp bồi
dưỡng giáo viên, tránh tình trạng “bồi dưỡng chay ”. Giáo viên cần được nghe
giới thiệu hướng dẫn, được xem, được thao tác thực hành. Tăng cường xây
dựng hệ thống băng hình với các nội dung đa dạng nhưng thiết thực. BGH cần
làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục để huy động kinh phí xây dựng các phòng
học chuẩn với trang thiết bị hiện đại tạo điều kiện cho giáo viên vận dụng các
phương pháp mới trong giảng dạy. Trang thiết bị hiện đại giúp giáo viên biết sử
dụng,biết hướng dẫn học sinh và có điều kiện tự tìm hiểu, mở rộng để nâng cao
trình độ chuyên môn,cập nhập được với khoa học kỹ thuật hiện đại.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn tài chính là yếu tố rất quan trọng
nhằm nâng cao chất lượng dạy học, do đó trong điều kiện nhà trường và kinh

tế xã hội địa phương, biện pháp tốt nhất là thường xuyên đề nghị, trao đổi với
các cấp chính quyền địa phương và sở giáo dục đào tạo về xây dựng trường
lớp một cách kịp thời và đầu tư trang thiết bị cho nhà trường.

Bên cạnh đó, cần có ý kiến và giải pháp với phòng tài chính, sở tài
chính về chế độ cho cán bộ giáo viên một cách kịp thời và đầu tư một số trang
thiết bị cần thiết trước mắt.
3.5. Chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần cho đội ngũ giáo viên
Không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống cho giáo viên tiểu hoc: chăm
lo đời sống vật chất và tinh thần cho đội ngũ giáo viên là cái gốc để làm tốt
công tác bồi dưỡng, để họ yên tâm công tác, học tập, bồi dưỡng phát huy hết
năng lực trí tụê, lòng say mê, tận tụy với nghề. BGH bố trí, sắp xếp đội ngũ
hợp lý, cải thiện điều kiện làm việc (môi trường, phòng nghỉ, phòng chờ), giải
quyết các chế độ kịp thời…
Đổi mới công tác thi đua khen thưởng. Khen và thưởng phải đi đôi với
nhau, khen thưởng phải đúng người , đúng việc nhằm tạo niềm tin và kích
thích sự hăng hái của toàn thể đội ngũ giáo viên , cán bộ nhân viên trong nhà
trường .
Tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa tổ chức tốt ngày nhà giáo Việt
Nam 20/11; tạo điều kiện giúp đỡ những giáo viên có hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn (chưa có chỗ ở ổn định còn ở nhờ trên đất nhà trường hoặc cha mẹ
chồng con ốm đau, tàn tật trong thời gian dài …) để họ hoàn thành nhiệm vụ .
Đảm bảo các điều kiện vật chất , tinh thần cho đội ngũ giáo viên nói
chung và đội ngũ giáo viên Tiểu học nói riêng là một yếu tố không thể thiếu
được trong việc thực hiện nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên .
3.6. Đổi mới việc kiểm tra đánh giá
Cần coi trọng việc đánh giá thực chất quá trình và chất lượng dự lớp
bồi dưỡng của học viên và việc cấp chứng chỉ sau mỗi đợt bồi dưỡng nhằm
góp phần làm cho giáo viên có ý thức bồi dưỡng tốt hơn, đồng thời cung cấp
những thông tin quản lý xác thực về tình hình chất lượng đội ngũ cho các cấp

quản lý.

Các cấp quản lý Sở- Phòng- Trường cần đưa công tác bồi dưỡng vào
tiêu chuẩn xếp loại thi đua hàng năm, hàng kì. Có như vậy thì công tác bồi
dưỡng mới thực sự đi vào nề nếp và đảm bảo chất lượng . Việc kiểm tra đánh
giá phải có sự khen thưởng kịp thời để động viên, khuyến khích đội ngũ giáo
viên.
KẾT LUẬN
Để thực hiện được mục tiêu của ngành giáo dục - đào tạo, tạo bước đột
phá cho chất lượng giáo dục, khâu then chốt là phải nâng cao năng lực trình
độ đội ngũ giáo viên nói chung và đội ngũ giáo viên tiểu học nói riêng.
Mỗi nhà trường, mỗi cấp quản lý và từng địa phương tích cực, chủ
động xây dựng đội ngũ giáo viên giỏi, đây là lực lượng cốt cán trong các đợt
bồi dưỡng. Thực tiễn quá trình đổi mới trong ngành giáo dục cho thấy, nơi
nào tích cực xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên giỏi, nơi ấy sẽ chủ
động đón đầu những thay đổi và có nhiều thuận lợi trong việc thực hiện
những chủ trương đổi mới của ngành.
Xuất phát từ những quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về
GD&ĐT; lý luận về bồi dưỡng đội ngũ giáo viên ở trường tiểu học. Qua
nghiên cứu thực trạng việc bồi dưỡng, quản lý việc bồi dưỡng ở trường tiểu
học Sơn Đồng - Hoài Đức. Để có thể thực hiện mục tiêu giáo dục Tiểu học,
cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực và
hiệu quả đội ngũ giáo viên ở trường tiểu học. Đó là nâng cao nhận thức về
tầm quan trọng của công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học đối với
CBQL và giáo viên; tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo

viờn; tng cng c s vt cht cho hot ng bi dng; chm lo n i
sng vt cht v tinh thn cho i ng giỏo viờn
Nâng cao chất lợng giáo dục nói chung, nâng cao chất lợng đội ngũ
giáo viên nói chỉ thật sự đạt kết quả khi chúng ta tìm ra hệ thống những giải

pháp hữu hiệu, phát huy đợc hết năng lực của các lực lợng tham gia giáo dục,
trong đó đội ngũ giáo viên là nhân tố cơ bản quyết định trực tiếp trong quá
trình này. Hệ thống các giải pháp trên hoàn toàn có tính khả thi nếu ngời quản
lí biết sử dụng đồng bộ và linh hoạt thì sẽ có khả năng nâng cao chất lợng
công tác bồi dỡng học sinh giỏi, phần nào đáp ứng đựơc yêu cầu đào tạo, bồi
dỡng nhân tài, tạo ra một nguồn lực con ngời có tay nghề đáp ứng yêu cầu của
công cuộc đổi mới đất nớc, phát triển kinh tế xã hội hiện nay.
TI LIU THAM KHO

×