Tải bản đầy đủ (.doc) (8 trang)

SKKN Biện pháp nâng cao chất lượng phân môn chính tả cho học sinh lớp 2

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (129.26 KB, 8 trang )

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
PHÂN MÔN CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH LỚP 2"

1
Học sinh hiện nay mắc lỗi chính tả rất nhiều. Điều này ảnh hưởng tới kết quả
học tập của các em ở môn Tiếng Việt nói chung cũng như các môn học khác. Vì vậy,
trong quá trình giảng dạy thực tế tôi đã tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra một số biện
pháp khắc phục để giúp học sinh học tốt môn chính tả, một trong những biện pháp
tích cực giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt và các môn học khác trong chương
trình. Đặc biệt là trong chương trình phổ thông, môn Tiếng Việt lại là môn “chủ lực
và trung tâm” để có thể khai thác các môn học khác một cách tốt nhất.
Qua quá trình giảng dạy và theo dõi chất lượng bộ môn, tôi thấy học sinh
thường mắc phải các loại lỗi sau:
* Lỗi về dấu thanh:
Tiếng Việt có 6 thanh (ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng) thì nhiều học sinh
không phân biệt được 2 thanh hỏi, ngã. Số lượng tiếng mang 2 thanh này không ít và
rất phổ biến - kể cả những người có trình độ văn hoá cao.
Ví dụ: Sữa xe đạp, hướng dẩn, giử gìn, dổ dành, lẩn lộn,…

2
*Lỗi phụ âm đầu:
- Học sinh viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các âm đầu sau đây:
+ c/k: Céo co… +ng/qu: ông quại (ngoại), bên quài(ngoài)
+ g/gh: Con ghà , gê gớm… +h/qu: quảng hốt (hoảng hốt), phá quại (phá hoại)
+ ng/ngh: Ngỉ ngơi, nge nhạc, nghành nghề…
+ ch/tr: Cây che, chiến chanh…
+ s/x: Cây xả , xa mạc…
* Lỗi âm cuối, vần:
- Học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau đây:


+ at/ac- ăt/ăc - ât/âc: mác mẻ, lường gạc, gặc lúa, nổi bậc, lấc phấc…
+ an/ang- ân/âng: cây bàn, bàng bạc, khoai lan, hụt hẫn, tần lầu
+âu/ôi : ông Nậu (nội), cái gấu (gối)
+ ên/ênh: bấp bên, nhẹ tên, ghập ghền, khấp khển…
+ư/ươi: con ngừ , hai mư
 Nguyên nhân chủ yếu:
*/ Lỗi về dấu thanh:
Thực tế qua ngôn ngữ nói, Nghệ An trở vào không phát âm phân biệt được
những thanh hỏi, ngã. Nói cách khác trong phương ngữ khu vực miền Trung và
miền Nam không có thanh ngã. Trong khi số lượng từ mang 2 thanh này khá lớn. Do
đó đây là lỗi rất phổ biến trong học sinh.
*/ Lỗi khi viết âm đầu:

3
Trong phương ngữ Bắc và Nam có sự lẫn lộn giữa các chữ ghi âm đầu ch/tr,
d/gi, s/x . Mặt khác, trong khi một số vùng miền Bắc thường lẫn lộn các âm đầu l/n
thì người Miền Nam thường lẫn lộn v/d, r/g. Ngoài ra, trong quy ước về chữ quốc
ngữ, một âm ghi bằng 2 hoặc 3 dạng (ví dụ: âm “cờ” ghi bằng 3 chữ cái c / k /qu ,
âm “ngờ” ghi bằng ng/ngh, âm “gờ” ghi bằng g/gh…) dù có những quy định riêng
cho mỗi dạng khi ghép chữ, nhưng đối với học sinh tiểu học thì rất dễ lẫn lộn.
*/. Lỗi khi viết âm cuối:
Đối với người Miền Nam, có thể nói việc phát âm hoàn toàn không phân biệt
các vần có âm cuối n/ng và t/c. Mà số từ mang các vần này không nhỏ. Mặt khác hai
bán âm cuối i,u/ lại được ghi bằng 4 con chữ i/y (trong: lai/lây), u/o (trong: sau/sao),
ư/ươi (trong : tư/tươi) do đó lỗi về âm cuối là lỗi khó khắc phục đối với học sinh các
tỉnh phía Nam nói chung và tại địa phương nói riêng
 Một số biện pháp khắc phục lỗi:
*/ Tích cực luyện phát âm đúng:
Muốn học sinh viết đúng chính tả, giáo viên phải là người phát âm rõ tiếng,
đúng chuẩn, đồng thời chú ý luyện phát âm cho học sinh để phân biệt các thanh, các

âm đầu, âm cuối. Việc rèn phát âm bắt đầu phải được thực hiện trong tiết Tập đọc và
được thực hiện thường xuyên, liên tục, lâu dài trong tất cả các tiết học như Chính tả,
Luyện từ và câu, Tập làm văn…
*/ Phân biệt chính tả bằng phân tích, so sánh:
Song song với việc phát âm, giáo viên có thể áp dụng biện pháp phân tích cấu
tạo tiếng, so sánh với những tiếng dễ lẫn lộn, phát hiện những điểm khác nhau để
học sinh lưu ý và ghi nhớ.

4
Ví dụ: Khi viết tiếng “làng” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “làn”, giáo viên yêu
cầu học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này:
- làng = l + ang + thanh huyền
- làn = l + an + thanh huyền.
So sánh để thấy sự khác nhau: Tiếng “làng” có âm cuối là “ng”, tiếng “làn” có
âm cuối là “n”. Học sinh ghi nhớ điều này, khi viết, các em sẽ không viết sai.
*/ Phân biệt bằng nghĩa từ:
Một biện pháp khác để khắc phục lỗi chính tả cho học sinh là giúp học sinh
hiểu nghĩa chính xác của từ. Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết Tập
đọc, Luyện từ và câu…nhưng trong tiết Chính tả cũng là một biện pháp tích cực, khi
học sinh không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hoặc phân tích cấu tạo tiếng.
Ví dụ: Phân biệt bàn và bàng (trong từ đơn): Bàn= cái bàn – bàng =cây
bàng hoặc phân biệt Bác và bát : bác=anh của ba, Bác Hồ - bát = đồ dùng ăn cơm
(bát đũa)
Với những từ nhiều tiếng, từ nhiều nghĩa giáo viên phải đặt từ đó trong văn
cảnh cụ thể để gợi lại nghĩa từ hoặc giúp học sinh giải nghĩa từ.
*/ Ghi nhớ một số mẹo luật chính tả:
Một số hiện tượng chính tả mang tính quy luật đối với hàng loạt từ có thể giúp
cho học sinh khắc phục lỗi chính tả một cách rất hữu hiệu. Ngay từ lớp 1, các em đã
được làm quen với luật chính tả đơn giản như: các âm đầu k, gh, ngh chỉ kết hợp
với các nguyên âm i, e, ê, iê, ie.

Luật bổng - trầm: Qui luật về dấu hỏi, ngã trong các từ láy (mát mẻ, vui vẽ,
sạch sẽ ) Trong các từ láy điệp âm đầu, thanh (hay dấu) của 2 yếu tố ở cùng một hệ

5
bổng (ngang/sắc/hỏi) hoặc trầm (huyền/ngã/nặng). Để nhớ được 2 nhóm này, giáo
viên chỉ cần dạy cho học sinh thuộc nguyên tắc : Ngang- sắc = hỏi/ Huyền- nặng =
ngã
Nghĩa là đa số các từ láy âm đầu, nếu yếu tố đứng trước mang thanh huyền,
nặng, ngã thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh ngã, nếu yếu tố đứng trước mang thanh
ngang, sắc, hỏi thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh hỏi (hoặc ngược lại).
Ví dụ:
• Ngang + hỏi: Nhỏ nhoi, trẻ trung, vui vẻ…
• Sắc + hỏi: Mát mẻ, sắc sảo, vắng vẻ…
• Hỏi + hỏi: Thỏ thẻ, hổn hển, rủ rỉ…
• Huyền + ngã: Mỡ màng, lững lờ, vồn vã
• Nặng + ngã: Đẹp đẽ, mạnh mẽ, vật vã…
• Ngã + ngã: Dễ dãi, nghễnh ngãng, nhõng nhẽo…
Ngoài ra, giáo viên có thể cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác
như:
+ Để phân biệt âm đầu tr/ch: Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con vật
đều bắt đầu bằng ch, ví dụ: chăn, chiếu, chảo, chổi, chai, chày, chén, chum, chạn,
chõ, chĩnh, chuông, chiêng, choé,… chồn, chí, chuột, chó, chuồn chuồn, châu chấu,
chào mào, chiền chiện, chẫu chàng, chèo bẻo, chìa vôi…
+ Để phân biệt âm đầu s/x: Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều bắt đầu
bằng s: Sả, si, sồi, sứ, sung, sắn, sim, sao, su su, sầu đâu, sa nhân, sơn trà, sặt, sậy,

6
sấu, sến, săng lẻ, sầu riêng, so đũa… sam, sán, sáo, sâu, sên, sếu, sò, sóc, sói, sứa,
sáo sậu, săn sắt, sư tử, sơn dương, san hô…
+ Để phân biệt các vần dễ lẫn lộn:

Đa số từ chỉ trạng thái bấp bênh, không vững chắc có vần ênh: Gập ghềnh,
khấp khểnh, chông chênh, lênh đênh, bập bềnh, chếnh choáng, chệnh choạng, lênh
khênh, bấp bênh, công kênh…
Hầu hết các từ tận cùng là ng hoặc nh là từ tượng thanh: oang oang, đùng
đoàng, loảng xoảng, đoàng đoàng, sang sảng, rổn rảng, ùng oàng, quang quác,
pằng pằng, eng éc, beng beng, chập cheng, leng keng, lẻng kẻng, đùng đùng, thùng
thùng, bình bịch, thình thịch, rập rình, xập xình, huỳnh huỵch…
Vần uyu chỉ xuất hiện trong các từ tượng hình: khuỷu tay, khúc khuỷu, ngã
khuỵu, khuỵu chân; vần oeo chỉ xuất hiện trong các từ ngoằn ngoèo, khoèo chân
*/ Vận dụng củng cố bằng các bài tập chính tả:
Giáo viên nên cho học sinh thực hiện các dạng bài tập chính tả khác nhau để
giúp học sinh tập vận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng từ trong
văn cảnh cụ thể. Sau mỗi bài tập, giáo viên giúp học sinh rút ra các quy tắc chính tả
để các em ghi nhớ.
Ngoài ra, việc kiểm tra “viết đúng chính tả” của giáo viên đối với học sinh
không chỉ ở môn Chính tả mà cũng cần lưu ý nhắc nhở học sinh trong tất cả các
môn học khác trong chương trình, đặc biệt là môn Tập làm văn. Việc này phải
được tiến hành kiên trì và liên tục để giúp học sinh dần có ý thức rèn kỹ năng “viết
đúng” trong mọi tình huống.

7
Phát hiện lỗi chính tả, đưa ra các biện pháp khắc phục kịp thời là rất cần
thiết, không thể thiếu trong quá trình dạy - học. Sửa chữa, khắc phục lỗi chính tả là
cả một quá trình lâu dài, đòi hỏi người giáo viên phải kiên trì, bền bĩ. Giáo viên nên
hướng dẫn các em thật tỉ mỉ về các quy tắc chính tả, quy tắc kết hợp từ, quy tắc ghi
âm chữ quốc ngữ…Trong quá trình giảng dạy, giáo viên luôn quan sát, kiểm tra, …
từ đó phát hiện ra những khó khăn, vướng mắc, hoặc những lỗi mà học sinh hay mắc
phải để kịp thời sửa chữa, uốn nắn.
Trên đây là một số kinh nghiệm mà tôi đã nghiên cứu và vận dụng trong quá
trình giảng dạy thực tế của lớp mình. Tuy kết quả bước đầu chưa cao lắm, nhưng

với nhiệt tình và nổ lực theo khả năng, tôi cũng đã tích lũy được một số bài học
thực tiễn. Rất mong được nhận ý kiến đóng góp của Ban giám hiệu cùng các bạn
đồng nghiệp, để việc giảng dạy bộ môn Chính tả trong nhà trường ngày càng nâng
cao chất lượng, giúp học sinh học tốt hơn.

8

×