Tải bản đầy đủ (.pdf) (104 trang)

Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của hộ nông dân sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.51 MB, 104 trang )






BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG







VŨ TÚ BANG


PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG
TIẾP CẬN TÍN DỤNG CHÍNH THỨC CỦA HỘ NÔNG DÂN
SẢN XUẤT LÚA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG


LUẬN VĂN THẠC SĨ



Khánh Hoà - 2015





BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG









VŨ TÚ BANG



PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
KHẢ NĂNG TIẾP CẬN TÍN DỤNG CHÍNH
THỨC CỦA HỘ NÔNG DÂN SẢN XUẤT LÚA
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành : QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã số : 60 34 01 02



NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:




PGS.TS NGUYỄN THỊ KIM ANH



CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG KHOA SAU ĐẠI HỌC



TS. PHẠM THÀNH THÁI

Khánh Hoà - 2015
i




LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung luận văn này là công trình nghiên cứu của
bản thân tôi. Các số liệu, tư liệu thu thập được sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ
ràng, trung thực. Nội dung của luận văn chưa được công bố trong bất cứ công trình
nghiên cứu tương tự nào.
Kiên Giang, ngày 02 tháng 03 năm 2015
Tác giả luận văn



Vũ Tú Bang




















ii




LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trường Đại học Nha Trang đã tạo điều
kiện cho tôi tiếp cận với kiến thức nghiên cứu khoa học và là tiền đề cho bản thân tôi
thực hiện nghiên cứu. Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn Phó Giáo sư, Tiến sỹ
Nguyễn Thị Kim Anh đã tận tình chỉ bảo và định hướng cho tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, cán bộ nhân viên của các tổ chức tín
dụng, và các hộ nông dân trồng lúa trên địa bàn tỉnh Kiên Giang đã giúp đỡ phối hợp
tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn.
Kiên Giang, ngày 02 tháng 03 năm 2015
Tác giả luận văn



Vũ Tú Bang














iii



MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
1.1 Khái quát về nông nghiệp, hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân: 4
1.1.1 Khái niệm nông nghiệp: 4
1.1.2 Khái niệm về nông thôn: 6
1.1.3 Khái niệm về hộ nông dân: 7
1.1.4 Đặc điểm và vai trò của kinh tế nông hộ 8
1.1.5 Khái niệm, vai trò của hộ nông dân trồng lúa: 9
1.2 Khái quát về tín dụng và tín dụng nông thôn: 10
1.2.1 Khái niệm về tín dụng: 10
1.2.2 Khái niệm và các loại hình tín dụng nông thôn: 10
1.2.3 Vai trò của tín dụng trong phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn: 13
1.2.4 Khái quát về lý thuyết tín dụng nông hộ 14
1.2.5 Lý thuyết về tiếp cận tín dụng nông hộ: 18
1.3. Các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài: 20
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SẢN XUẤT LÚA VÀ THỊ TRƯỜNG
TÍN DỤNG CHÍNH THỨC TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG. 23
2.1 Tổng quan về tỉnh Kiên Giang: 23
2.1.1 Lịch sử hình thành: 23
2.1.2 Vị trí địa lý: 24
2.1.3 Đặc điểm địa hình: 24
2.1.4 Khí hậu: 24
2.1.5 Tài nguyên thiên nhiên: 24
2.1.6 Tiềm năng thế mạnh của tỉnh: 25
2.1.7 Dân số của tỉnh: 26
2.2 Tổng quan về tình hình sản xuất lúa năm 2013 của tỉnh: 27

iv



2.3 Tổng quan về thị trường tín dụng chính thức trên địa bàn tỉnh Kiên Giang. 30
2.3.1 Hệ thống các tổ chức tín dụng chính thức: 30
2.3.2 Dư nợ cho vay phục vụ lĩnh vực nông nghiệp nông thôn của các tổ chức tín
dụng trên địa bàn tỉnh Kiên Giang năm 2013: 31
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
3.1 Mô hình hồi quy Binary Logistic 42
3.2 Mô hình hồi quy đa biến (MRA) 43
3.3 Các nhân tố đưa vào mô hình kiểm định: 44
3.4 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: 49
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG 50
4.1 Kết quả kiểm định: 50
4.1.1 Mô tả mẫu: 50
4.1.2 Một số đặc điểm của các hộ quan sát: 50
4.2 Kết quả phân tích hồi qui Binary Logistic 56
4.2.1 Phân tích các kiểm định: 56
4.2.2 Thảo luận kết quả hồi qui nhị phân: 58
4.3 Kết quả phân tích hồi qui đa biến: 62
4.3.1 Phân tích các kiểm định: 62
4.3.2 Thảo luận kết quả hồi qui đa biến: 64
4.4 Một số khuyến nghị nhằm tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn vay chính thức của hộ
nông dân sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh Kiên Giang. 67
4.4.1 Đối với nhân tố giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ (GCNQSH) 67
4.4.2 Đối với nhân tố diện tích đất sản xuất của hộ (Dientichdat): 68
4.4.3 Đối với nhân tố trình độ học vấn của hộ (Hocvanchuho): 68
4.4.4 Đối với nhân tố Khoảng cách (Khoangcach): 68
4.4.5 Khuyến nghị khác: 69

4.5 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo: 70
4.5.1 Hạn chế của đề tài: 70
4.5.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo: 71
KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC

v



DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận tín dụng chính thức và
lượng vốn vay của các công trình nghiên cứu trước: 22
Bảng 2.1: So sánh tình hình sản xuất lúa trên địa bàn qua 02 năm 27
Bảng 2.2: Tình hình sản xuất lúa của tỉnh Kiên Giang năm 2013 28
Bảng 2.3: Diện tich và sản lượng lúa phân theo địa giới hành chính năm 2013 29
Bảng 2.4: Mạng lưới các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh Kiên Giang năm 2013 30
Bảng 2.5: Dư nợ cho vay phục vụ nông nghiệp nông thôn theo các tổ chức tín dụng
trên địa bàn tỉnh Kiên Giang năm 2013 31
Bảng 2.6: Dư nợ cho vay phục vụ nông nghiệp nông thôn theo dư nợ trên địa bàn tỉnh
Kiên Giang năm 2013 33
Bảng 2.7: Dư nợ cho vay phục vụ nông nghiệp nông thôn theo đối tượng vay vốn trên
địa bàn tỉnh Kiên Giang năm 2013 34
Bảng 2.8: So sánh tình hình cho vay hộ nông dân trong lĩnh vực nông nghiệp nông
thôn qua 02 năm 35
Bảng 2.9: Dư nợ cho vay lĩnh vực nông nghiệp nông thôn theo hộ nông dân trên địa
bàn tỉnh Kiên Giang 31/12/2013 36
Bảng 2.10: Cơ cấu cho vay của các Tổ chức tín dụng 31/12/2013 39
Bảng 3.1: Tổng hợp các biến kỳ vọng được đưa vào mô hình định lượng 49

Bảng 4.1: Đặc điểm hộ quan sát 50
Bảng 4.2: Tình hình sản xuất của hộ nông dân 52
Bảng 4.3: thông tin về tình hình vay vốn của hộ 53
Bảng 4.4: Khó khăn hộ dân khi vay vốn 55
Bảng 4.5: Các biến trong mô hình (Variables in the Equation) 56
Bảng 4.6: Phân loại dự báo (Classification Table
a)
57
Bảng 4.7: Kiểm định Omnibus đối với các hệ số của mô hình (Omnibus Tests of
Model Coefficients) 57
Bảng 4.8: Mô phỏng xác suất hộ có vay tín dụng chính thức thay đổi. 58
Bảng 4.9: Tóm tắt mô hình (Model Summary
b
) 62
Bảng 4.10: Phân tích phương sai (ANOVA
b
) 62
Bảng 4.11: Hệ số hồi qui của mô hình phụ (Coefficients
a)
63
Bảng 4.12: Kết quả kiểm định Harvey 63
Bảng 4.13: Hệ số hồ qui (Coefficients
a)
64
Bảng 4.14: Ví trí quan trọng của các yếu tố 66
vi



DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ


Hình 2.1: Cơ cấu diện tích phân theo vụ lúa mùa 28

Hình 2.2: Năng suất lúa theo vụ mùa trên địa bàn tỉnh Kiên Giang năm 2013 29

Hình 2.3: Cơ cấu cho vay lĩnh vực nông nghiệp nông thôn theo giá trị món vay 33

Hình 2.4: Cơ cấu dư nợ cho vay lĩnh vực nông nghiệp nông thôn phân theo tài sản đảm
bảo trên địa bàn tỉnh Kiên Giang năm 2013 34

Hình 2.5: Cơ cấu dư nơ cho vay phục vụ nông nghiệp nông thôn theo đối tượng vay
vốn trên địa bàn tỉnh Kiên Giang năm 2013 35






1



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Hiện nay vấn đề nông nghiệp nông thôn đang là mối quan tâm của toàn xã hội.
Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để người dân ở vùng nông thôn được tạo điều kiện tốt
nhất cho việc nâng cao đời sống? Chính vì vậy mà Đảng và nhà nước ta đã có rất
nhiều chính sách cho mục tiêu phát triển kinh tế nông thôn. Việc phát triển một hệ
thống tín dụng chính thức ở nông thôn hiện nay là cơ sở để cho người dân có thể tiếp
cận được vào nguồn vốn vay của nhà nước. Để tạo điều kiện tối đa khả năng năng tiếp

cận nguồn vốn chính thức cho nông dân, hiện nay Nhà nước đã khuyến khích phát
triển các hệ thống tín dụng chính thức cho lĩnh vực nông nghiệp nông thôn rộng khắp
cả nước, mạng lưới hoạt động đã đến tận cấp huyện thậm chí là cấp xã.
Như ta đã biết vốn là một yếu tố khởi đầu cũng là yếu tố quyết định đối với quá
trình sản xuất kinh doanh của hộ nông dân. Vốn được xem như là một yếu tố đầu vào
đặc biệt quan trọng của sản xuất. Vốn không chỉ là cơ sở để người nông dân mở rộng
quy mô sản xuất mà còn góp phần đáng kể vào việc đầu tư theo chiều sâu, áp dụng
khoa học kỹ thuật, hiện đại hoá sản xuất. Nếu như không có vốn thì không thể mua
được nguồn giống có chất lượng, không thể đầu tư máy móc kỹ thuật mở rộng sản
xuất, Vì vậy để ngành sản xuất nông nghiệp phát triển bền vững, cuộc sống của hộ
nông dân được cải thiện thì vấn đề cấp thiết đặt ra là làm thế nào để người nông dân
tiếp cận được với nguồn tín dụng, đặc biệt là nguồn tín dụng chính thức. Vì đây là
nguồn tín dụng giá rẻ, có lãi suất cho vay thấp và phù hợp với tình hình sản xuất kinh
doanh của các hộ nông dân.
Theo báo cáo sơ kết 05 năm việc thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của
Trung Ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Chi nhánh tỉnh Kiên Giang tổng kết ngày 24/06/2013 thì việc cấp tín dụng từ các tổ
chức tín dụng chính thức cho các hộ nông dân trên địa bàn tỉnh tuy có mang lại được
một số hiệu quả tích cực trong việc giúp cho các hộ nông dân tiếp cận được nguồn tín
dụng chính thức giá rẻ để phục vụ sản xuất. Tuy nhiên việc tiếp cận nguồn vốn của các
hộ nông dân từ các tổ chức này vẫn còn rất hạn chế, lượng vốn vay được chưa thực sự
thỏa mãn hết nhu cầu vay vốn nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của các hộ
nông dân trên địa bàn, đặc biệt là nhu cầu vốn mua máy móc thiết bị phục vụ sản xuất
nông nghiệp.
2



Xuất phát từ thực tiễn và khả năng thực hiện, tác giả chọn đề tài "Phân tích các
nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của hộ nông dân

sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh Kiên Giang" để tìm ra nguyên nhân từ đó có thể đưa
ra một số giải pháp nhằm góp phần giúp hộ nông dân trồng lúa nói riêng và các hộ
nông dân hoạt động sản xuất nông nghiệp nói chung tiếp cận được nguồn vốn chính
thức để đầu tư nhằm nâng cao năng lực sản xuất, tạo điều kiện cho đời sống của người
dân được nâng cao hơn, đồng thời thu hẹp sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu chung: Đề tài phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp
cận vốn của các hộ nông dân sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, những thuận
lợi và khó khăn của các hộ sản xuất khi tiếp cận các nguồn vốn tín dụng. Để xuất các
giải pháp tháo gỡ khó khăn, nâng cao khả năng trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng
để phát triển sản xuất và cải thiện đời sống của các hộ nông dân.
- Mục tiêu cụ thể:
+ Đánh giá thực trạng việc tiếp cận nguồn vốn chính thức của hộ nông dân trên
địa bàn tỉnh Kiên Giang.
+ Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận nguồn tín dụng chính
thức của các hộ nông dân trồng lúa trên địa bàn tỉnh.
+ Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lượng vốn vay tín dụng chính thức của
các hộ nông dân trồng lúa trên địa bàn tỉnh.
+ Đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng tiếp cận nguồn vốn tín
dụng chính thức của các hộ nông dân trồng lúa trên địa bàn.
3. Đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng
chính thức và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng vốn vay chính thức của của các hộ
nông dân sản xuất lúa.
- Khách thể nghiên cứu: các hộ nông dân sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
4. Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: đề tài được nghiên cứu trong địa giới hành chính tỉnh
Kiên Giang.
- Pham vi thời gian: thời gian bắt đầu điều tra số liệu từ đầu tháng 02/2014 đến
hết tháng 06/2014.

3



5. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu được chia làm 02 giai đoạn:
- Phương pháp định tính: nghiên cứu cơ sở lý thuyết, các tài liệu nghiên cứu
trước kết hợp với việc trao đổi với các chuyên gia tín dụng về lĩnh vực cho vay hộ
nông dân để tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận chính thức của các hộ
nông dân.
- Phương pháp định lượng: sau khi xác định được các nhân tố kỳ vọng từ
phương pháp định tính, tác giả tiến hành thiết lập bảng câu hỏi khảo sát. Sau đó lựa
chọn mô hình hồi quy thích hợp để xác định các yếu tố và mức độ ảnh hưởng của mỗi
yếu tố đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng
vốn vay chính thức của hộ nông dân sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh.


















4



CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khái quát về nông nghiệp, hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân:
1.1.1 Khái niệm nông nghiệp:
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để
trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi là tư liệu và nguyên liệu lao
động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp.
Nông nghiệp là một ngành sản suất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn
nuôi, sơ chế nông sản. Theo nghĩa rộng còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản.
Trong nông nghiệp có hai loại chính:
- Nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai là lĩnh vực sản xuất nông
nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của
mỗi người nông dân. Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp sinh nhai
- Nông nghiệp chuyên sâu: là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên môn
hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong
trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp. NÔng
nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn bao gồm cả việc sử dụng hóa chất
diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc lai tạo giống nghiên cứu các giống mới và mức độ
cơ giới hóa cao. Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng
hóa bán ra thị trường hay xuất khẩu.
Theo Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12/04/2010 của Chính phủ về chính sách
tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn: “Nông nghiệp là phân ngành trong
hệ thống ngành kinh tế quốc dân, bao gồm các lĩnh vực nông, lâm, diêm nghiệp và
thủy sản”.
Như vậy, nông nghiệp là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên.

Những điều kiện tự nhiên như đất đai, nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, bức xạ mặt trời
trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng cây trồng vật nuôi. Nông nghiệp cũng là
ngành sản xuất có năng suất lao động rất thấp, vì đây là ngành sản xuất phụ thuộc rất
nhiều vào tự nhiên; là ngành sản xuất mà việc ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ
gặp rất nhiều khó khăn. Ngoài ra sản xuất nông nghiệp ở nước ta thường gắn liền với
những phương pháp canh tác, lề lối, tập quán, đã có từ hàng nghìn năm nay.
Một số đặc trưng của nông nghiệp Việt Nam: Trần Tiến Khai (2007)
5



- Quỹ đất nông nghiệp đã được khai thác tối đa, nông nghiệp tăng trưởng chủ
yếu theo chiều rộng và đã đến mức tới hạn.
- Do nhiều nguyên nhân khác nhau, dân cư được phân bổ chênh lệch giữa các
vùng nông nghiệp và vùng sinh thái. Ngoài ra, cây trồng cũng được phân bố theo vùng
sinh thái, một mặt, dẫn đến sự chuyên môn hóa trong canh tác nông nghiệp, mặt khác
dẫn đến tình trạng chênh lệch trong cơ hội tìm kiếm thu nhập hoặc chuyển dịch cơ cấu
nông nghiệp của nông dân giữa các vùng và phân hóa cơ hội kinh tế giữa nông dân ở
các vùng khác nhau.
- Khả năng cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam nhìn chung
thấp vì trình độ khoa học công nghệ sản xuất thấp. Ở Việt Nam, đã xác định một số
mặt hàng nông sản có khả năng cạnh tranh khá trên thị trường thế giới như gạo, cà
phê, cao su, nhân hạt điều, hồ tiêu, chè, thủy sản và đồ gỗ. Ngược lại, một số mặt hàng
có khả năng cạnh tranh thấp như thịt, trứng, rau quả, ngô. Nhiều mặt hàng nông sản
không có khả năng cạnh tranh như sữa, đậu nành, lạc, mía đường, bông vải.
- Do khả năng tài chính quốc gia còn hạn chế, mức đầu tư cơ sở hạ tầng nông
nghiệp nông thôn còn kém; đầu tư cho nông lâm thủy sản còn thấp và chưa tương
xứng với tiềm năng và đóng góp của ngành đối với nền kinh tế quốc gia.
- Hệ thống kinh doanh nông sản chỉ đang bắt đầu phát triển và tập trung vào
một số ngành truyền thống hoặc có lợi nhuận cao như lúa gạo, cao su, cà phê, hồ tiêu,

điều. Hệ thống thông tin thị trường chưa phát triển và chưa giúp doanh nghiệp nông nghệp
và nông dân ra quyết định đúng để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh và thu nhập.
- Khi chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam phải đối mặt với nhiều rủi ro
trong thương mại nông sản. Đối với các mặt hàng có khả năng cạnh tranh, Việt Nam
có thể gia tăng sản lượng xuất khẩu, nhưng rào cản chính là rào cản kỹ thuật, chất
lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm mà trình độ và công nghệ sản xuất chưa đáp ứng
được. Ngoài ra, công ăn việc làm của nông dân ở các ngành kém cạnh tranh sẽ gặp
nhiều khó khăn khi nông sản nước ngoài có giá rẻ hơn được nhập khẩu với số lượng
lớn vào Việt Nam.
- Trong các năm gần đây, rủi ro vì thiên tai, dịch bệnh liên tục xảy ra và chưa
khắc phục được. Ví dụ dịch rầy nâu, vàng lùn, lùn xoắn lá trên cây lúa; dịch lở mồm
long móng, bệnh cúm gia cầm, bệnh tai xanh,…. Hậu quả là tốc độ tăng trưởng ngành
nông nghiệp bị ảnh hưởng, thu nhập của nông dân giảm sút.
6



- Môi trường nông nghiệp đang suy thoái, có nơi cạn kiệt vì khai thác quá mức
hoặc sử dụng sai cách. Một ví dụ điển hình là các vùng ven biển chuyển đổi cơ cấu sản
xuất theo hướng nuôi trồng thủy sản nước mặn, nước lợ đang bắt đầu gánh chịu các hệ
quả về suy thoái môi trường.
1.1.2 Khái niệm về nông thôn:
Nông thôn dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ
trọng lớn. Nông thôn có thể được xem xét trên nhiều góc độ: kinh tế, chính trị, văn
hóa, xã hội…Kinh tế nông thôn là một khu vực của nền kinh tế gắn liền với địa bàn
nông thôn. Kinh tế nông thôn vừa mang những đặc trưng chung của nền kinh tế về lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, về cơ chế kinh tế….vừa có những đặc điểm riêng
gắn liền với nông nghiệp, nông thôn.
Theo nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12/04/2010 của Chính phủ về chính sách
tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn thì: “nông thôn là phần lãnh thổ

không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp
hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã.”
Như vậy, nông thôn là khái niệm chỉ hệ thống cộng đồng xã hội lãnh thổ được
hình thành trong quá trình phân công lao động xã hội mà ở đó dân sự tương đối thấp;
lao động nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao, mối quan hệ cộng đồng chặt chẽ; do vậy, lối
sống, phương thức sống của cộng đồng dân cư nông thôn khác biệt cộng đồng dân cư
thành thị. Nông thôn Việt Nam là danh từ để chỉ những vùng đất trên lãnh thổ Việt
Nam, ở đó, người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp. Ở Việt Nam, cho đến năm
2009, có đến 70,4% dân số sống ở vùng nông thôn.
Một số đặc trưng của nông thôn Việt Nam:
- Dân cư là nông dân với hoạt động sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi)
chiếm tỷ trọng lớn. Dân cư nông thôn Việt nam chủ yếu là nông dân trồng lúa nước.
Sản xuất trong điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt. Giai cấp nông dân và dân cư nông
thôn luôn phải đấu tranh khắc phục những hậu quả thiên tai như gió bão, hạn hán,…
- Mật độ dân cư thấp, sống gắn bó chặt chẽ với môi trường tự nhiên.
- Tính liên kết cộng đồng cao. Ngoài sự gắn bó thông qua quan hệ làng xã, cư
dân nông thôn còn gắn bó nhau thông qua quan hệ thân tộc, dòng họ. Cộng đồng dân tộc
Việt Nam bao gồm cả cộng đồng dân cư nông thôn là cộng đồng đa sắc tộc và đa tôn giáo.
Đây là cộng đồng dân cư có truyền thống đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau.
7



- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật nông thôn yếu kém so với đô thị, được đầu tư ít và dàn
trải (điện, đường, trường, trạm), đặc biệt là cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho sản xuất nông
nghiệp;
- Các dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp chưa phát triển;
- Các ngành công nghiệp chế biến nông sản chưa phát triển;
- Cơ cấu thu nhập ở nông thôn chủ yếu vẫn là từ nông nghiệp. Thiếu cơ hội cho
ngành nghề phi nông nghiệp như tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến thực

phẩm, nông sản và các ngành nghề khác ở các vùng sâu, xa do mức độ tập trung công
nghiệp hóa ở những vùng kinh tế trọng điểm và ven đô thị lớn. Do đó, thu nhập thực tế
của cư dân nông thôn nói chung, nông dân nói riêng còn rất thấp.
- Áp lực đô thị hóa ở vùng ven đô thị, ở các địa phương có mật độ dân cư cao, ở
những khu vực quy hoạch công nghiệp hóa. Áp lực này dẫn đến tình trạng một bộ
phận nông dân mất cơ hội sản xuất nông nghiệp trong khi chưa chuẩn bị đầy đủ cho
việc chuyển đổi ngành nghề.
1.1.3 Khái niệm về hộ nông dân:
Hộ: là tất cả những người sống chung trong một ngôi nhà và nhóm người đó có
cùng chung huyết tộc và người làm công, người cùng ăn chung, làm chung và cùng có
chung một ngân quỹ. Mc Gê (1989)
Nông dân: là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông
nghiệp. Nông dân sống chủ yếu bằng làm ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà
tư liệu sản xuất chính là đất đai. Tùy từng quốc gia, từng thời kỳ lịch sử, người nông
dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất. Họ hình thành nên giai cấp nông dân, có
vị trí, vai trò nhất định trong xã hội. Theo số liệu của Hội Nông dân Việt Nam, hiện
nay nước ta có khoảng 13 triệu hộ nông dân
Hộ nông dân: Là hộ gia đình mà hoạt động sản xuất chủ yếu của họ là nông
nghiệp. Ngoài các hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn có thể tiến hành thêm các
hoạt động khác, tuy nhiên đó chỉ là hoạt động phụ. Ngày nay, trên thế giới có nhiều
định nghĩa khách nhau về nông hộ:
Theo Frankellis (1988): Hộ nông dân là hộ có phương tiện kiếm sống từ ruộng
đất, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, hộ luôn nằm trong một hệ
thống kinh tế rộng lớn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bởi sự tham gia một phần
trong thị trường với mức độ hoàn chỉnh không cao.
8



Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức

kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn.
Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: Nông hộ là những hộ chủ yếu hoạt động theo
nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn.
Như vậy mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng khái niệm về nông hộ có
những điểm sau đây: là những hộ nông dân sống ở vung nông thôn, có ngành nghề sản
xuất chính là nông nghiệp, là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là
một đơn vị tiêu dùng.
1.1.4 Đặc điểm và vai trò của kinh tế nông hộ
a. Đặc điểm của kinh tế nông hộ:
- Kinh tế nông hộ là hình thức tổ chức sản xuất phù hợp với đặc điểm của sản
xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt. Đất đai thường bị giới
hạn về diện tích không thể tăng thêm, nhưng độ phì trong đất có thể tăng, nếu con
người biết khai thác sử dụng hợp lý sẽ tạo khả năng tăng năng suất không ngừng.
- Kinh tế nông hộ có tính thời vụ: Tính thời vụ là nét đặc thù điển hình nhất của
kinh tế nông hộ, đặc biệt là ngành trồng trọt do thời gian lao động không trùng với thời
gian sản xuất của các loại cây trồng. Bên cạnh đó, tính thời vụ này cũng do sự biến đổi
của thời tiết, khí hậu, mỗi loại cây trồng có sự thích ứng khác nhau.
- Kinh tế nông hộ phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên: Kinh tế nông hộ phụ
thuộc vào điều kiện tự nhiên, nhất là vào đất đai và khí hậu. Đặc điểm này bắt nguồn
từ đối tượng lao động của nông nghiệp là cây trồng và vật nuôi. Chúng chỉ có thể tồn
tại và phát triển được khi có đủ 5 yếu tố cơ bản của tự nhiên là nhiệt độ, nước, ánh
sáng, không khí và chất dinh dưỡng. Các yếu tố trên kết hợp và cùng tác động với
nhau trong một thể thống nhất
- Kinh tế nông hộ có khả năng sử dụng hợp lý lao động và tạo việc làm ở nông
thôn. Lao động quản lý và lao động trực tiếp có sự gắn bó chặt chẽ. Hộ vừa điều hành
quản lý, vừa trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất. Do sản xuất nông nghiệp mang
tình thời vụ , nên lao động trong nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 40% quỹ thời gian.
- Kinh tế nông hộ có khả năng tự điều chỉnh cao. Việc điều chỉnh giữa tích lũy,
tiêu dùng và đầu tư phát triển sản xuất thường được quyết định theo các mục tiêu của
hộ. Do là đơn vị sản xuất gọn nhẹ, linh hoạt, lại làm chủ hoàn toàn quá trình sản xuất

nên kinh tế nông hộ có khả năng thích nghi với cơ chế thị trường, tạo ra sức cạnh tranh
trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp.
9



- Kinh tế nông hộ tự tạo ra nguồn lao động, không chỉ tái sản xuất sức lao động
mà còn tái sản xuất ra lao động kế tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác. Những kinh
nghiệm sản xuất, kỹ năng lao động được đào tạo, trao đổi hàng ngày trong các nông hộ.
- Kinh tế nông hộ là một đơn vị kinh tế đốc lập nhưng không đối lập với nền kinh
tế hợp tác và nền kinh tế Nhà nước. Chính sự phát triển của kinh tế nông hộ đã làm nảy
sinh nhu cầu liên doanh liên kết với nhau, hình thành các tổ chức kinh tế hợp tác.
- Kinh tế nông hộ giảm được tối đa chi phí quản lý do có sự thống nhất giữa lao
động quản lý và lao động sản xuất.
b. Vai trò của kinh tế nông hộ:
- Kinh tế nông hộ đã góp phần làm tăng sản lượng, sản phẩm cho xã hội như :
lương thực, thực phẩm, nông sản xuất khẩu…
- Góp phần sử dụng đầy đủ và có hiệu quả các yếu tố sản xuất như đất đai, lao
động, tiền vốn và tư liệu sản xuất.
- Tăng thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho người nông dân.
1.1.5 Khái niệm, vai trò của hộ nông dân trồng lúa:
a. Khái niệm hộ nông dân trồng lúa:
Từ những khái niệm trên ta có thể rút ra khái niệm về hộ nông dân sản xuất lúa
như sau: “Hộ nông dân sản xuất lúa - gọi tắt là hộ trồng lúa - là hộ nông dân sống ở
vùng nông thôn có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, dành một phần hoặc
toàn bộ diện tích đất cho canh tác lúa, lúa sử dụng cho mục đích kép: tự tiêu - hàng
hóa và đóng góp vào nguồn thu nhập của nông hộ.” Hồ Cao Việt (2006)
b. Vai trò của hộ trồng lúa trong nền kinh tế:
- Cấu thành cơ bản của cấu trúc làng xã - nông thôn.
- Cung cấp lượng lớn lao động, giá nhân công thấp cho nông nghiệp và phi nông nghiệp.

- Cung cấp phần lớn lượng lương thực cho tiêu thụ nội địa và đảm bảo an ninh
lương thực.
- Cung cấp phần lớn nông sản xuất khẩu, mang lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nước.
- Cung cấp nguyên liệu quan trọng cho chế biến và chăn nuôi.
- Nền tảng, đơn vị cơ bản của kinh tế trang trại.
- Tích lũy tư bản, thặng dư và tái đầu tư cho nông nghiệp.
10



1.2 Khái quát về tín dụng và tín dụng nông thôn:
1.2.1 Khái niệm về tín dụng:
Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng
hóa. Tín dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội. Quan hệ tín dụng
được phát sinh ngay từ thời kỳ chế độ công xã nguyên thủy bắt đầu tan rã. Khi chế độ
tư hữ về tư liệu sản xuất xuất hiện, cũng là đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng
hóa. Thời kỳ này, tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật -
hàng hóa. Về sau, tín dụng tín dụng đã chuyển sang hình thức vay mượn bằng tiền tệ
theo Bách khoa toàn thư mở - Wikipedia
Tín dụng là khái niệm thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người vay.
Trong quan hệ này, người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc
hàng hóa cho vay cho người đi vay trong một khoản thời gian nhất định. Người đi vay
có nghĩa vụ trả số tiền hoặc giá trị hàng hóa đã đi vay khi đến hạn trả nợ không kèm
hoặc có kèm một khoản lãi. Tín dụng có vị trí quan trọng đối với việc tích tụ, tận dụng
các nguồn vốn tạm thời nhãn rỗi để phát triển sản xuất kinh doanh.
Thực chất tín dụng là biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liển với quá trình tạo lập
và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình
tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả.
Như vậy, tín dụng tồn tại và hoạt động là yếu tố khách quan và cần thiết cho sự
phát triển, với các mối quan hệ cung cầu về vốn như một đòi hỏi cần thiết khách quan của

nền kinh tế. Tín dụng là một hiện tượng kinh tế nảy sinh trong điều kiện sản xuất hàng
hóa. Sư ra đời và phát triển của tín dụng không chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu điều hòa vốn
trong xã hội mà còn là một động lực thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế đất nước.
1.2.2 Khái niệm và các loại hình tín dụng nông thôn:
a. Khái niệm:
Hệ thống tín dụng nông thôn là khối liên kết các tổ chức cung cấp các dịch vụ
tín dụng cho các cá nhân và tổ chức trong khu vực nông thôn, hiện hữu trên địa bàn
nông thôn, với mục tiêu trực tiếp phụ vụ cho nhu cầu địa bàn nông thôn. Các khách
hàng của hệ thống tín dụng nông thôn thường ít tiếp cận được hoặc không tiếp cận
được dịch vụ tín dụng của các Ngân hàng thương mại. Hệ thống tín dụng thường cung
cấp các dịch vụ như nhận tiền gửi, cho vay, chuyển tiền, bảo hiểm. Fries và cộng sự,
(2003)
11



Như vậy, thị trường tín dụng nông thôn là nơi diễn ra hoạt động cung – cầu vốn
giữa các chủ thể cho vay vốn và chủ thể đi vay vốn nhằm thỏa mãn nhu cầu vốn tín
dụng phát triển kinh tế xã hội ở khu vực nông thôn.
b. Phân loại thị trường tín dụng nông thôn:
Ở các nước đang phát triển, hệ thống tài chính có dạng song hành, tức là cùng
tồn tại khu vực tài chính chính thức và khu vực tài chính phi chính thức. Khu vực tài
chính phi chính thức ước tính chiếm từ 30% đến 80% nguồn cung tín dụng nông thôn,
trong khi chưa đến 5% nông dân ở châu Phi, 15% ở châu Mỹ La Tinh, và 25% ở châu
Á tiếp cận được với tín dụng chính thức. Tilakaratna (1996).
Nếu khu vực tài chính chính thức như các ngân hàng thương mại, các ngân
hàng phát triển nông thôn hoạt động mạnh sẽ giúp tín dụng nông thôn đạt hiệu quả.
Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển, khu vực chính thức thường thường không cung
cấp dịch vụ tài chính cho nông thôn hiệu quả, nhất là cho người nghèo. Khu vực tài
chính chính thức thường cho rằng, cho người nghèo vay có rủi ro cao (tỉ lệ vỡ nợ cao),

tốn kém (chi phí giao dịch cao). Để khắc phục những nhược điểm này, họ áp dụng
những thủ tục rắc rối cộng với những quy định nghiêm ngặt như yêu cầu thế chấp của
các định chế chính thức khiến cho rất nhiều đối tượng cần vay vốn ở nông thôn không
tiếp cận được với tín dụng chính thức. Do đó, các định chế tài chính chính thức thường
thích giao dịch với khách hàng lớn có nhu cầu tín dụng lớn, không chú trọng đến các
doanh nghiệp nông thôn quy mô nhỏ, các hộ gia đình thu nhập thấp, các nông dân
không có đất. Ngoài ra, các định chế tín dụng chính thức thường tập trung vào thành
thị, hạn chế nhu cầu tín dụng của người dân ở nông thôn.
Thiếu vốn buộc người dân ở nông thôn tìm đến bà con, bạn bè, láng giềng,
người cho vay nặng lãi, chủ đất, các hội tiết kiệm-tín dụng tự phát, những hội tương
trợ , đây là khu vực tín dụng phi chính thức. Tại các vùng nông thôn của những nước
đang phát triển, khu vực phi chính thức đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết
nhu cầu tín dụng rất cụ thể và thiết thực của người dân, như vốn để sản xuất nhỏ, vay
ăn giáp hạt, trang trải những chi tiêu đột xuất trong gia đình. Ở một số vùng, đây là
nguồn tín dụng duy nhất dành cho người nghèo. Nhìn chung, tín dụng phi chính thức
góp phần giúp nông dân đối phó kịp thời những tình huống cấp bách như mất mùa,
mất việc, bệnh tật hay ma chay trong gia đình.
12



So với khu vực chính thức, khu vực phi chính thức có nhiều đặc điểm phù hợp
với người nghèo ở nông thôn như: gần gũi với nông hộ, nằm ngay trong ấp/thôn; hoạt
động linh hoạt, các điều khoản tín dụng đáp ứng nhu cầu cụ thể và tương xứng với khả
năng của từng khách hàng; thủ tục giao dịch đơn giản gọn nhẹ, ít phiền hà; quy tắc dễ
hiểu và dễ thực hiện; tín dụng nhanh chóng đến tay người có nhu cầu vay vốn; các giao
dịch chủ yếu dựa vào chữ tín, quan hệ cá nhân giữa người cho vay và người đi vay.
Tuy nhiên, tín dụng phi chính thức cũng có nhiều hạn chế và nhược điểm, nhất
là lãi suất rất cao, có khi lên đến 5-10% / tuần, hay 10-20% / tháng; kèm theo những
ràng buộc như mua nguyên vật liệu, hàng hóa tiêu dùng, hoặc bán sản phẩm hay sức

lao động, gây bất lợi cho người đi vay; các khoản vay có giá trị nhỏ và rất ngắn ngày,
không kích thích hoạt động đầu tư trung hạn và dài hạn của nhà nông. Ngoài ra ở thị
trường tín dụng nông thôn còn có thị trường tín dụng bán chính thức là các Hội, Đoàn
thể, các tổ chức này không trực tiếp cung vốn tín dụng mà chỉ đóng vai trò trung gian
giải ngân nguồn vốn tín dụng từ nguồn vốn của Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ
nguồn vốn tín dụng này thường có lãi suất rẻ và có giờ hạn nhất định. Như vậy có
nhiều cách tiếp cận để phân loại thị trường tín dụng nông thôn theo các góc độ: pháp
lý, nguồn gốc, địa bàn hoạt động…. Dựa vào chủ thể cung ứng vốn tín dụng ta có thể
phân chia thị trường tín dụng nông thôn thành 03 hình thức như sau:
+ Thị trường tín dụng chính thức: là nơi diễn ra công khai các hoạt động giao
dịch vốn tín dụng giữa các tổ chức tín dụng là trung gian tài chính với chủ thể cầu vốn
tuân thủ theo Pháp luật Nhà nước. Lực lượng cung ứng vốn là các trung gian tài chính
được thành lập theo Pháp luật như: hệ thống Ngân hàng, Quỹ tín dụng nhân dân, các
công ty tài chính…. chủ thể cầu vốn tín dụng chủ yếu là nông dân, một phần là các chủ
thể sản xuất, kinh doanh ngành nghề phi nông nghiệp.
+ Thị trường tín dụng bán chính thức: là nơi diễn ra công khai các hoạt động trợ
giúp cung ứng, giao dịch vốn tín dụng của các tổ chức xã hội như: Hội Liên hiệp phụ
nữ Việt Nam; Hội nông dân Việt Nam; Hội thanh niên Việt Nam….Các tổ chức xã hội
không phải là chủ thể trực tiếp cung vốn tín dụng mà chỉ là lực lượng trợ giúp Chính
phủ, các tổ chức phi Chính phủ giải ngân cho các chương trình, dự án theo chỉ định
nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn. Mọi giao dịch vốn tín
dụng của các tổ chức xã hội đều đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp và giám sát chặt chẽ của
chính quyền địa phương.
13



+ Thị trường tín dụng phi chính thức: là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch tín
dụng nằm ngoài khuôn khổ Pháp luật của Nhà nước, không chịu sự quản lý của Nhà
nước. Chủ thể tham gia cung vốn tín dụng thường là tư nhân cho vay năng lãi hoặc là

thương lái bán chịu hàng hóa, chủ cửa hàng cầm đồ hoặc nhóm hợp tác tín dụng tự
nguyện (hụi, họ , phường). Chủ thể vay vốn trên thị trường này thường là những người
khó tiếp cận với thị trường tín dụng chính thức và thị trường tín dụng bán chính thức
hoặc đã tiếp cận được nhưng chưa thỏa mãn nhu cầu về lượng vốn cần thiết.
Như vậy, hệ thống thị trường tín dụng nông thôn được hình thành bởi các thị
trường tín dụng bộ phận: Thị trường tín dụng chính thức, thị trường tín dụng bán chính
thức, thị trường tín dụng phi chính thức. Trong nền kinh tế thị trường, sự tồn tại của
các thị trường trên là tất yếu. Cả 03 thị trừng tín dụng tác động qua lại lẫn nhau, cạnh
tranh nhau trong cung cầu vốn tín dụng ở nông thôn. Trong đó thị trường tín dụng
chính thức và thị trường tín dụng bán chính thức hoạt động có sự đảm bảo của luật
pháp. Do đó khả năng phát triển của 02 loại thị trường này rất mạnh góp phần cung –
cầu vốn cho quá trình phát triển kinh tế xã hội ở - nông thôn. Trái lại thị trường tín
dụng phi chính thức hoạt động dựa vào lòng tin; tính bền vững trong quan hệ cung cầu
vốn yếu.
1.2.3 Vai trò của tín dụng trong phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn:
- Tín dụng nông thôn góp phần thúc đẩy thị trường tài chính nông thôn: Đầu tư
vốn phát triển nông nghiệp – nông thôn báo gồm nhiều định chế khác nhau: Chính
thức, bán chính thức, phi chính thức Tuy nhiên vai trò chủ lực vẫn thuộc về định chế
tài chính chính thức.
- Hoạt động tín dụng nông thông đã góp phần đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập
trung vốn, tư liệu sản xuất, khoa học công nghệ để phát triển kinh tế nông thôn. Bởi lẽ
khi có vốn, người nông dân có thể áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật để tăng
năng suất, tăng sản lượng, hạ gái thành sản phẩm….Trên cơ sở đó, họ có khả năng dễ
dàng trong việc tích tụ và tập trung vốn.
- Tín dụng đã góp phần tận dụng khai thác các tiềm năng về đất đai, lao động và
tài nguyên thiên nhiên. Tiềm năng về phát triền nông thôn nước ta rất lớn, Chính sách
tín dụng nếu được Nhà nước quan tâm đúng mức thì sẽ khai thác và phát huy có hiệu
quả các tiềm lực ở nông thôn. Hàng hóa nông sản sẽ phong phú hơn đáp ứng tốt hơn
cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu của đất nước.
14




- Tín dụng nông thôn đã góp phần vào xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện
cho nông dân tiếp thu công nghệ mới vào kinh doanh. Vốn tín dụng không các tổ chức
tín dụng chính thức không những tham gia vào quá trình sản xuất mà còn là vốn đầu tư
trung hạn, dài hạn xây dựng cơ sở vật chất, các công trình phụ vụ trực tiếp cho quá
trình sản xuất, phân phối, tiêu dùng như: công nghiệp chế biến nông sản phẩm, các hệ thống
tưới tiêu, công trình thủy lợi…nhằm phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới.
- Tín dụng tạo điều kiện phát triển ngành nghề truyền thống, ngành nghề mới,
góp phần giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn. Kinh tế hàng hóa càng
phát triển thì sức cạnh tranh ngày càng rõ, tất yếu dẫn đến phân hóa giàu nghèo ở nông
thôn. Như vậy sẽ dẫn đến việc có hộ sẽ phát triển thêm về nông nghiệp, có hộ sẽ rời
khỏi nông nghiệp chuyển sang ngành nghề khác như tiểu thủ công nghiệp, các ngành
nghề truyền thống. Do đó các ngành nghề này sẽ được phục hồi và phát triển.
- Tín dụng nông thôn còn tạo cho người dân không ngừng nâng cao trình độ sản
xuất, tăng cường quản lý kinh tế , đồng thời tạo tâm lý tiết kiệm trong gia đình. Hộ gia
đình là đơn vị kinh tế tự chủ, lời ăn lỗ chịu. Do vậy ngoài việc hăng say lao động, họ
phải áp dụng những quy rình kỹ thuật mới vào sản xuất để đem lại hiệu quả kinh tế cao
nhất. Hơn nữa đặc trưng của tín dụng là hoàn trả gốc lãi. Cho nên đã kích thích người
nông dân phải tính toán cân nhắc kỹ lưỡng nhằm giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn để đảm bảo hoàn trả tiền vay và lãi đúng hạn.
- Tín dụng nông thôn còn góp phần đảm bảo hiệu quả xã hội, nâng cao cuộc
sống tinh thần, vật chất cho người dân. Thị trường tín dụng chính thức hoạt động tốt sẽ
góp phần hạn chế nạn cho vay nặng lãi, làm lành mạnh hóa các quan hệ tín dụng ở
nông thôn. Nguyên tắc vay của tín dụng chính thức là đòi hỏi người dân phải sử dụng
vốn đúng mục đích. Như vậy đồng vốn đã đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Hơn
nữa. Nhà nước thông qua thị trường tín dụng nông thôn, sử dụng các công cụ để thực
thi các chính sách điều tiết vĩ mô nâng đỡ, hỗ trợ thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển
làm cho đời sống người dân được cải thiện và nâng cao hơn đồng thời thu hẹp sự cách

biệt giữa nông thôn và thành thị.
1.2.4 Khái quát về lý thuyết tín dụng nông hộ
Các chính sách tài chính nông thôn cổ điển dựa trên các giả định sau:
- Những hộ nghèo thường bị giới hạn khả năng tiết kiệm.
15



- Khi nguồn cung cấp tín dụng bị hạn chế, các nông hộ phải đi vay từ các tổ
chức phi chính thức và chịu mức lãi suất cao hơn bình thường. Lúc này sẽ dẫn đến tình
trạng ngày càng khó khăn của các hộ nông dân do số tiền lãi phải trả ngày càng tăng.
- Việc thừa nhận các khoản vay của các tổ chức tín dụng chính thức được xem
là một sự trợ giúp để hạn chế sự bóc lột của những người cho vay lãi suất cao.
- Lãi suất là nhân tố quyết định trong việc đi vay vì nó góp phần tạo ra chi phí
đi vay.
- Các tổ chức tài chính có những nguồn quỹ có hạn mức và trực tiếp để thực
hiện các mục tiêu hoạt động cho các nhóm khách hàng bằng cách giám sát chặt chẽ,
bằng tài trợ các khoản vay và bằng những công cụ khác.
- Vì tín dụng tiêu dùng hầu như không có nên những nhà cho vay chính thức
không cung cấp những khoản vay ngoài sản xuất.
a. Phương pháp tiếp cận cổ điển
Tại các nước đang phát triển, thị trường không hoàn hảo hạn chế vai trò của các
trung gian tài chính trong thị trường vốn. Phương pháp tiếp cận cổ điển cho rằng thu
nhập thấp làm giới hạn tiềm năng tiết kiệm ở các nước đang phát triển vì thế vai trò
của chính phủ trong tiết kiệm, tạo tín dụng và cấp vốn cho những nơi được ưu tiên trở
nên rất quan trọng.
Về nhu cầu, tín dụng được coi là đầu vào trong sản xuất và việc không có sẵn
vốn là nguyên nhân của sự trì trệ, chậm tăng trưởng và làm giới hạn cơ hội đầu tư.
Biểu hiện sinh lợi của nền nông nghiệp ở nước đang phát triển nói riêng phụ thuộc vào
khả năng sản xuất, sản lượng mức thu nhập sẽ bị chậm lại vì thiếu cung tín dụng.

Tín dụng được xem là một trong những chi phí đầu vào của sản xuất, giảm lãi
suất sẽ làm giảm những chi phí đầu vào và tạo nên sự khuyến khích cần thiết cho sự
hình thành vốn sản xuất. Điều này sẽ làm tăng cường việc học hỏi của người dân trong
việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Trong trường hợp này trường phái cổ
điển ủng hộ cho các chính sách tín dụng lãi suất thấp đã được ban hành như trần lãi
suất, luật chống cho vay nặng lãi, lãi suất trợ cấp. Kết quả không cân đối giữa số lượng
cung và cầu tại mức lãi suất không cân bằng được biểu hiện qua số lượng tín dụng đã
thông qua hạn mức tín dụng.
b. Phương pháp tiếp cận kìm hãm tài chính
Trường phái kìm hãm tài chính chống lại những lập luận của trường phái cổ
điển. Trong khi cả hai trường phái điều hiểu là thị trường tín dụng bị phân khúc và
16



kém hoàn hảo thì trường phái kìm hãm tài chính cho rằng hậu quả của các chính sách
của Chính phủ đã kìm hãm thị trường tài chính theo hướng của nó. Họ cho rằng chính
phủ đã can thiệp quá nhiều vào giá cả trên thị trường tự do như là một đặc trưng của
các thị trường tài chính ở các nước đang phát triển. Lãi suất thấp phổ biến trong cho
vay chính thức đã phá hỏng cung của hệ thống tài chính và bóp méo nhu cầu về các
khoản vay bằng cách đó tín dụng hướng vào những khách hàng vay lớn, vào những
người có quyền lực chính trị và vào những người có sự bảo trợ.
Lý thuyết kìm hãm tài chính được tập trung vào 02 mặt: Lượng tiền tiết kiệm và
lượng tiền cho vay trong thị trường tài chính. Về mặt cung, lý thuyết này căn cứ vào sự
xác nhận là các cá nhân sẽ chú trọng đến lợi nhuận khi họ gửi tiền trong điều kiện có
rủi ro. Lợi nhuận là lãi suất của khoản tiết kiệm và rủi ro gửi tiền là lạm phát. Do đó,
phương pháp tiếp cận “sự co dãn lãi suất” cho rằng lãi suất thực cao và sự cố định giá
cả là điều kiện cho việc rút tiền tiết kiệm. Ngược lại lãi suất tín dụng thấp kìm hãm sự
phát triển của các tổ chức tài chính chính thức. Vì có trần lãi suất mà các tổ chức tín
dụng không thể tăng nguồn vốn huy động tiết kiệm, họ phụ thuộc phần lớn vào khung

cấp tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Trung ương. Kết quả là, những Tổ chức tín
dụng này trở thành kênh duy nhất của Chính phủ mà không thể huy động được những
nguồn tiết kiệm nông thôn.
Thông qua các cơ hội đầu tư sẵn có trong nền nông nghiệp cổ điển, những
nguồn tiết kiệm luôn được cần đến để đầu tư với lợi nhuận cao – vượt xa mức lãi suất
thực. Kỹ thuật hiện đại được nhận định là không thể chia sẻ hết được. Người nông dân
với một lượng nhỏ quỹ đầu tư có thể mua kỹ thuật lạc hậu và tất nhiên lợi nhuận thu về
của họ sẽ thấp. Ngược lại nếu anh ta đủ vốn, anh ta sẽ tiếp cận kỹ thuật hiện đại, tiên
tiến và lợi nhuận thu được sẽ cao hơn. Vì vậy mà lãi suất cao sẽ khuyến khích người
gửi tiền mà không kìm hãm đầu tư.
Trong bất kỳ trường hợp nào, mức lãi suất thấp và không công bằng sẽ gây ra
những ảnh hưởng nghiêm trọng trong chỉ định nguồn cung ứng. Chính sách lãi suất
thấp dẫn đến nhu cầu về các khoản vay, tạo nên áp lực về đầu cơ và buộc phải đưa ra
các cơ chế không định giá. Điều này làm các ngân hàng cung cấp “tín dụng rẻ” nhưng
lại không rẻ chút nào khi xem xét tất cả các chi phí khác. Mặc dù lãi suất danh nghĩa
có thể thấp nhưng chi phí tiền mặt và chi phí cơ hội của người vay trong suốt thời gian
thực hiện thủ tục vay vốn sẽ là rất cao. Tín dụng lãi suất thấp cũng dẫn đến tình trạng
17



những khách hàng lớn nhận được những khoản vay lớn và khách hàng nhỏ nhận được
một khoản vay hạn chế với tiến độ giải ngân chậm chạp. Do đó, sẽ có những nhóm đầu
cơ các nguồn tài trợ này. Với mức lãi suất bắt buộc, các tổ chức tài chính quan hệ với
những hộ vay nhỏ và các khách hàng có rủi ro cao hơn. Tín dụng lãi suất thấp cũng mở
cánh cửa mới cho những kẻ tìm kiếm cơ hội để trở thành những kẻ chuyên cho vay
hay “tín dụng độc quyền” lãi suất ngân hàng thấp hơn lãi suất thị trường đã loại trừ
Chính phủ ra khỏi thị trường, điều này không chỉ dẫn đến thị trường hoạt động kém
hiệu quả và bị xuyên tạc mà còn cản trở việc vay vốn của người nghèo và tăng cơ hội
cho tham nhũng, quan liêu.

Cách giải quyết chính sách theo lý thuyết kìm hãm tài chính là giải phóng tự do
cho tài chính và hạn chế sự can thiệp của Chính phủ vào mọi mặt trên thị trường tài
chính. Điều này cũng bao gồm việc hạn chế mọi hình thức quản lí giá như trần lãi suất,
hạn mức tín dụng, ngân quỹ cho vay và bù lỗ.
c. Phương pháp tiếp cận kinh tế tổ chức mới
Trường phái kinh tế có tổ chức mới chi ra rằng: thị trường tài chính nông thôn
thường bị phân đoạn và hoạt động không hoàn hảo. Sự cố gắng của Chính phủ trong
mở rộng mạng lưới các tổ chức tài chính, tín dụng nông thôn trong nhiều trường hợp
vẫn không thể bao phủ và đáp ứng hết nhu cầu dịch vụ tài chính, tín dụng đa dạng của
dân chúng ở nông thôn. Họ còn cho rằng hạn chế tín dụng tồn tại ngay cả trong thị
trường cạnh tranh tự do, chỉ riêng cơ chế lãi suất đã không đủ khả năng cân bằng giữa
cung và cầu tín dụng.
Do thiếu các định chế tài chính chính thức ở thị trường tài chính nông thôn nên
những cá nhân hay tập thể có nhu cầu vay những món vay nhỏ đặc biệt là những hộ
nghèo thường không có điều kiện để tiếp cận được thị trường tài chính chính thức. Hai
hướng giải quyết là: tổ chức lại các định chế tài chính truyền thống và xây dựng lại các
định chế tài chính mới để các định chế này hoạt động năng động hơn, gần khách hàng
hơn, góp phần giảm chi phí giao dịch, tăng hiệu quả của tín dụng đối với người đi vay.
Thực hiện mối liên kết giữa thị trường tài chính chính thức và phi chính thức, các tổ
chức tín dụng chính thức sẽ thông qua các tổ chức tín dụng phi chính thức như là các
kênh dẫn vốn của mình. Đã có nhiều quốc gia đã có các chính sách vận dụng các lý
thuyết mới mẻ này để giúp hệ thống tài chính nông thôn phát triển vững mạnh và hoạt
động có hiệu quả, đóng góp nhiều vào sự nghiệp phát triển kinh tế nông nghiệp nông

×