Tải bản đầy đủ (.pdf) (31 trang)

Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục ở xã Khánh An.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (307.47 KB, 31 trang )


1
1. Lời mở đầu

Giáo dục và đào tạo là một hoạt động xã hội rộng lớn có liên quan trực
tiếp đến lợi ích, nghĩa vụ và quyền lợi của mọi người dân, mọi tổ chức kinh tế - xã
hội, đồng thời có tác động mạnh mẽ đến tiến trình phát triển nhanh hay chậm của
một quốc gia. Giáo dục và đào tạo phải đi trước một bước, giáo dục và đào tạo là
quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển. Vì vậy, bất kỳ
một quốc gia nào trên thế giới dù lớn hay nhỏ, dù là cường quốc hay kém phát
triển, dù phát triển hay đang phát triển, thì bao giờ cũng quan tâm đến giáo dục và
đào tạo mà trong đó khâu quan trọng là nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về
giáo dục và đào tạo.
Trong thời gian qua, giáo dục và đào tạo nước ta có bước phát triển
mới nói chung, ở địa phương nói riêng, sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã đạt được
nhiều thành tựu quan trọng. Địa phương đã có Trung tâm học tập cộng đồng,
Trường Mẫu giáo, Trường tiểu học và Trường trung học cơ sở. Cơ sở vật chất
trường, lớp từng bước được chuẩn hóa, hiện đại hóa. Chất lượng giáo dục các bậc
học có tiến bộ hơn trước, đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục
tiểu học. Mạng lưới trường học phát triển hợp lý, cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập,
công tác quản lý nhà nước về giáo dục có chuyển biến tích cực, trình độ dân trí
được nâng lên. Đội ngũ quản lý giáo dục ngày càng tăng lên về số lượng, từng
bước nâng cao chất lượng cả về lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ. Đội ngũ
cán bộ công chức, viên chức ngày được trẻ hóa, có trình độ năng lực, cơ bản đáp
ứng yêu cầu, nhiệm vụ, góp phần tích cực đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng yêu
cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tuy nhiên, nền giáo dục nước ta còn phải đối mặt với nhiều khó khăn
yếu kém, nhất là chất lượng và quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo chưa đáp

2
ứng nhu cầu đổi mới kinh tế - xã hội, hội nhập kinh tế quốc tế. So với yêu cầu


nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới thì sự nghiệp giáo dục và
đào tạo ở địa phương vẫn còn những hạn chế, yếu kém : tỷ lệ học sinh đi học so
với độ tuổi còn thấp; học sinh bỏ học các bậc học tuy có xu hướng giảm nhưng còn
ở mức cao, nhất là bậc trung học cơ sở; chất lượng giáo dục, hiệu quả đào tạo tuy
có chuyển biến nhưng chưa đạt yêu cầu, chưa đồng đều giữa các bậc học; công tác
phổ cập giáo dục mẫu giáo 5 tuổi, phổ cập giáo dục đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục
trung học cơ sở đã đạt chuẩn nhưng nhìn chung còn thiếu vững chắc; tỷ lệ học sinh
tốt nghiệp trung học cơ sở vào học trung cấp chuyên nghiệp, học nghề còn ít; đội
ngũ cán bộ quản lý, giáo viên được bồi dưỡng chuẩn hóa vầ chuyên môn, nghiệp
vụ nhưng chưa đáp ứng theo kịp nhu cầu phát triển của xã hội; công tác xã hội hóa
giáo dục có chuyển biến nhưng còn chậm, mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình
và xã hội chưa tốt.
Xuất phát từ những vấn đề trên, bản thân quyết định chọn đề tài Tiểu
luận : Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục ở xã Khánh
An.
Tiểu luận sẽ làm rõ thực trạng, đồng thời đề ra giải pháp đảm bảo
nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về giáo dục ở xã Khánh An.










3
Chương 1
Những vấn đề lý luận quản lý nhà nước về giáo dục.


1.1. Khái niệm, vai trò quản lý nhà nước về giáo dục :
1.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước về giáo dục :
- Khái niệm giáo dục đào tạo :
Giáo dục là một quá trình được tổ chức một cách có mục đích, có kế
hoạch nhằm truyền lại và lĩnh hội những tri thức được tích lũy của loài người.
Đào tạo là một quá trình đặc thù của giáo dục, nó hướng về giáo dục
chuyên nghiệp. Đó là sự phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo…đòi
hỏi ở một cá nhân để thực hiện nhiệm vụ chuyên môn nhất định.
Khái niệm chung là : Giáo dục và đào tạo là lĩnh vực truyền bá, cung
cấp kiến thức khoa học, kỹ thuật nhằm phát triển trí tuệ, nâng cao hiểu biết, hình
thành nhân cách lối sống và kỹ năng lao động, thông qua đó con người có thể vận
dụng trí tuệ, kỹ năng, hiểu biết vào thực tiển.
- Khái niệm quản lý nhà nước về giáo dục :
+ Quản lý nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nước là sự
quản lý của Nhà nước đối với xã hội và công dân.
Quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành xã hội để thực hiện quyền
lực Nhà nước, là tổng thể và thể chế về tổ chức và cán bộ của bộ máy nhà nước có
trách nhiệm quản lý công việc hang ngày của Nhà nước, do các cơ quan nhà nước
(lập pháp, hành pháp, tư pháp) có tư cách pháp nhân công pháp (công quyền), tiến
hành bằng các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
và quyền hạn mà Nhà nước đã giao cho trong việc tổ chức và điều khiển các quan
hệ xã hội và hành vi của công dân.

4
Hay là : Quản lý nhà nước là hoạt động quản lý xã hội đặc biệt mang
tính quyền lực Nhà nước, sử dụng hệ thống pháp luật Nhà nước để điều chỉnh hành
vi con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ
máy Nhà nước thực hiện; nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người, duy trì sự ổn
định và phát triển xã hội.

+ Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo chính là việc Nhà nước
thực hiện quyền lực công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ các hoạt động giáo dục
và đào tạo trong phạm vi toàn xã hội để thực hiện mục tiêu giáo dục của Nhà nước.
Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo là sự tác động có tổ chức và
điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các hoạt động giáo dục và đào tạo do
các cơ quan quản lý có trách nhiệm về giáo dục của Nhà nước từ trung ương đến
cơ sở tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Nhà nước
nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, duy trì kỷ cương, thỏa mãn nhu cầu
giáo dục và đào tạo của nhân dân, thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạo của Nhà
nước.
Những yếu tố chủ yếu trong quản lý nhà nước về giáo dục và đào
tạo :
Trong khái niệm quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo có 3 bộ
phận chính, đó là : chủ thể của quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo; khách thể
của quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo; mục tiêu giáo dục và đào tạo :
* Chủ thể của quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo là các cơ quan
có thẩm quyền (cơ quan lập pháp, hành pháp) được quy định ở Điều 87 của Luật
Giáo dục.
* Khách thể của quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo và mọi hoạt
động giáo dục và đào tạo trong phạm vi toàn xã hội.
* Mục tiêu giáo dục và đào tạo về tổng thể đó là việc bảo đảm trật tự
kỷ cương trong các hoạt động giáo dục và đào tạo, để thực hiện được mục tiêu

5
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho xã hội, hoàn thiện và
phát triển nhân cách của công dân; Tuy nhiên ở mỗi cấp học, bậc học đã được cụ
thể hóa mục tiêu trong Luật Giáo dục và điều lệ các nhà trường.
Trong khái niệm quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo còn có 2 yếu
tố quan trọng trong việc điều hành, điều chỉnh các hoạt động giáo dục, đó là công
cụ và phương pháp trong quản lý hành chính nhà nước về giáo dục và đào tạo :

* Công cụ chủ yếu trong quản lý hành chính nhà nước là hệ thống các
văn bản pháp luật, do đó công tác thể chế tạo ra hành lang pháp lý cho các hoạt
động quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo.
* Phương pháp quản lý hành chính nhà nước chủ yếu là phương pháp
hành chính, tổ chức.
Như vậy, có thể hiểu khái niệm : Quản lý Nhà nước về giáo dục và
đào tạo là sự quản lý của các cơ quan quyền lực Nhà nước có thẩm quyền, của bộ
máy quản lý giáo dục và đào tạo từ trung ương đến cơ sở đối với hệ thống giáo dục
quốc dân và các hoạt động giáo dục của xã hội nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước và hoàn thiện nhân cách cho nhân dân.
Nói chung, Quản lý nhà nước là việc thực thi ba quyền : Lập pháp –
Hành pháp – Tư pháp để điều chỉnh mọi quan hệ xã hội và hành vi của công dân.
Còn Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo thực chất là thực thi quyền hành
pháp để tổ chức, điều hành và điều chỉnh mọi hoạt động giáo dục trong phạm vi
toàn xã hội. Tuy nhiên, để quản lý có hiệu lực và hiệu quả, việc sử dụng quyền
hành pháp phải kết hợp với quyền lập pháp, lập qui và hoạt động thanh tra, kiểm
tra trong các hoạt động của tòa bộ hệ thống giáo dục và đào tạo.
1.1.2. Vai trò của quản lý nhà nước về giáo dục :
- Điều 35 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 :
Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu.

6
Nhà nước và xã hội phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm
chất và năng lực của công dân; đào tạo những người lao động có nghề, năng động
và sáng tạo, có niềm tự hòa dân tộc, có đạo đức, có ý chí vươn lên góp phần làm
cho dân giàu nước mạnh, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong báo cáo chính trị Đại hội IX của Đảng : Giáo dục là một trong
những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là

điều kiện phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để tăng trưởng nhanh và
bền vững.
Trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới hiện nay, giáo dục
và đào tạo ngày càng có vai trò to lớn, nó thúc đẩy sự hình thành và phát triển kinh
tế tri thức, là phương thức đặc biệt để giữ gìn, sáng tạo và phát triển văn hóa, giáo
dục đóng góp vào tăng trưởng kinh tế thông qua ứng dụng và thúc đẩy tiến bộ công
nghệ; giáo dục và đào tạo được coi là chìa khóa của sự phát triển.
Xuất phát từ vai trò “quốc sách hàng đầu” của giáo dục và đào tạo đối
với sự phát triển quốc gia nói chung và của mỗi địa phương nói riêng nên hoạt
động quản lý giáo dục của các cơ quan quản lý nhà nước có vai trò to lớn :
+ Tạo điều kiện tiền đề vững chắc cho giáo dục phát triển;
+ Làm cho hoạt động giáo dục đi vào trật tự kỷ cương;
+ Đảm bảo công bằng trong giáo dục, đào tạo thông qua hệ thống
chính sách về giáo dục, đào tạo của Nhà nước, tạo cơ hội cho mọi người tham gia
vào quá trình giáo dục…
Vì thế, để phát huy vai trò to lớn của giáo dục và quản lý hoạt động
giáo dục hiệu quả, các cấp ngành cần phải đổi mới tư duy phát triển giáo dục, đổi
mới công tác quản lý giáo dục, đổi mới cơ chế tài chính đối với giáo dục nhằm tạo
tiền đề vững chắc cho giáo dục phát triển.

7
Vai trò quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo có thể được coi là
khâu then chốt, nhằm đảm bảo thực hiện thắng lợi của mọi hoạt động giáo dục và
đào tạo, tiến tới mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
cho đất nước và hoàn thiện nhân cách con người.
1.2. Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo:
Theo quy định của Nhà nước, những nội dung quản lý nhà nước về
giáo dục, đào tạo được quy định trong Điều 99 Luật Giáo dục, bao gồm 12 nội
dung sau :
1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch,

chính sách phát triển giáo dục.
2. Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về giáo
dục; ban hành điều lệ nhà trường; ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của
cơ sở giáo dục khác.
3. Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục; tiêu chuẩn nhà
giáo; tiêu chuẩn cơ sở vật chất và thiết bị trường học; việc biên soạn, xuất bản, in
và phát hành sách giáo khoa, giáo trình; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ.
4. Tổ chức, quản lý việc bảo đảm chất lượng giáo dục và kiểm định
chất lượng giáo dục.
5. Thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động giáo
dục.
6. Tổ chức bộ máy giáo dục.
7. Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo và cán
bộ quản lý giáo dục.
8. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp
giáo dục.
9. Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công
nghệ trong lĩnh vực giáo dục.

8
10. Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công
nghệ trong lĩnh vực giáo dục.
11. Quy định việc tặng danh hiệu vinh dự cho người có nhiều công lao
đối với sự nghiệp giáo dục.
12. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục, giải
quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục.
Dựa trên những nội dung này, chính quyền cơ sở tiến hành thực hiện
các nhiệm vụ sau :
- Triển khai thực hiện kế hoạch phát triển sự nghiệp giáo dục ở địa
phương.

- Phối hợp với trường học tổ chức đăng ký, huy động trẻ em vào lớp 1
đúng độ tuổi và hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục. Thực hiện xóa mù chữ
và tái mù cho những người trong độ tuổi.
- Tổ chức xây dựng và quản lý, kiểm tra hoạt động của các cơ sở giáo
dục bậc giáo dục mầm non và tiểu học trên địa bàn.
- Phối hợp với các cơ quan hành chính nhà nước cấp trên quản lý
trường tiểu học, trung học cơ sở trên địa bàn.
- Tổ chức thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục, kêu gọi sự tham
gia của các tổ chức, cá nhân, nhất là nhân dân sống trên địa bàn tham gia vào công
tác giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh.
- Quan hệ, phối hợp công tác chặt chẽ với các trường phổ thong trên
địa bàn xã, giúp huyện quản lý các trường đang được đầu tư xây dựng, giúp cấp
trên quản lý giáo viên dạy trong xã. Tham gia với các trường thực hiện việc chăm
sóc, giáo dục học sinh phương châm kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội.
1.3. Thẩm quyền của chính quyền cơ sở trong quản lý nhà nước về giáo
dục :

9
Quyết định biện pháp đảm bảo các điều kiện cần thiết để trẻ em vào
học tiểu học đúng độ tuổi, hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục tiểu học; tổ
chức các trường, lớp mầm non, thực hiện bổ túc văn hóa và xóa muc chữ cho
những người trong độ tuổi.
Quyết định biện pháp giáo dục, chăm sóc thanh niên, thiếu niên; xây
dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, giáo dục truyền thống đạo đức tốt đẹp,
giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc; ngăn chặn việc truyền bá văn hóa phẩm
phản động; đồi trụy, bài trừ mê tín, hủ tục, phòng chống các loại tệ nạn xã hội ở địa
phương.
Quyết định các biện pháp kiểm tra, giám sát và xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo trên địa bàn theo đúng thẩm quyền mà pháp
luật quy định, nhằm ngăn ngừa kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh

vực giáo dục, đào tạo.
Theo Điều 10 Nghị định số 115/2010/NĐ-CP, ngày 24/12/2010 của
Chính phủ quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục của UBND cấp xã.
Ủy ban nhân dân xã có trách nhiệm thực hiện chức năng quản lý nhà
nước theo thẩm quyền về giáo dục trên địa bàn xã :
1. Xây dựng và trình hội đồng nhân dân cấp xã kế hoạch phát triển
giáo dục ở địa phương; tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển giáo dục ở địa
phương khi được phê duyệt; xây dựng quy hoạch về đất cho các cơ sở giáo dục
trên địa bàn theo tiêu chuẩn quy định về trường chuẩn quốc gia do Bộ Giáo dục và
Đào tạo ban hành.
2. Cho phép thành lập nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục theo tiêu
chuẩn do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định; bảo đảm và chịu trách nhiệm kiểm tra
các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục trên địa bàn hoạt động đúng quy định
pháp luật.

10
3. Thực hiện xã hội hóa giáo dục; xây dựng môi trường giáo dục lành
mạnh, vận động nhân dân chăm lo giáo dục con em thực hiện nếp sống văn hóa
mới, tham gia bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, các công trình
văn hóa, các công trình giành cho hoạt động học tập, vui chơi của học sinh; huy
động các nguồn lực để phát triển giáo dục của xã.
4. Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo định kỳ và hang năm về tổ chức
và hoạt động giáo dục trên địa bàn theo hướng dẫn của Ủy ban nhân dân cấp huyện
và Phòng Giáo dục và Đào tạo.
5. Phối hợp với các cơ sở giáo dục trên địa bàn tổ chức đăng ký, huy
động tối đa người trong độ tuổi đi học để đảm bảo phổ cập giáo dục, chống mù
chữ, tạo điều kiện cho mọi người được học tập thường xuyên, suốt đời.
6. Quản lý trung tâm học tập cộng đồng; phối hợp với Phòng Giáo dục
và Đào tạo quản lý cơ sở giáo dục mầm non, trường tiểu học, trung học cơ sở trên
địa bàn.

1.4. Quan điểm của Đảng về giáo dục :
Giáo dục và đào tạo là một lĩnh vực rất quan trọng của đới sống xã
hội, nó lien quan đến nhiều lĩnh vực khác, cho nên Đảng và Nhà nước ta rất chú
trọng phát trienr giáo dục và đào tạo. Thời gian qua quan điểm của Đảng về đường
lối phát triển giáo dục và đào tạo chủ yếu tập trung ở Nghị quyết Trung ương 2
khóa VIII; Kết luận của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa IX;
Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa IX; Văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX và X. Quan điểm văn kiện này thể hiện một
số quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục và đào tạo như sau :
1. Giáo dục và đào tạo nhằm xây dựng con người phát triển toàn diện,
có đầy đủ phẩm chất đạo đức và năng lực trí tuệ để xây dựng và bảo vẹ đất nước,
góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài.
2. Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục và đào tạo.

11
3.Thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, cùng với khoa học và
công nghệ giáo dục và đào tạo là yếu tố quyết định góp phần tăng trưởng kinh tế và
phát triển xã hội.
4. Xây dựng nền giáo dục theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội
hóa”.
5. Giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn
dân; mọi người, mọi cấp chăm lo cho giáo dục và đào tạo.
6. Giáo dục và đào tạo vừa phải gắn với yêu cầu phát triển kinh tế - xã
hội, với khoa học công nghệ và củng cố quốc phòng an ninh, vừa phù hợp với xu
thế tiến bộ của thời đại.
7. Phát triển giáo dục và đào tạo phải theo nguyên lý học đi đôi với
hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiển, giáo
dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng :
Phát triển giáo dục phải thực sự là quốc sách hàng đầu. Tập trung nâng

cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực
sang tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp. Đổi mới căn bản, toàn diện nền
giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa và hội nhập
quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và
cán bộ quản lý là khâu then chốt. Đổi mới cơ chế tài chính; thực hiện kiểm định
chất lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học. Xây dựng môi trường giáo dục
lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội.
Mở rộng giáo dục mầm non, hoàn thành phổ cập mầm non 5 tuổi.
Thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở với chất lượng ngày càng
cao…

12
Đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học ở
tất cả các cấp học, bậc học. Tích cực chuẩn bị để từ sau 2015 thực hiện chương
trình giáo dục phổ thông mới…
Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa XI : Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo là một yêu cầu khách
quan và cấp bách của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo bao gồm: đổi mới tư duy; đổi mới mục tiêu đào tạo; hệ thống
tổ chức, loại hình giáo dục và đào tạo; nội dung, phương pháp dạy và học; cơ chế
quản lý; cơ sở vật chất, nguồn lực, điều kiện đảm bảo…, trong toàn hệ thống (giáo
dục mầm non, giáo dục phổ thong, giáo dục đại học, đào tạo nghề).


















13
Chương 2
Thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục ở xã Khánh An.

2.1. Đặc điểm tình hình xã Khánh An :
Khánh An là một trong những xã đầu nguồn biên giới của Huyện An
Phú, có diện tích đất tự nhiên là 630 ha, trong đó, đất nông nghiệp 456 ha. Dân số
tự nhiên 2.941 hộ với 11,957 nhân khẩu. Có sở hạ tầng luôn phát triển nhưng vẫn
còn yếu kém, tình hình an ninh biên giới luôn diễn biến phức tạp; tình hình thời tiết
diễn biến bất thường, tình hình giá cả tăng cao một số mặt hàng tiêu dùng thiết yếu
đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình sản xuất – kinh doanh, đời sống của người
dân cũng gặp nhiều khó khăn. Qua những khó khăn, phần nào đã tác động trực tiếp
đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, trong đó có sự lãnh đạo
quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo. Nhưng Đảng bộ, chính quyền đã lãnh
đạo cả hệ thống chính trị từ xã đến ấp và nhân dân xã nhà ra sức phấn đấu khắc
phục khó khăn, phát huy nội lực vượt qua thách thức để đưa kinh tế - xã hội xã nhà
tiếp tục phát triển, quốc phòng an ninh được giữ vững, nhất là công tác giáo dục và
đào tạo ỏ địa phương trong những năm qua đã đạt dược những thành tựu đáng kể.
Hiện toàn xã có 4 điểm trường, gồm : trường Mẫu giáo. trường Tiểu học “A”,
trường Tiểu học “B” và trường trung học cơ sở; tổng số hiện có 66 phòng học,

trong đó xây dựng kiên cố 55 phòng và bán kiên cố 11 phòng; huy động học sinh
đến trường hàng năm từ 2.360 – 2.440 em, được chia ra từ 65 – 70 lớp của các bậc
học.
2.2. Kết quả quản lý nhà nước về giáo dục ở xã Khánh An :
2.2.1. Mặt đạt được :
- Công tác lãnh chỉ đạo của địa phương :

14
Trong những năm qua, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy
đảng và chính quyền trong quản lý nhà nước về giáo dục ở địa phương luôn có sự
chuyển biến tích cực. Trong điều kiện ổn định về chính trị cùng với sự phát triển
kinh tế - xã hội, sự tham gia của các đoàn thể, tổ chức xã hội, các cá nhân cho sự
nghiệp giáo dục và đào tạo. Phát huy truyền thống hiếu học của nhân dân và sự nổ
lực, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, nên sự
nghiệp giáo dục và đào tạo của xã Khánh an đạt được nhiều kết quả tích cực.
- Phát triển mạng lưới trường sở :
Trên địa bàn xã hiện có 4 điểm trường gồm : Trường Mẫu giáo;
Trường tiểu học “A”; Trường tiểu học “B” và Trường trung học cơ sở.
Tổng số hiện có 66 phòng học, phòng ban giám hiệu, phòng thiết bị,
phòng vi tính, phòng thư viện và phòng giáo viên. Phòng học được đầu tư kiên cố
55 phòng và bán kiên cố 11 phòng. Cơ sở vật chất được đầu tư xây dựng ngày càng
khang trang, trang thiết bị được bổ sung, đáp ứng được nhu cầu dạy và học.
Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và
chương trình mục tiêu xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia. Gần đây được nhà
nước cấp trên đầu tư cỉa tạo hệ thống hố xí các trường trị giá 704.515.000 đồng và
xây dựng một nhà đa năng trị giá 1,2 tỷ đồng đã đưa vào sử dụng.
- Xây dựng lực lượng cán bộ, giáo viên :
Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên được đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hóa
đủ tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của ngành, đặc biệt
các Hiệu trưởng của các trường được đào tạo xong trình độ lý luận chính trị.

Tổng số đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên hiện có 166 người, đảm bảo
cho hoạt động giáo dục và đào tạo của địa phương.
- Huy động trẻ đúng độ tuổi đến trường :
Hàng năm đều thực hiện tốt công tác huy động học sinh đúng độ tuổi
đến trường, thực hiện ngày toàn dân đưa trẻ đến trường. Tỷ lệ huy động học sinh ra

15
lớp chung là 96,14%, trong dó : bậc Mẫu giáo đạt 105,83%; bậc tiểu học đạt
98,28%; bậc trung học cơ sở đạt 87,36%.
- Công tác phổ cập giáo dục :
Công tác xóa mù chữ - phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập trung học
cơ sở đã được công nhân đạt chuẩn quốc gia được duy trì qua nhiều năm liền. Tỷ lệ
xóa mù chữ - phổ cập giáo dục tiểu học đạt 98,25%; tỷ lệ phổ cập đúng độ tuổi đạt
93,40%; tỷ lệ phổ cập trung học cơ sở đạt 73,36%.
- Công tác xã hội hóa giáo dục :
Công tác xã hội hóa luôn được quan tâm, dưới sự lãnh chỉ đạo của
Đảng ủy, chính quyền, sự phối hợp của các đoàn thể, nhà trường và ban đại diện
cha mẹ học sinh, hội khuyến học vận động xã hội hóa do các mạnh thường quân,
các tổ chức kinh tế, nhân dân đóng góp, tổ chức văn nghệ gây quỹ hàng năm…với
số tiền từ 70 đến trên 100 triệu đồng. Số tiền được sử dụng vào mục đích lót đal
sân trường, làm hàng rào, giúp đỡ học sinh nghèo, khó khăn được đến trường.
- Chất lượng giáo dục :
Công tác giáo dục và đào tạo luôn được đổi mới phương thức giảng
dạy, áp dụng phương pháp giảng dạy giáo án điện tử nhằm nâng cao chất lượng
giáo dục và đào tạo. Quan tâm đến chất lượng dạy và học, tổ chức thường xuyên
dự giờ, thăm lớp, bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém,…góp phần
tăng dần học sinh khá giỏi, giảm dần học sinh yếu kém hàng năm, số lượng học
sinh đạt giải học sinh giỏi cấp tỉnh cấp tỉnh, huyện ngày càng nhiều. Xây dựng các
phong trào trường học thân thiện, học sinh tích cực, thực hiện hai không, nói
không với tiêu cực trong thi cử, giáo viên dạy giỏi, giáo viên thi viết chữ đẹp, giáo

viên viết sáng kiến kinh nghiệm…đạt được nhiều giải thưởng cấp huyện, tỉnh.
- Chống lưu ban, bỏ học :
Công tác chống lưu ban, bỏ học được quan tâm thường xuyên, hàng
năm đều tổ chức huy động cả hệ thống chính trị vận động học sinh bỏ học trở lại

16
trường. Tỷ lệ học sinh bỏ học bình quân chung là 2,7%, trong đó, bậc trung học cơ
sở tỷ lệ 6,43%; bậc tiểu học 1,42% và bậc mẫu giáo tỷ lệ 0,12%; còn tình trạng lưu
ban ở các bậc học nhất là bậc trung học cơ sở.
* Nguyên nhân đạt được :
Đảng ủy, chính quyền luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quản
lý nhà nước về giáo dục và đạo tạo ở địa phương, đồng thời được sự lãnh đạo, chỉ
đạo kịp thời của ngành giáo dục và đào tạo cấp trên. Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo
viên được củng cố, tăng cường qua đào tạo lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp
vụ, có tâm huyết, gắn bó với nghề. Đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức
được sâu sắc về vị trí, vai trò quan trọng hàng đầu của giáo dục và đào tạo đối với
sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, cũng như tương lai của con em
và gia đình, nên ngày càng quan tâm nhiều hơn đến việc học tập của con em mình.
2.2.2. Mặt hạn chế :
- Công tác chỉ đạo của cấp ủy, sự điều hành, quản lý nhà nước của
chính quyền đôi lúc thiếu chặt chẽ, còn khoán trắng cho ngành giáo dục. Cán bộ
lãnh đạo, quản lý nhà trường đôi lúc chưa thực hiện tốt công tác tham mưu, đề xuất
những khó khăn phát sinh, do đó có những việc chưa được giải quyết xử lý, tháo
gỡ kịp thời.
- Xây dựng cơ sở vật chất hiện nay chưa đáp ứng yêu cầu cho công tác
giáo dục và đào tạo ở địa phương, các trường đều thiếu phòng học, phòng chức
năng để thực hiện mục tiêu phát triển giáo dục mẫu giáo phổ cập cho trẻ 5 tuổi và
tiểu học dạy học 2 buổi/ ngày và dồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu
kém; trang thiết bị chưa đáp ứng yêu cầu giảng dạy, nhất là chưa bố trí được phòng
vi tính để thực hiện phương pháp soạn thảo giáo án điện tử giảng dạy để nâng cao

chất lượng giáo dục.
- Mạng lưới trường lớp tuy phát triển, nhưng thiếu tập trung, nhất là
hai trường tiểu học còn có các điểm lẻ phân tán manh mún. Điểm trường tiểu học

17
tại khu vực trung tâm của xã đang bị quá tải hiện có 38 lớp, phải chữa cháy bằng
cách xây dựng thêm phòng học bán kiên cố mới, những phòng học bán kiên cố cũ
sử dụng qua nhiều năm đến nay đã xuống cấp, hư hỏng chưa được xây dựng mới
thay thế. Có điểm trường thiếu mặt bằng để bố trí sân chơi, bãi tập, nên việc triển
khai các hoạt động giáo dục thể chất, giáo dục ngoài giờ lên lớp thiếu đồng bộ.
Tình trạng thiếu phòng học làm cho công tác quản lý chuyên môn thiếu sâu sát,
làm tăng nhu cầu về cơ sở vật chất và kinh phí hoạt động. Có trường tiểu học thực
hiện mô hình dạy hai buổi và tạo bếp ăn, nghỉ buổi trưa rất tốn kém, mặt dù trong
dự án tài trợ nhưng không đủ đáp ứng yêu cầu, nhà trường phải vận động thêm các
tổ chức kinh tế, các mạnh thường quân hỗ trợ them, nhưng gặp nhiều khó khăn
nhất định. Riêng bậc mẫu giáo không đủ phòng học và cơ sở vật chất để thu hút hết
các cháu mầm non đến trường, chỉ dừng lại phổ cập ở trẻ 5 tuổi.
- Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên tuy phát triển về số lượng,
nhưng có một bộ phận về phẩm chất, năng lực chuyên môn chưa tương xứng với
yêu cầu nhiệm vụ được giao, nên dẫn đến tình trạng vừa thừa, vừa thiếu, nhất là
giáo viên có trình độ công nghệ tin học không có phòng vi tính để thực nghiệm,
giảng dạy phải bố trí phụ trách công việc khác; một số ít giáo viên ở xa thiếu tâm
huyết với nghề nghiệp nhưng chưa được sắp xếp, chấn chỉnh. Việc thu hút giáo
viên giỏi, giáo viên trẻ, được đào tạo chính quy và bố trí điều động giáo viên đến
công tác ở những địa bàn khó khăn còn gặp nhiều vướng mắc, hạn chế. Nhất là
thiếu nhà công vụ để bố trí nơi ở cho những giáo viên trẻ, độc thân ở nới khác đến
giảng dạy còn gặp nhiều khó khăn.
- Công tác huy động trẻ đến trường còn nhiều bất cập, thường là
không đảm bảo chỉ tiêu đề ra từ đầu năm, có nhiều trường hợp, hoàn cảnh khác
nhau, đặc biệt là vùng biên giới có một bộ phận không nhỏ số học sinh là con em

Việt Kiều Campuchia vấn đề quan hệ với phụ huynh gặp nhiều khó khăn, số lượng
học sinh này chiếm trên 30% trên tổng số học sinh huy động hàng năm. Những

18
năm gần đây số lượng học sinh Việt Kiều sang học tăng đột biến ở bậc tiểu học và
mẫu giáo, phải chữa cháy bằng cách xây dựng thêm phòng học tạm bán kiên cố.
- Công tác phổ cập giáo dục tuy đã đạt chuẩn quốc gia qua nhiều năm,
nhưng tỷ lệ đạt được chưa thực sự bền vững, nhất là tỷ lệ phổ cập giáo dục trung
học cơ sở còn thấp, số học sinh bỏ học giữa chừng tuy có giảm nhưng tỷ lệ còn ở
mức cao hoặc là không tham gia bổ túc, học nghề.
- Công tác xã hội hóa tuy luôn được quan tâm, nhưng công tác phối
kết hợp giữa nhà trường, ban đại diện cha mẹ học sinh, hội khuyến học và các đoàn
thể của xã đôi lúc thiếu thường xuyên, thiếu đồng bộ, chưa khai thác hết tiềm năng
của địa phương. Hàng năm công tác vận động đóng góp của các mạnh thường
quân, tổ chức kinh tế, nhân dân đóng góp và tổ chức các phong trào gây quỹ còn
hạn chế.
- Chất lượng giáo dục tuy có nâng lên hàng năm, nhưng việc quản lý
giáo dục các bậc học các đơn vị trường học chưa thực sự sâu sát, đôi lúc còn thụ
động, máy móc, dẫn đến kết quả giáo dục và đào tạo chưa vững chắc, thiếu toàn
diện; còn biểu hiện nặng về lý thuyết – kém thực hành; dạy chữ chưa đi đôi với dạy
người; nặng phần dạy học, nhẹ phần tự học, tự rèn luyện; các hoạt động giáo dục
kiến thực văn hóa, đạo đức, rèn luyện thể chất và thẩm mỹ chưa đồng bộ; quá tải
về nội dung nên việc bố trí thời gian học tập, nghỉ ngơi, vui chơi cho học sinh chưa
hợp lý; sự phối hợp hoạt động giáo dục của gia đình – nhà trường – xã hội chưa
chặt ché, nên chất lượng và hiệu quả giáo dục và đào tạo đạt được chưa tương
xứng với yêu cầu nhiệm vụ đặt ra. Một bộ phận cán bộ, giáo viên thiếu tính năng
động, sáng tạo trong điều hành quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo, cũng như
trong thực thi công tác chuyên môn, một bộ phận chưa áp dụng được phương pháp
giáo án điện tử vào giảng dạy, không đăng ký giáo viên dạy giỏi, không viết sang
kiến kinh nghiệm, công tác quản lý tổ, quản lý chủ nhiệm chưa đi vào thực chất.

Việc phát hiện năng khiếu, bồi dưỡng nhân tài, khắc phục yếu kém của học sinh

19
còn hạn chế, chưa có chính sách đầu tư mang tính đồng bộ và có hệ thống; hoạt
động giáo dục nền tảng bậc tiểu học, trung học cơ sở hiện còn thấp, chất lượng
chưa ổn định, kết quả chọn thi học sinh giỏi còn khiêm tốn ở mức thấp so với mặt
bằng chung của huyện.
- Công tác chống lưu ban, bỏ học tuy được Đảng ủy, chính quyền địa
phương luôn quan tâm, đôn đốc, nhắc nhở nhà trường phối kết hợp cùng các
ngành, đoàn thể trong công tác tuyên truyền vận động học sinh bỏ học trở lại
trường, lớp. Nhưng tỷ lệ học sinh bỏ học có giảm dần, còn ở mức cao nhất là bậc
trung học cơ sở, nếu tính tỷ lệ bỏ học của học sinh ở địa phương thì đạt dưới mức
cho phép, còn tính chung số học sinh Việt Kiều sang học thì tỷ lệ tăng cao. Không
ít học sinh do hoàn cảnh gia đình nghèo, khó khăn trong cuộc sống phải nghỉ học
sớm để theo cha mẹ đi làm ăn, chưa được quan tâm giúp đỡ kịp thời; công tác vận
động mở lớp phổ cập, bổ túc, dạy nghề để thực hiện chủ trương phân luồng đào tạo
sau trung học cơ sở nhằm nâng cao trình độ và chất lượng nguồn nhân lực trẻ còn
nhiều hạn chế.
* Nguyên nhân của hạn chế :
Một số người trong cấp ủy, chính quyền chưa nêu cao hiệu quả quản
lý nhà nước về giáo dục và đào tạo, nhận thức chưa đầy đủ quan điểm của Đảng về
giáo dục và đào tạo trong sự nghiệp đổi mới của đất nước hiện nay, nên còn thiếu
quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo; chưa có những quyết sách, biện pháp đủ mạnh và phù
hợp để cụ thể hóa quan điểm giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu.
Công tác thông tin, tuyên truyền, vận động cũng còn nhiều hạn chế,
chưa thực sự bám sát địa bàn, sâu rộng đến tất cả các đối tượng, tầng lớp trong xã
hội; vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa nhận thức được vai
trò, tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo, còn nặng tư tưởng trông chờ, ỷ loại
vào Nhà nước, còn khoán trắng cho nhà trường, cho ngành giáo dục.


20
Đội ngũ giáo viên được đào tạo chấp vá từ nhiều loại hình, qua nhiều
giai đoạn khác nhau, nên trình độ không đồng đều. Công tác bồi dưỡng chuyên
môn còn thiếu thường xuyên, ý thức tự học, tự rèn luyện để nâng cao năng lực
chuyên môn và trau dồi phẩm chất, đạo đức của một bộ phận giáo viên còn hạn
chế, nên chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục và đào tạo còn hạn chế, chưa
đáp ứng yêu cầu thực tiễn, nhất là về đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị dạy
và học chưa đảm bảo như cầu. Thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục còn
vướng mắc, bất cập, chưa có sự tác động mạnh mẽ phát huy tiềm năng trong các
tầng lớp nhân dân.
Một bộ phận nhân dân chưa thực sự quan tâm đúng mức đến việc học
tập của con em mình; chưa thường xuyên phối hợp chặt chẽ với nhà trường, tổ
chức Đoàn, Đội và chủ nhiệm lớp trong các hoạt động giáo dục, nhất là giáo dục về
đạo đức. lối sống; chưa thực sự xây dựng ý thức tự học, tự rèn luyện phấn đấu
trong học tập, trong đấu tranh ngăn chặn các tệ nạn xã hội xâm nhập học đường,
nhất là bậc trung học cơ sở.
2.2.3. Những vấn đề cần quan tâm về công tác quản lý giáo dục ở xã
Khánh An :
Một bộ phận cấp ủy, chính quyền và đoàn thể và cán bộ, đảng viên
chưa thực sự quan tâm, nhận thức đầy đủ việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
về giáo dục trong giai đoạn phát triển theo yêu cầu nhiệm vụ mới hiện nay.
Cơ sở vật chất trường lớp, chưa đáp ứng yêu cầu giáo dục và đào tạo ở
địa phương trong tình hình mới. Toàn bộ các trường đều thiếu phòng chức năng,
phòng vi tính, trang thiết bị dạy và học. Số lượng học sinh bậc tiểu học quá tải, còn
nhiều điểm lẻ chưa có đề án tách trường để đảm bảo chất lượng học tập. Những
phòng học bán kiên cố đã xuống cấp chưa được đầu tư sửa chữa mới.

21
Chưa có trường mầm non để huy động hết số trẻ 3, 4 tuổi đến trường,

chỉ mới đảm bảo phổ cập cho trẻ 5 tuổi.
Mặt bằng trường trung học cơ sở rộng, các trường tiểu học chưa được
đầu tư nâng cấp, làm hàng rào để đảm bảo sinh hoạt vui chơi, nghỉ ngợi và hoạt
động ngoài giờ.
Công tác huy động học sinh đến trường, học sinh bỏ học đối với số
học sinh Việt Kiều Campuchia sang học, chưa có giải pháp hiệu quả.
Công tác xã hội hóa triển khai thực hiện thiếu đồng bộ, sự phối kết
hợp thiếu thường xuyên giữa nhà trường và các đoàn thể nhân dân.
Chất lượng giáo dục từng bước được nâng lên, công tác phổ cập giáo
dục ngày càng hoàn thiện, nhưng chưa thực sự bền vững.

















22
Chương 3
Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giáo

dục ở xã khánh An.
3.1. Phương hướng :
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng ủy, chính quyền nâng cao hiệu quả
quản lý nhà nước về giáo dục ở địa phương, sự kết hợp của các đoàn thể nhân dân
trong các hoạt động giáo dục và đào tạo. Xây dựng mạng lưới giáo dục thích ứng
với đòi hỏi thực tiễn hiện nay của phát triển kinh tế - xã hội.
Triển khai thực hiện có hiệu quả các đề án xây dựng trường đạt chuẩn
quốc gia, theo chương trình xây dựng nông thôn mới. Chú trọng việc tách trường
tiểu học xây dựng thêm trường mới, mở rộng mặt bằng, xây dựng thay thế các
phòng học bán kiên cố đã xuống cấp. Quan tâm việc nâng cấp mặt bằng, xây dựng
hang rào trường trung hoc cơ sở và các điểm trường khác, nhất là việc quy hoạch
mặt bang để xây dựng trường Mẫu giáo đạt chuẩn quốc gia.
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhanh chóng
khắc phục các yếu kém trong bố trí, sắp xếp và sử dụng để sớm xây dựng được đội
ngũ quản lý, nhà giáo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và đảm bảo các yêu cầu
về phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn phù hợp với yêu cầu giáo dục và đào
tạo trong tình hình mới. Quan tâm về chế độ chính sách để đào tạo, bồi dưỡng phát
triển chuyên môn, tạo động lực và hiệu quả làm việc của đội ngũ cán bộ quản lý và
đội ngũ giáo viên, nhất là quan tâm nơi ở, nhà công vụ cho giáo viên ở xã an tâm,
toàn tâm, toàn ý cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo của địa phương.
Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo, thường
xuyên đổi mới quản lý giáo dục cả về cán bộ quản lý và cơ chế quản lý, nâng cao
hiệu lực chỉ đạo tập trung thực hiện chiến lược, chính sách phát triển giáo dục và
đào tạo. Tiếp tục hoàn chỉnh cơ cấu hệ thống nhà trường và phát triển mạng lưới

23
trường lớp, mô hình xã hội học tập trong các bậc học, phát huy tối đa tiềm năng,
sức sáng tạo, tính chủ động, giải quyết có hiệu quả những bất cập của toàn hệ
thống trong quá trình phát triển. Đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ quản lý giáo
dục theo hướng coi trọng phẩm chất và năng lực hoạt động thực tiển.

Không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học theo định
hướng “coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh” ở tất cả các bậc
học. Tạo điều kiện cho học sinh phát huy tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực
hành, kiên trì nguyên tắc lấy học sinh làm trung tâm. Quan tâm trong phương pháp
giảng dạy các khâu từ nội dung, chương trình, sách giáo khoa, thi cử, đánh giá chất
lượng học sinh, đẻ đạt được mục đích căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo.
Chú trọng công tác huy động học sinh đến trường, huy động học sinh
bỏ học trở lại trường lớp, duy trì đảm bảo sỉ số học sinh các bậc học. Xây dựng
môi trường giáo dục lành mạnh, trường học thân thiện, học sinh tích cực, kết hợp
giữa nhà trường, gia đình và xã hội, nhằm đảm bảo chất lượng và hiệu quả cả về
dạy chữ, dạy nghề, dạy người. Quan tâm ngăn chặn và chống lại sự xâm nhập của
các tệ nạn xã hội, hiện tượng tiêu cực vào nhà trường, thực hiện hai không và
không tiêu cực trong thi cử. Tăng cường sự giáo dục gia đình quan tâm đến việc
học tập con em mình, không nên khoán hết mọi việc cho xã hội và nhà trường.
Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, huy động mọi nguồn lực để phát triển
sự nghiệp giáo dục và xây dựng xã hội học tập. Mở rộng và hoàn thiện các hình
thức huy động cộng đồng tham gia quản lý nhà trường và giải quyết những vấn đề
quan trọng của giáo dục, tạo điều kiện đê các nhà hoạt động xã hội đóng góp công
sức, trí tuệ vào công tác giáo dục và đào tạo. Cùng với việc huy động đóng góp của
mạnh thường quân, các tổ chức xã hội và của nhân dân, thực hiện các chính sách
hỗ trợ đối với học sinh vùng biên giới theo Quyết định 49 của Thủ tướng Chính
phủ. Tăng cường sự hỗ trợ đối với học sinh nghèo, con em gia đình chính sách
nghèo, con em gia đình nghèo học giỏi.

24
3.2. Giải pháp :
3.2.1. Tăng cường sự lãnh đạo của địa phương:
Tăng cường sự lãnh đạo của Cấp ủy Đảng, vai trò quản lý điều hành
của chính quyền và phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể đối với
ngành giáo dục và đào tạo. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục và đào

tạo ở địa phương, tăng cường vai trò tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các nhà
trường, đi đôi với việc hoàn thiện cơ chế quản lý, đảm bảo tính công khai, dân chủ,
minh bạch, sự kiểm tra giám sát của các cấp, các ngành và nhân dân trong quản lý
giáo dục.
3.2.2. Huy động các nguồn lực:
Huy động các nguồn nhân lực, rà soát lại quy hoạch mạng lưới trường
lớp cho phù hợp, tiếp tục đề xuất những giải pháp phát huy có hiệu quả trung tâm
học tập cộng đồng, không để tình trạng hoạt động cầm chừng, kém hiệu quả, gây
lãng phí. Huy động ngày càng nhiều và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực nhà nước
và xã hội để triển khai có hiệu quả các Đề án, kế hoạch của ngành giáo dục và đào
tạo, mà trọng điểm là Đề án “Xây dựng trường học đạt chuẩn Quốc gia đến năm
2015” của các trường mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở trên địa bàn. Thực hiện
kế hoạch nâng cấp sân trường và làm hang rào trường trung học cơ sở. Kế hoạch
chia tách trường tiểu học, xây dựng thêm trường tiểu học mới. Ưu tiên phục vụ mở
rộng các trường, lớp tổ chức dạy 2 buổi, bếp ăn cho học sinh, phấn đấu đến năm
2015 chấm dứt tình trạng thiếu phòng học, không có phòng bộ môn, công trình phụ
trợ - nhà vệ sinh, bàn ghế không đúng quy cách. Tiếp tục đề xuất ứng dụng công
nghệ thông tin hỗ trợ hoạt động giảng dạy và học tập, chuẩn hóa các thiết bị dạy
học.
3.2.3. Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức:
Xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên thực hiện có hiệu quả Đề án “Xây
dựng và nâng cao chất lượng nhà giáo, cán bộ quản lý ngành giáo dục và đào tạo

25
tỉnh An Giang, giai đoạn 2011 – 2015, định hướng 2020”. Tổ chức đánh giá, xếp
loại đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý ở các cấp học theo chuẩn, thực hiện công tác
bồi dưỡng thường xuyên đảm bảo yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng dạy và
học, nâng cao năng lực tin học áp dụng phương pháp giáo án điện tử trong giảng
dạy. Đề xuất giải pháp rà soát, sắp xếp lại đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý,
thực hiện mục tiêu luân chuyển, điều động, bổ nhiệm để điều hòa chất lượng giáo

dục các trường.
+ Ưu tiên phân công giảng dạy cho những giáo viên đáp ứng yêu cầu,
có năng lực về chuyên môn, nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức và hoàn thành tốt
nhiệm vụ được giao; không bố trí những giáo viên không đáp ứng yêu cầu thực
hiện nhiệm vụ giảng dạy tiếp tục đứng lớp.
+ Những giáo viên làm nhiệm vụ giảng dạy nhưng dôi dư không bố trí
đứng lớp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ giảng dạy thì tiến hành
đánh giá, xếp loại để điều chỉnh phân công đảm nhiệm các chức danh khác còn
thiếu trong nhà trường như : thư viện, thiết bị, văn thư, kế toán, y tế học đường.
+ Phấn đấu đến năm 2015 giải quyết cơ bản tình trạng vừa thừa, vừa
thiếu giáo vien, nhân viên; đồng thời nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán
bộ quản lý. Có 100% giáo viên các cấp học, bậc học đạt trình độ chuẩn; 100% cán
bộ quản lý đương chức và cán bộ quy hoạch kế cận được đào tạo, booid dưỡng đạt
chuẩn chức danh về lý luận chính trị, quản lý nhà nước, quản lý giáo dục, tin học,
ngoại ngữ.
+ Thường xuyên quan tâm lãnh đạo công tác xây dựng Đảng trong các
đơn vị trường học, gắn với thực hiện Nghị quyết TRung ương 4 (khóa XI) “Một số
vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và tiếp tục đẩy mạnh việc “Học tập
và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý,
đội ngũ giáo viên không chỉ giỏi về chuyên môn nghiệp vụ mà còn vững vàng về

×