Tải bản đầy đủ (.doc) (16 trang)

Asean trong chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoan 1991-1995

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (160.08 KB, 16 trang )

Tên đề tài:
Asean trong chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoan 1991-1995

Danh sách nhóm: Lớp CT36A.
1. Trần Thị Hồi Thương( nhóm trưởng).
2. Nguyễn Thị Lan Anh.
3. Hồng Thị Hồng.
4. Bùi Mạnh Tiến.
5. Võ Mỹ Linh.
6. Vorachak Khamphasouk.

.

MỤC LỤC


Tiểu luận chinh sách đối ngoại Việt Nam П.
Lời mở đầu:
Sau đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần VI năm 1986, Việt Nam đã tiến hành một
cuộc cải cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là trên lĩnh vực đối ngoại. Đảng ta chủ
trương mở rộng, xây dựng mối quan hệ với các quốc gia và tổ chức kinh tế chính trị khác nhau
trên thế giới, trong đó khơng thể khơng nhắc tới ASEAN. Tuy mối quan hệ Việt Nam ASEAN từng trải qua nhiều giai đoạn, lúc đối đầu, khi hịa hỗn nhưng khơng thể phủ nhận
ASEAN luôn là một trong những đối tượng chính trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Có
thể coi ASEAN như là một sân chơi quốc tế đầu tiên của Việt Nam, làm tiền đề cho việc tham
gia một loạt các tổ chức quốc tế sau này như APEC, WTO,... Thời kì 1991-1995, là một trong
những thời kì quan trọng, đây là quãng thời gian mà Việt Nam chuẩn bị những điều kiện cần
thiết, vận động để chính thức trở thành thành viên chính thức của ASEAN. Vậy, chính sách đối
ngoại của Việt Nam với ASEAN thời kì này ra sao? Cơ sở của những chính sách đó và triển
khai trên thực tế như thế nào? Chúng ta đã thu được những thành tựu và những bài học rút ra là
gì? Bài tiểu luận sau sẽ đi sâu phân tích để làm rõ những câu hỏi ở trên.
Để cung cấp cho người đọc những hiểu biết, những thông tin chính xác nhất về thời kì


này, chúng tơi đã tiến hành thu thập và xử lí thơng tin từ nhiều nguồn khác nhau. Tuy nhiên, do
kiến thức còn hạn chế, trong q trình thực hiện có thể cịn nhiều thiếu sót, nhóm tơi mong
nhận được sự góp ý của giảng viên, và các bạn để bài tiểu luận sẽ hoàn thiệnhơn.
Xin trân trọng cảm ơn!

2


Tiểu luận chinh sách đối ngoại Việt Nam П.
II. Vài nét về hiệp hội Đông Nam Á - ASEAN:
Qua 40 năm tồn tại và phát triển, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN đã thu
được nhiều thành tựu to lớn, được đánh giá cao như một tổ chức khu vực thành công nhất trong
các nước đang phát triền.
Năm 1967, năm nước Đông Nam Á là Inđônêxia, Malaixia, Philippin, Thái Lan và
Xingapo đã cùng nhau thành lập một tổ chức liên kết của khu vực với tên gọi Hiệp hội các quốc
gia Đông Nam Á (ASEAN). Tuyên bố Băng Cốc-bản tuyên ngôn ASEAN đã nêu lên 7 điểm
xác định mục tiêu của ASEAN là phát triển kinh tế và văn hoá, hợp tác thúc đẩy tiến bộ xã hội
của các nước thành viên trên tinh thần duy trì hồ bình và ổn định của khu vực. Có hai điều
quan trọng nhất trong Tuyên bố Băng Cốc : điều đầu tiên của bản tuyên ngôn đã chủ trương:
"Thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế,tiến bộ xã hội và phát triển văn hố trong khu vực thơng qua
các nỗ lực chung trên tinh thần bình đẳng và hợp tác nhằm tăngcường cơ sở cho một cộng
đồng các quốc gia Đông Nam Á hồ bình và thịnhvượng";và điểm thứ 4 của bản Tuyên bố còn
viết: "Hiệp hội này mở rộng cho tất cả các quốc gia ở khuvực Đông Nam Á tán thành tơn chỉ,
ngun tắc và mục đích nói trên tham gia 1. Đây chính là 2 tơn chỉ quan trọng nhất mà dựa vào
đó những nhà thành lập ASEAN mong muốn Hiệp hội sẽ là một tổ chức của khu vực Đông
Nam Á,để người Đông Nam Á ngày càng làm chủ vận mệnh của mình, thốt dần sức ép từ các
nước lớn ngồi khu vực.
III. Sơ lược về chính sách đối ngoại của Việt Nam với ASEAN từ sau năm 1975 đến
trước 1991.
Trên thực tế từ trước năm 1975, ngay sau khi Hiệp định Paris (1973) được kí kết, Việt

Nam đã bắt đầu tích cực triển khai chính sách khu vực, đẩy mạnh quan hệ song phương với các
nước ASEAN. Chính sách đối ngoại của Việt Nam với Đơng Nam Á lần đầu được thể hiện rõ
trong chính sách 4 điểm được nêu ra vào tháng 7/1976, nêu lên nguyên tắc cơ bản cho việc phát
triển quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước Đông Nam Á: Tôn trọng độc lập chủ quyền,
toàn vẹn lãnh thổ; cùng tồn tại trong hịa bình. Đến tháng 8/1976, Việt Nam đã thiết lập quan hệ
ngoại giao đây đủ với các nước thành viên trong ASEAN, tuy nhiên thì Việt Nam vẫn chưa có
quan hệ hợp tác với tổ chức này.
Từ năm 1979 đến năm 1986, vấn đề Campuchia xảy ra khiến cho mỗi quan hệ giữa Việt
Nam với ASEAN trở nên căng thẳng và dần chuyển sang đối đầu.

1

TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 10, SỐ 09 - 2007

3


Tiểu luận chinh sách đối ngoại Việt Nam П.
Tuy nhiên, Chính sách đối ngoại của Việt Nam vẫn khá mềm mỏng, kết hợp đấu tranh
với ASEAN về vấn đề Campuchia và triển khai đấu tranh ngoại giao. Gắn việc giải quyết vấn
đề Campuchia với việc xây dựng khu vực hòa bình ổn định ở Đơng Nam Á, thúc đẩy đối thoại
để đẩy lùi sự đối đầu, phân hóa liên minh chống Việt Nam. Trên thực tế, Việt Nam đã đưa ra
một loạt các đề nghị về hịa bình và hợp tác ở Đông Nam Á tại 13 cuộc hội nghị Bộ trưởng
Ngoại giao 3 nước Đông Dương (1980-1986), tất cả các đề nghị trên đều không được ASEAN
chấp nhận.
Đại hội VI – Đảng Cộng sản Việt Nam đã quyết định tiến hành đổi mới toàn diện trên
tất cả lĩnh vực, trong đó có đối mới tư duy đối ngoại. Việt Nam thực hiện chính sách đa dạng
hóa ngoại giao, đa phương hóa quan hệ. Việt Nam tỏ ý sẵn sàng hợp tác với các quốc gia khác
nhằm giải quyêt các vấn đề ở Đơng Nam Á, chung sống hịa bình, xây dựng khu vực Đông
Nam Á ổn định và phát triển. Nhờ thế mà từ tháng 7/1986, mối quan hệ giữa Việt Nam và các

nước ASEAN chuyển dần sang thế đối thoại sau một thời gian dài căng thẳng về vấn đề
Campuchia.
Thời kì 1988-1991, Việt Nam rút quân khỏi Campuchia và cùng với hiệp định Paris về
Campuchia được kí kết vào tháng 10 năm 1991 đã chấm dứt tình trạng căng thẳng đối đầu giữa
hai nhóm nước ASEAN và Đơng Dương, mở ra một thời kì hịa bình hữu nghị và hợp tác ở khu
vực. Quan hệ song phương Việt Nam – ASEAN nhờ thế mà phát triển hơn, Việt Nam dần dần
tham gia vào tiến trình hợp tác khu vực. Việt Nam kiên trì chính sách đàm phán để giải quyết
mọi tranh chấp về lãnh thổ.
IV. Cơ sở hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với ASEAN giai đoạn 19911995.
1. Tình hình thế giới và quan hệ quốc tế.
Có nắm vững được tình hình, bối cảnh thế giới cũng như những xu thế đang diễn ra thì
mới đặt đất nước vào đúng quy luật khách quan của thời đại, để điều chỉnh chiến lược phù hợp
với hồn cảnh mới, nhằm đối phó với những khó khăn thử thách đồng thời tạo thời cơ thuận lợi
trong bối cảnh mới của thời đại.
Những năm cuối thập kỉ 80 đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX đã chứng kiến những biến
động to lớn trên bàn cờ chính trị quốc tế, khiến cho tất cả các nước lớn nhỏ đều bị ảnh hưởng
và đều phải hoạch định chính sách đối ngoại cho phù hợp với thời cuộc.
Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật tiếp tục phát triển đã tạo ra những thay đổi lớn cả về
lượng và chất đối với mọi mặt của đời sống xã hội loài người. Đồng thời, xu thế tồn cầu hóa,
4


Tiểu luận chinh sách đối ngoại Việt Nam П.
khu vực hóa được tăng cường, thu hút càng nhiều nước tham gia, làm đẩy nhanh các hoạt động
kinh tế đối ngoại.
Nổi bật bối cảnh tình hình bấy giờ là Chiến tranh lạnh kết thúc sau hơn 4 thập kỉ, nguy
cơ chiến tranh thế giới được đẩy lùi. Cũng trong thời gian này Liên Xô tan rã, thiết chế xã hội
chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, trật tự thế giới hai cực chấm dứt.
Các nước lớn điều chỉnh chiến lược, không còn mục tiêu chạy đua trang như lúc trước
nữa, mà bây giờ họ chú trọng phát triển về nội lực, tăng cường cạnh tranh và chạy đua về kinh

tế. Về phương diện đối ngoại, họ đẩy mạnh hịa hỗn và cải thiện quan hệ với nhau.
Trật tự thế giới hai cực tan rã đẩy nhanh xu hướng đa phương hóa, đa dạng hóa trong
quan hệ quốc tế. Thị trường thế giới trở thành một khối thống nhất và liên kết. Trên thế giới
xuất hiện những xu thế mới ảnh hưởng mạnh mẽ đến chiến lược của các nước:
Kinh tế trở thành nhân tố có ý nghĩa quyết định trong sức mạnh tổng hợp của mỗi quốc
gia. Do đó, các nước đều đặt ưu tiên cao cho phát triển kinh tế và phát triển kinh tế đã được đặt
thành một ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại cũng như đối nội của một quốc gia . Bên
cạnh đó một xu thế chủ đạo nữa là các quốc gia đều cần mơi trường hịa bình để hợp tác và phát
triển do rất nhiều vấn đề toàn cầu nảy sinh như xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo,
nạn khủng bố…địi hỏi có sự hợp tác của các nước để giải quyết. Tinh thần độc lập tự chủ xây
dựng và bảo vệ đất nước tăng lên, mỗi quốc gia đều nhận thức được sự cần thiết cần phải hòa
nhập cùng với đời sống quốc tế vì vậy họ đều cố mở rộng quan hệ song phương và đa phương
trước hết là để nhằm phục vụ lợi ích quốc gia. Đặc biêt, xu hướng liên kết khu vực và tiểu khu
vực để giải quyết những vấn đề khu vực, nhất là vấn đề về kinh tế đang lan rộng khắp các châu
lục.
2. Tình hình khu vực Đơng Nam Á.
Đơng Nam Á là khu vực có vị trí địa lí thuận lợi, thuộc khu vực châu Á- Thái Bình
Dương năng động. Đó là điều kiện thuận lợi để tất cả các quốc gia, đặc biệt là ASEAN, phát
triển và hội nhập cùng thế giới.
Trong thời kì hậu chiến tranh lạnh, đặc biệt là sau khi Hiệp định Paris về vấn đề
Campuchia được kí, đã đặt ra cho ASEAN cả thuận lợi và thách thức mới . Nhiều cơ hội được
mở ra: lần đầu tiên trong lịch sử sau chiến tranh thế giới thứ hai, Đơng Nam Á khơng cịn căn
cứ qn sự và qn đội nước ngồi, khơng cịn đối đầu, thoát ra khỏi các cuộc xung đột nảy
sinh từ các cuộc chiến tranh mang tính chiến lược và những bất đồng về hệ tư tưởng, để thực
hiện những nhiệm vụ cấp bách là thiết lập một nền hịa bình bền vững và lâu dài cũng như vun
5


Tiểu luận chinh sách đối ngoại Việt Nam П.
đắp cho tình hữu nghị và thịnh vượng chung ở khu vực. Các quốc gia có điều kiện xây dựng

ASEAN ngày càng lớn mạnh, lại được nằm trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương năng
động, tiếp tục phát triển với tốc độ cao hơn các khu vực khác.
Tuy nhiên cũng không ít thách thức đối với cả khu vực. Những cố gắng nhằm đẩy mạnh
vai trị cả về chính trị, kinh tế, quân sự của một vài cường quốc châu Á đã làm phát triển mối lo
ngại truyền thống trong các nước ASEAN và các nước Đông Nam Á khác về một nguy cơ can
thiệp của các nước lớn đối với khu vực. Mặt khác vấn đề Campuchia chưa thật sự chấm dứt,
vẫn tồn tại nhiều nhân tố bất trắc tiềm ẩn dễ gây mất ổn định. Những nhân tố bất trắc này chỉ
chờ có dịp là bùng nổ. Ngồi ra cũng phải kể đến những mâu thuẫn về lợi ích giữa các nước lớn
có ảnh hưởng Đơng Nam Á và những toan tính của họ nhằm tác động, thậm chí can thiệp vào
công việc nội bộ của khu vực. Những thách thức đó buộc ASEAN phải tìm ra một cơ chế an
ninh phù hợp để gìn giữ được nền hịa bình vừa giành lại được ở khu vực. Vì vậy, thách thức
lớn nhất của ASEAN lúc này là vấn đề phát triển kinh tế, nhằm đảm bảo được môi trường
quốc tế thuận lợi, giữ được khu vực thị trường truyền thống và duy trì tốc độ phát triển kinh tế
cao của mình như đã từng có trong những thập kỉ trước.
3. Thuận lợi và thách thức của Việt Nam giai đoạn 1991-1995:
Việc nắm vững được tình hình bối cảnh của đất nước, những thuận lợi và thách thức mà
đất nước đang và sẽ phải trải qua sẽ giúp cho công việc hoạch định chính sách đối ngoại sát
thực, kịp thời và đúng đắn. Có như vậy chúng ta mới biết được mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược
của mình là gì, trọng tâm cần phải hướng tới trong chính sách đối ngoại ra sao để vừa ứng phó
với những thách thức, đồng thời biến những thuận lợi thành những bước tạo đà để đưa chúng ta
hội nhập với thế giới, cũng như góp phần thực hiện thành cơng q trình đổi mới đất nước.
3.1. Thuận lợi:
Những thành tựu ban đầu của công cuộc đổi mới đã tạo thế và lực cho Việt Nam, đặc
biệt là khi chúng ta tích cực tìm kiếm giải pháp chính trị cho vấn đề campuchia. Với hiệp định
Paris về Campuchia được kí kết (tháng 10-1991), chúng ta đã chấm dứt tình trạng đối đầu,
chính sách cấm vận của những nước muốn lợi dụng vấn đề này hòng làm suy yếu nước ta. Vị
thế của Việt Nam đối với khu vực cũng như quốc tế được nâng cao. Chúng ta có cơ hội tốt để
mở rộng hợp tác và giao lưu quốc tế với các nước trong và ngoài khu vực. Đặc biệt, quan hệ
giữa Việt Nam và ASEAN sau chiến tranh lạnh đã có bước khơi thông mạnh mẽ, khả năng hợp
tác ngày càng tăng do cả 2 bên đều cần mơi trường hịa bình để phát triển. Với những điều kiện


6


Tiểu luận chinh sách đối ngoại Việt Nam П.
thuận lợi đó, Việt Nam hồn tồn có thể tham gia vào tổ chức khu vực thành cơng nhất, uy tín
cao và trọng lượng tiếng nói ngày càng tăng trên thế giới.
Hơn thế nữa, tuy nền kinh tế năm năm sau ngày đổi mới vẫn cịn yếu kém nhưng cơ bản
đã thốt khỏi khủng hoảng và có những mặt tiến bộ. Đời sống nhân dân bước đầu được cải
thiện. ổn định chính trị được giữ vững, quốc phòng, an ninh được đảm bảo. những vấn đề cần
thiết cho q trình cơng nghiệp hóa hiện đại hóa đã được tạo ra. Những kết quả đó đã tạo đà
cho nhân dân ta tiếp tục phấn đấu vượt qua những khó khăn, thách thức, đưa công cuộc đổi mới
đất nước tiếp tục đạt những thắng lợi to lớn hơn, đảm bảo thực hiện hai mục tiêu”giữ vững hịa
bình, phát triển kinh tế”2
3.2. Thách thức:
Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông âu đã tác động sâu sắc đến
tư tưởng tình cảm của đảng viên và nhân dân ta, gây ra những khó khăn mới, đặc biệt chúng ta
phải chống lại nguy cơ “Diễn biến hịa bình” của các thế lực phản động. Chúng ta xác định lợi
ích lớn nhất lúc này là duy trì hịa bình, ổn định khu vực, tạo dựng môi trường quốc tế và khu
vực thuận lợi cho công cuộc đổi mới, tập trung sức lực và phát triển nền kinh tế vốn bị chiến
tranh tàn phá, cải thiện đời sống nhân dân đưa đất nước đi lên theo kịp với nhịp độ phát triển
chung của các nước trong khu vực và trên thế giới. Có thể nói, thách thức lớn nhất của Việt
Nam lúc bấy giờ đó là sự phát triển kinh tế. Việt Nam nằm ở khu vực có tốc độ phát triển kinh
tế vào loại cao nhất thế giới. Muốn hội nhập được xu thế chung của quốc tế thì nguy cơ bị tụt
hậu về kinh tế là điều không thể tránh khỏi. Vì lẽ đó, chúng ta đã tăng cường giao lưu hợp tác
với bên ngoài, và nhất là ưu tiên phát triển quan hệ với các nước Đông Nam Á và ASEAN.
4. Quan điểm và nhận thức mới của chúng ta:
Trước những biến động sâu sắc và phức tạp của cục diện thế giới, việc cần có sự đổi
mới về nhận thức, tỉnh táo phân tích đánh giá để đi tới nhận định một cách toàn diện và chuẩn
xác sự vận động của tình hình thế giới và khu vực là một việc làm quan trọng. Quá trình đổi

mới tư duy đối ngoại khởi xướng từ năm 1986 là một quá trình lâu dài và liên tục. Quá trình
này phải ln gắn chặt với hồn cảnh thực tế, trên quan điểm nhìn nhận Việt Nam là một bộ
phận của thế giới, có sự gắn bó chặt chẽ và tác động sâu sắc với bên ngoài, mà trước hết là đối
với khu vực. Bởi lẽ do yếu tố địa-chính trị mà số phận của nước ta gắn liền với khu vực và
cũng chính việc gắn bó hịa bình tốt đẹp với khu vực thì chúng ta mới cơ hội để hội nhập với
quốc tế.
2

Nghị quyết 13, Bộ Chính trị, năm 1988.

7


Tiểu luận chinh sách đối ngoại Việt Nam П.
4.1. Về an ninh quốc gia:
Nghị quyết 13 của Bộ Chính Trị năm 1988 đã tạo tiền đề cho cách tiếp cận mới về an
ninh. Đó là “kinh tế yếu kém, bao vây về chính trị, và cơ lập về kinh tế là những đe dọa chính
đối với an ninh và độc lập của nước ta” 3và “an ninh của bất cứ nước nào cũng phải được xây
dựng trên những điều kiện kinh tế và khoa học kĩ thuật của nước đó đồng thời tùy thuộc lẫn
nhau vào an ninh của các quốc gia khác”. Như vậy, một trong ba yếu tố góp phần bảo đảm an
ninh quốc gia đó là “…một mối quan hệ hợp tác quốc tế rộng mở”. Điều này hoàn toàn phù hợp
trong bối cảnh quan hệ giữa Việt Nam và ASEAN đã khơng cịn đối đầu, đối nghịch nữa mà đã
chuyển sang giai đoạn đối thoại để cùng tìm kiếm giải pháp cho vấn đề Campuchia. Đặc biệt,
sự chuyển biến tình hình thế giới sau chiến tranh lạnh với xu thế quốc tế hóa ngày càng mạnh
mẽ, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng lớn và nhất là bối cảnh khu vực Đông
Nam Á vừa mới lập lại được hịa bình, Đảng đã nhận thức rõ hơn nữa về mối quan hệ ràng
buộc cũng như sự phụ thuộc lẫn nhau giữa an ninh quốc gia và an ninh khu vực, và tầm quan
trọng trong việc xây dựng mối quan hệ hữu nghị để tạo dưng một mơi trường hịa bình và ổn
định tại khơng gian kề cận với Việt Nam. Vì vậy, điều này đã góp phần tạo tiền đề cho việc xây
dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam và ASEAN trong giai đoạn mới.

4.2. Về lợi ích dân tộc:
Bước vào thời kì đổi mới, Đảng ta đã xác định lợi ich cao nhất của đất nước là giữ vững
môi trường hịa bình, ổn định để phát triển kinh tế xã hội. Mỗi đường lối, chính sách, hoạt động
đối ngoại phải hướng đến và phục vụ tốt nhất cho lợi ích quốc gia-lợi ích dân tộc. Số phận của
đất nước gắn liền với khu vực, mà mỗi quốc gia lại có một lợi ích lợi ích riêng và thậm chí là
xung khắc lẫn nhau vì vậy điều quan trọng là tìm ra những điểm gặp gỡ về lợi ích của nhau.
Với sự chuyển biến của cục diện thế giới và những xu thế mới trong quan hệ quốc tế, Việt Nam
và ASEAN đều nhận thấy được sự gặp gỡ trong lợi ích của nhau, mà chung quy là lợi ích
chung của cả khu vực Đơng Nam Á đó là bảo vệ độc lập dân tộc, phát triển kinh tế xây dựng
đất nước giàu mạnh. Việt Nam và các quốc gia ASEAN đều cố gắng cao nhất tăng cường ý
thức độc lập tự chủ trong quan hệ quốc tế và thông qua đó hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực
của các nước lớn đối với khu vực. Với những nhận thức về lợi ích như vậy, đã tạo nên tiền đề
để chúng ta hướng sự tập trung trong chính sách của mình đối với ASEAN, trong việc chia sẻ
lợi ích chung và góp phần xây dựng hịa bình ổn định ở khu vực Đơng Nam Á.

3

Về nội dung chính của nghị quyết 13 Bộ Chính trị, xem “Trả lời phỏng vấn của Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn
Cơ Thạch”- Tuần báo quốc tế.

8


Tiểu luận chinh sách đối ngoại Việt Nam П.
4.3. Về tầm quan trọng đối với việc phát triển quan hệ với các nước láng giềng, khu vực
và đặc biệt là ASEAN:
Bắt đầu từ công cuộc đổi mới, đảng và nhà nước đã đánh giá đúng đắn tình hình thế
giới, những yêu cầu đặt ra đối với đất nước để đề ra đường lối đối ngoại phù hợp, hướng vào
láng giềng nhiều hơn.
Với sự biến chuyển của thế giới sau chiến tranh lạnh, chúng ta nhận thức được xu thế

liên kết khu vực đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới, với tư cách là giải pháp hợp tác để hạn
chế những ảnh hưởng tiêu cực của tồn cầu hóa và quan hệ giữa các nước lớn vì vậy chúng ta
nỗ lực đẩy mạnh xây dựng quan hệ hòa hiếu với các nước láng giềng. Hòa vào xu thế bày,
chúng ta sẽ vừa tận dụng được tiềm năng của mình, cũng như tận dụng được tiềm năng của
từng quốc gia có quan hệ; vừa tranh thủ được cơ hội mới do q trình khu vực hóa đem lại, lại
vừa ứng phó với những thách thức mới nảy sinh, đồng thời sẽ giúp Việt Nam nhanh chóng hội
nhập với thế giới cũng như tạo dựng một khu vực hịa bình ổn định mà điều này lại rất cần thiết
cho chúng ta trong việc thúc đẩy quá trình xây dựng đất nước.
Việt Nam đã thấy khoảng cách về kinh tế đối với ASEAN, khả năng tụt hậu rất lớn nếu
không mở rộng quan hệ. ASEAN là một tập hợp những nước nhỏ và vừa, có xuất phát điểm
gần giống Việt Nam, đã vươn lên thành những nước có nền kinh tế phát triển nhất khu vực.
Hợp tác chặt chẽ với ASEAN sẽ giúp Việt Nam nhanh chóng đuổi kịp và hịa nhập với sự phát
triển kinh tế của các nước trong khu vuc. Bên cạnh đó ASEAN có tiếng nói chung và vai trò
ngày càng tăng trên thế giới, là tổ chức khu vực duy nhất trên thế giới đã có mối quan hệ chặt
chẽ và cơ chế đối thoại thường xuyên với nhiều nước công nghiêp phát triển. Việc phát triển
hợp tác Việt Nam-ASEAN sẽ giúp tăng vị trí cũng như vai trò của Việt Nam trên trường quốc
tế, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam đi vào hợp tác với các nước công nghiệp
phát triển và các trung tâm chính trị lớn trên thế giới, tạọ thuận lợi cho việc tham gia cơ chế
hợp tác lớn hơn ở khu vưc châu Á-Thái Bình Dương, góp phần thực hiện thành công công cuộc
đổi mới và xây dựng đất nước và phục vụ cao nhất lợi ích dân tộc đó là hịa bình, phát triển đất
nước.
Có thể nói, mong muốn của ASEAN về hịa bình, ổn định và hợp tác sau chiến tranh
lạnh bắt gặp chủ trương lớn của ta tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi, môi trường hịa bình
ổn định để xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Chính điều này đã góp phần tạo nên nền tảng trong việc
đầu tư xây dựng chính sách cũng như tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp của Việt Nam với Đơng
Nam Á nói chung và ASEAN nói riêng.

9



Tiểu luận chinh sách đối ngoại Việt Nam П.
Những quan điểm và nhìn nhận mới ở trên của Việt Nam đối với ASEAN rõ ràng là kết
quả của công cuộc đổi mới tư duy đối ngoại nói chung của Đảng và nhà nước được khởi xướng
từ năm 1986. Đổi mới tư duy đối ngoại là một quá trình lâu dài, thường xuyên và liên tục. Từ
đại hội VI năm 1986, ASEAN đã trở thành một bộ phận quan trọng trong chính sách đối ngoại
của ta. Chính những đổi mới về cách nhìn nhận đối với ASEAN trong bối cảnh mới đã tạo tiền
đề để chúng ta hoạch định chính sách đối với khu vực nói chung và ASEAN nói riêng, góp
phần tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp và bền vững với các nước ASEAN và tổ chức ASEAN.
V.

Chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với ASEAN giai đoạn 1991-1995:
Trong công cuộc đổi mới của Việt Nam giai đoạn 1991 - 1995, Đại hội VII (1991), Hội

nghị Trung ương 3 (khóaVII – 1992) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã liên tiếp đề ra và phát
triển đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa
phương hóa với phương châm "Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng
quốc tế, phấn đấu vì hồ bình, độc lập và phát triển" 4 nhằm mục tiêu "giữ vững hòa bình, mở
rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân
dân thế giới vì hịa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội".
Để thực hiện chủ trương của Đảng, một trong những nhiệm vụ trong hoạt động đối
ngoại mà ta đề ra là tạo dựng và củng cố mơi trường hịa bình, ổn định cho công cuộc xây dựng
tổ quốc.Củng cố và thúc đẩy các mối quan hệ song phương, nhất là quan hệ với các nước láng
giềng và các nước trong khu vực có ý nghĩa vô cùng quan trong đối với việc thực hiện nhiệm
vụ này. Đó chính là hướng ưu tiên trong chính sách đối ngoại của ta. Quan hệ láng giềng là một
thách thức tự nhiên, người ta có thể chọn bạn nhưng không ai được chọn láng giềng; giữa các
nước láng giềng thường có các vấn đề lịch sử, có khi nặng nề. Dù có các vấn đề địa lý – lịch sử
như vậy thì các nước láng giềng, trong khu vực vẫn có thể và phải sống hịa hiếu với nhau,
không nhất thiết phải đối đầu hoặc đối địch.
Đề ra được nhiệm vụ và hướng ưu tiên chính sách, từ đó Đảng ta đã xác định tư tưởng

chỉ đạo, cũng như phương châm hoạt động đối ngoại. Hội nghị trung ương 3 khóa VII khẳng
định tư tưởng chỉ đạo trong chính sách đối ngoại của Việt Nam là: “ giữ vững nguyên tắc vì
độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội; đồng thời phải rất sáng tạo, năng động, linh hoạt, phù
hợp với vị trí, điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của nước ta cũng như diễn biến của tình hình thế
giới và khu vực, phù hợp với đặc điểm từng đối tượng ta có quan hệ”. Như vậy, cũng như đối
với mọi đối tác trong quan hệ đối ngoại, đối với các nước trong khu vực, Đảng ta đã khẳng
4

Chính sách đối ngoại năm giai đoạn 1975 đến 2006, trang 67.

10


Tiểu luận chinh sách đối ngoại Việt Nam П.
định rằng dù cần phải thúc đẩy mối quan hệ nhưng cần phải giữ vững được lập trường chủ
nghĩa xã hội, và trên hết là ngày càng củng cố nền độc lập mà dân tộc ta mới giành lại được
khơng lâu, đó là nền tảng để từ đó vạch ra những kế sách linh hoạt kịp thời trong bước ngoặt to
lớn trong lịch sử kinh tế - chính trị thế giới lúc bấy giờ.
Xác định rõ tư tưởng chỉ đạo cốt lõi, Hội nghị Trung ương 3 khóa VII năm 1992 đã cụ
thể hóa thành các phương châm lớn, khơng chỉ để làm kim chỉ nam cho hoạt động đối ngoại nói
chung, mà còn cần phải áp dụng thiết thực trong các sách lược đối với khu vực. Thứ nhất, đó là
đảm bảo lợi ích dân tộc, kết hợp nhuần nhuyễn với chủ nghĩa quốc tế. Thứ hai, giữ vững độc
lập tự chủ, tự lực, tự cường, đẩy mạnh đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Thứ
ba là cần phải nắm vững, đó là trong quan hệ quốc tế nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh,
bởi hòa nhập vừa là cơ hội, vừa là thách thức của thời đại, chúng ta không thể né tránh. Cuối
cùng, nhưng rất quan trọng đó là đẩy mạnh hợp tác khu vực, đồng thời tăng cường hợp tác với
tất cả các nước khác. Đó là hai phạm vi hịa nhập không thể tách rời mà ta cần phải đạt được.
Đặt tương quan trong quan hệ với ASEAN, trước những chuyển biến của tình hình thế
giới, Đảng đã có nhận thức mới về vấn đề hịa bình, an ninh ở khu vực, đó là sự chuyển hướng
từ trạng thái đối đầu hơn 10 năm trước đây sang giai đoạn hợp tác để phát triển trong xu thế

chung của thế giới, ta cũng đã thấy rõ mối liên hệ ràng buộc giữa an ninh quốc gia với an ninh
khu vực hay trên tất cả các mặt khác. Bởi vậy, để đạt được nhiệm vụ tạo mơi trường hịa bình
để tập trung phát triển kinh tế kiến thiết đất nước, Việt Nam tiến tới nguyện vọng gia nhập
ASEAN. Nghị quyết hội nghị trung ương nêu rõ: “ trước mắt ta tham gia hiệp ước Bali, tham
gia các diễn đàn đối thoại với ASEAN, tích cực nghiên cứu mở rộng quan hệ với ASEAN trong
tương lai” 5. Năm 1993, Việt Nam đã đưa ra chính sách 4 điểm mới của ta trong quan hệ với
các nước ASEAN, trong đó nhấn mạnh: “ Việt Nam chủ trương tăng cường hợp tác nhiều mặt
với từng nước láng giềng cũng như với hiệp hội các nước Đông Nam Á ( ASEAN) với tư cách
là một tổ chức khu vực, sẵn sàng tham gia ASEAN vào một thời điểm thích hợp”6. Như vậy
Việt Nam đã tỏ rõ thiện chí tham gia vào tổ chức khu vực,tiến một bước xa hơn vào hịa nhập
khu vực, để có thể đóng góp một cách tốt nhất cho an ninh khu vực bằng phương pháp đối
thoại, đàm phán song phương đa phương.
Các nước ASEAN nhận thấy được tầm quan trọng trong việc xây dựng một khu vực
Đơng Nam Á hịa bình, hữu nghị, hợp tác; để làm tăng cường sức mạnh của khu vực, nâng cao
vị thế của mình đối với quốc tế và nắm bắt cơ hội nhằm phát triển kinh tế.
5

Hồng Hà, tình hình thế giới và chính sách đối ngoại của nước ta, Tạp chí cộng sản số 12(2002), T 15.
Báo quân đội nhân dân, số 17/10/1993, Vụ ASEAN, đề tài 5 năm, Việt Nam tham gia ASEAN: những thành
tựu thách thức và triển vọng, 41.
6

11


Tiểu luận chinh sách đối ngoại Việt Nam П.
VI. Triển khai chính sách đối ngoại.
Triển khai đường lối, chính sách đối ngoại trên, chúng ta đã tạo được mối quan hệ tốt
đẹp với ASEAN, tạo tiền đề lớn để chúng ta từng bước trở thành thành viên của ASEAN.
Ngày 11-7-1992 tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao các nước ASEAN lần thứ 25, Việt

Nam chính thức tham gia Hiệp ước than thiện Đông Nam Á (Hiệp ước Bali) và trở thành quan
sát viên của ASEAN. Việc Việt Nam tham gia Hiệp ước Bali thể hiện cam kết của VN với
những nguyên tắc được Việt Nam nêu năm 1976 trong chính cách bốn điểm, làm tăng sự tin
cậy của các nước với Việt Nam, góp phần phá thế bao vây cấm vận của Mỹ.
Thực tế việc Việt Nam muốn tham gia vào ASEAN thể hiện rất rõ từ đầu thế kỉ XX qua
các chuyến viêng thăm dồn dập của Việt Nam với các quốc gia trong khu vực, mối quan hệ
giữa 2 bên đã phát triển nhanh chóng.
Trên lĩnh vực ngoại giao, thực hiện chủ trương của Đại hội VII của Đảng Cộng sản VN,
từ cuối năm 1991 đầu năm 1992 Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã lần lượt đi thăm tất cả các nước
ASEAN như Indonexia, Xingapo, Thái Lan, Malaixia… để thúc đẩy phát triển quan hệ song
phương. Với tư cách là quan sát viên của ASEAN, từ năm 1992 VN đã được mời tham dự các
cuộc họp hằng năm Hội nghị bộ trưởng ngoại giao ASEAN. Năm 1993 Việt Nam tham gia diễn
đàn khu vực ASEAN(ARF).
Các quan hệ kinh tế và thương mại cũng phát triển nhanh chóng. Chỉ trong 2 năm Việt
Nam đã kí với các nước này gần 40 Hiệp định: hiệp định về hợp tác kinh tế, khoa học- kĩ thuật,
hiệp định về bảo hộ đầu tư, hiệp định tránh đánh thuế 2 lần, hiệp định về bưu điện, hàng không,
hàng hải… Ở thời điểm này các nước ASEAN đã tiêu thụ và tái xuất một khối lượng lớn hàng
xuất khẩu của Việt Nam, và đầu tư trực tiếp của họ cũng chiếm một tỉ trọng khá lớn trong tổng
số vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
Trên các lĩnh vực khác, vào năm 1993 ASEAN đã mời Việt Nam tham gia các chương
trình và dự án hợp tác trên 5 lĩnh vực: khoa học- kĩ thuật, mơi trường, y tế, văn hóa- thơng tin,
phát triển xã hội cùng một số dự án hợp tác chuyên ngành: đào tạo cán bộ du lịch, phòng ngừa
ma túy… Điều này chứng tỏ ASEAN đánh giá cao thiện chí của Việt Nam và muốn Việt Nam
sớm gia nhập ASEAN.
Tại hội nghị Bộ trưởng ngoại giao lần thứ 27 tại Bangcoc diễn ra từ ngày 22 đến 23-71994, ASEAN sẵn sàng cơng nhận Việt Nam là thành viên chính thức của ASEAN và quyết
định lập nhóm làm việc do Tổng thư kí ASEAN đứng đầu để chuẩn bị thủ tục công nhận.
Tháng 9-1994 lần đầu tiên Việt Nam dự hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN lần thứ 27 ở
12



Tiểu luận chinh sách đối ngoại Việt Nam П.
Chiềng Mai (Thái Lan). Việt Nam lần lượt tham dự các cuộc họp lớn bé và dần dần được cơng
nhận chính thức, chỉ còn chờ thủ tục nữa. Một bước phát triển mới trong suốt quá trình nỗ lực
là ngày 17-10-1994 Bộ trưởng ngoại giao nước CHXHCNVN đã gửi tới Bộ trưởng ngoại giao
Brunay, chủ tịch đương nhiệm ủy ban thường trực ASEAN, chính thức đặt vấn đề Việt Nam trở
thành thành viên đầy đủ của tổ chức.
Sự phát triển quan hệ Việt Nam-ASEAN trên nhiều lĩnh vực, ở các diễn đàn, các cấp
khác nhau, trải qua nhiều thử thách và đã đạt được sự tin cậy ở nhau, mối quan hệ ngày càng
xích lại gần nhau hơn, chỉ chờ cơ hội để hai bên ngồi vào bàn kí chính thức cơng nhận Việt
Nam. Và khơng lâu sau đó, ngày 28-7-1995 tại thủ đô Banda Xeerri Begaoan (Brunay), nơi
diễn ra hội nghị Bộ trưởng lần thứ 28 và ARF lần thứ 2, đã diễn ra trọng thể lễ kết nạp Việt
Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ bảy của ASEAN.
VII.

Đánh giá kết quả triển khai
Trong giai đoạn 1991-1995, với việc triển khai đường lối đối ngoại rộng mở, đa dạng

hóa, đa phương hóa, chủ động tích cực hội nhập khu vực và thế giới mà Đảng và Nhà nước ta
đã vạch ra, nhất là nâng cao quan hệ hợp tác với ASEAN trên mọi lĩnh vực. Hoạt động đối
ngoại Việt nam đã đạt được thành tựu lớn nhất đó là gia nhập tổ chức ASEAN, đưa nước ta ra
khỏi tình trạng bị bao vây cô lập, nâng cao vị thế của Việt Nam trên khu vực và thế giới, đồng
thời góp phần tạo mơi trường thuận lợi cho cơng cuộc xây dựng đất nước tạo thuận lợi cho việc
mở rộng quan hệ với các đối tác quan trọng khác trên thế giới. Đây chính là kết quả của sự đổi
mới tư duy sâu sắc của Đảng và nhà nước ta trong việc đánh giá cục diện thế giới cũng như
trong đường lối, chính sách, phương châm. Điều đó cũng chứng minh sự thay đổi đó là đúng
đắn, là kịp thời và hiệu quả. Tham gia hợp tác ASEAN sẽ mang lại cho Việt Nam nhiều lợi ích
quan trọng và thiết thực về chính trị-an ninh, kinh tế, văn hóa-xã hội và đối ngoại, mà “bao
trùm là giữ vững môi trường quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước
cũng như hỗ trợ cho Việt Nam hội nhập khu vực và quốc tế”7.
Đối với tổ chức ASEAN, việc Việt Nam gia nhập cũng tạo điều kiện xây dựng một tổ

chức mang tính chất đại diện, khẳng định vị thế của khu vực trên trường quốc tế và trong mối
quan hệ với các tổ chức châu lục khác.
Như vậy, Việt nam gia nhập asean là “một mũi nhọn, là một giải pháp, chiến lược phá
thế bao vây cấm vận”8 trong giai đoạn trước năm 1995 và tăng cường quan hệ với các nước lớn.

7
8

Phạm Gia Khiêm , ủy viên Bộ Chính Trị, Bộ trưởng Bộ ngoại giao.
Sách : Ngoại giao trong thời kì đổi mới , tác giả Nguyễn Mạnh Cầm, trang 68

13


Tiểu luận chinh sách đối ngoại Việt Nam П.
Cuối cùng thì việc Việt Nam gia nhập ASEAN – ước mơ về một khu vực Đơng Nam Á đồn
kết, thống nhất hợp tác cùng phát triển đã trở thành hiện thực.
VIII. Bài học.
Qua q trình hoạch định chính sách trong giai đoạn này, ta có thể rút ra một số bài học
sau đây.
Phải ln cố gắng tìm mẫu số chung về lợi ích, tranh thủ có quan hệ bình thường và hòa
hiếu với tất cả các nước lớn. Với tư tưởng làm bạn với mọi nước, ta cố gắng gắn lợi ích của ta
với lợi ích các nước, tạo môi trường quốc tế thuận lợi. trên cơ sở đó ta xây dựng quan hệ hòa
hiếu, quan hệ hợp tác với các nước lướn trên nguyên tắc bình đẳng, hai bên cùng có lợi. nhìn
lợi ích dân tộc, trước hết phải suy tính lợi ích mn đời, khơng vì vài lợi ích trước mắt hoặc cục
bộ mà ảnh hưởng đến lợi ích lâu dài. Đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, xóa bỏ những thù hận,
bất đồng trong quá khứ, đẩy lùi những ráo cản khác biệt về văn hóa hay ý thức hệ tất cả là vì
mục tiêu dân giàu nước mạnh
Nắm vững lợi ích dân tộc, giữ vững lợi ích độc lập tự chủ, nắm chắc quyền tự quyết định vận
mệnh, không chịu sức ép của bất cứ dân tộc nào, không để bị biến thành bất cứ con bài của ai.

Quan hệ với các nước láng giềng, kể cả các nước trong cùng khu vực phải được coi là
nhiệm vụ chiến lược, là mối quan tâm hàng đầu trong chính sách đối ngoại. ơng cha ta đã nói
bán anh em xa mua láng giềng gần. Chúng ta không được xem nhẹ quan hệ này bởi vì nó ln
trực tiếp ảnh hưởng tới hịa bình, an ninh, và phát triển của nước ta.
Một nguyên tắc lớn trong giải quyết quan hệ với các nước láng giềng,khu vực đó là phải
giải quyết các vấn đề lịch sử còn tồn tại, các vấn đề mới nảy sinh bằng phương pháp hòa bình
đối thoại.

14


Tiểu luận chinh sách đối ngoại Việt Nam П.
IX.

Tổng kết
Giai đoạn 1991-1995 chỉ là một mảnh ghép trong toàn bộ bức tranh đối ngoại của đảng

và nhà nước ta trong thời kì đổi mới nhưng nó là một miếng ghép quan trong vù trong thời kì
này việt nam gia nhập asean. Đây được coi là một trong số thành tựu quan trọng nhất của cả
một quá trình đổi mới tư duy thay đổi chính sách đối ngoại của nhà nước ta. Giai đoạn này đã
mở ra thời kì tốt đẹp trong quan hệ với các nước ASEAN, tạo nền tảng cho các giai đoạn sau
này.
Với những kiến thức thu thập được trong qua trình học tập cũng như tìm tịi nghiên cứu,
chúng tơi đã trình bày những hiểu biết cũng như đánh giá của mình về chính sách đối ngoại của
việt nam đối với ASEAN trong giai đoạn 1991- 1995. Chúng tôi biết rằng trong một giai đoạn
ngắn như vậy thì khơng thể bao qt hết được phương châm đường lối cũng như sự nhạy bén
linh hoạt sáng tạo trong cách nhìn nhận vấn đề của đảng và nhà nước ta. Đó là cả một q trình
đấu tranh gian khổ trên lĩnh vực ngoại giao với nhưng đánh giá, suy tĩnh cực kì nhạy bén, đấu
tranh giữa lợi ích quốc gia, giữa ý thức hệ, sự cân đong đo đếm từng hành động của các nhà
lãnh đạo. Dân tộc Việt Nam luôn kiên cường bất khuất trên mọi mặt trận, luôn phải hành động

với vị thế của một nước nhỏ với các nước lớn nhưng không bao giờ đánh mất niềm tự tôn dân
tộc cũng như mục tiêu lớn nhất của nước nhà.
Kế thừa truyền thống ngoại giao dân tộc, Đảng và nhà nước ta ln kiên trì và đưa
những quan điểm, đường lối đối ngoại sáng tạo, phù hợp với xu thế: kiên định trong công tác
đối ngoại, độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, luôn là đối tác tin
cậy đối với các nước khác. Cần phải khẳng định lại một điều việt nam phát triển tốt quan hệ với
asean là xuất phát từ việc đổi mới tư duy đối ngoại, là việc làm tất yếu trong suốt cả qua trình
đấu tranh về việc thay đổi đường lối.
Tham gia ASEAN, Việt Nam đã chủ động hội nhập khu vực, tăng cường giao lưu trên
các lĩnh vực giáo dục, văn hóa. Đó là sự thành công trong đường lối đối ngoại của đảng và nhà
nước. Song việc hội nhập tuy mở ra cho Việt Nam nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra nhiều thách
thức, vẫn còn bề bộn nhiều việc cần làm, cần nhận thức đầy đủ.

15



×