Tải bản đầy đủ (.doc) (94 trang)

luận văn tài nguyên môi trường Đánh giá thực trạng đăng ký, cấp giấy chứng nhận, lập hồ sơ địa chính và đăng ký biến động tại huyện Phú Xuyên – TP. Hà Nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (775.01 KB, 94 trang )

PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Đất đai có vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi
quốc gia. Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, là tài nguyên quốc gia vô cùng quý
giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì thay thế được, là thành phần quan trọng
hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các
công trình công cộng… Có thể nói đất đai là thành phần không thể thiếu được
trong bất kỳ hoạt động nào của con người. Chính vì vậy việc quản lý và sử dụng
đất hợp lý trở thành vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển
của loài người.
Công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lập hồ
sơ địa chính là một trong 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai được quy
định trong Luật đất đai 2003. Đây thực chất là thủ tục hành chính bắt buộc nhằm
cấp giấy chứng nhận quyền chủ sử dụng đất cho chủ sử dụng đất hợp pháp, xây
dựng một hệ thống hồ sơ địa chính đầy đủ và thiết lập mối quan hệ giữa Nhà
nước và người sử dụng làm cơ sở để Nhà nước quản lý, nắm chắc toàn bộ đất
đai theo pháp luật. Từ đó, chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai, quyền và lợi
ích hợp pháp của người sử dụng được bảo vệ và phát huy; đảm bảo đất đai được
sử dụng đầy đủ, hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả.
Tuy nhiên thực tế công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận và lập hồ
sơ địa chính của nước ta nói chung và của các địa phương còn gặp nhiều khó
khăn cần giải quyết.
1
Huyện Phú Xuyên – TP. Hà Nội cũng vậy, với lợi thế về vị trí địa lý, nằm
ở cửa ngõ phía Nam của thủ đô, cách trung tâm Hà Nội không xa, đã và đang có
nhiều thuận lợi trong phát triển kinh tế - xã hội nên nhu cầu thực hiện quyền của
người sử dụng đất theo quy định của pháp luật cũng ngày một gia tăng. Chính
điều này đòi hỏi cơ quan quản lý đất đai huyện Phú Xuyên cần làm tốt hơn nữa
công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận và lập hồ sơ địa chính.
Xuất phát từ thực tế trên, được sự phân công của Khoa Tài Nguyên và


Môi Trường – Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, và dưới sự hướng dẫn của
cô giáo Th.S. Đỗ Thị Đức Hạnh – Cán bộ giảng dạy Khoa Tài Nguyên Môi
Trường, tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Đánh giá thực trạng đăng ký, cấp giấy chứng nhận, lập hồ sơ địa
chính và đăng ký biến động tại huyện Phú Xuyên – TP. Hà Nội”
1.2. MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU
12.1. Mục đích
- Nghiên cứu những quy định của Nhà nước và của ngành về đăng ký đất đai,
cấp giấy chứng nhận và lập hồ sơ địa chính;
- Tìm hiểu và đánh giá việc thực hiện công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng
nhận và lập hồ sơ địa chính của huyện Phú Xuyên – TP. Hà Nội;
- Đề xuất giải pháp để công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận và lập hồ
sơ địa chính được thực hiện tốt hơn.
1.2.2. Yêu cầu
- Nắm chắc được các quy định của Nhà nước về đăng ký đất đai, cấp giấy chứng
nhận và lập hồ sơ địa chính;
2
- Hiểu và vận dụng tốt các quy định trên trong việc thực hiện đăng ký đất đai,
cấp giấy chứng nhận và lập hồ sơ địa chính;
- Các số liệu điều tra, thu thập được phải đầy đủ, chính xác, phản ánh trung thực
và khách quan việc thực hiện công tác đăng ký, cấp giấy chứng nhận và lập hồ
sơ địa chính của địa phương;
- Các kiến nghị, đề xuất đưa ra phải phù hợp với thực tế của địa phương.
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA CÔNG TÁC
ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI, CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN VÀ LẬP HỒ
SƠ ĐỊA CHÍNH
2.1.1. Cơ sở lý luận của công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận và lập

hồ sơ địa chính
Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất
không gì thay thế được của ngành sản xuất nông – lâm nghiệp, là thành phần
quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư,
xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa và an ninh quốc phòng. Song thực tế đất đai là
tài nguyên có hạn về diện tích, có vị trí cố định trong không gian. Cùng với thời
gian, giá trị sử dụng của tài nguyên đất có sự biến đổi theo chiều hướng tăng
hoặc giảm. Điều đó phụ thuộc vào việc khai thác sử dụng của con người.
Trong những năm gần đây, do thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, cùng với tốc độ đô thị hóa ngày càng cao và sự gia tăng dân số dẫn đến
nhu cầu về đất ở và đất sản xuất gia tăng gây sức ép lớn đến quỹ đất nông
nghiệp nói riêng và quỹ đất đai nói chung. Điều này đòi hỏi Nhà nước phải có
những quy định phù hợp đối với đất đai nhằm sử dụng đất đai một cách hợp lý,
tiết kiệm và có hiệu quả.
Đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận là một công cụ của Nhà nước để
bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích cộng đồng, cũng như lợi ích công dân.
4
* Đối với Nhà nước và xã hội, việc đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận
là lập hồ sơ địa chính đem lại những lợi ích đáng kể như:
- Phục vụ cho việc quản lý toàn bộ quỹ đất;
- Phục vụ thu thuế sử dụng đất, thuế tài sản, thuế chuyển quyền sử dụng
đất… làm giàu cho ngân sách Nhà nước;
- Giám sát giao dịch đất đai;
- Phục vụ cho việc lập quy hoạch sử dụng đất;
- Quản lý được trật tự an ninh xã hội…
* Đối với công dân, việc đăng ký, cấp giấy chứng nhận và lập hồ sơ địa
chính đem lại những lợi ích như:
- Đảm bảo chủ quyền người sử dụng đối với đất đai;
- Hỗ trợ các giao dịch về đất đai;
- Khuyến khích đầu tư cá nhân;

- Giảm tranh chấp đất đai…
Với những lợi ích như trên cho thấy công tác đăng ký, cấp giấy chứng
nhận và lập hồ sơ địa chính là một công tác không thể thiếu được trong hoạt
động quản lý Nhà nước về đất đai.
2.1.2. Những căn cứ pháp lý của công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng
nhận và lập hồ sơ địa chính
Căn cứ pháp lý của công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận và lập
hồ sơ địa chính là những văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Chính phủ,
Bộ Tài nguyên và Môi trường và các Bộ, ngành có liên quan, các cá nhân có
5
thẩm quyền ban hành; quy định về công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng
nhận, lập hồ sơ địa chính và các vấn đề có liên quan.
2.1.2.1. Trước khi Luật đất đai 2003 ra đời
- Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà được thành lập, đã ban hành các văn bản pháp luật về thống nhất quản lý đất
đai, các văn bản trước đây đều bị bãi bỏ. Tháng 11/1953, Hội nghị ban chấp
hành Trung ương Đảng lần thứ V đã nhất trí thông qua Cương lĩnh cải cách
ruộng đất. Tháng 12/1953, Quốc hội thông qua Luật cải cách ruộng đất nhằm
xoá bỏ chế độ phong kiến, thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng”;
- Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1959 quy định 3 hình
thức sở hữu về đất đai: sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân;
- Tháng 4/1975, đất nước thống nhất, cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa
xã hội. Năm 1976, nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời đã thực hiện
kiểm kê, thống kê đất đai trong cả nước. Chính phủ đã ban hành Quyết định số
169/QĐ – CP ngày 20/06/1977 để thực hiện nội dung đó;
- Năm 1980, Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã
khẳng định: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch chung
nhằm đảm bảo đất đai được sử dụng hợp lý, tiết kiệm…”;
- Ngày 01/07/1980, Chính phủ ra Quyết định số 201/QĐ – CP về việc thống
nhất quản lý ruộng đất theo quy hoạch và kế hoạch chung trong cả nước;

- Ngày 10/11/1980, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 299 –
TTg với nội dung đo đạc và phân hạng đất, đăng ký thống kê đất đai trong
cả nước;
- Ngày 05/11/1981, Tổng cục quản lý ruộng đất ban hành Quyết định số
56/QĐ – ĐKTK quy định về trình tự thủ tục đăng ký đất đai và cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất;
6
- Ngày 08/11/1988, Luật Đất đai ra đời. Trong đó có nêu: “Đăng ký
đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, quản lý các hợp đồng sử dụng đất,
thống kê, kiểm kê, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, đây là một
trong bảy nội dung quản lý Nhà nước về đất đai;
- Ngày 04/07/1989, Tổng cục quản lý ruộng đất ban hành Quyết định số
201/QĐ – ĐKTK về đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
và Thông tư 302 – ĐKTK ngày 28/10/1989 hướng dẫn thực hiện Quyết định
này. Quy định này đã tạo sự biến đổi lớn về chất cho hệ thống đăng ký đất đai
của Việt Nam;
- Hiến pháp năm 1992 ra đời đã khẳng định: Đất đai thuộc sở hữu toàn
dân;
Luật đất đai năm 1993 được thông qua vào ngày 14/07/1993 đã đánh dấu
một mốc quan trọng về sự đổi mới chính sách đất đai của Nhà nước với những
thay đổi quan trọng như: Đất đai được khẳng định là có giá trị; ruộng đất nông
lâm nghiệp được giao ổn định, lâu dài cho các hộ gia đình, cá nhân; người sử
dụng được hưởng các quyền như chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế,
thế chấp quyền sử dụng đất… phù hợp với cơ chế thị trường giúp phát huy
quyền của người sử dụng đất và tăng hiệu quả quản lý đất đai.
Từ khi có Luật đất đai 1993 đến năm 2003, để phù hợp với tinh thần sửa
đổi chính sách đất đai, Nhà nước ta đã ban hành một hệ thống văn bản gồm:
- Công văn 434/CVĐC do Tổng cục địa chính ban hành vào tháng 7/1993
đã xây dựng hệ thống sổ sách địa chính mới để áp dụng tạm thời thay thế cho
các mẫu quy định tại Quyết định 56/TCĐC năm 1981;

- Nghị định số 64/CP ngày 27/09/1993 của Chính phủ về việc giao đất
nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ổn định lâu dài vào mục đích
sản xuất nông nghiệp;
7
- Nghị định số 60/CP ngày 05/07/1994 của Chính phủ về quyền sở hữu
nhà ở và quyền sử dụng đất ở đô thị. Cùng ngày Chính phủ ban hành Nghị định
61/CP về mua bán và kinh doanh nhà;
- Quyết định số 499/QĐ – ĐC ngày 27/07/1995 của Tổng cục Địa chính
đã sửa đổi và hoàn thiện sau hai năm thử nghiệm theo Công văn 434/CVĐC về
hệ thống sổ sách địa chính;
- Thông tư số 346/TT – TCĐC ngày 16/03/1998 của Tổng cục Địa chính
hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và
lập hồ sơ địa chính thay thế hoàn toàn Quyết định 56/ĐKTK năm 1981;
- Chỉ thị số 10/CT – TTg ngày 20/02/1998 của Thủ tướng Chính phủ về
một số biện pháp đẩy mạnh hoàn thành cấp GCNQSDĐ nông nghiệp, lâm
nghiệp, đất ở nông thôn;
- Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đất đai 1993 ngày
02/12/1998;
- Công văn số 776/CV – NN ngày 28/07/1999 của Chính phủ về việc cấp
GCNQSDĐ và sở hữu nhà ở đô thị;
- Thông tư liên tịch số 1442/TTLT – TCĐC – BTC ngày 21/9/1999 của
Bộ Tài chính và Tổng cục Địa chính hướng dẫn cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất theo Chỉ thị số 18/1999/CT – TTg;
- Nghị định số 04/2000/NĐ – CP ngày 11/01/2000 của Chính phủ quy
định về điều kiện được cấp xét và không được cấp GCNQSDĐ;
- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai 1993 ngày
29/06/2001;
- Thông tư số 1990/2001/TT – TCĐC ngày 30/11/2001 của Tổng cục Địa
chính hướng dẫn các thủ tục đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử
8

dụng đất và lập hồ sơ địa chính thay thế cho Thông tư số 346/TT – TCĐC ngày
16/03/1998.
2.1.2.2. Từ sau khi Luật đất đai 2003 ra đời
Quá trình thực hiện Luật Đất đai năm 1993 đã xuất hiện những vấn đề bất
cập, Luật đất đai 2003 được Quốc hội khoá XI thông qua ngày 26/11/2003 ra
đời thay thế cho Luật đất đai 1993. Trong đó nêu lên 13 nội dung quản lý Nhà
nước về đất đai và nội dung đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và
lập hồ sơ địa chính là một nội dung quan trọng được tái khẳng định.
Trong những năm qua, cùng với quá trình xây dựng, đổi mới chính sách
pháp luật đất đai; các quy định về đăng ký, cấp giấy chứng nhận và lập hồ sơ địa
chính ngày càng được hoàn thiện. Đến nay, cùng với việc ban hành Luật đất đai
2003, đã có nhiều văn bản do các cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương và địa
phương ban hành để làm cơ sở cho việc thực hiện đăng ký, cấp giấy chứng nhận
và lập hồ sơ địa chính như:
* Các văn bản do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành quy
định về đăng ký, cấp giấy chứng nhận và lập hồ sơ địa chính bao gồm:
- Luật đất đai 2003 được ban hành ngày 26/11/2003 và có hiệu lực thi
hành ngày 01/07/2004, trong đó quy định các vấn đề mang tính nguyên tắc về
cấp giấy chứng nhận; các trường hợp được cấp giấy chứng nhận; thực hiện
nghĩa vụ tài chính khi cấp giấy chứng nhận; lập hồ sơ địa chính; trình tự thực
hiện các thủ tục hành chính về đất đai để cấp giấy chứng nhận hoặc chỉnh lý
biến động về sử dụng đất trên giấy chứng nhận;
- Nghị quyết 775/2005/NQ – UBTVQH11 ngày 02/04/2005 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định giải quyết đối với một số trường hợp cụ thể về nhà
đất trong quá trình thực hiện các chính sách về nhà đất và chính sách cải tạo xã
hội chủ nghĩa trước ngày 01/07/1991 làm cơ sở để xác định điều kiện cấp giấy
9
chứng nhận đối với trường hợp đang sử dụng nhà, đất thuộc diện thực hiện các
chính sách quy định tại điều 2 của Nghị quyết số 23/2003/QH11 nhưng đến nay
cơ quan nhà nước chưa có văn bản quản lý, hoặc đã có văn bản quản lý nhưng

thực tế Nhà nước chưa quản lý, chưa bố trí sử dụng nhà đất đó;
- Nghị quyết số 1037/2006/NQ – UBTVQH11 ngày 27/07/2006 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày
01/07/1991 của người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia làm cơ sở xác
định đối tượng được cấp giấy chứng nhận trong những trường hợp có tranh
chấp.
* Các văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ có quy định về đăng ký, cấp giấy chứng nhận và lập hồ sơ địa chính
cùng các vấn đề liên quan gồm:
- Chỉ thị số 05/CT – TTg ngày 09/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ về
việc triển khai thi hành Luật đất đai 2003; trong đó có chỉ đạo các địa phương
đẩy mạnh để hoàn thành cơ bản việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
trong năm 2005;
- Nghị định số 181/2004/NĐ – CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về
hướng dẫn thi hành Luật đất đai 2003;
- Nghị định 198/2004/NĐ – CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu
tiền sử dụng đất khi cấp giấy chứng nhận;
- Nghị định 142/2004/NĐ – CP ngày 14/11/2005 của Chính phủ về thu
tiền thuê đất, trong đó quy định cụ thể hóa Luật đất đai về việc thu tiền thuê đất
khi cấp giấy chứng nhận;
- Nghị định số 17/2006/NĐ – CP ngày 27/01/2006 về sửa đổi, bổ sung
một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật đất đai và Nghị định số
187/2004/NĐ – CP về việc chuyển công ty Nhà nước thành công ty cổ phần.
10
Trong đó sửa đổi, bổ sung một số quy định về việc thu tiền sử dụng đất khi cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, việc xác nhận hợp đồng chuyển nhượng,
cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng
quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao;
- Chỉ thị số 05/2006/CT – TTg ngày 22/06/2006 của Thủ tướng Chính phủ
về việc khắc phục những yếu kém, sai phạm, tiếp tục đẩy mạnh tổ chức thi hành

Luật đất đai; trong đó chỉ đạo các địa phương đẩy mạnh để hoàn thành cơ bản
việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong năm 2006;
- Nghị định số 88/2009/NĐ – CP ngày 19/10/2009 về cấp Giấy chứng
nhận, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
* Các văn bản thuộc thẩm quyền của các Bộ, ngành ở Trung ương ban
hành có quy định về đăng ký, cấp giấy chứng nhận, và lập hồ sơ địa chính cùng
các vấn đề liên quan gồm:
- Quyết định số 24/2004/BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường ban hành quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
- Thông tư số 29/2004/TT – BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường hướng dẫn việc lập chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính;
- Thông tư 117/2007/TT- BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính hướng
dẫn thực hiện Nghị định 198/2004/NĐ – CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về
thu tiền sử dụng đất;
- Thông tư số 01/2004/TT – BTNMT ngày 13/04/2005 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 181/2004/NĐ –
CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật đất đai;
- Thông tư số 28/2004/TT – BTNMT ngày 01/11/2004 hướng dẫn thực
hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất;
11
- Thông tư số 08/2007/TT – BTNMT ngày 02/08/2007 hướng dẫn thực
hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất;
- Thông tư 09/2007/TT – BTNMT ngày 02/08/2007 hướng dẫn việc lập,
chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính;
- Thông tư 17/2009/TT – BTNMT ngày 21/10/2009 quy định về Giấy
chứng nhận, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
2.2. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI,
CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN VÀ LẬP HỒ SƠ ĐỊA CHÍNH
2.2.1. Đăng ký đất đai
Đăng ký quyền sử dụng đất (đăng ký đất đai) là thủ tục hành chính bắt

buộc do cơ quan Nhà nước thực hiện đối với các đối tượng là tổ chức, hộ gia
đình, cá nhân sử dụng đất; là việc ghi nhận về quyền sử dụng đất với một thửa
đất xác định vào hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận cho những chủ sử dụng
đất hợp pháp nhằm xác lập mối quan hệ pháp lý đầy đủ giữa Nhà nước với
người sử dụng đất làm cơ sở để Nhà nước quản lý chặt chẽ toàn bộ đất đai theo
pháp luật và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.
Đăng ký quyền sử dụng đất có hai loại là: Đăng ký quyền sử dụng đất lần
đầu và đăng ký biến động về quyền sử dụng đất.
2.2.1.1. Đối tượng đăng ký quyền sử dụng đất
- Nguyên tắc xác định người sử dụng đất phải đăng ký quyền sử dụng
đất:
+ Là người đang sử dụng đất;
+ Là người có quan hệ trực tiếp với Nhà nước trong việc thực hiện quyền
và nghĩa vụ sử dụng đất theo pháp luật.
12
Các đối tượng sử dụng đất phải thực hiện đăng ký quyền sử dụng đất được
quy định tại điều 9 của Luật đất đai 2003 gồm:
1. Các tổ chức trong nước bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội,
tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế – xã hội, tổ chức
sự nghiệp công, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức khác theo quy định của
Chính phủ được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng
đất; tổ chức kinh tế nhận chuyển quyền sử dụng đất;
2. Hộ gia đình, cá nhân trong nước được Nhà nước giao đất, cho thuê đất
hoặc công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất;
3. Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng
địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc và các điểm dân cư tương tự có
cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ được Nhà nước giao đất hoặc
công nhận quyền sử dụng đất;
4. Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, thánh thất, thánh đường, tu viện,

trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và các cơ sở khác
của tôn giáo được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất hoặc giao đất;
5. Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện
ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng
ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức
thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của
tổ chức liên chính phủ được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất;
6. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư, hoạt động văn hoá,
hoạt động khoa học thường xuyên hoặc về sống ổn định tại Việt Nam được Nhà
nước Việt Nam giao đất, cho thuê đất, được mua nhà ở gắn liền với quyền sử
dụng đất ở;
13
7. Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam theo pháp luật về
đầu tư được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất.
2.2.1.2. Các trường hợp đăng ký quyền sử dụng đất
Theo quy định tại Điều 38 Nghị định 181/2004/NĐ-CP về hướng dẫn thi
hành Luật đất đai 2003:
* Đăng ký quyền sử dụng đất lần đầu được thực hiện trong các trường
hợp:
- Được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng;
- Người đang sử dụng đất, đủ điều kiện mà chưa được cấp giấy chứng
nhận.
* Đăng ký biến động về quyền sử dụng đất được thực hiện đối với người
sử dụng đất đã được cấp giấy chứng nhận mà có thay đổi về việc sử dụng đất
trong các trường hợp:
- Người sử dụng đất thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho
thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp
vốn bằng quyền sử dụng đất;
- Người sử dụng đất được phép đổi tên;
- Có thay đổi về hình dạng, kích thước, diện tích thửa đất;

- Chuyển mục đích sử dụng đất;
- Có thay đổi về thời hạn sử dụng đất;
- Chuyển đổi từ hình thức nhà nước cho thuê đất sang hình thức Nhà nước
giao đất có thu tiền sử dụng đất;
- Có thay đổi về những hạn chế quyền của người sử dụng đất;
- Nhà nước thu hồi đất.
14
2.2.1.3. Người chịu trách nhiệm đăng ký quyền sử dụng đất
- Nguyên tắc chung: Người chịu trách nhiệm thực hiện việc đăng ký
quyền sử dụng đất là cá nhân mà pháp luật quy định phải chịu trách nhiệm trước
Nhà nước đối với việc sử dụng đất của người sử dụng đất;
- Người chịu trách nhiệm thực hiện việc đăng ký gồm có:
1. Người đứng đầu của tổ chức, tổ chức nước ngoài là người chịu trách
nhiệm trước Nhà nước đối với việc sử dụng đất của tổ chức mình.
2. Chủ tịch ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn chịu trách nhiệm trước
Nhà nước đối với việc sử dụng đất nông nghiệp vào mục đích công ích; đất phi
nông nghiệp đã giao cho ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn để sử dụng vào
mục đích xây dựng trụ sở ủy ban nhân dân và các công trình công cộng phục vụ
hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục, thể thao, vui chơi, giải trí, chợ, nghĩa
trang, nghĩa địa và các công trình công cộng khác của địa phương.
3. Người đại diện cho cộng đồng dân cư là người chịu trách nhiệm trước
Nhà nước đối với việc sử dụng đất đã giao cho cộng đồng dân cư.
4. Người đứng đầu cơ sở tôn giáo là người chịu trách nhiệm trước Nhà
nước đối với việc sử dụng đất đã giao cho cơ sở tôn giáo.
5. Chủ hộ gia đình là người chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với việc
sử dụng đất của hộ gia đình.
6. Cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân nước ngoài
chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với việc sử dụng đất của mình.
7. Người đại diện cho những người sử dụng đất mà có quyền sử dụng
chung thửa đất là người chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với việc sử dụng

đất đó.
15
8. Đối với đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng đất thì người
chịu trách nhiệm đăng ký quyền sử dụng đất là Thủ trưởng đơn vị lực lượng vũ
trang nhân dân.
2.2.2. Cấp giấy chứng nhận
2.2.2.1. Mẫu giấy chứng nhận
“ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giấy chứng nhận do cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp
pháp của người sử dụng đất”, là chứng thư pháp lý xác nhận mối quan hệ hợp
pháp giữa Nhà nước với người sử dụng đất.
Quá trình tổ chức việc cấp giấy chứng nhận là quá trình xác lập căn cứ
pháp lý đầy đủ nhất để giải quyết mọi vấn đề có liên quan đến quan hệ về đất đai
( giữa Nhà là chủ sở hữu với người sử dụng và giữa những người sử dụng đất
với nhau) theo đúng pháp luật hiện hành.
Giấy chứng nhận là kết quả của quá trình tổ chức đăng ký đất đai lần đầu.
Giấy chứng nhận hiện nay đang tồn tại 4 loại:
Loại thứ nhất: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp theo Luật
đất đai 1988 do Tổng cục địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) phát
hành theo mẫu quy định tại Quyết định 201/QĐ/ĐK ngày 14/07/1989 của Tổng
cục Quản lý ruộng đất để cấp cho đất nông nghiệp, lâm nghiệp và đất ở nông
thôn.
Loại thứ hai: Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất
ở tại đô thị được cấp theo Luật đất đai 1993, do Bộ Xây dựng phát hành theo
mẫu quy định tại Nghị định số 61/CP ngày 05/07/1994. Giấy chứng nhận có hai
loại màu: Giấy chứng nhận màu hồng giao cho chủ sử dụng đất và giấy chứng
nhận màu xanh lưu tại Sở địa chính (nay là Sở Tài nguyên và Môi trường) trực
thuộc.
16
Loại thứ 3: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp theo luật đất

đai 2003, mẫu giấy theo Quyết định số 24/2004/QĐ – BTNMT ngày 01/11/2004
và Quyết định số 08/QĐ – BTNMT ngày 02/08/2007 sửa đổi quyết định số
24/2004/QĐ – BTNMT. Giấy chứng nhận có hai loại màu: Giấy chứng nhận
màu đỏ cấp cho chủ sử dụng đất và giấy chứng nhận màu trắng lưu tại Phòng
Tài nguyên và Môi trường.
Loại thứ 4: Giấy chứng nhận được cấp theo Nghị định số 88/2009/NĐ –
CP ngày 19/10/2009 và Thông tư số 17/2009/TT – BTNMT ngày 21/10//2009,
được gọi là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất. Giấy chứng nhận do Bộ Tài nguyên và Môi trường phát
hành theo một mẫu thống nhất và được áp dụng trong phạm vi cả nước đối với
mọi loại đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Giấy chứng nhận là một tờ
có bốn trang, mỗi trang có kích thước 190mm x 265mm, có nền hoa văn trống
đồng màu hồng cánh sen.
2.2.2.2. Những trường hợp được cấp giấy chứng nhận
Người sử dụng đất được chứng nhận quyền sử dụng đất nếu thuộc một
trong các trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 9 Điều 49
của Luật Đất đai.
1. Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, trừ trường hợp thuê đất
nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn;
2. Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm
1993 đến trước ngày Luật đất đai 2003 có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
3. Người đang sử dụng đất theo quy định tại Điều 50 và Điều 51 của Luật
đất đai 2003 mà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
17
4. Người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng
cho quyền sử dụng đất; người nhận quyền sử dụng đất khi xử lý hợp đồng thế
chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất để thu hồi nợ; tổ chức sử dụng đất là
pháp nhân mới được hình thành do các bên góp vốn bằng quyền sử dụng đất;
5. Người được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Toà án nhân

dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết
tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành;
6. Người trúng đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất;
7. Người sử dụng đất quy định tại các điều 90, 91 và 92 của Luật đất đai
2003;
8. Người mua nhà ở gắn liền với đất ở;
9. Người được Nhà nước thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở.
2.2.2.3. Thẩm quyền cấp giấy chứng nhận
Thẩm quyền cấp giấy chứng nhận được quy định tại Điều 52 Luật đất đai
2003 như sau:
1. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở
nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài.
2. Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư,
người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất
ở.
3. Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quy
định tại khoản 1 Điều này được uỷ quyền cho cơ quan quản lý đất đai cùng cấp.
18
Chính phủ quy định điều kiện được ủy quyền cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất.
2.2.3. Hồ sơ địa chính
2.2.3.1. Khái niệm hồ sơ địa chính
Hồ sơ địa chính là hệ thống tài liệu, bản đồ, sổ sách…chứa đựng những
thông tin cần thiết về các mặt tự nhiên, kinh tế, xã hội, pháp lý của đất đai được
thiết lập trong quá trình đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai ban đầu và
đăng ký biến động đất đai và tài sản gắn liền với đất, cấp giấy chứng nhận nhằm
phục vụ quản lý nhà nước đối với việc sử dụng đất, việc quản lý tài sản gắn liền
với đất.

Hồ sơ địa chính được lập theo đơn vị hành chính cấp xã. Việc lập và
chỉnh lý hồ sơ địa chính thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục hành chính quy
định, phải đảm bảo tính thống nhất giữa bản đồ địa chính, sổ địa chính, sổ mục
kê đất đai, sổ theo dõi biến động đất đai, giấy chứng nhận và hiện trạng sử dụng
đất; thống nhất giữa bản gốc và các bản sao.
2.2.3.2. Nội dung hồ sơ địa chính
Hồ sơ địa chính được lập thành hai dạng: Hồ sơ địa chính dạng giấy và hồ
sơ địa chính dạng số.
a. Nội dung của hồ sơ địa chính dạng giấy
1. Bản đồ địa chính:
- Là bản đồ thể hiện các thửa đất và các yếu tố địa lý có liên quan, lập
theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn, được cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền xác nhận.
- Nội dung của bản đồ địa chính thể hiện các thông tin:
19
+ Thông tin về thửa đất: Vị trí, kích thước, hình thể, số thứ tự, diện tích,
mục đích sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất;
+ Thông tin về hệ thống thủy văn: Sông ngòi, kênh, rạch, suối, hệ thống
thủy lợi (gồm công trình dẫn nước, đê, đập, cống);
+ Thông tin về đường giao thông: Đường bộ, đường sắt, cầu;
+ Đất chưa sử dụng không có ranh giới khép kín trên bản đồ;
+ Mốc giới và đường địa giới hành chính các cấp, mốc giới và chỉ giới
quy hoạch, mốc giới hành lang an toàn công trình, điểm tọa độ địa chính, địa
danh và các ghi chú thuyết minh.
2. Sổ địa chính
Là sổ được lập cho từng đơn vị xã, phường, thị trấn để ghi về người sử
dụng đất, các thửa đất, tài sản gắn liền với đất của người đó đang sử dụng và
tình trạng sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của người đó. Sổ địa chính được
lập thể hiện kết quả đăng ký, cấp giấy chứng nhận của các tổ chức, cơ sở tôn
giáo, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước

ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Nội dung sổ địa chính bao gồm:
- Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất gồm tên, địa chỉ
và thông tin về chứng minh nhân dân, hộ chiếu, hộ khẩu, quyết định thành lập tổ
chức, giấy đăng ký kinh doanh của các tổ chức kinh tế, giấy phép đầu tư của nhà
đầu tư nước ngoài;
- Các thửa đất mà người sử dụng sử dụng gồm mã thửa, diện tích, hình
thức sử dụng đất (sử dụng riêng hoặc sử dụng chung), mục đích sử dụng, thời
gian sử dụng, nguồn gốc sử dụng, số giấy chứng nhận quyền sử dụng đã cấp. Tài
20
sản gắn liền với đất: công trình xây dựng, cây lâu năm, rừng sản xuất là rừng
trồng;
- Ghi chú về thửa đất và quyền sử dụng đất gồm giá đất, nghĩa vụ tài
chính chưa thực hiện, tình trạng đo đạc lập bản đồ địa chính, những hạn chế về
quyền sử dụng đất (thuộc khu vực phải thu hồi theo quy hoạch sử dụng đất
nhưng chưa có quyết định thu hồi, thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình,
thuộc địa bàn có quy định hạn chế về diện tích xây dựng);
- Những biến động về sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất trong quá trình
sử dụng gồm những thay đổi về thửa đất, tài sản gắn liền với đất, về người sử
dụng, chủ sở hữu, về chế độ sử dụng đất, về quyền và nghĩa vụ của người sử
dụng đất, chủ sở hữu, về giấy chứng nhận;
3. Sổ mục kê đất đai
Là sổ ghi các thửa đất và các đối tượng chiếm đất nhưng không có ranh
giới khép kín trên bản đồ và các thông tin có liên quan đến quá trình sử dụng
đất. Sổ mục kê đất đai được lập để quản lý thửa đất, tra cứu thông tin đất đai,
phục vụ thống kê và kiểm kê đất đai.
Nội dung sổ mục kê đất đai bao gồm:
- Thửa đất gồm số thứ tự thửa, tên người sử dụng đất hoặc người được
giao đất để quản lý, diện tích, mục đích sử dụng đất và những ghi chú về thửa
đất( khi thửa đất thay đổi, giao để quản lý, chưa giao, chưa cho thuê, đất công

ích…)
- Đối tượng có chiếm đất nhưng không tạo thành thửa đất hoặc có hành
lang bảo vệ an toàn như đường giao thông, hệ thống thủy lợi, công trình khác
theo tuyến, sông ngòi, kênh, rạch, suối và các đối tượng thủy văn khác, khu vực
đất chưa sử dụng không có ranh giới khép kín trên bản đồ gồm tên đối tượng,
21
diện tích trên tờ bản đồ, trường hợp đối tượng không có tên thì phải đặt tên hoặc
ghi kí hiệu trong quá trình đo đạc lập bản đồ địa chính.
3. Sổ theo dõi biến động đất đai
Là sổ được lập để theo dõi các trường hợp có thay đổi trong sử dụng đất
gồm thay đổi kích thước và hình dạng thửa đất, người sử dụng đất, mục đích sử
dụng đất, thời hạn sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
Nội dung sổ theo dõi biến động đất đai gồm tên và địa chỉ của người đăng
ký biến động, số thứ tự thửa đất có biến động, nội dung biến động về sử dụng
đất trong quá trình sử dụng (thay đổi về thửa đất, người sử dụng, về chế độ sử
dụng đất, về quyền của người sử dụng đất, về giấy chứng nhận).
b. Nội dung của hồ sơ địa chính dạng số
Hồ sơ địa chính dạng số là hệ thống thông tin được lập trên máy chứa
toàn bộ thông tin về nội dung của hồ sơ địa chính (được gọi là hệ thống thông
tin đất đai).
* Hồ sơ địa chính dạng số khi lập phải đảm bảo các điều kiện sau:
- Dữ liệu trong hệ thống thông tin đất đai được lập theo đúng chuẩn dữ
liệu đất đai do Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định;
- Chỉnh lý, cập nhật được nội dung thông tin của bản đồ địa chính, sổ địa
chính, sổ mục kê, sổ theo dõi biến động đất đai;
- Từ hệ thống thông tin đất đai trên máy tính sẽ in ra được các tài liệu:
+ Bản đồ địa chính, sổ địa chính, sổ mục kê, sổ theo dõi biến động đất
đai;
+ Trích lục hoặc trích đo, trích sao hồ sơ địa chính của thửa đất hoặc
nhóm thửa liền kề;

+ Giấy chứng nhận;
22
- Tra cứu theo mã thửa đất, tên người sử dụng đất trong vùng dữ liệu sổ
địa chính, sổ mục kê và tìm được thửa đất trong vùng dữ liệu bản đồ địa chính.
Từ mã thửa đất trong vùng dữ liệu bản đồ địa chính tìm được thửa đất và người
sử dụng đất trong vùng dữ liệu sổ địa chính, sổ mục kê đất đai;
- Tìm được đầy đủ thông tin về thửa đất và người sử dụng đất;
* Việc lập quản lý và khai thác hệ thống thông tin đất đai bao gồm những
công việc sau:
- Lập cơ sở dữ liệu từ hệ thống hồ sơ địa chính dạng giấy gồm: Lập bản
đồ địa chính số hoặc số hóa bản đồ địa chính và cập nhật thông tin thửa đất từ
giấ.y chứng nhận hoặc sổ địa chính, chúng được kết nối với nhau bằng mã thửa
đất;
- Tổ chức quản lý cơ sở dữ liệu bằng phần mềm quản trị dữ liệu được lựa
chọn phù hợp với chức năng quản lý hệ thống thông tin đất đai;
- Lựa chọn các phần mềm ứng dụng phù hợp để xử lý, tìm kiếm, thống kê,
tổng hợp, phân tích thông tin đất đai phục vụ yêu cầu quản lý và cung cấp thông
tin đất đai;
- Tổ chức kết nối hệ thống thông tin đất đai của địa phương với mạng
thông tin quản lý hành chính của địa phương, mạng thông tin đất đai quốc gia,
mạng thông tin đất đai chuyên ngành liên quan về đầu tư, giá đất, bất động sản,
thuế, ngân hàng…
2.2.3.3. Trách nhiệm quản lý hồ sơ địa chính
* Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi
trường chịu trách nhiệm quản lý các tài liệu, dữ liệu bao gồm:
23
- Cơ sở dữ liệu địa chính (trong máy chủ và trên các thiết bị nhớ) hoặc
Bản đồ địa chính, Sổ địa chính, Sổ mục kê đất đai, Sổ theo dõi biến động đất đai
đối với trường hợp chưa xây dựng dữ liệu địa chính;
- Bản sao giấy chứng nhận, Sổ cấp giấy chứng nhận, hồ sơ xin cấp giấy

chứng nhận, hồ sơ xin đăng ký biến động về sử dụng đất đối với tổ chức, cơ sở
tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài (trừ trường hợp mua nhà ở gắn
liền với quyền sử dụng đất ở), tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài;
- Giấy chứng nhận của tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở
nước ngoài, cá nhân nước ngoài trong trường hợp thu hồi đất, tách thửa hoặc
hợp thửa đất, cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận;
- Hệ thống các Bản đồ địa chính, bản Trích đo địa chính và các bản đồ, sơ
đồ khác, Sổ địa chính, Sổ mục kê đất đai được lập qua các thời kỳ trước ngày
Thông tư 09/2007/TT-BTNMT có hiệu lực thi hành.
* Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi
trường chịu trách nhiệm quản lý các tài liệu, dữ liệu bao gồm:
- Cơ sở dữ liệu địa chính (trên các thiết bị nhớ) hoặc Bản đồ địa chính, Sổ
địa chính, Sổ mục kê, Sổ theo dõi biến động đất đai đối với trường hợp chưa xây
dựng dữ liệu địa chính;
- Bản sao giấy chứng nhận, Sổ cấp giấy chứng nhận, hồ sơ xin cấp Giấy
chứng nhận, hồ sơ đăng ký biến động về sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá
nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được mua nhà ở
gắn liền với quyền sử dụng đất ở;
- Giấy chứng nhận của hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người
Việt Nam định cư ở nước ngoài được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất
ở đã thu hồi trong các trường hợp thu hồi đất, tách thửa hoặc hợp thửa đất, cấp
đổi, cấp lại Giấy chứng nhận;
24
- Hệ thống các Bản đồ địa chính, bản Trích đo địa chính và các bản đồ, sơ
đồ khác, Sổ địa chính, Sổ mục kê được lập trước ngày Thông tư
09/2007/BTNMT có hiệu lực thi hành.
* Ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm quản lý Bản đồ địa chính, Sổ
địa chính, Sổ mục kê đất đai, Thông báo về việc cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa
chính và các giấy tờ khác kèm theo do Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
gửi đến để cập nhật, chỉnh lý bản sao hồ sơ địa chính.

2.3. TÌNH HÌNH ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI, CẤP GIẤY CHỨNG
NHẬN CỦA CẢ NƯỚC VÀ CỦA ĐỊA PHƯƠNG
2.3.1. Tình hình đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận và lập hồ sơ địa chính
của cả nước
Mục tiêu của nước ta là đến năm 2005 cả nước hoàn thành việc cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất theo Chỉ thị số 05/2004/CT – TTg ngày
09/02/2004 của Thủ tướng Chính phủ nhưng đến nay vẫn chưa hoàn thành. Theo
bản báo cáo của Chính phủ, kết quả cấp giấy chứng nhận cho các loại đất chính
trong cả nước như sau:
* Đất nông nghiệp: cấp được 13.686.351 giấy chứng nhận tương ứng với
diện tích là 7.485.643 ha và đạt 82,10% diện tích cần cấp. Trong đó cấp cho hộ
gia đình, cá nhân 13.681.327 giấy chứng nhận tương ứng với diện tích là
6.963.330 ha; cấp cho tổ chức 5.024 giấy chứng nhận tương ứng với diện tích là
522.313 ha. Cả nước có 31 tỉnh cấp được trên 90%; 11 tỉnh cấp được từ 80 –
90%; 8 tỉnh cấp được từ 70 – 80%; 12 tỉnh cấp được từ 50 – 70%; 2 tỉnh cấp
được dưới 50%.
* Đất lâm nghiệp: cấp được 1.111.302 giấy chứng nhận tương ứng với
diện tích 8.116.154 ha và đạt được 62,10% diện tích cần cấp. Cả nước có 13 tỉnh
25

×