Tải bản đầy đủ (.doc) (44 trang)

Quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (273.16 KB, 44 trang )

Website: Email : Tel : 0918.775.368
A. Lời Mở ĐầU
Thực tiễn hơn 10 năm đổi mới kinh tế, chúng ta đã khẳng định những thành tựu to
lớn trong phát triển kinh tế xã hội. Tốc độ tăng trởng đạt khá cao, Việt Nam đã ra
khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế, đời sống nhân dân ngày càng đợc cải thiện và đang
bớc vào thời kỳ mới nh Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã chỉ rõ: thời kỳ tiếp
tục sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thực hiện mục tiêu
dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững bớc đi lên chủ nghĩa xã hội.
Để thực hiện đợc mục tiêu dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững b-
ớc đi lên chủ nghĩa xã hôi chúng ta phải giải quyết một loạt vấn đề rất quan trọng,
trong đó có vấn đề lựa chọn mô hình kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ
nghĩa; xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế xã hội đúng đắn; xác định hớng dịch
chuyển cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ, xây dựng và thực hiện đồng bộ cơ chế thị trờng
có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN.
Từ khi Đảng ta công bố chủ trơng xây dựng một nền kinh tế thị trờng theo định h-
ớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta đã có nhiều ý kiến khác nhau.
Có ý kiến cho rằng kinh tế thị trờng và định hớng xã hội chủ nghĩa nh nớc và lửa
không thể dung nạp với nhau đợc, do vậy chủ trơng xây dựng kinh tế thị trờng là từ
bỏ lý tởng xã hội chủ nghĩa. Cơ sở lý luận cho loại ý kiến này là ở chỗ họ cho rằng
Marx và Engels ngày xa dự đoán sẽ không có thị trờng và tiền tệ trong CNXH.
Có loại ý kiến khác cho rằng chỉ cần nói xây dựng một nớc Việt Nam giàu mạnh,
xã hội công bằng, văn minh là đủ, không cần phải nói "theo định hớng XHCN" vì
"dòng sông sẽ tự nó chảy ra biển không việc gì phải uốn nắn" vì làm nh thế là trái
quy luật. Lại có loại ý kiến khác cho rằng sự lựa chọn kinh tế thị trờng theo định h-
ớng XHCN ở nớc ta chỉ mang tính tất yếu chính trị chứ cha mang tính tất yếu kinh tế
và không thể định hớng đợc cái cha có. Nhìn chung dù cho các loại quan điểm trên
có đúng hay không thì chúng cũng biểu hiện sự sùng bái tự phát và đánh mất lý tởng
với t cách là một chủ thuyết phát triển của một dân tộc.
Phía ý kiến còn lại thì tán đồng chủ trơng và đã luận giải góp phần làm sáng tỏ
dần luận điểm mới mẻ này. Tình hình đa đến một yêu cầu bức thiết phải tiếp tục
Đề án kinh tế chính trị


nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện luận điểm này trên nhiều giác độ khác nhau. Nói rõ
lên các vấn đề : đi theo kinh tế thị trờng có phải là từ bỏ lý tởng XHCN không? Thế
nào là kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa? Nó có đặc trng gì và nó khác với
kinh tế thị trờng t bản chủ nghĩa ở chỗ nào? Để có đợc định hớng XHCN cần có
những điều kiện gì?
Tôi có tham vọng là giải quyết đợc tất cả những gì có liên quan đến nền kinh tế thị
trờng định hớng XHCN ở Việt Nam nhng do thời gian và kiến thức giới hạn, trong đề
án này tôi chỉ xin đợc giới thiệu tổng quát và đi sâu vào một số phần về "quá trình
hình thành và phát triển nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta
hiện nay".Tôi cũng xin chân thành cám ơn thầy giáo - TS Tô Đức Hạnh đã giúp đỡ
tôi hoàn thành đề án này.
2
Đề án kinh tế chính trị
B. Nội dung
I. Những vấn đề lý luận chung về nền kinh tế thị trờng
1. Các điều kiện để hình thành nền kinh tế thị trờng
Ngày nay, không một ai phủ nhận vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của kinh tế
hàng hoá và kinh tế thị trờng trong quá trình phát triển kinh tế, phát triển lực lợng sản
xuất xã hội... Nhng về điều kiện ra đời và tồn tại của kinh tế hàng hoá, kinh tế thị tr-
ờng thì không phải mọi ngời đã nhận thức và hiểu nh nhau.
Trớc đây, khi còn quan điểm không đúng: đối lập chủ nghĩa xã hội với kinh tế
hàng hoá, kinh tế thị trờng (vì cho rằng kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trờng gắn với
chủ nghĩa t bản), thì nhiều ngời nhận thức, và hiểu rằng dới chủ nghĩa xã hội không
còn kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trờng, mà nếu còn tồn tại thì chỉ là một kiểu kinh tế
hàng hoá đặc biệt (chỉ có t liệu tiêu dùng là hàng hoá, còn t liệu sản xuất, sức lao
động, vốn... không phải là hàng hoá). Với cách hiểu nh vậy, nên khi trình bày về điều
kiện ra đời và tồn tại của sản xuất, lu thông hàng hoá, nhiều sách giáo khoa kinh tế
chính trị viết rằng: sản xuất hàng hoá ra đời khi có hai điều kiện là phân công lao
động xã hội và chế độ t hữu về t liệu sản xuất.
Về điều kiện thứ nhất, phân công lao động xã hội thì đến nay vẫn không có gì phải

bàn thêm, phân công lao động xã hội là cơ sở của sản xuất và lu thông hàng hoá.
Lênin cho rằng: " hễ ở đâu và khi nào có phân công lao động xã hội và sản xuất hàng
hoá thì ở đó và khi ấy, có " thị trờng" ".
Về điều kiện thứ hai, cần có sự bàn luận để nhận thức và hiểu cho đúng. Nếu cho
rằng, điều kiện thứ hai cho sự ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hoá là chế độ t hữu
về t liệu sản xuất thì sẽ không giải thích đợc sự tồn tại sản xuất, lu thông hàng hoá
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và trong chủ nghĩa xã hội, mà còn dẫn đến
phủ định kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trờng trong chủ nghĩa xã hội. Bởi vì nền sản
xuất dựa trên chế độ t hữu về t liệu sản xuất hàng ngày hàng giờ đẻ ra chủ nghĩa t
bản. Vậy thì muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải xóa bỏ chế độ t hữu, thiết lập
3
Đề án kinh tế chính trị
chế độ công hữu về t liệu sản xuất, có nghĩa là trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội và trong chủ nghĩa xã hội không còn điều kiện thứ hai của sản xuất hàng hoá. Do
đó chủ nghĩa xã hội tất yếu cũng không còn kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trờng. Nh
vậy thì mâu thuẫn với thực tế khách quan: trong chủ nghĩa xã hội vẫn sẽ còn kinh tế
hàng hoá ngay cả khi nền kinh tế dựa trên chế độ công hữu về t liệu sản xuất. Còn
trong chủ nghĩa xã hội thì kinh tế hàng hoá lại có thể tồn tại cả trong điều kiện hoàn
toàn không có chế độ t hữu về t liệu sản xuất. Khi nghiên cứu nền nông nghiệp t bản
chủ nghĩa, Lênin đã viết: " Về mặt lý luận, nền sản xuất t bản chủ nghĩa có thể hoàn
toàn đi đôi với việc không có chế độ t hữu về ruộng đất, với việc quốc hữu hoá ruộng
đất..."
Vậy thì điều kiện thứ hai cho sự nảy sinh và tồn tại của sản xuất, lu thông hàng
hoá là gì?
Lênin cho rằng, sản xuất hàng hoá chính là tổ chức của nền kinh tế xã hội, trong
đó sản phẩm đều do những ngời sản xuất cá thể, riêng lẻ sản xuất ra, mỗi ngời
chuyên làm ra một thứ sản phẩm nhất định, nên muốn thoả mãn nhu cầu của xã hội
thì phải có mua bán sản phẩm, vì vậy sản phẩm trở thành hàng hoá trên thị trờng.
Khẳng định phân công lao động là điều kiện ra đời và tồn tại của nền sản xuất
hàng hoá, mới chỉ là điều kiện cần mà cha đủ. Marx đồng thời chỉ ra điều kiện đủ để

sản xuất hàng hoá ra đời, tồn tại là " những lao động t nhân độc lập và không phụ
thuộc vào nhau" của những ngời sản xuất hàng hoá. Marx viết: "Trong công xã ấn
Độ thời cổ, lao động đã có sự phân công xã hội, nhng các sản phẩm lao động không
trở thành hàng hoá. Hay là chúng ta hãy lấy một ví dụ gần gũi hơn : trong mỗi công
xởng, lao động đợc phân công một cách có hệ thống, nhng sự phân công này đợc
thực hiện không phải bằng cách các công nhân trao đổi những sản phẩm của cá nhân
họ với nhau. Chỉ có sản phẩm của những lao động t nhân độc lập và không phụ
thuộc vào nhau mới đối diện với nhau nh là những hàng hoá. Nh vậy sự tồn tại của
sản xuất hàng hoá cần có : phân công lao động xã hội và "những lao động t nhân độc
lập và không phụ thuộc vào nhau" của những ngời sản xuất hàng hoá. Mà muốn có
4
Đề án kinh tế chính trị
"những lao động t nhân độc lập và không phụ thuộc vào nhau" thì những ngời, những
doanh nghiệp sản xuất hàng hoá phải độc lập và không phụ thuộc vào nhau.
Trong nền kinh tế hàng hoá , tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá
phản ánh chất t nhân và tính chất xã hội của lao động của ngời sản xuất hàng hoá.
Trong nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trờng, việc sản xuất cái gì, sản xuất nh thế
nào, sản xuất cho ai là việc riêng của mỗi ngời, mỗi doanh nghiệp. Họ là những ngời
sản xuất độc lập. Những doanh nghiệp sản xuất hàng hoá có thể thuộc quyền sở hữu
t nhân, hay thuộc quyền sở hữu tập thể hoặc thuộc quyền sở hữu của nhà nớc..., nhng
chúng vẫn là những doanh nghiệp sản xuất hàng hoá độc lập, sản phẩm của chúng
vẫn là hàng hoá. Đối với toàn xã hội thì lao động của mỗi doanh nghiệp (dù là doanh
nghiệp thuộc quyền sở hữu nào) vẫn là lao động t nhân, và chỉ khi nào bán đợc hàng
hoá thì lao động t nhân đó mới đợc xã hội thừa nhận, mới trở thành bộ phận thực sự
của lao động xã hội. Lao động t nhân và lao động xã hội là hai mặt mâu thuẫn của
một thể thống nhất là lao động sản xuất hàng hoá. Với phân công lao động xã hội,
lao động sản xuất hàng hoá mang tính chất là lao động xã hội, là một bộ phận của
toàn bộ lao động xã hội. Sự phân công lao động xã hội tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau
giữa những ngời, những doanh nghiệp sản xuất hàng hoá độc lập, họ làm việc cho
nhau thông qua trao đổi hàng hoá. Còn với t cách là doanh nghiệp sản xuất hàng hoá

độc lập, lao động sản xuất hàng hóa của họ lại mang tính chất lao động t nhân (cá
biệt, độc lập, không phụ thuộc vào nhau). Mâu thuẫn này đợc giải quyết khi sản
phẩm đợc trao đổi dới hình thức hàng hoá.
Kinh tế hàng hoá tồn tại trong nhiều chế độ xã hội khác nhau, dựa trên nhiều chế
độ sở hữu khác nhau, chứ không chỉ dựa trên chế độ sở hữu t nhân, miễn là những
ngời, những doanh nghiệp sản xuất hàng hoá độc lập và không phụ thuộc vào nhau.
Chế độ sở hữu t nhân chỉ là một trong nhiều nhân tố làm cho những ngời, những
doanh nghiệp sản xuất hàng hoá độc lập và không phụ thuộc vào nhau, vì vậy mà
thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển, chứ không phải là điều kiện ra đời và tồn tại của
sản xuất, lu thông hàng hoá. Nh vậy có thể khẳng định rằng : điều kiện thứ hai của sự
5
Đề án kinh tế chính trị
ra đời và tồn tại kinh tế hàng hóa là sự độc lập và không phụ thuộc vào nhau giữa
những ngời, những doanh nghiệp sản xuất hàng hoá.
Cùng với quá trình phân công lao động xã hội và đa dạng hóa các hình thức sở hữu
t liệu sản xuất thì sự bùng nổ của các cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật cũng là
một nhân tố góp phần dẫn đến sự ra đời và phát triển của nền kinh tế thị trờng. Khoa
học - kĩ thuật phát triển làm cho năng suất lao động tăng lên và vì thế cũng dẫn đến
quá trình chuyên môn hoá sản xuất sâu rộng hơn, phân chia thị trờng thành các thị tr-
ờng chuyên biệt : thị trờng hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ, thị trờng các yếu tố sản
xuất. Đặc biệt là thị trờng các yếu tố sản xuất bao gồm thị trờng vốn, thị trờng sức
lao động, thị trờng kĩ thuật - công nghệ. Có thị trờng này mới có các yếu tố để sản
xuất ra hàng hoá, mới có hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ, hay mới có thị trờng đầu ra.
Số lợng và tính chất, tính đa dạng của thị trờng đầu ra do thị trờng đầu vào quy
định.Quá trình phát triển của phân công lao động và trao đổi trên phạm vi quốc tế
cũng góp phần vào quá trình hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trờng, dẫn
đến quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế.
2. Các giai đoạn phát triển của nền kinh tế thị trờng
Về phơng diện kinh tế có thể khái quát rằng, lịch sử phát triển của sản xuất và đời
sống kinh tế - xã hội của nhân loại đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế thích

ứng với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất và phân công lao động xã hội, hai
thời đại kinh tế khác hẳn nhau về chất. Đó là : thời đại kinh tế tự nhiên, tự cung - tự
cấp; và thời đại kinh tế hàng hoá, mà giai đoạn cao của nó đợc gọi là kinh tế thị tr-
ờng.
Kinh tế tự nhiên là kiểu tổ chức kinh tế -xã hội đầu tiên của nhân loại. Đó là ph-
ơng thức sinh hoạt kinh tế ở trình độ thấp ban đầu là sử dụng những tặng phẩm của tự
nhiên và sau đó đợc thực hiện thông qua những tác động trực tiếp vào tự nhiên để tạo
ra những giá trị sử dụng trong việc duy trì sự sinh tồn của con ngời. Nó đợc bó hẹp
trong mối quan hệ tuần hoàn khép kín giữa con ngời và tự nhiên. Kinh tế tự nhiên lấy
quan hệ trực tiếp giữa con ngời và tự nhiên, mà tiêu biểu là giữa lao động và đất đai
6
Đề án kinh tế chính trị
làm nền tảng. Hoạt động kinh tế đó gắn liền với xã hội sinh tồn, với kinh tế nông
nghiệp , tự cung- tự cấp. Nó đã tồn tại và thống trị trong các xã hội cộng sản nguyên
thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến , tuy không còn giữ địa vị thống trị nhng vẫn còn
tồn tại trong xã hội t bản cho đến ngày nay. Kinh tế tự nhiên, hiện vật, sinh tồn, tự
cung- tự cấp gắn liền với kém phát triển và lạc hậu.
Kinh tế hàng hoá, bắt đầu bằng kinh tế hàng hoá giản đơn, ra đời khi chế độ cộng
sản nguyên thuỷ tan rã, dựa trên hai tiền đề cơ bản là có sự phân công lao động xã
hội và có sự tách biệt về hình thức sở hữu về t liệu sản xuất và sản phẩm lao động.
Chuyển từ kinh tế tự nhiên, tự cung- tự cấp sang kinh tế hàng hoá là đánh dấu bớc
chuyển sang thời đại kinh tế của sự phát triển, thời đại văn minh của nhân loại. Trong
lịch sử phát triển của mình, vị thế của kinh tế hàng hoá cũng dần đợc đổi thay : từ
chỗ nh là kiểu tổ chức kinh tế -xã hội không phổ biến, không hợp thời trong xã hội
chiếm hữu nô lệ của những ngời thợ thủ công và nông dân tự do, đến chỗ đợc thừa
nhận trong xã hội phong kiến, và đến chủ nghĩa t bản thì kinh tế hàng hoá giản đơn
không những đợc thừa nhận mà còn phát triển lên giai đoạn cao hơn, đó là kinh tế thị
trờng.
Kinh tế thị trờng là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá, cũng đã trải qua
ba giai đoạn phát triển. Giai đoạn thứ nhất, giai đoạn chuyển từ kinh tế hàng hoá

giản đơn sang kinh tế thị trờng (còn gọi là giai đoạn kinh tế thị trờng sơ khai hay dã
man). Giai đoạn thứ hai, giai đoạn phát triển kinh tế thị trờng tự do. Đặc trng quan
trọng của giai đoạn này là sự phát triển kinh tế diễn ra theo tinh thần tự do, nhà nớc
không tham gia vào hoạt động kinh tế. Giai đoạn thứ ba, giai đoạn kinh tế thị trờng
hiện đại . Đặc trng của giai đoạn này là nhà nớc can thiệp vào kinh tế thị trờng và mở
rộng giao lu kinh tế với nớc ngoài. Sự can thiệp của nhà nớc vào nền kinh tế thị trờng
thông qua việc xây dựng các hình thức sở hữu nhà nớc, các chơng trình khuyến khích
đầu t và tiêu dùng, cùng với việc sử dụng các công cụ kinh tế nh tài chính, tín dụng,
tiền tệ ... để điều tiết nền kinh tế ở tầm vĩ mô. Sự phối hợp giữa chính phủ và thị tr-
ờng trong một nền kinh tế hỗn hợp nhằm đảm bảo sự phát triển có hiệu quả của
những nớc có mức tăng trởng kinh tế nhanh.
7
Đề án kinh tế chính trị
Mặc dù sự hình thành và phát triển của kinh tế hàng hoá (sản xuất hàng hoá nhỏ)
tự phát sẽ hằng ngày hằng giờ đẻ ra chủ nghĩa t bản (nói theo cách nói của V.I.
Lênin) và sự phát triển của kinh tế thị trờng trong lịch sử diễn ra đồng thời với sự
hình thành và phát triển của chủ nghĩa t bản, nhng tuyệt nhiên, kinh tế thị trờng
không phải là một chế độ kinh tế- xã hội. Kinh tế thị trờng là hình thức và phơng
pháp vận hành kinh tế. Các quy luật của thị trờng chi phối việc phân bổ các tài
nguyên, quy định sản xuất cái gì, sản xuất nh thế nào (bao nhiêu?), và sản xuất cho
ai. Đây là một kiểu tổ chức kinh tế hình thành và phát triển do những đòi hỏi khách
quan của sự phát triển lực lợng sản xuất. Nó là phơng thức sinh hoạt kinh tế của sự
phát triển. Sự cạnh tranh trong cơ chế thị trờng theo quy luật giá trị đòi hỏi các chủ
thể sản xuất- kinh doanh không ngừng đổi mới, ứng dụng tiến bộ khoa học- kỹ thuật,
nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, mở rộng quy mô sản xuất- kinh
doanh. Quá trình hình thành và phát triển kinh tế thị trờng là quá trình mở rộng phân
công lao động xã hội, phát triển khoa học- công nghệ mới và ứng dụng chúng vào
thực tiễn sản xuất- kinh doanh. Sự phát triển của kinh tế thị trờng gắn liền với quá
trình phát triển của nền văn minh nhân loại, của khoa học- kỹ thuật, của lực lợng sản
xuất. Nhiều học giả đã khái quát rằng: Giai đoạn kinh tế hàng hoá giản đơn gắn liền

với nền văn minh nông nghiệp và kỹ thuật thủ công; giai đoạn kinh tế thị trờng tự do
gắn liền với nền văn minh công nghiệp và kỹ thuật cơ khí; giai đoạn kinh tế thị trờng
hiện đại gắn liền với nền văn minh trí tuệ và kỹ thuật vi điện tử- tin học...
3. Cơ chế thị trờng
Kinh tế thị trờng vận động theo cơ chế thị trờng. Cơ chế thị trờng là một cơ chế mà
trong đó tổng thể các nhân tố, các quan hệ có bản vận động dới sự chi phối của quy
luật thị trờng, trong môi trờng cạnh tranh vì mục tiêu lợi nhuận. Cơ chế thị trờng là
cơ chế nảy sinh một cách tất yếu từ sự phát triển của sản xuất và lu thông hàng hoá,
qua thị trờng để tự điều chỉnh các cân đối của nền kinh tế theo yêu cầu của các quy
luật khách quan (giá trị, cung-cầu, cạnh tranh, lu thông tiền tệ...) Cơ chế thị trờng là
guồng máy vận hành của nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trờng; là phơng thức cơ
8
Đề án kinh tế chính trị
bản để phân phối và sử dụng các nguồn lực (vốn, tài nguyên, công nghệ, t liệu sản
xuất, sức lao động). Căn cứ vào thị trờng, các doanh nghiệp sẽ quyết định : sản xuất
cái gì, sản xuất nh thế nào, sản xuất cho ai. Cơ chế thị trờng đòi hỏi phát triển sản
xuất hàng hoá; mở rộng thị trờng về mọi phơng diện; tự do sản xuất, kinh doanh; tự
do thơng mại; đa dạng hóa hình thức sở hữu, hình thức phân phối. Trong đó nó có
các đặc trng: đặc trng cơ bản nhất là cơ chế hình thành giá cả một cách tự do, ngời
bán và ngời mua thông qua thị trờng để xác định giá cả; đặc trng cơ bản thứ hai là
lựa chọn tối u hoá các hoạt động kinh tế để đạt đợc lợi nhuận tối đa. Cơ chế thị trờng
chịu sự tác động rất mạnh của các quy luật kinh tế hàng hoá.
Hiện nay còn tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về cơ chế thị trờng. Chẳng hạn,
theo Paul A. Samuelson, cơ chế thị trờng là một kiểu tổ chức kinh tế trong đó cá
nhân ngời tiêu dùng và các nhà doanh nghiệp tác động lẫn nhau qua thị trờng để xác
định ba vấn đề trung tâm của tổ chức kinh tế.
Cơ chế thị trờng không phải là một sự hỗn độn, mà là một trật tự kinh tế, là bộ
máy tinh vi phối hợp một cách không có ý thức hoạt động của ngời tiêu dùng với các
nhà sản xuất thông qua hệ thống giá cả thị trờng. Không ai tạo ra nó, nó tự phát sinh
ra và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của kinh tế hàng hoá.

Lợi nhuận là động lực cơ bản của sự vận động của nền kinh tế hàng hoá. Nó quyết
định thởng hay phạt các hoạt động sản xuất- kinh doanh. Lợi nhuận hớng những ngời
sản xuất vào lĩnh vực mà ngời tiêu dùng có nhu cầu, cũng nh buộc phải sử dụng công
nghệ có hiệu quả nhất.
Thực tế khó có thể đánh giá đầy đủ những u điểm và khuyết tật của cơ chế thị tr-
ờng. Tuy nhiên có thể nêu lên những u điểm của cơ chế thị trờng nh sau:
Cơ chế thị trờng kích thích hoạt động của các chủ thể kinh tế và tạo điều kiện
thuận lợi cho sự hoạt động tự do của họ. Do đó làm cho nền kinh tế phát triển năng
động, huy động đợc các nguồn lực của xã hội vào phát triển kinh tế. Cạnh tranh buộc
những ngời sản xuất phải giảm hao phí lao động cá biệt đến mức thấp nhất có thể đợc
bằng cách áp dụng kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất, nhờ đó thúc đẩy lực lợng
9
Đề án kinh tế chính trị
sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lợng và số lợng hàng
hoá.
Sự tác động của cơ chế thị trờng đa đến sự thích ứng tự phát giữa khối lợng và cơ
cấu của sản xuất với khối lợng và cơ cấu nhu cầu của xã hội, nhờ đó có thể thoả mãn
nhu cầu tiêu dùng cá nhân và sản xuất về hàng ngàn, hàng vạn loại sản phẩm khác
nhau. Những nhiệm vụ này nếu Nhà nớc làm sẽ phải thực hiện một khối lợng công
việc khổng lồ, có khi không thực hiện đợc và đòi hỏi chi phí cao trong việc ra các
quyết định.Cơ chế thị trờng mềm dẻo hơn Nhà nớc và có khả năng thích nghi cao
hơn khi những điều kiện kinh tế thay đổi, làm thích ứng kịp thời giữa sản xuất với
nhu cầu xã hội.
Nhờ vậy cơ chế thị trờng giải quyết đợc những vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế.
Cần sản xuất loại hàng hoá gì với khối lợng bao nhiêu do ngời tiêu dùng quyết định
khi họ quyết định mua hàng hoá này mà không mua hàng hoá khác. Lợi nhuận lôi
cuốn các doanh nghiệp vào sản xuất mặt hàng có lợi nhuận cao. Do đó mà đáp ứng
đợc nhu cầu xã hội. Sản xuất bằng phơng pháp nào, bằng công nghệ gì đợc quyết
định bởi cạnh tranh giữa những ngời sản xuất hàng hoá. Cách duy nhất để các doanh
nghiệp có thể cạnh tranh đợc về giá cả và đạt đợc lợi nhuận tối đa cho mình là giảm

chi phí đến mức tối thiểu bằng cách áp dụng kỹ thuật công nghệ vào sản xuất. Hệ
thống giá cả là tín hiệu cho một phơng pháp công nghệ thích hợp. Sản xuất hàng hoá
cho ai hay là sản phẩm sản xuất ra đợc phân phối nh thế nào, một phần đợc quyết
định bởi quan hệ cung- cầu trên thị trờng các nhân tố sản xuất (đất đai, lao động,
vốn). Thu nhập của các tầng lớp dân c phụ thuộc vào số lợng và giá cả các nhân tố
sản xuất.
Lịch sử phát triển của sản xuất xã hội chứng minh rằng cơ chế thị trờng là cơ chế
điều tiết nền kinh tế hàng hoá đạt hiệu quả kinh tế cao. Song cơ chế thị trờng không
phải là hiện thân của sự hoàn hảo, mà nó vốn có những khuyết tật dới đây của cơ chế
thị trờng.
Cơ chế thị trờng chỉ thể hiện đầy đủ khi có sự kiểm soát của cạnh tranh hoàn hảo.
Một nền kinh tế đợc thúc đẩy bởi cạnh tranh hoàn hảo sẽ dẫn tới sự phân bố và sử
10
Đề án kinh tế chính trị
dụng hiệu quả nhất đầu vào của sản xuất và đầu ra, tức là nền kinh tế đứng trên đờng
giới hạn khả năng sản xuất.Nh vậy, hiệu lực của cơ chế thị trờng phụ thuộc vào mức
độ không hoàn hảo của cạnh tranh, cạnh tranh càng không hoàn hảo thì hiệu lực của
cơ chế thị trờng càng giảm.
Mục đích hoạt động của các doanh nghiệp là lợi nhuận tối đa, vì vậy họ có thể lạm
dụng tài nguyên của xã hội, gây ô nhiễm môi trờng sống của con ngời mà xã hội phải
gánh chịu, do đó hiệu quả kinh tế-xã hội không đợc bảo đảm.
Có những mục tiêu xã hội mà dù cơ chế thị trờng có hoạt động tốt cũng không thể
đạt đợc. Sự tác động của cơ chế thị trờng đa đến sự phân hoá giàu nghèo, tác động
xấu đến đạo đức, tình ngời. Một nhà nghiên cứu phơng Tây nhận xét về xã hội của
các nớc phát triển cao nh sau: Trong các nền văn minh đợc coi là phát triển của
chúng ta, tồn tại một tình trạng kém phát triển thảm hại về văn hoá, trí não, đạo đức
và tình ngời.
Một nền kinh tế do cơ chế thị trờng điều tiết khó tránh khỏi những thăng trầm,
khủng hoảng kinh tế có tính chu kỳ. Ngời ta nhận thấy rằng, một nền kinh tế hiện đại
đứng trớc một vấn đề nan giải của kinh tế vĩ mô không một nớc nào trong thời gian

dài lại có đợc lạm phát thất nghiệp thấp và công ăn việc làm đầy đủ. Do đó, ngày nay
trong thực tế không tồn tại cơ chế thị trờng thuần tuý, mà thờng có sự can thiệp của
Nhà nớc, khi đó nền kinh tế, nh ngời ta gọi là nền kinh tế hỗn hợp.
4. Vai trò kinh tế của Nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng.
Nh đã nói ở trên, cơ chế thị trờng là cơ chế tốt nhất điều tiết nền kinh tế thị hàng
hoá một cách có hiệu quả, tuy nhiên cơ chế thị trờng có một loạt những khuyết tật.
Vì vậy, ở tất cả các nớc mà nền kinh tế do cơ chế thị trờng điều tiết đều có sự can
thiệp của nhà nớc vào kinh tế nhằm sửa chữa những thất bại của thị trờng, tuy
nhiên, với mức độ khác nhau nhằm đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định, hiệu
quả và đạt đợc sự công bằng xã hội.
Vì vậy, chúng ta không chỉ cần biết cơ chế thị trờng hoạt động nh thế nào, mà còn
cần biết Nhà nớc tác động đến hoạt động của nền kinh tế nh thế nào?
11
Đề án kinh tế chính trị
Vai trò của Nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng rất quan trọng. Vai trò đó đợc thực
hiện qua các chức năng kinh tế của nó. Có thể nêu lên các chức năng kinh tế của Nhà
nớc trong nền kinh tế thị trờng nh dới đây :
Một là, đảm bảo sự ổn định chính trị, xã hội và thiết lập khuôn khổ luật pháp để
tạo ra những điều kiện cần thiết cho hoạt động kinh tế. Về nhiều mặt, chức năng này
vợt ra ngoài lĩnh vực kinh tế đơn thuần. Nhà nớc tạo ra hành lang luật pháp cho hoạt
động kinh tế bằng cách đặt ra những điều luật cơ bản về quyền sở hữu tài sản và sự
hoạt động của thị trờng, đặt ra những quy định chi tiết cho hoạt động của các doanh
nghiệp. Khuôn khổ luật pháp mà Nhà nớc thiết lập có tác dụng sâu sắc tới các hành
vi kinh tế của con ngời và cả bản thân Chính phủ cũng phải tuân theo.
Hai là, điều tiết kinh tế để đảm bảo cho nền kinh tế thị trờng phát triển ổn định.
Nền kinh tế thị trờng khó tránh khỏi bị chấn động bởi các cuộc khủng hoảng kinh tế,
đều phải trải qua các chu kỳ kinh doanh, tức là các dao động lên xuống của GNP
hoặc GDP, kèm theo là các dao động lên xuống về mức độ thất nghiệp và lạm phát.
Nhà nớc cần cố gắng làm dịu những dao động lên xuống của các chu kỳ kinh
doanh thông qua chơng trình hoá kinh tế, chính sách tài chính và chính sách tiền tệ.

Chẳng hạn, chính phủ có thể giảm thuế trong cơn suy thoái với hy vọng tăng chi tiêu
của dân chúng, nhờ đó sẽ nâng cao GDP. Ngân hàng Trung ơng áp dụng các biện
pháp thắt chặt tiền tệ nhằm giảm lạm phát. Nh vậy, thông qua chính sách tài chính
và chính sách tiền tệ Nhà nớc cố gắng ổn định kinh tế, duy trì nền kinh tế càng sát
càng tốt đối với tình trạng đầy đủ việc làm và lạm phát thấp.Hiển nhiên là Nhà nớc
không thể kiểm soát nền kinh tế một cách hoàn hảo, nếu không thì chúng ta không
phải chứng kiến những suy thoái và lạm phát trầm trọng.
Ba là, đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động hiệu quả. Một trong những nguyên nhân
dẫn đến tính kém hiệu quả của hoạt động thị trờng là những tác động, mà các nhà
kinh tế gọi là tác động bên ngoài. Các doanh nghiệp vì lợi ích tối đa của mình có thể
lạm dụng tài nguyên xã hội, gây ô nhiễm môi trờng sống của con ngời mà xã hội
phải gánh chịu. Sự can thiệp của Chính phủ nhằm ngăn chặn những tác động bên
ngoài để nâng cao hiệu quả.
12
Đề án kinh tế chính trị
Một nguyên nhân khác dẫn đến tính kém hiệu quả của hoạt động thị trờng là sự
xuất hiện của độc quyền. Các tổ chức độc quyền có thể không tăng thậm chí giảm số
lợng hàng hoá mà chỉ tăng giá để tăng lợi nhuận. Một nền kinh tế đợc thúc đẩy bởi
cạnh tranh hoàn hảo sẽ đạt hiệu quả cao, nhng cạnh tranh làm hạn chế khả năng đạt
lợi nhuận độc quyền nên các doanh nghiệp thờng cố gắng giảm bớt cạnh tranh. Vì
vậy, Nhà nớc có một nhiệm vụ rất cơ bản bảo vệ cạnh tranh và chống độc quyền để
nâng cao tính hiệu quả của hoạt động thị trờng.
Bốn là, đồng thời để đảm bảo tính hiệu quả thì Nhà nớc phải sản xuất ra hàng hoá
công cộng, đảm bảo xây dựng kết cấu hạ tầng cho nền kinh tế, thực hiện công bằng
xã hội. Sự hoạt động của cơ chế thị trờng có thể làm cho nền kinh tế đạt hiệu quả
cao. Nhng cơ chế thị trờng hoạt động phi nhân tính, nó không tính đến các khía cạnh
nhân đạo và xã hội, không mang lại những kết quả mà xã hội cố gắng vơn tới. Việc
phân phối và sử dụng tối u các nguồn lực không tự động mang lại một sự phân phối
thu nhập tối u.
Sự can thiệp của Nhà nớc nhằm phân phối thu nhập công bằng, bảo vệ các thành

viên của xã hội chống lại những khó khăn về kinh tế, nâng cao mức sống của các
nhóm dân c có thu nhập thấp nhất. Điều đó đợc thực hiện thông qua chính sách phân
phối, bảo hiểm xã hội và phúc lợi xã hội.
II. Đặc trng của nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở Việt Nam.
1. Sự cần thiết khách quan phải chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang
cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Mô
hình kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta.
Trớc hết cần nghiên cứu những đặc trng cơ bản của cơ chế kế hoạch hoá tập trung-
cơ chế quản lý kinh tế đã tồn tại ở nớc ta trớc thời kỳ đổi mới- và hậu quả của nó.Cơ
chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp có những đặc trng chủ yếu sau đây:
13
Đề án kinh tế chính trị
a) Nhà nớc quản lý nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính là chủ yếu, điều đó thể
hiện ở sự chi tiết hoá các nhiệm vụ do trung ơng giao bằng một hệ thống chỉ tiêu
pháp lệnh từ một trung tâm.
b) Các cơ quan hành chính- kinh tế can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất kinh
doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở, nhng lại không chịu trách nhiệm gì về mặt vật
chất đối với các quyết định của mình.
c) Bỏ qua quan hệ hàng hoá- tiền tệ và hiệu quả kinh tế, quản lý nền kinh tế và kế
hoạch hoá bằng chế độ cấp phát và giao nộp sản phẩm, quan hệ hiện vật là chủ yếu,
do hạch toán kinh tế chỉ là hình thức: bao cấp qua giá, bao cấp qua tiền lơng hiện vật
(chế độ tem phiếu) và bao cấp qua cấp phát vốn của ngân sách, mà không ràng buộc
vật chất đối với ngời đợc cấp phát vốn.
d) Từ những đặc điểm trên đã dẫn đến bộ máy quản lý rất cồng kềnh, có nhiều cấp
trung gian và kém năng động, từ đó sinh ra một đội ngũ cán bộ kém năng lực quản
lý, không thạo nghiệp vụ kinh doanh, nhng phong cách thì quan liêu, cửa quyền.
Cơ chế kế hoạch hoá tập trung đã tích góp những xu hớng tiêu cực, làm nảy sinh
sự trì trệ, hình thành cơ chế kìm hãm sự phát triển kinh tế- xã hội. Vấn đề đặt ra là
phải đổi mới sâu sắc cơ chế đó. Phơng hớng cơ bản của sự đổi mới cơ chế quản lý
kinh tế ở nớc ta đã đợc Đại hội VI của Đảng xác định và tiếp tục đợc Đại hội VII của

Đảng khẳng định Tiếp tục xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, hình thành
đồng bộ và vận hành có hiệu quả cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc.
Trớc năm 1986 ở Việt Nam cũng nh các nớc CNXH khác đã có nhận thức không
đúng về kinh tế thị trờng và CNXH vì cho rằng chúng đối lập nhau không thể cùng
tồn tại, cùng phát triển đợc. Kinh tế thị trờng là sản phẩm của CNTB, vì vậy CNXH
không thể xây dựng trên nền tảng của kinh tế thị trờng mà phải xây dựng trên cơ sở
của nền kinh tế không thị trờng. Do những quan niệm trên nên trong một thời kỳ dài,
kinh tế thị trờng không thể tồn tại trong ý thức hệ cũng nh trong thực tế ở Việt
Nam.Trong thời kỳ này mọi hoạt động kinh tế không diễn ra trên thị trờng, quan hệ
hàng hoá - tiền tệ bị xem nhẹ, các quy luật của kinh tế thị trờng không đợc nhận thức
vận dụng, các đòn bẩy kinh tế nh lợi nhuận, tiền lơng, giá cả, thuế... bị xem nhẹ, thay
14
Đề án kinh tế chính trị
vào đó là quan hệ cấp phát hiện vật, sản xuất theo kế hoạch nhà nớc; các chỉ tiêu
kinh tế, các quyết định kinh tế đợc soạn thảo từ nhà nớc, làm cho thị trờng bị biến
dạng đã dẫn đến làm triệt tiêu động lực phát triển kinh tế, đã dẫn đến khủng hoảng
kinh tế.
Chính thực tiễn đó buộc Việt Nam phải có nhận thức mới về nền kinh tế XHCN.
Đó là nền kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN, có sự quản lý của Nhà nớc. Vấn
đề đặt ra là vì sao thừa nhận kinh tế thị trờng có thể tồn tại và phát triển trong hình
thái kinh tế- xã hội xã hội chủ nghĩa. Đại hội VI của ĐCSVN và các văn kiện tiếp
sau của các đại hội VII, VIII cũng nh các bài viết của các nhà lý luận đã xác định
kinh tế thị trờng và định hớng XHCN không đối lập nhau trong quá trình phát triển
kinh tế theo định hớng XHCN là vì :
- Kinh tế thị trờng là sản phẩm chung của nền kinh tế thế giới, của sự phát triển
lâu dài của nền kinh tế thế giới, phản ánh các nấc thang tiến hoá trong giai đoạn cụ
thể của nền kinh tế thế giới.
Nền kinh tế thế giới bắt đầu từ nền kinh tế tự nhiên, sống nhờ vào sản phẩm mà
thiên nhiên ban phát, vai trò của con ngời đối với nền kinh tế còn hết sức nhỏ bé, con
ngời sống lệ thuộc thiên nhiên. Song thông qua lao động con ngời đã sáng tạo ra các

công cụ lao động và các hình thức lao động làm cho của cải sản xuất ra ngày càng
nhiều không chỉ cung cấp cho ngời sản xuất mà còn d thừa cung ứng cho xã hội,
quan hệ hàng- tiền tất yếu xuất hiện, cùng với sự xuất hiện của một loạt các thị trờng,
sản sinh ra nền sản xuất hàng hoá mà đỉnh cao là của nó là nền kinh tế thị trờng,nếu
nền kinh tế thị trờng đó đi với chế độ t nhân t bản chủ nghĩa thì hình thành nền kinh
tế thị trờng TBCN, nếu đi với nền kinh tế ấy là chế độ công hữu, cũng với vai trò
quản lý của nhà nớc, đặt dới sự lãnh đạo của ĐCS thì nền kinh tế thị trờng đó theo h-
ớng XHCN.
Nh vậy, kinh tế thị trờng, nảy sinh tất yếu khách quan của quá trình vận động của
nền kinh tế thế giới, nó sẽ biến đổi trong quá trình đó, nó không phải là sản phẩm
của một phơng thức sản xuất mà sẽ tồn tại trong nhiều phơng thức sản xuất.
15
Đề án kinh tế chính trị
Luận điểm đó cho thấy, chủ nghĩa xã hội mà Việt Nam định xây dựng hoàn toàn
có thể dung hợp với kinh tế hàng hoá mà đỉnh cao là kinh tế thị trờng, có nh vậy mới
có điều kiện chuẩn bị các tiền đề kinh tế, xã hội cho sự vận động ở trình độ cao hơn.
Những ý tởng đối lập với luận điểm này sẽ là lực cản cho quá trình phát triển kinh tế
Việt Nam hiện tại và tơng lai.
- Sự vận động của nền kinh tế thế giới từ trớc đến nay cho thấy, quy luật quan hệ
sản xuất phù hợp với trình độ của lực lợng sản xuất, đã chi phối sự vận động đó, con
ngời chỉ nhận thức chính xác mức độ tác động của quy luật qua các thời kỳ và khéo
léo vận dụng chúng cho phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội cụ thể nhằm kích thích
nền kinh tế tăng trởng nhanh, bền vững. Điều này có nghĩa là kinh tế hàng hoá, kinh
tế thị trờng là sản phẩm của sự tác động biện chứng giữa quy luật quan hệ sản xuất
và lực lợng sản xuất, vì vậy không thể phủ định nó khi mà các điều kiện đảm bảo cho
nó phát triển vẫn còn tồn tại, nghĩa là kinh tế thị trờng và định hớng xã hội chủ nghĩa
không đối lập nhau,mà cùng tồn tại với nhau trong thời kỳ dài của sự phát triển nền
kinh tế thế giới, song tất yếu, giữa chúng sẽ có mâu thuẫn với nhau, đây chính là
động lực của sự phát triển.
Sự phù hợp của kinh tế thị trờng và định hớng xã hội chủ nghĩa thể hiện ở chỗ kinh

tế hàng hoá, kinh tế thị trờng có nhiều mặt tích cực đối với sự phát triển nền kinh tế
nói chung, trong đó có nền kinh tế XHCN. Còn nền kinh tế XHCN cũng có mặt tích
cực đối với sự phát triển của loài ngời. Nền kinh tế XHCN kế thừa mặt tích cực của
nền kinh tế hàng hoá để làm cho nền kinh tế phát triển nhanh hơn, nh vậy chúng bổ
sung cho nhau. Nền kinh tế Việt Nam hiện tại và tơng lai cần có sự hỗ trợ các mặt
tích cực đó của kinh tế thị trờng.
Theo nấc thang tiến hoá của lịch sử, phát triển các phơng thức sản xuất, bớc đi từ
kinh tế tự nhiên lên kinh tế hàng hoá là kết quả của sự phát triển LLSX đạt đến một
trình độ nhất định, đạt đến trình độ cao của kinh tế thị trờng nh hiện nay là phản ánh
trình độ phát triển cao của LLSX. Đến lợt nó, kinh tế thị trờng phát triển cao cũng có
những tác động thúc đẩy LLSX vốn đã phát triển cao lại càng cao thêm.
16
Đề án kinh tế chính trị
Với những t duy mới, chúng ta có thể khẳng định rằng : Kinh tế thị trờng không
phải là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa t bản. Nó không đối lập mà là sản phẩm
chung của nền văn minh nhân loại. Xây dựng và phát triển kinh tế thị trờng là một
trong những tính quy luật phổ biến của sự phát triển lực lợng sản xuất xã hội.
Do điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội khác nhau nên mỗi nớc có một mô hình
kinh tế thị trờng riêng. Chẳng hạn, ở Cộng hoà liên bang Đức có mô hình kinh tế thị
trờng- xã hội; ở Trung Quốc có mô hình kinh tế thị trờng mang màu sắc Trung
Quốc....
Việt Nam từ giữa những năm 80 của thế kỷ XX đã tiến hành công cuộc đổi mới và
nền kinh tế của đất nớc đợc xây dựng theo mô hình kinh tế thị trờng định hớng xã
hội chủ nghĩa
- Sự hình thành và phát triển KTTT định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta đã trải
qua quá trình nghiên cứu, thử nghiệm và tổng kết thực tiễn. Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VI (1986) đánh dấu công cuộc đổi mới nền kinh tế đợc khởi xớng, nhng phải
trải qua 5 năm thực hiện, đến Đại hội lần thứ VII (1991), mới đa ra phơng hớng :
Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ khoá VII bổ sung thêm cơ chế vận hành nhằm cụ

thể hoá thêm một bớc phơng hớng nói trên là : Xây dựng đồng bộ cơ chế thị trờng
có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng XHCN. Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996)
lại cụ thể hoá thêm một bớc nữa là : Xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần, vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng
XHCN; ... phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng
có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN. Trong dự thảo Báo cáo chính trị
trình Đại hội IX có viết về con đờng đi lên CNXH ở nớc ta. Đây là thành quả tổng
kết lý luận qua nhiều năm thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng. Một trong bốn nội
dung về con đờng này, dự thảo chỉ rõ : Đảng và Nhà nớc ta chủ trơng thực hiện nhất
quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận
động theo cơ chế thị trờng, có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN, nói
gọn lại là nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN.
17

×