Tải bản đầy đủ (.doc) (15 trang)

Phương thức bảo vệ quyền sở hữu – Một số vẫn đề lí luận và thực tiễn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (79.19 KB, 15 trang )

Mục lục Trang
I/ Mở đầu…………………………………………………………………1
II/ Nội dung………………………………………………………………2
1/ Khái niệm về ly hôn……………………………………………….…..2
2/ Pháp luật về quyền của phụ nữ trong việc ly hôn……………………..3
3/ Những điểm tích cực và tiêu cực của việc ly hôn tác động đến người phụ
nữ…………………………………………………………………………5
4/ Vấn đề bảo vệ quyền của người phụ nữ trong việc ly hôn……………6
5/ Ví dụ thực tế một vụ ly hôn…………………………………………..11
III/ Kết luận……………………………………………………………..14
1
I/ Mở đầu
Gia đình chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội, là
tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng
hình thành và giáo dục nhân cách, chuẩn bị hành trang cho mỗi cá nhân con
người bước vào cuộc sống, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
Quốc. Ở mỗi con người đều tồn tại mối quan hệ rằng buộc về hôn nhân và
gia đình. Khởi nguồn để hình thành nên một gia đình thực sự là việc xác lập
mối quan hệ hôn nhân giữa hai người nam và nữ và được gọi là kết hôn. Kết
hôn chính là sự thừa nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về quan hệ
vợ chồng của người khác giới, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa họ với
nhau.
Trong quan hệ hôn nhân và gia đình thì không chỉ có sự kiện kết hôn
mà còn có cả ly hôn. Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công
nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng.
Theo quan điểm của chủ nghĩa, ly hôn là một mặt của quan hệ hôn nhân, nó
là mặt trái, mặt bất bình thường nhưng là mặt không thể thiếu của quan hệ
hôn nhân và gia đình.
Ly hôn là một hiện tượng xã hội phức tạp đã nảy sinh từ rất sớm trong
xã hội có giai cấp. Trong những năm gần đây, tình trạng ly hôn ở nước ta và
các nước nước trên thế giới gia tăng đáng kể, với những nguyên nhân, lý do


ly hôn cũng rất đa dạng và phức tạp. Vấn đề giải quyết hậu quả của ly hôn
cũng rất phức tạp và còn nhiều vướng mắc, hạn chế. Việc ly hôn làm ảnh
hưởng trực tiếp đến quyền lợi, hạnh phúc của vợ chồng, đến lợi ích của gia
đình và xã hội. Trong giới hạn đề bài, em xin đi vào tìm hiểu “vấn đề bảo vệ
quyền của phụ nữ trong việc ly hôn”.
II/ Nội dung
1/ Khái niệm về ly hôn
2
Theo khoản 8 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 “Ly hôn là
chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu
cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng”. Như vậy, khi có yêu cầu của
vợ hoặc chồng hoặc của cả hai vợ chồng thì Tòa án công nhân hoặc quyết
định cho chấm dứt hôn nhân. Ngoài vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng thì
không ai có quyền yêu cầu Tòa án công nhân hoặc quyết định cho chấm dứt
hôn nhân, đây là quyền gắn liền với nhân thân của họ.
2/ Pháp luật về quyền của phụ nữ trong việc ly hôn
Từ xưa đến này, ít nhiều, quyền của người phụ nữ trong việc việc ly
hôn cũng được bảo vệ.
a/ Bộ Luật Hồng Đức quy định
Phụ nữ có quyền được xin ly hôn: Theo quy định của Bộ luật Hồng
Đức (BLHĐ), người vợ được xin ly hôn trong trường hợp người chồng
không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình như người chồng không quan tâm,
bỏ bê vợ trong một thời gian dài; hoặc người chồng vượt qúa quyền của
mình, vô phép đối với nhạc phụ, nhạc mẫu thì không những là bất hiếu mà
còn bất nghĩa đối với vợ, người vợ có quyền xin ly hôn: “Nếu con rể lấy
chuyện phi lý mà mắng nhiếc cha, mẹ vợ, đem việc thưa quan sẽ cho ly
dị…” (Điều 333 – BLHĐ).
Trong một số trường hợp cụ thể, quyền lợi của người phụ nữ cũng
được ưu tiên bảo vệ như: khi đã đính hôn nhưng người con trai chẳng may bị
ác tật, phạm tội hay phá sản thì người con gái vẫn có quyền khước từ trả lại

đồ sính lễ, người con trai không có quyền đòi lại của.
Người phụ nữ, người vợ còn có quyền được hưởng tài sản sau khi ly
hôn, đó là các trường hợp: Ly hôn không do lỗi của người vợ và hai vợ
chồng không có con thì vợ, chồng mỗi người có quyền sở hữu số tài sản
3
ruộng đất riêng của mình có trước thời kỳ hôn nhân và và 1/2 số tài sản
ruộng đất do hai vợ, chồng tạo nên trong thời kỳ hôn nhân. Khi người chồng
chết, người vợ được xếp vào hàng thừa kế thứ nhất và có quyền giữ nguyên
quyền sở hữu cá nhân đối với tài sản riêng của mình và 1/2 số tài sản do vợ,
chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân. (Quyền được sở hữu tài sản riêng,
quyền đồng sở hữu đối với tài sản chung của hai vợ chồng).
b/ Theo quy định hiện nay, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 trên
cơ sở kế thừa và phát triển Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định rất
rõ quyền bình đẳng nam nữ, bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em. Ngay tại
Chương 1 Luật hôn nhân và gia đình “Những vấn đề chung” quy định các
nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình . Hầu hết các nguyên tắc
này đều ghi nhận quyền của người phụ nữ với tư cách là thành viên trong gia
đình. Đó là:
- Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình
đẳng;
- Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số kế hoạch hóa
gia đình;
- Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các
con…”
- Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ, trẻ em,
giúp
đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ.
Có thể thấy rằng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã có sự phát
triển hơn so với Luật hôn nhân và gia đình năm 1986. Các nguyên tắc lần
đầu tiên được quy định rõ ràng, cụ thể trong một điều luật, thể hiện rõ nét

quyền của phụ nữ trong các quan hệ hôn nhân và gia đình. Trong các quy
4
định về các chế định cụ thể, quyền của người phụ nữ được quy định khá chi
tiết.
3/ Những điểm tích cực và tiêu cực của việc ly hôn tác động đến
người phụ nữ
a/ Điểm tích cực
Ly hôn là giải pháp để giải quyết mâu thuẫn giữa vợ và chồng, khi mà
cả hai vợ chồng đều không tìm được hướng giải quyết cho mâu thuẫn của
mình. Trong quan hệ hôn nhân cả vợ và chồng đều hướng tới xây dựng một
cuộc sống ấm no hạnh phúc, vợ chồng thương yêu, giúp đỡ nhau cùng nhau
xây dựng tổ ấm gia đình. Vì thế, khi mà giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn,
cuộc sống của gia đình luôn căng thẳng, mục đích của hôn nhân không đạt
được thì ly hôn là một giải pháp tối ưu, giải thoát cho nhau khỏi sự giàng
buộc về quyền và nghĩa vụ đối với nhau, tạo điều kiện cho vợ hoặc chồng có
thể tìm cho minh cuộc sống tốt đẹp hơn, tránh được những sung đột, bạo lực
trong gia đình, mâu thuẫn bế tắc trong cuộc sống. Đó chính là nền tảng và là
cơ sở quan trọng để xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, góp phần vào việc
ổn định xã hội, tạo điều kiện để ổn định và phát triển kinh tế gia đình cũng
như việc phát triển kinh tế xã hội, nhằm nân cao đời sống vật chất tinh thần
cho nhân dân.
Hơn nữa, khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn thường luôn đi kèm theo
những hành vi chửi bới, lăng nhục, thậm chí còn hành hạ nhau, đó là những
hành vi vi phạm quyền con người, vi pham những điều cấm của pháp luật
mà hậu quả chủ yếu của nó là do người phụ nữ phải gánh chịu. Để có thể
khắc phục được những hậu quả đó thì ly hôn là một giải pháp, nhằm tạo điều
kiện cho người phụ nữ có một cuộc sống mới.
b/ Điểm tiêu cực
5
Ngoài những mặt tích cực mà việc ly hôn mang lại thì ly hôn cũng cố

những măt tiêu cực của nó, đó là quan hệ vợ chồng chấm dứt, mặc dù là
quan hệ giữa cha mẹ và con vẫn tồn tại, như khi cha mẹ ly hôn nó tác động
rất xấu đên tâm lí của những đứa trẻ. Con người, đặc biệt là trẻ em rất càn
cho mình có một mái ấm gia đình, có điều kiện học hành…, mà ở đó các
thành viên thương yêu đùm bọc lẫn nhau, thông thường khi ly hôn những
nguời con không có nhiều sự lựa chọn cho cuộc sống sau này.
Mặt khác khi ly hôn các quan hệ về tài sản không phải mọi trường
hợp đều phát sinh, tuy nhiên khi phát sinh mà giữa các bên không thông nhất
được cách giải quyết mà phải nhờ đến sự can thiệp của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền thì thương rất phức tạp, rất nhiều trường hợp nó ảnh hưởng
quyền và lợi ích của người khác. Những tác động này gián tiếp hoặc trực
tiếp có tác động đến đời sống gia đình cũng như đời sống riêng của người
phụ nữ trong xã hội , từ đó phát sinh các tệ nạn xã hội.
4/ Vấn đề bảo vệ quyền của người phụ nữ trong việc ly hôn
Trong hệ thống các ngành luật của nước ta hiện nay, ngành luật gần
gũi, bảo vệ quyền lợi một cách cụ thể, xác đáng cho người phụ nữ cũng như
sự bình đẳng giữa vợ và chồng là Luật hôn nhân và gia đình. Hệ thống pháp
Luật hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta từ cách mạng tháng tám cho đến
nay đã được xây dựng theo nguyên tắc “ nam nữ bình đẳng” với nhau về mọi
phương diện, không bên nào được áp đặt, phụ thuộc bên nào. Điều 9 Hiến
pháp 1946 của Nhà nước ta đã tuyên bố người đàn bà ngang quyền với
người đàn ông; Sắc lệnh số 97-SL ngày 22/5/1950 “ về sửa đổi một số qui lệ
và chế định trong dân luật” đã qui định “ người đàn bà lấy chồng có toàn
năng lực về mặt hộ”( Điều 5); người vợ có quyền thực hiện mọi hành vi dân
sự không cần phải được chồng cho phép như trước nữa. Nguyên tắc nam nữ,
6

×