Tải bản đầy đủ (.doc) (128 trang)

Giải pháp quản lý thực hiện chương trình giáo dục mầm non ở các trường mầm non quận tân bình thành phố hồ chí minh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (858.04 KB, 128 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
___________________

ĐÀO THỤY XUÂN THẢO

GIẢI PHÁP QUẢN LÝ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH
GIÁO DỤC MẦM NON Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON
QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC QUẢN LÝ GIÁO DỤC

NGHỆ AN, 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
___________________

ĐÀO THỤY XUÂN THẢO

GIẢI PHÁP QUẢN LÝ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH
GIÁO DỤC MẦM NON Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON
QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN NHƯ AN


NGHỆ AN, 2014


LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tơi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến: Phòng
Đào tạo Sau Đại học Trường đại học Vinh, Hội đồng đào tạo trình độ thạc sĩ
chuyên ngành Quản lý giáo dục, các thầy giáo, cô giáo đã trực tiếp giảng dạy
và giúp đỡ tơi trong suốt q trình học tập và làm luận văn.
Đặc biệt, tơi xin bày tỏ lịng biết ơn chân thành, sâu sắc đến Tiến sĩ
Nguyễn Như An người đã tận tình, trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tơi hồn
thành luận văn này.
Đồng thời tơi xin chân thành cảm ơn!
Lãnh đạo Sở, phòng Giáo dục mầm non Sở giáo dục và đào tạo thành
phố Hồ Chí Minh; lãnh đạo Phòng, tổ Giáo dục mầm non Phòng giáo dục và
đào tạo quận Tân Bình; tập thể cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên các
trường mầm non quậnTân Bình, thành phố Hồ Chí Minh; những người thân
và gia đình đã tạo mọi điều kiện cho tác giả học tập, nghiên cứu để hoàn
thành đề tài của luận văn.
Qua thời gian học tập và nghiên cứu khoa học, bản thân đã tích lũy
thêm cho mình nhiều kiến thức bổ ích phục vụ cho công tác quản lý cũng như
công tác chun mơn để góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng của chương
trình giáo dục mầm non.
Những ngày tháng học tập, sinh hoạt, nghiên cứu cùng tập thể lớp cao
học khóa 20 sẽ là những dấu ấn khó phai trong chặng đường nghề nghiệp của tôi.
Dù đã đã nỗ lực cố gắng để hồn tất, song luận văn sẽ khơng tránh khỏi
những hạn chế thiếu sót. Kính mong nhận được sự góp ý của q thầy, q cơ
và các bạn đồng nghiệp.
Trân trọng cảm ơn.
TP.Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2014
Tác giả

Đào Thụy Xuân Thảo
MỤC LỤC


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT..................................................................................................... 3
DANH MỤC BẢN ĐỒ VÀ BẢNG............................................................................................ 3
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT..................................................................................................... 5
MỞ ĐẦU............................................................................................................................. 1
CHHƯƠNG


1

SỞ



LUẬN

QUẢN



VIỆC

THỰC

HIỆN

CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC MẦM NON..............................................................................6

CHƯƠNG
THỰC


2
TRẠNG

CÁC

QUẢN

TRƯỜNG



CHƯƠNG

MẦM

NON

TRÌNH
QUẬN

GIÁO
TÂN

DỤC
BÌNH


THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH................................................................................................ 35
Kết luận chương 2............................................................................................................ 78
CHƯƠNG
CÁC
CHƯƠNG

3
GIẢI
TRÌNH

PHÁP
GIÁO

QUẢN
DỤC


MẤM

VIỆC
NON

THỰC


CÁC

HIỆN
TRƯỜNG


MẦM NON QUẬN TÂN BÌNH............................................................................................. 79
3.1. Nguyên tắc xây dựng giải pháp..................................................................................79
Hệ thống biện pháp phải đồng bộ, cân đối, đồng thời phải xác định được yếu tố trọng
tâm, thể hiện được sự ưu tiên hợp lý. Mỗi giải pháp tổ chức thực hiện có tác động với các
mức độ khác nhau, khơng có một giải pháp nào hoàn thiện. Xây dựng các giải pháp dựa
trên nguyên tắc: Kết hợp các giải pháp để tạo một hệ thống giải pháp hoàn chỉnh. Việc kết
hợp, vận dụng các giải pháp làm tăng hiệu quả, phát huy được tính ưu việt, khắc phục hạn
chế vốn có của mỗi giải pháp. Chính vì vậy, các giải pháp quản lý thực hiện chương trình
giáo dục mầm non nhằm góp phần nâng cao chất lượng thực hiện chương trình giáo dục
phải đảm bảo tính hệ thống.............................................................................................. 79
1. Kết luận........................................................................................................................ 97
2. Kiến nghị....................................................................................................................... 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................. 103


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
GV

Giáo viên

CTGD

Chương trình giáo dục

QLGD

Quản lý giáo dục

GDĐT


Gíao dục đào tạo

GDMN

Giáo dục mầm non

CBQL

Cán bộ quản lý

BGH

Ban giám hiệu

CNTT

Công nghệ thông tin

BDGD

Bồi dưỡng giáo dục

DANH MỤC BẢN ĐỒ VÀ BẢNG
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT..................................................................................................... 3
DANH MỤC BẢN ĐỒ VÀ BẢNG............................................................................................ 3


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT..................................................................................................... 5
MỞ ĐẦU............................................................................................................................. 1
CHHƯƠNG



1

SỞ



LUẬN

QUẢN



VIỆC

THỰC

HIỆN

CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC MẦM NON..............................................................................6
CHƯƠNG
THỰC


2
TRẠNG

CÁC


QUẢN

TRƯỜNG



CHƯƠNG

MẦM

NON

TRÌNH
QUẬN

GIÁO
TÂN

DỤC
BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH................................................................................................ 35
Kết luận chương 2............................................................................................................ 78
CHƯƠNG
CÁC
CHƯƠNG

3
GIẢI
TRÌNH


PHÁP
GIÁO

QUẢN
DỤC


MẤM

VIỆC
NON

THỰC


CÁC

HIỆN
TRƯỜNG

MẦM NON QUẬN TÂN BÌNH............................................................................................. 79
3.1. Nguyên tắc xây dựng giải pháp..................................................................................79
Hệ thống biện pháp phải đồng bộ, cân đối, đồng thời phải xác định được yếu tố trọng
tâm, thể hiện được sự ưu tiên hợp lý. Mỗi giải pháp tổ chức thực hiện có tác động với các
mức độ khác nhau, khơng có một giải pháp nào hồn thiện. Xây dựng các giải pháp dựa
trên nguyên tắc: Kết hợp các giải pháp để tạo một hệ thống giải pháp hoàn chỉnh. Việc kết
hợp, vận dụng các giải pháp làm tăng hiệu quả, phát huy được tính ưu việt, khắc phục hạn
chế vốn có của mỗi giải pháp. Chính vì vậy, các giải pháp quản lý thực hiện chương trình
giáo dục mầm non nhằm góp phần nâng cao chất lượng thực hiện chương trình giáo dục

phải đảm bảo tính hệ thống.............................................................................................. 79
1. Kết luận........................................................................................................................ 97
2. Kiến nghị....................................................................................................................... 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................. 103


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
GV

Giáo viên

CTGD

Chương trình giáo dục

QLGD

Quản lý giáo dục

GDĐT

Gíao dục đào tạo

GDMN

Giáo dục mầm non

CBQL

Cán bộ quản lý


BGH

Ban giám hiệu

CNTT

Công nghệ thông tin

BDGD

Bồi dưỡng giáo dục


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
"Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai". Đầu tư cho trẻ em tức là đầu tư
cho tương lai của nước nhà. Chính vì vậy, mục tiêu của giáo dục mầm non là
giúp trẻ em phát triển tồn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ; hình
thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp 1,
xây dựng thế hệ mới vừa hồng vừa chuyên cho đất nước.
Muốn thực hiện được mục tiêu đó, cần phải có một chương trình giáo
dục phù hợp. Đồng thời đẩy mạnh việc thực hiện tốt chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán
bộ quản lý giáo dục có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ giảng dạy, nghiên
cứu khoa học và quản lý. Phát triển nhanh và bền vững về giáo dục là góp
phần đưa con người vào vị trí trung tâm của tiến trình phát triển kinh tế - xã
hội ở nước ta, giáo dục tạo cơ hội giúp cho mọi người phát huy được tài năng,

trí tuệ, sở trường, năng lực của mình, tham gia vào quá trình phát triển và thụ
hưởng thành quả của quá trình đổi mới tồn diện nước ta mà Đảng đang thực
hiện. Sự thay đổi của ngành giáo dục trước hết là phải tăng cường quản lý
giáo dục (QLGD) nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển toàn diện
ngành giáo dục trong giai đoạn hiện nay, đồng thời phải có chiến lược, sách
lược phát triển đúng hướng, hợp quy luật, xu thế và xứng tầm thời đại.
Sau năm năm ngành mầm non thực hiện thí điểm chương trình giáo
dục, từ năm học 2005-2006 đến năm học 2009-2010, Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã ban hành Chương trình Giáo dục mầm non kèm Thông tư số 17/2009/TTBGDĐT ngày 25 tháng 07 năm 2009.
Chương trình Giáo dục (CTGD) mầm non mới bao gồm: mục tiêu giáo
dục mầm non, các yêu cầu về nội dung, phương pháp, các điều kiện để thực


2

hiện chương trình giáo dục mầm non; chương trình giáo dục nhà trẻ; chương
trình giáo dục mẫu giáo.
Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam nêu rõ lộ trình thực hiện
trong giai đọan 2011-2015 tập trung vào một số trọng điểm, trong đó có nội
dung “Triển khai chương trình Giáo dục mầm non mới”.Từ năm học 20102011, chương trình Giáo dục mầm non mới hầu như đã được thực hiện trên
tồn quốc.
Chương trình Giáo dục mầm non mới có nhiều ưu điểm vượt trội, phù
hợp đặc điểm tâm sinh lý trẻ mầm non, phù hợp với xu thế phát triển của giáo
dục thế giới, người giáo viên là lực lượng trực tiếp thực hiện chương trình, lấy
trẻ làm trung tâm và chú ý đến hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm. Để
biến những ưu điểm đó trở thành hiện thực, mang lại hiệu quả tích cực trong
giáo dục mầm non thì khơng thể khơng tính đến vai trị người quản lý, hiệu
trưởng trường mầm non.
Nói đến chất lượng chăm sóc giáo dục ở trường mầm non là nói đến
cơng tác ni và dạy. Nói đến cơng tác ni và dạy ở trường mầm non là nói

đến việc thực hiện chương trình giáo dục. Muốn nâng cao chất lượng chăm
sóc giáo dục trẻ, yếu tố quản lý việc thực hiện chương trình phải được đưa lên
hàng đầu. Quản lý việc thực hiện chương trình Giáo dục mầm non đạt hiệu
quả tốt, thầy dạy tốt, tất nhiên chất lượng trò, sản phẩm đầu ra đạt tốt, hoàn
thành mục tiêu đào tạo mà ngành giáo dục, xã hội giao phó.
Thực tế, chương trình mới có nhiều thay đổi tiến bộ khác biệt so với
chương trình cũ, dù thực hiện đến nay đã 3 năm nhưng theo chúng tơi vẫn cịn
nhiều bất cập chưa đồng bộ thống nhất từ các cấp nên công tác quản lý giáo
viên thực hiện chương trình chưa đạt, bản thân giáo viên còn lúng túng, giáo
viên chưa đủ sức "tải" đủ các lĩnh vực nội dung giáo dục và chưa có sự tác
động dạy học tích cực cho trẻ khi thực hiện chương trình mới nên khơng đạt


3

được mục tiêu, ý nghĩa của chương trình. (Chương trình cũ là chương trình
Chăm sóc giáo dục trẻ được ban hành theo quyết định số 1362/GD và ĐT
ngày 31/05/1994 của Bộ Gíao Dục và Đào Tạo). Vì vậy, Hiệu trưởng trường
mầm non gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý thực hiện chương trình mới.
Thêm vào đó, xu thế hiện nay việc tiếp cận chương trình chăm sóc giáo
dục mới rất quan trọng. Đây là bước đi thích hợp trong tình hình hiện nay,
nhưng cách thức chương trình thay gđổi địi hỏi đội ngũ Giáo viên phải có
những kĩ năng phát triển chương trình mới là phải đảm bảo tính mục đích,
đảm bảo u cầu phát triển tịan diện nhân cách trẻ, đảm bảo tính nguyên tắc
tuần tự hệ thống, chứa đựng các cơ hội phát huy vị thế tích cực của trẻ, đảm
bảo tính tích hợp. Làm thế nào để việc thực hiện chương trình mới có hiệu
quả. Tại các trường mầm non trong quận Tân Bình thành phố Hồ Chí Minh,
cơng tác quản lý việc thực hiện chương trình giáo dục mầm non mới được
tiến hành ra sao, kết quả như thế nào là điều chưa được nghiên cứu. Chính vì
vậy, chúng tơi chọn và nghiên cứu đề tài “Giải pháp quản lý thực hiện

chương trình giáo dục mầm non ở các trường mầm non quận Tân Bình
thành phố Hồ Chí Minh”.
2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng được các giải pháp quản lý thực hiện chương trình giáo dục
mầm non ở các trường mầm non quận Tân Bình thành phố Hồ Chí Minh
nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục mầm non.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Vấn đề quản lý chương trình giáo dục mầm non.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp quản lý thực hiện chương trình giáo dục mầm non ở các
trường mầm non quận Tân Bình thành phố Hồ Chí Minh


4

4. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được các giải pháp quản lý thực hiện chương trình Giáo
dục mầm non phù hợp, khả thi thì sẽ nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý
chương trình giáo dục mầm non ở các trường mầm non quận Tân Bình thành
phố Hồ Chí Minh
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận quản lý việc thực hiện chương trình giáo dục
mầm non của Hiệu trưởng các trường mầm non.
Khảo sát thực trạng cơng tác quản lý việc thực hiện chương trình
giáo dục mầm non tại các trường mầm non Quận Tân Bình thành phố Hồ
Chí Minh.
Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần cải tiến công tác quản lý việc
thực hiện chương trình giáo dục mầm non.
6. Phương pháp nghiên cứu

6.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây
dựng cơ sở lý luận của đề tài. Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
có các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp phân tích- tổng hợp tài liệu;
- Phương pháp khái quát hóa các nhận định độc lập.
6.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây
dựng cơ sở thực tiễn của đề tài. Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu thực
tiễn có các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây: Phương pháp quan sát,
Phương pháp phỏng vấn, Phương pháp điều tra, Phương pháp toán thống kê


5

7. Đóng góp mới của luận văn
7.1. Về mặt lý luận
Hệ thống hoá các vấn đề lý luận về quản lý thực hiện chương trình giáo
dục mầm non.
7.2. Về mặt thực tiễn
Khảo sát thực trạng quản lý thực hiện chương trình giáo dục mầm non
ở các trường mầm non quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh; từ đó đề
xuất những giải pháp có cơ sở khoa học, có tính khả thi để nâng cao hiệu quả
quản lý chương trình giáo dục mầm non.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục
nghiên cứu, luận văn gồm 3 chương.
- Chương 1: Cơ sở lý luận của việc quản lí thực hiện chương trình giáo
dục mầm non.
- Chương 2: Thực trạng quản lý thực hiện chương trình giáo dục mầm

non ở các trường mầm non quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Chương 3: Giải pháp quản lý việc thực hiện chương trình giáo dục
mầm non ở các trường mầm non quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.


6

CHHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ VIỆC THỰC HIỆN
CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC MẦM NON
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài
Hầu hết các quốc gia và các tổ chức quốc tế đều xác định GDMN là
mục tiêu quan trọng của giáo dục và các nhà khoa học không ngừng quan tâm
nghiên cứu đưa ra các giải pháp để nâng cao chất lượng GDMN nhằm đảm
bảo chất lượng GDMN.
Ở Mỹ, Anh thì Hiệp hội giáo dục trẻ thơ khơng khuyến khích các
trường mầm non phải theo một chương trình mẫu giáo nào, mà họ chỉ cung
cấp sự hướng dẫn và dựa trên nguồn tài liệu phong phú giáo viên được chủ
động chọn nội dung, cách thức và sự đánh giá phù hợp với trẻ của mình.
Spodek (1990), nhà giáo dục người Mỹ cho rằng người lớn chúng ta khơng
thể quyết định dạy trẻ cái gì (nội dung) mà quên đi trẻ em học thế nào, bởi vì
“học như thế nào” liên quan nhiều đến phương pháp. Nội dung chương trình
(học cái gì), các quá trình học (học như thế nào), các chiến lược giảng dạy
(dạy như thế nào), mơi trường (hồn cảnh học), và các chiến lược đánh giá
(cho biết việc học tập xảy ra như thế nào) là những vấn đề có quan hệ qua lại
với nhau và tạo nên chương trình GDMN (brekdekamp, 1992).
Tina Bruce (1991), chuyên gia GDMN của Úc nói về việc thiết kế một
chương trình GDMN như sau: tùy vào đứa trẻ quan tâm đến điều gì mà lựa
chọn nội dung để dạy trẻ phù hợp với nhu cầu và môi trường sống của trẻ. Ở

Úc, trẻ em được khuyến khích phát triển khả năng tự chăm sóc bản thân và
tính sáng tạo ngay từ khi đi nhà trẻ. Trong giờ học, trẻ em sẽ có những hoạt
động vui chơi tập thể với các trang thiết bị, đồ chơi trong nhà - ngoài trời


7

được thiết kế chiều cao, độ cứng và các góc cạnh phù hợp với các em và đảm
bảo mức an toàn tối đa. New Zealand là một trong những nước có nền giáo
dục tiên tiến trên thế giới và thường xuyên lọt vào tốp các nước có nền giáo
dục tốt nhất thế giới. Chương trình giáo dục mầm non của New Zealand được
đánh giá là tài liệu giáo dục mầm non hàng đầu thế giới và được coi là tài liệu
có giá trị quốc tế. Mục tiêu lớn của giáo dục mầm non New Zealand là giúp
trẻ tự tin vào bản thân khỏe mạnh về thể chất và tâm hồn, có khả năng giao
tiếp và tơn trọng tri thức. Trẻ mầm non ở New Zealand có những kỹ năng học
như được tự tìm điều mình quan tâm; biết chuyên tâm vào cơng việc của
mình; biết đối mặt với khó khăn và tìm cách giải quyết ở mức độ nhất định;
trẻ cần học cách thể hiện ý tưởng và chịu trách nhiệm với ý tưởng và chịu
trách nhiệm với ý tưởng của mình ([28], tr.1).
Ở Đơng Nam Châu Á: Theo các chuyên gia giáo dục, thế kỷ 21, trong
điều kiện hội nhập khu vực và thế giới, các nước thành viên có điều kiện giúp
nhau cải thiện chất lượng GDMN bằng cách cải tiến các phương thức đào tạo
giáo viên mầm non và giới thiệu những hình thức ni dạy trẻ tốt nhất đã
được quốc tế thừa nhận mà vẫn bảo tồn văn hóa từng nước. Thực tế cho thấy
các nước như Singapore, Malaisia, Thái Lan đã áp dụng những phương pháp
giáo dục của thế giới nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hóa riêng của từng dân
tộc và họ đưa các chương trình vào nhà trẻ và trường mẫu giáo ([31], tr.9).
Lời mở đầu trong kế hoạch quốc gia về “Đổi mới hệ thống GDMN” từ
năm 1997 của Hàn Quốc cũng đã ghi nhận rằng môi trường giáo dục đầu đời
đóng vai trị thiết yếu trong việc xây dựng nền tảng phát triển tổng thể của con

người. Với ý nghĩa ấy, GDMN có thể được coi là lĩnh vực cần đầu tư tốt nhất
và hàng tháng các nhà trẻ tại đây đều được thanh tra về mọi mặt từ giảng dạy,
thiết bị, bếp ăn, vệ sinh… một cách nghiêm ngặt. Các góc chơi quy định trong
chương trình giáo dục của Hàn Quốc: Chương trình giáo dục trẻ mầm non có


8

thể được so sánh giống như “mạng nhện”. Trong mạng nhện đó trẻ thể hiện
hứng thú của bản thân một cách rất tự nhiên khơng có sự sắp đặt, các góc chơi
sẽ được kết hợp một cách vơ thức trong toàn bộ hoạt động của trẻ. Những
giáo viên lựa chọn theo hướng luyện tập này đều cho rằng các yếu tố cấu
thành nên quá trình giáo dục trẻ được kết hợp đan lại giống như một mạng
nhện lành lặn không bị đứt quãng. Nếu một trong những đường nối mạng
nhện bị đứt hoặc thiếu thì cũng giống như hình ảnh mạng nhện bị đứt rơi
xuống, và trong quá trình giáo dục cũng vậy nếu khơng có các nhóm kết hợp
chặt chẽ thì “tính tổng thể” sẽ bị yếu, khơng đủ mạnh để thúc đẩy sự phát
triển của trẻ một cách toàn diện [14, tr.1].
1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
Trong giai đoạn đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và
hội nhập quốc tế, nguồn lực con người Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa
quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước. Giáo
dục ngày càng có vai trị và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng một thế
hệ người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Nghị
quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định "Đổi mới căn bản,
toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội
hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo
dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then
chốt" và "Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng đất nước, xây

dựng nền văn hóa và con người Việt Nam" ([20], tr. 5)
Phát triển giáo dục phải thực sự là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của
Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản
lý của Nhà nước, nâng cao vai trị các tổ chức, đồn thể chính trị, kinh tế, xã
hội trong phát triển giáo dục. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển ([20],


9

tr.7). Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân,
có vai trị đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và
phát triển của nhân cách con người. Giáo dục mầm non đặt nền móng cho sự
phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ của trẻ em Việt Nam. Phát
triển giáo dục mầm non là trách nhiệm chung của các cấp, các ngành và toàn
xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Chất lượng
chăm sóc giáo dục trẻ là tiền đề quan trọng để nhà trường mầm non phát huy
tầm ảnh hưởng của mình đến với cộng đồng. Chất lượng chăm sóc giáo dục
của nhà trường có đảm bảo, trẻ em có khỏe mạnh và phát triển tốt thì vai trò
của nhà trường mới được phụ huynh và cộng đồng thừa nhận. Vì vậy nâng
cao chất lượng chăm sóc nuôi dạy trẻ phải là vấn đề được quan tâm hàng đầu
ở các cơ sở giáo dục mầm non. Nói đến nâng cao chất lượng chăm sóc giáo
dục trẻ tức là nói đến nâng cao chất lượng thực hiện chương trình giáo dục
trẻ. Chương trình GDMN bao gồm việc ni dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ
em từ 3 tháng đến 6 tuổi, giáo dục về thể chất, tình cảm nhận thức, ngôn ngữ
trên cơ sở thông qua các hoạt động để phát triển toàn diện nhân cách học sinh.
Hiện nay GDMN ngày càng được nhận sự quan tâm của xã hội, của ban
lãnh đạo các cấp từ trung ương đến địa phương. Nhiều tài liệu, cơng trình
nghiên cứu, nhiều bài viết liên quan đến việc phát triển GDMN đã ra đời
khơng nằm ngồi tâm huyết phát triển giáo dục mầm non nước nhà. Có thể kể
đến như:

- Tài liệu tập huấn nâng cao năng lực quản lý thực hiện chương trình
giáo dục mầm non thí điểm (2009), Bộ Giáo dục và Đào tạo - Học viện quản
lý giáo dục, Hà Nội.
- “Một số giải pháp quản lý công tác bồi dưỡng năng lực chuyên môn
cho giáo viên mầm non Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh” 2013, luận văn
Thạc sĩ khoa học giáo dục của Nguyễn Thị Duyên Hồng, Đại học Vinh.


10

Tuy nhiên, các tài liệu trên chưa đi sâu vào nghiên cứu thực trạng
việc thực hiện chương trình Giáo dục mầm non mới tại các trường mầm
non, có tài liệu chỉ dừng ở mức độ bồi dưỡng kiến thức về quản lý thực
hiện chương trình.
Bước vào thế kỷ XXI, trước những yêu cầu mới của đất nước và của
giáo dục mầm non, chương trình chăm sóc - giáo dục mẫu giáo ở Việt Nam
đã bộc lộ một số hạn chế bất cập về mục tiêu, nội dung, phương pháp chăm
sóc-giáo dục trẻ. Điều đó địi hỏi chương trình cần có những cải tiến, đổi mới.
Tại phiên họp Chính phủ tháng 11 năm 2005, Chính phủ đã quyết định về Đề
án phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2006-2015, trong đó có nội dung
đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục mầm non ([30], tr.14).
Đây là tiền đề cho việc triển khai thực hiện thí điểm chương trình Giáo dục
mầm non mới trong ngành giáo dục mầm non từ năm 2006.
Ngày 25 tháng 7 năm 2009, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban
hành Chương trình giáo dục mầm non, kèm theo ký Thông tư số 17/2009/TTBGDĐT ([5], tr.1)
Thành phố Hồ Chí Minh đã từng bước triển khai thực hiện chương
trình Giáo dục mầm non mới với số lượng trường lớp tăng dần lên theo từng
năm học. Đầu tiên, chương trình Giáo dục mầm non mới được thực hiện thí
điểm tại một số trường trực thuộc Sở Giáo dục Đào tạo và các trường trọng
điểm của từng quận huyện. Đến năm học 2007-2008 mở rộng thêm đối tượng

là các trường đạt danh hiệu Tập thể Lao động xuất sắc, năm học 2008-2009
mở rộng thêm các trường đạt danh hiệu Tập thể Lao động tiên tiến và từ năm
học 2009-2010 được thực hiện đại trà trong toàn thành phố Hồ Chí Minh.
Hiện nay thì chương trình giáo dục đã chính thức thực hiện trên tồn quốc.
Vì vậy trong giai đoạn hiện nay, công tác quản lý việc thực hiện
chương trình Giáo dục mầm non thật sự là vấn đề bức xúc rất cần được


11

nghiên cứu, thảo luận để việc thực hiện chương trình đi vào chiều sâu. Do đó,
các nhà nghiên cứu giáo dục cần phải nghiên cứu việc quản lý thực hiện
chương trình Giáo dục mầm non nhằm tìm ra các biện pháp chỉ đạo có hiệu
quả nhất để góp phần nâng cao chất lượng thực hiện chương trình, nâng cao
chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ ở trường mầm non, góp phần phát triển giáo
dục mầm non nước nhà.
1.2. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.2.1. Chương trình giáo dục
Đã có rất nhiều tranh luận về định nghĩa của thuật ngữ chương trình
giáo dục. Thuật ngữ chương trình giáo dục đã xuất hiện từ năm 1820, tuy
nhiên việc sử dụng thuật ngữ này một cách chuyên nghiệp chỉ xuất hiện
khoảng một thế kỉ sau đó. Từ những năm 20 của thế kỉ XX, ở Mĩ bắt đầu có
những cuộc thảo luận về chương trình. Đặc biệt từ cuối những năm 50 trở đi,
những vấn đề về chương trình và lí luận chương trình trở thành trung tâm chú
ý của khoa học giáo dục Mĩ, của các nước nói tiếng Anh, sau đó lan sang khu
vực các nước nói tiếng Đức, tiếng Pháp...
Ngày nay, quan niệm về các thành tố của chương trình đã bỏ qua
quan niệm truyền thống. Chương trình khơng chỉ là việc trình bày mục tiêu
cuối cùng và bảng danh mục các nội dung giảng dạy. Cụ thể hơn và bao
quát hơn chương trình, theo quan niệm hiện đại. là một phức hợp gồm các

bộ phận cấu thành:
- Mục tiêu học tập.
- Phạm vi, mức độ và cấu trúc nội dung học tập.
- Các phương pháp, hình thức tổ chức học tập.
- Đánh giá kết quả học tập.
Như vậy, cấu trúc của chương trình bao gồm hai khía cạnh chính: sự
hình dung trước những kết quả mà học sinh sẽ đạt được sau một thời gian học


12

tập và cách thức, phương tiện, con đường, điều kiện để làm cho mong muốn
đó trở thành hiện thực.
Từ việc tham khảo các định nghĩa về chương trình có thể tóm tắt một
cách dễ hiều về chương trình dạy học như sau:
Chương trình giáo dục là sự trình bày có hệ thống một kế hoạch tổng
thể các hoạt động giáo dục trong một thời gian xác định, trong đó nêu lên các
mục tiêu học tập mà người học cần đạt được, đồng thời xác định rõ phạm vi,
mức độ nội dung học tập, các phương pháp, phương tiện, cách thức tổ chức
học tập, các cách thức đánh giá kết quả học tập... nhằm đạt được mục tiêu
học tập đã đề ra.
Theo điều 6 Luật giáo dục, Chương trình giáo dục
1. Chương trình giáo dục thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn
kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp và
hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối
với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học hoặc trình độ đào tạo.
2. Chương trình giáo dục phải bảo đảm tính hiện đại, tính ổn định, tính
thống nhất; kế thừa giữa các cấp học, các trình độ đào tạo và tạo điều kiện cho
sự phân luồng, liên thơng, chuyển đổi giữa các trình độ đào tạo, ngành đào tạo
và hình thức giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân.

3. Yêu cầu về nội dung kiến thức và kỹ năng quy định trong chương
trình giáo dục phải được cụ thể hóa thành sách giáo khoa ở giáo dục phổ
thơng, giáo trình và tài liệu giảng dạy ở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại
học, giáo dục thường xuyên. Sách giáo khoa, giáo trình và tài liệu giảng dạy
phải đáp ứng yêu cầu về phương pháp giáo dục.
4. Chương trình giáo dục được tổ chức thực hiện theo năm học đối với
giáo dục mầm non và giáo dục phổ thơng; theo năm học hoặc theo hình thức
tích luỹ tín chỉ đối với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học.


13

Kết quả học tập mơn học hoặc tín chỉ mà người học tích luỹ được khi
theo học một chương trình giáo dục được công nhận để xem xét về giá trị
chuyển đổi cho mơn học hoặc tín chỉ tương ứng trong chương trình giáo dục
khác khi người học chuyển ngành nghề đào tạo, chuyển hình thức học tập
hoặc học lên ở cấp học, trình độ đào tạo cao hơn.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định việc thực hiện chương
trình giáo dục theo hình thức tích luỹ tín chỉ, việc công nhận để xem xét về
giá trị chuyển đổi kết quả học tập mơn học hoặc tín chỉ.
Theo Điều 24, Luật Giáo dục Chương trình giáo dục mầm non
1. Chương trình giáo dục mầm non thể hiện mục tiêu giáo dục mầm
non; cụ thể hóa các yêu cầu về ni dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em ở từng
độ tuổi; quy định việc tổ chức các hoạt động nhằm tạo điều kiện để trẻ em
phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ; hướng dẫn cách thức đánh
giá sự phát triển của trẻ em ở tuổi mầm non.
2. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình giáo dục
mầm non trên cơ sở thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình
giáo dục mầm non.
Chương trình giáo dục là bản kê nội dung giáo dục của từng cấp học,

lớp học chương trình giáo dục trẻ lứa tuổi mầm non có vị trí và vai trị vơ
cùng quan trọng trong cơng tác giáo dục trẻ ở trường mầm non. Tuy nhiên,
công việc này trong một thời gian dài, nhất là các giai đoạn giáo dục trước
đây chưa được quan tâm, xem xét đúng mức, thậm chí đơi khi cịn bị xem
nhẹ. Giáo dục trẻ là nhằm mục đích thực hiện các yêu cầu của sự phát triển.
quá trình giáo dục thực hiện các nhiệm vụ hình thành và phát triển ở trẻ
những tri thức, sự hiểu biết và những khả năng, kỹ năng hành động, sự hiểu
biết về những chuẩn mực, quy tắc, hành vi, ứng xử, những giá trị của nhân
cách…Việc lựa chọn những nội dung giáo dục cần thiết phải đảm bảo đạt


14

được những mục tiêu giáo dục đã đề ra. Trong sự tương tác với trẻ, người
giáo viên mầm non cần lựa chọn và sử dụng những phương pháp, những cách
thức khác nhau để tổ chức các hoạt động cho trẻ, dựa trên sự hiểu biết về
những nguyên tắc cơ bản của quá trình giáo dục, về những đặc điểm phát
triển tâm - sinh lý của trẻ ở các độ tuổi khác nhau và đặc điểm riêng biệt của
mỗi cá nhân trẻ. Trong chương trình giáo dục, mục đích, mục tiêu, nhiệm vụ,
nội dung hình thức, phương pháp - biện pháp giáo dục trẻ cần được xác định
một cách cụ thể, phù hợp với điều kiện giáo dục. Điều này giúp cho quá trình
giáo dục được chuẩn bị và thực hiện một cách có tổ chức nhất và đem lại hiệu
quả cao, đồng thời cũng làm tăng vai trò hướng dẫn của người giáo viên trong
quá trình giáo dục trẻ. Chương trình giáo dục sẽ trở thành kim chỉ nam, định
hướng cho hoạt động giáo dục nếu nó được xây dựng một cách cụ thể và thiết
thực với thực tiễn ([6],tr.15).
1.2.2. Quản lý
Quản lý không chỉ là một dạng hoạt động cụ thể mà đã trở thành một
khoa học, một nghệ thuật và là một nghề phức tạp nhất trong xã hội hiện đại.
Chính vì vậy, lý luận về quản lý ngày càng phong phú và phát triển. Quản lý

được định nghĩa là một công việc mà một người lãnh đạo học suốt đời không
thấy chán và cũng là sự khởi đầu của những gì họ nghiên cứu. Quản lý được
giải thích như là nhiệm vụ của một nhà lãnh đạo thực thụ, nhưng không phải
là sự khởi đầu để họ triển khai cơng việc. Như vậy, có bao nhiêu nhà lãnh đạo
tài ba thì có bấy nhiêu kiểu định nghĩa và giải thích về quản lý.
Về điều này C.Mác đã từng viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp
hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng
cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện
những chức năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất
khác với sự vận động của các khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ


15

cầm tự mình điều khiển lấy mình, cịn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng”
([10], tr.480).
Trong quyển “Lý luận quản lý nhà nước”, tác giả Mai Hữu Khuê đã
định nghĩa về quản lý như sau: “Quản lý là một phạm trù có liên quan mật
thiết với hợp tác và phân cơng lao động, nó là một thuộc tính tự nhiên của mọi
lao động hợp tác. Từ khi xuất hiện những hoạt động của quần thể lồi người
thì đã xuất hiện sự quản lý. Sự quản lý có trong cả xã hội nguyên thủy, ở đó
con người phải tập hợp với nhau để đấu tranh với thế giới tự nhiên, muốn sinh
tồn con người phải tổ chức sản xuất, tổ chức phân phối” ([32],tr.19).
Theo tác giả Hà Sĩ Hồ: Quản lý là một q trình tác động có định
hướng có chủ đích, có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa
trên các thơng tin về tình trạng của đối tượng và mơi trường, nhằm giữ cho sự
vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã
định ([15],tr.88).
Vậy suy cho cùng quản lý là gì? Định nghĩa quản lý là yêu cầu tối
thiểu nhất của việc lý giải vấn đề quản lý dựa trên lí luận và nghiên cứu

quản lý học.
Còn theo tác giả Thái Văn Thành (2007), có nhiều quan điểm khác
nhau về khái niệm quản lý:
- Quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức với những
bản chất khác nhau (kỹ thuật, sinh vật, xã hội) nó bảo tồn cấu trúc xác
định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình,
mục đích hoạt động.
- Hoạt động có sự tác động qua lại giữa hệ thống và môi trường, do đó:
Quản lý được hiểu là bảo đảm hoạt động của hệ thống trong điều kiện có sự
biến đổi liên tục của hệ thống và môi trường, là chuyển hệ thống đến trạng
thái mới thích ứng với những hồn cảnh mới.


16

- Quản lý là một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể
người-thành viên của hệ, nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt tới mục
đích dự kiến.
- Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ
chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động.
- Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu
của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội.
- Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có
hệ thống thơng tin của chủ thể đến khách thể quản lý.
Các khái niệm trên đây cho thấy:
- Quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội.
- Quản lý gồm những công việc chỉ huy và tạo điều kiện cho những
người khác thực hiện công việc và đạt được mục đích của nhóm.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt dược mục tiêu

đề ra ([28], tr.5).
Quản lý luôn có hướng đích, tồn tại với tư cách là một hệ thống bao
gồm các yếu tố cơ bản như sau:
− Chủ thể quản lý có thể là cá nhân hay tập thể đề ra mục tiêu tổ chức,
hướng các đối tượng quản lý, tác động có mục đích nhằm đạt mục tiêu.
− Đối tượng quản lý: Từ con người đến giới vơ sinh hay hữu sinh,
trong đó cơ bản là con người nhận tác động trực tiếp của chủ thể quản lý.
− Khách thể quản lý: Nằm ngoài hệ thống hoặc hệ thống khác hay là
các ràng buộc của môi trường, nó chịu tác động hay tác động trở lại hệ thống
giáo dục và hệ thống quản lý giáo dục. Do đó, chủ thể quản lý phải làm như
thế nào để cho những tác động từ phía khách thể là tác động tích cực cùng
nhằm thực hiện mục tiêu chung.


17

− Mục tiêu quản lý: Là trạng thái mong đợi ở tương lai mà mọi hoạt
động của hệ thống hướng đến. Mục tiêu quản lý định hướng và chi phối sự
vận động của hệ thống.
Phương pháp quản lý: là cách thức tác động của chủ thể quản lý đến đối
tượng quản lý bằng cách sử dụng các phương tiện và biện pháp khác nhau
nhằm đạt được mục đích đề ra.
Như vậy quản lý vừa là một nghệ thuật, vừa là một khoa học. Đó là
nghệ thuật làm cho người khác (nhân viên) làm việc hiệu quả hơn những điều
bản thân họ sẽ làm được. Cịn khoa học chính là cách người quản lý làm thế
nào để thực hiện được nghệ thuật quản lý. Quản lý là thực hiện những công
việc có tác dụng định hướng, điều tiết, phối hợp các hoạt động của cấp dưới,
của những người dưới quyền. Biểu hiện cụ thể qua việc, lập kế hoạch hoạt
động, đảm bảo tổ chức, điều phối, kiểm tra, kiểm soát. Hướng được sự chú ý
của con người vào một hoạt đông nào đó; điêu tiết được nguồn nhân lực, phối

hợp được các hoạt đông bộ phận. Quản lý là tác động của chủ thể quản lý lên
đối tượng quản lý một cách gián tiếp và trực tiếp nhằm thu được nhưng diễn
biến, thay đổi tích cực
Từ các quan điểm về quản lý vừa nêu trên có thể hiểu khái niệm quản
lý là tác động có định hướng (có chủ đích), có tổ chức của chủ thế quản lý
(người quản lý) lên khách thể quản lý và đối tượng quản lý trong một tổ chức
nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt
được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của mơi trường, làm cho tổ
chức vận hành (hoạt động) có hiệu quả, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp
quy luật khách quan.
1.2.3. Giải pháp
Theo từ điển tiếng Việt, “Giải pháp là phương pháp giải quyết một vấn
đề cụ thể ” ([16], tr.387).


18

Để hiểu rõ hơn khái niệm về giải pháp, chúng ta cần phân biệt nó với
một số khái niệm tương tự như phương pháp, biện pháp. Điểm giống nhau
của các khái niệm là đều nói về cách làm, cách tiến hành, cách giải quyết một
cơng việc, một vấn đề. Cịn điểm khác nhau ở chỗ, biện pháp chủ yếu nhấn
mạnh đến cách làm, cách hành động cụ thể, trong khi đó phương pháp nhấn
mạnh đến trình tự các bước có quan hệ với nhau để tiến hành cơng việc có
mục đích.
Theo Từ điển Tiếng việt, phương pháp là “Hệ thống các cách sử dụng
để tiến hành một công việc nào đó” ([16], tr.793).
Về khái niệm biện pháp, theo từ điển tiếng Việt, đó là “Cách làm, cách
giải quyết một vấn đề cụ thể” ([22], tr.64).
Như vậy, khái niệm giải pháp tuy có những điểm chung với các khái
niệm trên nhưng nó cũng có điểm riêng. Điểm riêng cơ bản của thuật ngữ này

là nhấn mạnh đến phương pháp giải quyết một vấn đề, với sự khắc phục khó
khăn nhất định. Trong một giải pháp có thể có nhiều biện pháp.
1.2.4. Giải pháp quản lý thực hiện chương trình giáo dục mầm non
Nhà trường là tổ chức giáo dục cơ sở trực tiếp làm cơng tác giáo dục
đào tạo. Nó chịu sự quản lý trực tiếp của các cấp quản lý giáo dục đồng thời
nhà trường cũng là một hệ thống độc lập, tự quản. Việc quản lý nhà trường
phải nhằm mục đích nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và phát triển nhà
trường. Nói đến việc nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục tức là nói đến
việc tổ chức dạy và học trong nhà trường. Do đó, thực chất công tác quản lý
cơ bản trong nhà trường là quản lý hoạt động dạy và học, mà hoạt động dạy
và học dựa trên nền tảng cơ bản và cốt lõi là chương trình giáo dục. Có thể
nói khơng có chương trình giáo dục thì người dạy sẽ khơng biết phải dạy cái
gì, phải dạy bắt đầu từ đâu và kết thúc như thế nào. Người học cũng không
thể lĩnh hội kiến thức từ nền tảng ban đầu đến nâng cao dần theo cấp học,


×