Tải bản đầy đủ (.pdf) (86 trang)

Đánh giá công tác thu gom và quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.47 MB, 86 trang )



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM



ĐINH THỊ THU HƯƠNG



Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC THU GOM VÀ QUẢN LÝ
CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH




KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC



Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : KHMT
Khoa : Môi trường
Khóa học : 2010 - 2014







Thái Nguyên, năm 2014


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM



ĐINH THỊ THU HƯƠNG


Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC THU GOM VÀ QUẢN LÝ
CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH




KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC



Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : KHMT
Khoa : Môi trường
Khóa học : 2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn : PGS. TS. Đỗ Thị Lan






Thái Nguyên, năm 2014
LỜI CẢM ƠN

Em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trong Khoa Môi
trường - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận
lợi trong quá trình học tập và hoàn thành khóa học
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, em xin bày tỏ long biết ơn sâu sắc
tới cô PGS.TS.Đỗ Thị Lan, cô đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo và giúp đỡ em
trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Em xin cảm ơn các cô chú trong Ban giám đốc, các phòng khoa của bệnh
viện huyện Hưng Hà đã giúp em trong quá trình thu thập số liệu và hoàn
thành luận văn
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã động viên
giúp đỡ trong quá trình học tập và hoàn thành khóa học.
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái nguyên, tháng năm 2014
Sinh viên


Đinh Thị Thu Hương



MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục đích, mục tiêu và yêu cầu 2
1.2.1. Mục tiêu 2
1.2.2. Mục đích 2
1.2.3. Yêu cầu 3
1.3. Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1 Các định nghĩa liên quan 4
2.2.2. Nguồn gốc phát sinh 4
2.1.2. Phân loại chất thải rắn y tế 7
2.1.2.1 Phân loại theo hệ thống phân loại WHO 7
2.1.2.2 Phân loại theo hệ thống phân loại của Việt Nam 7
2.1.2.3 Phân loại chất thải y tế nguy hại của bệnh viện huyện Hưng Hà 8
2.2. Thành phần của chất thải rắn y tế 10
2.3. Các cơ sở pháp lý và nhận thức về quản lý chất thải bệnh viện 10
2.3.1 Quy định khung pháp luật/quy định chung 10
2.3.2. Công tác đào tạo, tuyên truyền, giáo dục 13
2.4. Hiện trạng công tác quản lý và thu gom chất thải rắn trên thế giới và ở
Việt Nam ( Cơ sở thực tiễn ) 13
2.4.1. Hiện trạng quản lý chất thải rắn Y tế trên thế giới 13
2.4.2. Hiện trạng quản lý chất thải rắn Y tế tại Việt Nam 15
2.4.3 Hiện trạng quản lý chất thải rắn Y tế tại huyện Hưng Hà 20
2.5. Tác động của chất thải y tế tới môi trường và sức khỏe cộng đồng 20
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
24
3.1. Phạm vi, đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 24
3.1.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài : Địa bàn bệnh viện Đa khoa huyện Hưng
Hà, tỉnh Thái Bình. 24
32 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 24
3.3. Nội dụng nghiên cứu 24
3.3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Hưng Hà 24
3.3.2. Tổng quan về trung tâm y tế và bệnh viện Đa khoa huyện Hưng Hà,
tỉnh Thái Bình 24
3.3.3. Công tác bảo vệ môi trường tại bệnh viện Đa khoa huyện Hưng Hà,
tỉnh Thái Bình 24
3.3.4. Điều tra, đánh giá thực trạng công tác thu gom và quản lý chất thải rắn
Y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Hưng Hà 25
3.3.5. Nghiên cứu biện pháp thu gom và quản lý có hiệu quả công tác thu gom
và quản lý chất thải rắn Y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Hưng Hà 25
3.3.6. Đề xuất các giải pháp khắc phục và nâng cao công tác quản lý chất thải
rắn Y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Hưng Hà 25
3.4. Phương pháp nghiên cứu 25
3.4.1. Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu. 25
3.4.2. Phương pháp khảo sát thực địa, điều tra phỏng vấn 26
3.4.3. Phương pháp phân tích tổng hợp và xử lý số liệu 26
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
4.1 ĐẶC ĐIỂM VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA HUYỆN HƯNG HÀ -
TỈNH THÁI BÌNH 27
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 27
4.1.1.1 vị trí địa lý 27
4.1.1.2 Đặc điểm khí hậu thời tiết 28
4.1.1.3 Đặc điểm địa hình 29
4.1.1.4 Tài nguyên đất 29
4.1.1.5 Tài nguyên nước 29
4.1.1.6 Tiềm năng du lịch 30
4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 31

4.1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế 31
4.1.2.2. Tình hình phát triển văn hóa và xã hội 32
4.1.2.3 Cơ sở hạ tầng 34
4.2. Tổng quan về bệnh viện Đa khoa Huyện Hưng Hà 35
4.2.2. Cơ cấu tổ chức và Quy mô của bệnh viện Đa khoa Hưng Hà 36
4.2.3. Chức năng, nhiệm vụ của bệnh viện Đa khoa huyện Hưng Hà 38
4.3. Công tác bảo vệ môi trường tại bệnh viện Đa khoa huyện Hưng Hà- Thái
Bình 39
4.4. Điều tra đánh giá thực trạng công tác thu gom và quản lý chất thải rắn Y
tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Hưng Hà 40
4.4.1. Nguồn phát sinh và khối lượng chất thải rắn Y tếphát sinh/ngày tại bệnh
viện. 40
4.4.1.1. Chất thải rắn sinh hoạt. 40
4.4.1.2. Chất thải rắn y tế. 40
4.4.3. Tình hình quản lý chất thải rắn tại bệnh viện 46
4.4.3.1. Hệ thống quản lý hành chính trong quản lý chất thải Rắn Y tế của
bệnh viện đa khoa huyện Hưng Hà 46
4.4.2.3. Hệ thống quản lý chất thải rắn Y tế của bệnh viện đa khoa huyện
Hưng Hà 46
4.5. Đề xuất các giải pháp khắc phục và nâng cao công tác quản lý chất thải
rắn Y tế tại bệnh viên đa khoa huyện Hưng Hà 47
4.5.1. Nâng cao hệ thống quản lý. 47
4.5.2. Đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường và quản lý chất thải rắn. 47
4.5.2.1. Hệ thống quản lý hành chính 47
4.5.2.2. Công tác vệ sinh và an toàn lao động 49
4.5.2.3 Giải pháp xây tường rào, trồng cây xanh 49
4.5.3 Biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường không khí 50
4.5.4 Biện pháp giảm thiểu chất thải rắn y tế 50
4.5.4.1 Biện pháp giảm thiểu tại nguồn 50
4.5.3.2 Biện pháp lưu giữ và xử lý 50

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 52
5.1. Kết luận 52
5.2. Kiến nghị 53

DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Lượng chất thải Y tế phát sinh tại các bệnh viện và các khoa trong
bệnh viện tại Việt Nam 6
Bảng 2.2: Tên và dạng dùng một số thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu
dùng trong chẩn đoán và điểu trị 9
Bảng 2.3. Một số loại bệnh có nguy cơ lây nhiễm từ chất thải y tế 23
Bảng 4.1 : Ước tính tình hình phát triển kinh tế - xã hội năm 2013 32
Bảng 4.2 : Tình hình dân số và lao động từ năm 2005đến năm 2010 ở huyện
Hưng Hà 33
Bảng 4.3: Cơ cấu tổ chức và bố trí nhân lực 37
Bảng 4.4: Thành phần chất thải rắn Y tế tại Bệnh Viện Huyện 40
Bảng 4.6 Công tác thu gom chất thải rắn Y tế tại Bệnh viện : 43
Bảng 4.7 Công cụ thu gom chất thải rắn Y tế tại Bệnh Viện 43
Bảng 4.8: Hoạt động vận chuyển……………………………… ………….44
Bảng 4.9: Thống kê chất thải NH phát sinh. 45
Bảng 4.10: thống kê chất thải thông thường phát sinh. Tên chất thải 46
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Sơ đồ xử lý nước thải bằng phương pháp vật lý đơn giản (Lắng cặn)
(JICA, 2006) 19
Hình 2.2: xử lý theo hệ thống hồ cạn - Lagoon system và hệ thống ngập nước
19
Hình 2.3 Sơ đồ xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học truyền thống (Bùn
kích hoạt) (JICA, 2006). 19
Hình 4.1: Cơ cấu tổ chức và bố trí nhân lực 37
Hình 4.2:Thành phần chất thải rắn Y tế tại Bệnh Viện Huyện 41
Hình 4.3: Biện pháp giảm thiểu, xử lý chất thải rắn của bệnh viện 51

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

CTRYT : Chất thải rắn y tế
CTR : Chất thải rắn
TTYT : Trung Tâm y tế
CTYT : Chất thải y tế
CTYTNH : Chất thải y tế nguy hại
CTNH : Chất thải nguy hại
WHO : Tổ chức Y tế thế giới.
HCQT : Hành chính quản trị
HCV : Viêm gan C
HBV : Viêm gan B




1
PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề
Ngày nay, vấn đề môi trường đang trở nên ngày càng trầm trọng, đe
dọa trực tiếp đến sự tồn tại, phát triển của loài người đang được các quốc gia
và cộng đồng trên thế giới quan tâm. Bởi lẽ ô nhiễm môi trường, sự suy thoái
và những sự cố môi trường có ảnh hưởng trực tiếp không chỉ trước mắt mà
còn ảnh hưởng về lâu dài cho các thế hệ mai sau. Toàn thế giới đều đã nhận
thức được rằng: phải bảo vệ môi trường, làm cho môi trường phát triển và
ngày thêm bền vững.
Xã hội phát triển nhằm đáp ứng những nhu cầu và lợi ích của con
người, song cũng dẫn tới những vấn đề nan giải như gây ra sự ô nhiễm môi
trường ngày càng tăng cao. Lượng rác thải thải ra từ sinh hoạt cũng như các

hoạt động sản xuất của con người ngày càng nhiều, và mức độ gây ô nhiễm
môi trường ngày càng nghiêm trọng ở nhiều vùng khác nhau. Tình trạng ô
nhiễm môi trường ở Việt Nam đang ngày càng trở nên nghiêm trọng, đe doạ
sức khoẻ con người và ảnh hưởng đến mọi khía cạnh trong cuộc sống của
người dân.
Hiện tại chất thải bệnh viện đang trở thành vấn đề môi trường và xã hội cấp
bách ở nước ta. Phó cục quản lý môi trường Trần Đắc Phu cho biết cả nước
có 16.640 cơ sở y tế các lọai. Với tổng lượng chất thải là 450 tấn/ngày trong
đó có khoảng 47 tấn chất thải nguy hại. Theo ước tính của các chuyên gia môi
trường y tế (Bộ Y tế ) đến năm 2015 lượng chất thải rắn phát sinh từ các Cơ
sở y tế có giường bệnh là 125m
3/
ngày đêm.
Nhiều bệnh viện trở thành nguồn gây ô nhiễm cho khu dân cư xung
quanh, gây dư luận cho cộng đồng. Các chất thải y tế có chứa đựng các yếu tố
truyền nhiễm là chất độc hại có trong rác y tế, các loại hoá chất và dược phẩm
nguy hiểm, các chất thải phóng xạ, các vật sắc nhọn, v.v. Những người tiếp xúc
với chất thải y tế nguy hại đều có nguy cơ nhiễm bệnh tiềm tàng, bao gồm
những người làm việc trong các cơ Sở Y Tế, những người bên ngoài làm việc
thu gom chất thải y tế và những người trong cộng đồng bị phơi nhiễm với chất
thải do sự sai sót trong khâu quản lý chất thải. Các chất thải y tế này có chứa

2
các chất hữu cơ nhiễm mầm bệnh ô gây nhiễm, bệnh tật nghiêm trọng cho môi
trường xung quanh bệnh viện ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ người dân.
Bệnh viện huyện Hưng Hà được hình thành và phát triển đi lên mạnh mẽ
Đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân và các huyện lân cận. Với
đội ngũ Y bác sĩ lành nghề và trang thiết bị tốt đã và đang vươn lên khẳng
định vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển của đất nước.
Nhờ những nỗ lực phấn đấu không ngừng đó mà bệnh viện đã được nhiều

thành quả đáng kể trong công tác khám chữa bệnh , phòng bệnh và chăm lo
sức khỏe cho người dân. Bên cạnh những thành quả đạt được thì hiện nay vấn
đề nhức nhối tại bệnh viện là tình trạng chất thải rắn Y tế thải ra với khối
lượng khá lớn mà hệ thống quản lý chất thải rắn Y tế thì còn thiếu sót.
Xuất phát từ những mối nguy hại trực tiếp hoặc tiềm ẩn của chất thải y
tế gây ra đối với môi trường và con người, cần có những biện pháp hữu hiệu
để nâng cao nhận thức của cộng đồng nói chung và nhân viên y tế nói riêng
về những nguy cơ đó, nâng cao năng lực tổ chức, trách nhiệm và từng bước
hoàn thiện hệ thống quản lý chất thải cũng như nâng cao chất lượng cảnh
quan vệ sinh cho bệnh viện Hiện nay, công tác thu gom và quản lý chất thải
Rắn Y tế tại bệnh viện tương đối tốt, tuy nhiên vẫn còn những hạn chế nhất
định. Chính vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá công tác thu
gom và quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Hưng Hà,
tỉnh Thái Bình”. Từ đó đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả trong quản
lý, xử lý, tái chế chất thải rắn y tế, hướng tới nền kinh tế bền vững về mặt
môi trường
1.2. Mục đích, mục tiêu và yêu cầu
1.2.1. Mục tiêu
- Đánh giá công tác thu gom và quản lý chất thải rắn Y tế và đưa ra một số
giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác thu gom và quản lý chất thải rắn Y tế tại
bệnh viện Đa khoa huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
1.2.2. Mục đích
- Đánh giá công tác thu gom và quản lý chất thải rắn bệnh viện Đa khoa
huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình


3
- Xác định các biện pháp thu gom và quản lý hiệu quả chất thải rắn
bệnh viện Đa khoa huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thu gom và quản lý chất

thải rắn bệnh viện Đa khoa huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
1.2.3. Yêu cầu
- Số liệu thu thập phải khách quan, trung thực, chính xác;
- Phản ánh đầy đủ, đúng đắn công tác thu gom và quản lý chất thải rắn y
tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Hưng Hà;
- Các mẫu nghiên cứu phải đại diện cho khu vực lấy mẫu trên địa bàn
nghiên cứu;
- Đề xuất những giải pháp kiến nghị phải có tính khả thi, thực tế, phù
hợp với điều kiện thực tế của cơ sở;
- Nâng cao kiến thức thực tế của bản thân phục vụ cho công tác sau khi
ra trường.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Áp dụng kiến thức đã học của nhà trường vào thực tế.
- Nâng cao kiến thức thực tế.
- Tích luỹ kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường.
- Bổ sung tư liệu cho học tập.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đánh giá được công tác thu gom và quản lý chất thải rắn y tế còn có
những mặt hạn chế. Từ đó đưa ra các giải pháp cũng như những kiến nghị phù
hợp với điều kiện thực tế của cơ sở nhằm cải thiện những thiếu sót còn mắc
phải trong công tác thu gom và quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa
khoa huyện Hưng Hà



4
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Các định nghĩa liên quan
- Chất thải y tế : Theo WHO, chất thải y tế là bất kì chất thải nào phát
sinh trong việc chuẩn đoán, điều trị hoặc tiêm chủng cho người, cho động
vật trong bệnh viện, phòng nghiên cứu hoặc trong thử nghiệm sinh học.
- Chất thải y tế bao gồm các mầm mống gây bệnh truyền nhiễm là chất
thải nguy hại. Khoảng 20% tổng lượng chất thải y tế là chất thải nguy hại.
- Chất thải rắn y tế: Là chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động y tế như
khám chữa bệnh bào chế, sản xuất, đào tạo nghiên cứu, thú y…
- Chất thải rắn y tế thông thường : Là chất thải rắn y tế không chứa các
chất và hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác
với các hợp chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khỏe con người
- Chất thải rắn Y tế nguy hại: Là chất thải rắn y tế có chứa các chất và
hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác với các
chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khởe con người.
-Thu gom : Là việc tách, phân loại, tập hợp, đóng gói và lưu giữ tạm thời
chất thải tại địa điểm tập trung chất thải của cơ sở y tế
- Vận chuyển: là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi xử lý ban đầu, lưu
giữ, tiêu hủy.
- Xử lý ban đầu: Là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt trùng các chất thải có
nguy cơ lây nhiễm cao ngay gần nơi chất thải phát sinh trước khi vận chuyển
tới nơi lưu giữ hoặc tiêu hủy
- Tiêu hủy: Là quá trình sử dụng công nghệ nhằm cô lập ( bao gồm cả
chon lấp) chất thải nguy hại, làm mất khả năng gây nguy hại đối với môi
trường và sức khỏe con người
2.2.2. Nguồn gốc phát sinh
Hầu hết, các CTRYT là các chất thải sinh học độc hại và mang tính đặc
thù, nếu không được phân loại cẩn thận trước khi xả chung với các loại chất
thải sinh hoạt sẽ gây ra những nguy hại đáng kể.

5

Theo Quy chế quản lý chất thải y tế (Bộ Y tế) thì chất thải y tế là vật
chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế
nguy hại và chất thải thông thường.
Chất thải y tế nguy hại: Chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức
khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ
cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải
này không được tiêu hủy hoàn toàn.
Rác thải tại bệnh viện được phát sinh từ các hoạt động khám chữa bệnh,
sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân, người thân phục vụ, cán bộ y tế. Nhìn
chung, rác thải bệnh viện thường phát sinh từ những hoạt động chủ yếu sau:
* Các chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn, từ các quá trình
khám chữa bệnh:
- Các chất nhiễm khuẩn bao gồm: những vật liệu thấm máu, thấm dịch
và các chất bài tiết của người bệnh, như băng, gạc, bông, găng tay, tạp dề, áo
choàng, bột bó, đồ vải, các túi hậu môn nhân tạo, dây truyền máu, các ống
thông, dây và túi dung dịch dẫn lưu.
- Tất cả các vật sắc nhọn bao gồm bơm tiêm, kim tiêm, lưỡi dao cán
mổ, cưa, các mảnh thủy tinh vỡ và mọi vật liệu có thể gây ra vết cắt hoặc
chọc thủng, cho dù chúng có thể bị nhiễm khuẩn hay không.
- Các chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao, phát sinh từ các phòng thí
nghiệm, bao gồm: Găng tay, lam kính, ống nghiệm, bệnh phẩm sau khi sinh,
xét nghiệm, nuôi cấy, túi PE đựng máu
- Chất thải dược phẩm, bao gồm: Dược phẩm quá hạn, dược phẩm bị
nhiễm khuẩn, dược phẩm bị đổ, dược phẩm không còn nhu cầu sử dụng,
thuốc gây độc tế bào.
- Các mô và cơ quan người
- Động vật, bao gồm tất cả các mô cơ thể (dù nhiễm khuẩn hay
không), các cơ quan, chân tay, rau thai, bào thai, xác súc vật
- Chất thải phóng xạ phát sinh từ các hoạt động chẩn đoán, hóa trị liệu
và nghiên cứu bao gồm đủ các thể loại trên nhưng với mức nhiễm phóng xạ

khác nhau.
- Các chất hóa học nguy hại: Formaldehyde (được sử dụng trong khoa
giải phẫu bệnh, lọc máu, ướp xác và bảo quản các mẫu xét nghiệm), các hóa

6
chất hóa học hỗn hợp (các dung dịch làm sạch và khử khuẩn như phenol, dầu
mỡ, các dung dịch làm vệ sinh…).
* Các chất thải sinh hoạt của bệnh nhân, thân nhân, cán bộ nhân viên y
tế tại bệnh viện: Giấy vụn, vỏ đồ hộp, thức ăn thừa, rau, vỏ trái cây….
* Chất thải từ hoạt động chung của bệnh viện như lá cây, giấy loại…
Trong số các loại chất thải rắn trên thì chất thải phát sinh từ các hoạt
động chuyên môn được coi là chất thải y tế độc hại thường chiếm khoảng
10% tổng lượng rác thải bệnh viện.
* Khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh.
Khối lượng chất thải phát sinh trong bệnh viện tuỳ thuộc vào đặc điểm
của bệnh viện.
Mỗi ngày các cơ sở y tế trong cả nước thải ra 380 tấn chất thải rắn.
Trong 380 tấn chất thải rắn thì có khoảng 45 tấn là chất thải rắn y tế nguy hại.
Ước tính đến năm 2020, lượng chất thải này sẽ tăng lên gần gấp đôi vào
khoảng 800 tấn/ngày ( Theo: Đông Bích, 2010)
Bảng 2.1: Lượng chất thải y tế phát sinh tại các bệnh viện và các khoa
trong bệnh viện tại Việt Nam

Bệnh viện /Khoa

Tổng lượng chất thải y tế
phát sinh
( kg/giường/ngày)
Lượng chất thải nguy hại
phát sinh

( kg/giường/ngày)
BV
TW

BV
cấp
tỉnh
BV
cấp
huyện

TB BV
TW
BV
cấp
tỉnh
BV
cấp
huyện

TB
Khám bệnh 0,97 0,88 0,73 0,86

0,16 0,14 0,11 0,14

Chăm sóc đặc
biệt
1.08 0,27 1,00 1,11

0,30 0,31 0,18 0,26


Khoa dược 0,64 0,47 0,45 0,52

0,04 0,03 0,02 0,03

Trẻ em 0,05 0,41 0,45 0,45

0,45 0,05 0,02 0,04

Phẫu thuật 1,02 0,87 0,73 0,87

0,26 0,21 0,17 0,21

Phụ sản 0,82 0,95 0,73 0,83

0,21 0,22 0.17 0,20

Khoa mắt/ khoa
tai0
0,66 0,68 0,34 0,56

0,12 0,10 0,08 0,10

Khoa bệnh học 0,11 0,10 0,08 1,00

0,03 0,03 0,03 0,03

(Nguồn : Bộ Y tế, 2009)

7

2.1.2. Phân loại chất thải rắn y tế
Hầu hết các chất thải rắn từ quá trình khám chữa bệnh là các chất thải
độc hại mang tính chất đặc thù riêng. Phân loại chất thải là một khâu rất quan
trọng trong quá trình quản lý và xử lý chất thải rắn y tế. Nếu việc phân loại
được tiến hành tốt ngay từ đầu thì ngay những khâu quản lý và xử lý sau này
sẽ đạt hiệu quả cao hơn, hạn chế tối đa sự ô nhiễm đối với môi trường xung
quanh
2.1.2.1 Phân loại theo hệ thống phân loại WHO
+ Chất thải thông thường: Đó là các chất thải không độc hại, về bản chất
tương tự như rác thải sinh hoạt.
+ Chất thải là bệnh phẩm: Mô, cơ quan, phần tử bào thai người, xác động
vật thí nghiệm, máu, dịch thể
+ Chất thải chứa phóng xạ: Chất thải từ các quá trình chiếu chụp X
quang, phân tích tạo hình cơ quan trong cơ thể, điều trị và khu trú khối u…
+ Chất thải hóa học: Có tác dụng độc hại, ăn mòn, gây cháy hay nhiễm
độc gen hoặc không độc
+ Chất thải nhiễm khuẩn: Gồm các chất thải chứa tác nhân gây bệnh như
vi sinh vật kiểm định, bệnh phẩm bệnh nhân bị cách ly hoặc máu nhiễm
khuẩn
+ Các vật sắc nhọn: Kim tiêm, lưỡi dao, kéo mổ, chai lọ vỡ…có thể gây
thương tích cho người và vật
+Dược liệu: Dư thừa, quá hạn sử dụng
2.1.2.2 Phân loại theo hệ thống phân loại của Việt Nam
Tại Việt Nam, các chất thải bệnh viện được phân loại tùy theo nguồn gốc
đặc tính của từng loại. Chất thải của bệnh viện được phân thành bốn lại
+ Phế thải sinh hoạt: Có nguồn gốc từ khu nhà bếp, khu hành chính,
phòng bệnh nhân, hàng quán trong bệnh viện…
+ Phế thải chứa các vi trùng gây bệnh: Có nguồn gốc từ các ca phẫu
thuật, từ quá trình xét nghiệm, hoạt động khám chữa bệnh ….
+ Phế thải bị nhiễm bẩn: Các chất thải sau khi dung cho bệnh nhân, các đồ

dùng của y bác sĩ sau khi phẫu thuật, từ quá trình lau rửa sàn nhà, bùn cặn nạo
vét từ các hệ thống cống rãnh, từ điều trị khám chữa bệnh và vệ sinh công cộng

8
+ Phế thải đặc biệt: là các loại chất thải độc hại hơn các loại trên như các
kim loại nặng, chất phóng xạ, hóa chất, dược phẩm quá hạn sử dụng từ phòng
chiếu chụp X quang, kho dược liệu và hóa chất.
Như vậy, chất thải y tế có thành phần rất đa dạng bao gồm rác thải sinh
hoạt và đặc biệt là chất thải trong quá trình điều trị. Đây là nguồn gây ô nhiễm
sinh học, hóa học, truyền nhiễm dịch bệnh cho con người, gây ô nhiễm môi
trường đất, nước và không khí, gây tình trạng tăng tỉ lệ nhiễm trùng cho cán
bộ công nhân viên bệnh viện, bệnh nhân, người nhà chăm sóc bệnh nhân, làm
giảm hiệu suất điều trị, kéo dài ngày nằm viện và làm ảnh hưởng tới cư dân
sống xung quanh bệnh viện. (Theo báo cáo kiểm tra của các tỉnh và nhận xét
của đoàn kiểm tra liên Bộ)
2.1.2.3 Phân loại chất thải y tế nguy hại của bệnh viện huyện Hưng Hà
* Chất thải lây nhiễm:
a) Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt
hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn
của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thuỷ tinh vỡ
và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các hoạt động y tế.
b) Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm
máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh
cách ly.
c) Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh
trong các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm.
d) Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ
thể người; rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm.
* Chất thải hoá học nguy hại:
a) Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng.

b) Chất hoá học nguy hại sử dụng trong y tế
c) Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ
dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng
hóa trị liệu.
d) Chất thải chứa kim loại nặng: thuỷ ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thuỷ
ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì

9
(từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các
khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị).
* Chất thải phóng xạ:
Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát
sinh từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất.
Bảng 2.2: Tên và dạng dùng một số thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu
dùng trong chẩn đoán và điểu trị
Tên thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu Dạng dùng
Dimethyl – acid ( HIDA) Bột đông khô
Ethyl cysteinate dimmer (ECD) Bột đông khô
Thalium 201 (Tl-201) Dung dịch
Pyrophosphate (PYP) Bột đông khô
Carbon 11( C-11) Dung dịch
Cesium 137 ( Cesi – 137) Nguồn rắn
Cobalt 57 (Co-57) Dung dịch
Cobalt 60 (Co-60) Nguồn rắn
Dimercapto Succinic Acid ( DMSA) Bột đông khô
Diethyleno Triamine Pentaacetic acid (DTPA) Bột đông khô
Gallium citrate 67 ( Ga-67) Dung dịch
Human Albumin Serum (HAS) Bột đông khô
Nguồn: Đề tài chất thải rắn ở Việt Nam – Hiện trạng và giải pháp,2012
* Bình chứa áp suất:

Bao gồm bình đựng oxy, C02, bình ga, bình khí dung. Các bình này dễ
gây nổ khi thiêu đốt
* Chất thải thông thường:
Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm,
hoá học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:
a) Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh
cách ly).
b) Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ
thuỷ tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương

10
kín. Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hoá học
nguy hại.
c) Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật
liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim.
d) Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh
2.2. Thành phần của chất thải rắn y tế
* Thành phần vật lý:
- Đồ bông vải sợi: gồm bông gạc, băng, quần áo cũ, khăn lau, vải trải…
- Đồ giấy: hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh…
- Đồ thủy tinh: chai lọ, ống tiêm, bông tiêm, thủy tinh, ống nghiệm,…
- Đồ nhựa, hộp đựng, bơm tiêm, dây truyền máu, túi đựng,…
- Đồ kim loại: kim tiêm, dao mổ, hộp đựng,…
- Bệnh phẩm, máu mủ dính ở băng gạc,…
- Rác rưởi, lá cây, đất đá,…
* Thành phần hóa học
- Những chất vô cơ, kim loại, bột bó, chai lọ thủy tinh, sỏi đá, hóa chất,
thuốc thử,…
- Những chất hữu cơ: đồ vải sợi, giấy, phần cơ thể, đồ nhựa,
Nếu phân tích nguyên tố thì thấy gồm những thành phần C, H, O, N, S,

Cl và một phần : Trong đó:
+Thành phần hữu cơ: phần vật chất có thể bay hơi sau khi được nung ở
nhiệt độ 950
o
C.
+Thành phần vô cơ (tro) là phần tro còn lại sau khi nung rác ở 1200
o
C.
2.3. Các cơ sở pháp lý và nhận thức về quản lý chất thải bệnh viện
2.3.1 Quy định khung pháp luật/quy định chung
. Một số văn bản pháp luật có liên quan
- Luật bảo vệ môi trường đã được quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam thông qua ngày 29/11/ 2005 và có hiệu lực thi hành ngày 1/7/2006
- Chỉ thị số 17/2008 /CT-TTg ban hành ngày 5/6/2008 về “Một số giải pháp
cấp bách đẩy mạnh công tác xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng theo quyết định số 64/2003/QĐ -TTg”

11
- Bộ Y tế (2009) “ Kế hoạch bảo vệ môi trường ngành Y tế giai đoạn 2009 –
2015’’ Quyết định số 1783 /QĐ – BYT ngày 28/05/2009, Bộ Y tế, Hà Nội
- Quyết định số 170 / QĐ-TTg ngày 8/2/2012, Quyết định phê duyệt quy
hoạch tổng thể hệ thống xử lý CTR y tế nguy hại đến năm 2025
- Luật bảo vệ môi trường năm 2005 có sửa đổi năm 2013
- Thông tư số 12/2011/TT- BTNMT quy định về quản lý chất thải nguy hại
nguy hại (CTNH)
Một số tiêu chuẩn và hướng liên quan đến chất thải y tế
- Chương trình hành động của thủ tướng chính phủ trong “ Kế hoạch xử
lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng’’ trong đó có 84
bệnh viện theo quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22/04/2003 của thủ
tướng chính phủ

- Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6706-2000 về chất thải nguy hại
- Quy chế quản lý chất thải nguy hại, ban hành quyết định số
155/1999/QĐ - TTg ngày 16/07/1999
- Quy chế quản lý chất thải y tế, Bộ Y tế, Quyết định số 43/2007/QĐ –
BYT ngày 30/11/2007
Nghị định số 59/2007/NĐ – CP ngày 9/4/2007 của chính phủ về quản lý
chất thải rắn.
- Quyết định 609/ QĐ-TTg năm 2014 Quy hoạch xử lý chất thải rắn tại
Hà Nội đến năm 2030 tầm nhìn 2050
- Công văn 2340/BYT-MT năm 2014 tăng cường quản lý công tác quản
lý CTYT
- Thông tư quy định về quan trắc tác động môi trường từ hoạt động
khám, chữa bệnh của bệnh nhân, Thông tư số 31/2013/TT-BYT
- Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường:
Về việc ban hành Danh mục chất thải nguy hại:
- Vụ Môi trường:
+ Hoạch định các chính sách, chiến lược và pháp luật
+ Hướng dẫn áp dụng các tiêu chuẩn môi trường và pháp luật
+ Hướng dẫn áp dụng các tiêu chuẩn môi trường Việt Nam
- Vụ thẩm định và đánh giá tác động môi trường

12
+Phê duyệt các báo cáo DTM, các dự án xử lý chất thải rắn Y tế nguy hại
- Cục bảo vệ môi trường :
+Thực hiện giám sát và phối hợp cưỡng chế về môi trường đối với cơ sở y tế
- Bộ y tế
- Ngoài việc tuân thủ Luật Bảo vệ Môi trường và thực hiện tốt các văn
bản pháp luật về môi trường liên quan đến vấn đề chất thải và quản lý chất
thải nguy hại, như cá nghị định, định quyết ,công văn,…, tại cơ sở y tế cần
đưa ra và thực hiện các quy định trong phạm vi bệnh viện như:

- Các quy định vệ sinh và thực hiện Quy chế quản lý chất thải y tế trong
các trạm y tế và bệnh viện (nếu chưa có), thành lập các đội giám sát và phân
công từng người trong đội giám sát, giám sát các khoa, các phòng trong việc
thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải.
- Phân công trách nhiệm cho các thành viên trong cơ sở y tế thực hiện
quy trình quản lý chất thải bệnh viện.
- Định rõ việc xử phạt áp dụng với những người vi phạm, thiết lập một hệ
thống giám sát để bảo đảm các quy định được thực hiện.
- Bố trí các bảng quy định, hướng dẫn về vệ sinh môi trường, vệ sinh
buồng bệnh tại các khu vực phòng khám, khu điều trị bệnh, quy định nơi đổ
rác. Nêu rõ mức xử phạt khi phòng hoặc cá nhân vi phạm. Có bảng cấm các
cá nhân không phận sự, không được vào những khu vực nguy hiểm: khu tập
trung rác của bệnh viện, khu xử lý rác thải…
- Các tiêu chuẩn môi trường, quy chuẩn môi trường liên quan đến bệnh viện:
+ QCVN: 02/2008/BTNMT ban hành ngày 18/7/2008, Quy chuẩn kỹ
thuật quốc gia về khí thải lò đốt CTYT.
+ QCMT: 28/2010/BTNMT ban hành ngày 16/12/2010, Quy chuẩn kỹ
thuật quốc gia về nước thải y tế.
Ngày 01/7/2013, Bộ Y tế ban hành Thông tư số 18/2013/TT-BYT quy
định về vị trí, thiết kế, điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật, thiết bị của các cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh truyền nhiễm

13
2.3.2. Công tác đào tạo, tuyên truyền, giáo dục
- Ban lãnh đạo cần quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng, huấn
luyện cho cán bộ, nhân viên phụ trách quản lý chất thải y tế, bảo vệ môi
trường trong các bệnh viện, cơ sở y tế.
- Giáo dục và đào tạo nhân viên trong bệnh viện: nhằm tăng cường
nhận thức của nhân viên về chất thải và quy trình quản lý chất thải bệnh viện,
mối liên quan của chất thải y tế với vấn đề sức khỏe, an toàn và bảo vệ môi trường. Phổ

biến và cập nhật những thông tin về ảnh hưởng dịch tễ học của chất thải y tế đối với
sức khỏe được thống kê trên thế giới.
- Giáo dục cộng đồng: nhằm nâng cao ý thức và trách nhiệm của người
bệnh và người nhà bệnh nhân đối với vấn đề vệ sinh bệnh viện. Thông tin cho
cộng đồng về các yếu tố nguy cơ tiềm tàng trong chất thải bệnh viện. Đưa
chương trình quản lý chất thải và vệ sinh môi trường thành chương trình sức
khỏe của cộng đồng
2.4. Hiện trạng công tác quản lý và thu gom chất thải rắn trên thế giới và
ở Việt Nam ( Cơ sở thực tiễn )
2.4.1. Hiện trạng quản lý chất thải rắn Y tế trên thế giới
Trên thế giới, quản lý rác thải bệnh viện được nhiều quốc gia quan
tâm và tiến hành một cách triệt để từ rất lâu. Về quản lý, một loạt những
chính sách quy định, đã được ban hành nhằm kiểm soát chặt chẽ loại chất
thải này. Các hiệp ước quốc tế, các nguyên tắc, pháp luật và quy định về chất
thải nguy hại, trong đó có cả chất thải bệnh viện cũng đã được công nhận và
thực hiện trên hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Công ước Basel: Được ký kết bởi hơn 100 quốc gia, quy định về sự
vận chuyển các chất độc hại qua biên giới, đồng thời áp dụng, cả với chất
thải y tế. Công ước này đưa ra nguyên tắc chỉ vận chuyển hợp pháp chất thải
nguy hại từ các quốc gia không có điều kiện và công nghệ thích hợp sang
các quốc gia có điều kiện vật chất kỹ thuật để xử lý an toàn một số chất thải
đặc biệt.
Nguyên tắc pollutor pay: Nêu rõ mọi người, mọi cơ quan làm phát
sinh chất thải phải chịu trách nhiệm về pháp luật và tài chính trong việc đảm
bảo an toàn và giữ cho môi trường trong sạch.

14
Nguyên tắc proximitry: Quy định rằng việc xử lý chất thải nguy hại
cần được tiến hành ngay tại nơi phát sinh càng sớm càng tốt. Tránh tình
trạng chất thải bị lưu giữ trong thời gian dài gây ô nhiễm môi trường. Xử lý

chất thải bệnh viện, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế và khoa học công nghệ,
nhiều nước trên thế giới đã có những biện pháp khác nhau để xử lý loại rác
thải nguy hại này.
Các nước phát triển
Hiện tại trên thế giới ở hầu hết các quốc gia phát triển, trong các bệnh
viện, cơ sở chăm sóc sức khỏe, hay những công ty đặc biệt xử lý phế thải đều
có thiết lập hệ thống xử lý loại phế thải y tế. Đó là các loại lò đốt ở nhiệt độ
cao tùy theo loại phế thải từ 1000
o
C đến trên 4000
o
C. Tuy nhiên phương
pháp này hiện nay vẫn còn đang tranh cãi về việc xử lý khí bụi sau khi đốt đã
được thải vào không khí. Các phế thải y tế trong khi đốt, thải vào không khí
có nhiều hạt bụi li ti và các hóa chất độc hại phát sinh trong quá trình thiêu
đốt như axit clohidric, đioxin/furan, và một số kim loại độc hại như thủy
ngân, chì hoặc asen, cadmi. Do đó, tại Hoa kỳ vào năm 1996, đã bắt đầu có
các điều luật về khí thải của lò đốt và yêu cầu khí thải phải được giảm thiểu
bằng hệ thống lọc hóa học và cơ học tùy theo loại phế thải.
Ngoài ra còn có phương pháp khác để giải quyết vấn đề này đã được
các quốc gia lưu tâm đến vì phương pháp đốt đã gây ra nhiều bất lợi do lượng
khí độc hại phát sinh thải vào không khí, do đó các nhà khoa học hiện đang áp
dụng một phương pháp mới. Đó là phương pháp nghiền nát phế thải và xử lý
dưới nhiệt độ và áp suất cao để tránh việc phóng thích khí thải.
Dựa theo phương pháp này rác thải y tế nguy hại được chuyển qua một
máy nghiền nát. Phế thải đã được nghiền xong sẽ được chuyển qua một phòng
hơi có nhiệt độ 138
o
C và áp suất 3,8 bar. Ở điều kiện nhiệt độ và áp suất trên
là điều kiện tối ưu cho hơi nước bão hòa. Phế thải được xử lý trong vòng 40 -

60 phút. Sau cùng phế thải rắn đã được xử lý sẽ được chuyển đến các bãi rác
thông thường vì đã đạt được tiêu chuẩn tiệt trùng. Phương pháp này còn có ưu
điểm là làm giảm được khối lượng phế thải vì được nghiền nát, chi phí ít tốn
kém hơn lò đốt, cũng như không tạo ra khí thải vào không khí.
Tại các nước đang phát triển

15
Đối với các nước đang phát triển, việc quản lý môi trường nói chung
vẫn còn rất lơ là, nhất là đối với phế thải bệnh viện. Tuy nhiên trong khoảng 5
năm trở lại đây, các quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc đã bắt đầu chú ý đến
việc bảo vệ môi trường, và có nhiều tiến bộ trong việc xây dựng các lò đốt ở
bệnh viện. Đặc biệt ở Ấn Độ từ năm 1998, chính phủ đã ban hành luật về
“Phế thải y tế: Lập thủ tục và Quản lý”. Trong bộ luật này có ghi rõ ràng
phương pháp tiếp nhận phế thải, phân loại phế thải, cùng việc xử lý và di dời
đến các bãi rác Do đó, vấn đề phế thải y tế độc hại của quốc gia này đã được
cải thiện rất nhiều.
2.4.2. Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam
Theo thống kê của Tổng cục Môi trường, tính đến năm 2010, cả nước
hiện có hơn 1.087 bệnh viện với tổng số hơn 140.000 giường bệnh. Tổng
lượng chất thải rắn phát sinh từ các cơ sở y tế vào năm 2010 khoảng hơn 500
tấn/ngày, trong đó có 60 -70 tấn/ngày là chất thải rắn y tế nguy hại phải xử lý.
Và cả nước chỉ có khoảng hơn 200 chiếc lò đốt chuyên dụng (nhiệt độ cao và
có hai buồng) nhưng chỉ có 80 lò đốt hai buồng đạt tiêu chuẩn môi trường,
với công suất từ 300 - 450 kg/ngày, trong đó có 02 xí nghiệp đốt rác tập trung
tại Hà Nội và TP.HCM. Theo khảo sát của Sở Y tế Hà Nội, lượng rác thải rắn
Y tế từ hoạt động khám chữa bệnh của các cơ sở y tế trên địa bàn Hà Nội
trong năm 2013 là khoảng gần 3 triệu kg chất thải thông thường và 548.320
kg chất thải y tế nguy hại.Để xử lý lượng rác thải y tế trên địa bàn, thành phố
Hà Nội đã đầu tư xây dựng một lò đốt rác thải y tế công suất 35 tấn/ngày. Thế
nhưng, hiện nay lò đốt này mới sử dụng hết 1/7 công suất, tức tiêu hủy từ 5 -

6 tấn rác thải y tế/ngày. Còn lại là các lò đốt rác cỡ trung bình và cỡ nhỏ.
Hiện chất thải y tế ở Việt Nam được xử lý bằng hai phương án là đốt và chôn
lấp trong đó vẫn còn 30,8% bệnh viện xử lý chất thải y tế bằng lò đốt 1
buồng, thiêu đốt thủ công hoặc tự chôn lấp trong khuôn viên của bệnh viện.
Tỷ lệ bệnh viện chưa có hệ thống xử lý nước thải y tế chiếm 45,6%.
Trong khi đó, vấn đề môi trường y tế chưa được các địa phương quan
tâm đúng mức. Theo kết quả khảo sát của Cục Quản lý Môi trường y tế - Bộ y
tế vào năm 2010 hiện mới có khoảng 44% các bệnh viện có hệ thống xử lý
chất thải y tế nhưng nhiều nơi đã rơi vào tình trạng xuống cấp nghiêm trọng

×