Tải bản đầy đủ (.pdf) (76 trang)

Khảo sát sử dụng thuốc điều trị đái tháo đường typ 2 trên bệnh nhân ngoại trú tại phòng khám bệnh viện đa khoa khu vực tháp mười

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (651.2 KB, 76 trang )

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI




HÀ THANH LIÊM


KHẢO SÁT SỬ DỤNG THUỐC
ĐIỀU TRỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP 2
TRÊN BỆNH NHÂN NGOẠI TRÚ
TẠI PHÒNG KHÁM BỆNH VIỆN ĐA KHOA
KHU VỰC THÁP MƯỜI


LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I



HÀ NỘI - 2013

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI



HÀ THANH LIÊM



KHẢO SÁT SỬ DỤNG THUỐC
ĐIỀU TRỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP 2
TRÊN BỆNH NHÂN NGOẠI TRÚ
TẠI PHÒNG KHÁM BỆNH VIỆN ĐA KHOA
KHU VỰC THÁP MƯỜI


LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ: CKI 60 73 20
Nơi thực hiện: Trường Đại học Dược Hà Nội
Thời gian: Tháng 6/2012 đến tháng 10/2012

Người hướng dẫn khoa học: GS. TS Hoàng Thị Kim Huyền

HÀ NỘI - 2013

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bài tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới GS. TS HOÀNG

THỊ KIM HUYỀN người đã dạy dỗ, hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi hoàn
thàn luận văn.

Tôi xin trân trọng cảm ơn:

-Ban Giám hiệu Trường Đại Học Dược Hà Nội

-Ban Giam hiệu Trường Trung Cấp Quân Y II, Quân Khu 7, Tp HCM
Với tất cả lòng kính t

rọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bài lời cảm ơn
chân thành đến các thầy cô Trường Đại học Dược Hà Nội, bộ m
ôn quản lý
Dược đã cho tôi những lời khuyên quý báu trong suốt quá trình học tập và
nghiên cứu.
Đảng Ủy, Ban Giám
đốc Bệnh viện ĐKKV Tháp Mười, Khoa Khám
bệnh, Phòng Kế hoạch Tổng Hợp, Khoa Dược đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi
thu thập số liệu để hoàn thành luận văn.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn các anh chị và bạn bè c
ùng lới chuyên khoa cấp
I khóa 14-TPHCM, các bạn bè thân thiết đã cùng chia sẽ những khó khăn trong
cuộc sống già
nh cho tôi những tình cảm, sự động viên chổ vựa vững chắc.


Tp Hồ Chí Minh, Ngày 16 tháng 6 năm 2012





Hà Thanh Liêm


MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1.SƠ LƯỢC VỀ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 3
1.1.1. Khái niệm về đái tháo đường 3

1.1.2. Phân loại đái tháo đường 5
1.1.3. Chẩn đoán đái tháo đường 5
1.1.4. Nguyên nhân đái tháo đường 7
1.1.5. Các yếu tố nguy cơ của bệnh đái tháo đường typ 2 7
1.1.6. Biến chứng của bệnh đái tháo đường 7
1.2. ĐIỀU TRỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 9
1.2.1. Mục tiêu 9
1.2.2. Nguyên tắc điều trị đái tháo đường 9
1.2.3. Các thuốc điều trị đái tháo đường 11
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 26
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn 26
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ 26
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.2.1 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 26
2.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả điều trị 26
2.2.3. Một số qui ước dùng trong nghiên cứu 27
2.2.5. Các chỉ tiêu căn cứ đánh giá 27
2.3.6 Xử lý kết quả nghiên cứu 28
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
3.1. ĐẶC ĐIỂM BỆNH NHÂN TRONG MẪU NGHIÊN CỨU 29
3.1.1. Tuổi/giới 29
3.1.2. Thể trạng bệnh nhân (BMI) 30
3.1.3. Chỉ số hóa sinh máu của bệnh nhân khi bắt đầu nghiên cứu 30
3.1.4. Các bệnh liên quan đến ĐTĐ ở bệnh nhân nghiên cứu 33
3.2. KHẢO SÁT SỬ DỤNG THUỐC TRONG ĐIỀU TRỊ 34
3.2.1. Danh mục các thuốc ĐTĐ gặp trong mẫu nghiên cứu 34
3.2.2. Các phác đồ điều trị ĐTĐ được sử dụng 35
3.2.3. Tỷ lệ phác đồ đơn độc và phối hợp qua từng tháng 37
3.2.4. Liều lượng các thuốc được dùng 37

3.2.5. Lựa chọn thuốc và chức năng gan, thận của bệnh nhân 39
3.2.6. Các thuốc điều trị tăng huyết áp (THA) 39
3.3. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ 40
3.3.1. Mức độ kiểm soát glucose máu theo tháng 40
3.3.2. Mức độ kiểm soát lipid máu theo tháng 42
3.3.5. Tương tác thuốc 43
3.3.5. Tác dụng không mong muốn 45
Chương 4: BÀN LUẬN 46
4.1. VỀ ĐẶC ĐIỂM BỆNH NHÂN TRONG MẪU NGHIÊN CỨU 46
4.1.1 Tuổi và giới 46
4.1.2. Chỉ số sinh hóa máu, huyết áp của bệnh nhân khi bắt đầu nghiên cứu 46
4.1.3. Về bệnh liên quan đến đái tháo đường 49

4.2. VỀ SỬ DỤNG THUỐC TRONG ĐIỀU TRỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 49
4.2.1. Danh mục và liều lượng thuốc điều trị đái tháo đường 49
4.2.2. Về lựa chọn thuốc theo thể trạng 50
4.2.3. Về lựa chọn thuốc và nồng độ trung bình glucose máu 51
4.2.4. Lựa chọn thuốc với chức năng gan thận 52
4.3. VỀ TÍNH HIỆU QUẢ TRONG ĐIỀU TRỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 52
4.3.1. Sự thay đổi nồng độ glucose máu 52
4.3.2. Mức độ kiểm soát glucose sau điều trị 53
4.3.3. Về các chỉ số lipid máu 54
4.3.4. Về các chỉ số huyết áp 55
4.3.5. Về chức năng gan, thận 56
4.3.6. Tương tác thuốc và tác dụng không mong muốn 56
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ace- CoA: Acetyl Coenzym A

ADP: Adenosin Diphosphat
ALAT: Alanin Amino Transferase
ASAT: Aspartat Amino Transferase
ATP: Adenosin Triphosphat
BMI: Chỉ số khối cơ thể hay còn gọi chỉ số Quetelet (Body Mass
Index)
BN: bệnh nhân
Dalton: Đơn vị trọng lượng phân tử rất gần với trọng lượng của hydro (~
1)
ĐTĐ: đái tháo đường
FDA: Cục quản lý thuốc & thực phẩm Mỹ (Food and Drug
Administration)
GLUT: Protein vận chuyển glucose vào tế bào (Glucose transporter)
GM: glucose máu
HbAlc: Hemoglobin gắn glucose (Glycosylated Hemoglobin)
HDL: Lipoprotein tỷ trọng cao (Hight Density Lipoprotein)
IDF: Liên đoàn đái tháo đư
ờng quốc tế (International Diabetes
Federation)
LDL: Lipoprotein tỷ trọng thấp (Low Density Lipoprotein)
NXB: Nhà xuất bản
PPARγ: Peroxisome Proliferator Activated Receptor gamma
SD: Độ lệch chuẩn (Standard Deviation)
SU: Sulfonylure hay sulfonylureas
TNFα : Yếu tố hoại tử bướu α (Tumor necrosis factor - α)
TZD: Thiazolidinedione
WHO: Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization)

DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Đặc điểm chẩn đoán phân biệt ĐTĐ typ 1 và typ 2 6

Bảng 1.
2 Nhu cầu năng lượng điều chỉnh theo giới và mức độ lao động nhẹ 11
Bảng 1.
3 Chọn thuốc đái tháo đường typ 2 24
Bảng 1.
4 Phối hợp thuốc trong điều trị đái tháo đường typ 2 25
Bảng 2.
1 Chỉ tiêu đánh giá mức độ kiểm soát glucose máu, lipid máu và huyết áp 27
Bảng 2.
2 Phân loại thể trạng dựa trên BMI theo tiêu chuẩn của WHO 28
Bảng 2.
3 Chỉ tiêu đánh giá chức năng gan, thận 28
Bảng 3.
1 Phân bố bệnh nhân đái tháo đường theo tuổi/giới 29
Bảng 3.
2. Thể trạng bệnh nhân trước điều trị 30
Bản
g 3.3 Các chỉ số hóa sinh máu cơ bản của bệnh nhân khi bắt đầu nghiên cứu 31
Bảng 3.
4. Phân loại theo chỉ số glucose máu, lipid máu và huyết áp khi bắt đầu
nghiên cứu 32
Bảng 3.
5 Phân loại chỉ số chức năng gan thận khi bắt đầu nghiên cứu 33
Bảng 3.
6 Bệnh liên quan đến ĐTĐ ở bệnh nhân nghiên cứu 33
Bảng 3.
7. Danh mục thuốc sử dụng cho bệnh nhân nghiên cứu 34
Bảng 3.
8 Các phác đồ đã sử dụng trong 3 tháng 35
Bảng 3.

9. Số bệnh nhân duy trì phác đồ ban đầu sau ba tháng 36
Bảng 3.
10 Liều dùng hàng ngày cho các thuốc điều trị đái tháo đường 38
Bảng 3.
11 Các thuốc sử dụng và chức năng gan, thận của bệnh nhân 39
Bảng 3.
12 Các thuốc điều trị tăng huyết áp 39
Bảng 3.
13. Mức độ kiểm soát glucose qua từng tháng 42
Bảng 3.
14. Tổng hợp đánh giá chỉ số lipid sau 3 tháng điều trị 43
Bảng 3.
15. Phân loại mức độ kiểm soát các chỉ số lipid sau 3 tháng 43
Bảng 3.
16. Tương tác gặp trong mẫu nghiên cứu 44
Bảng 3.17 Các tác dụng không mong muốn 45


DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Hình 3.1 Tỷ lệ bệnh nhân dùng đơn trị liệu và phối hợp qua từng tháng 37
Hình 3.2 Nồng độ glucose máu trung bình giảm với các phác đồ thuốc 41
Hình 4.2. So sánh tỷ lệ mức độ kiểm soát lipid giữa T1 – T4. 55

ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay đái tháo đường (ĐTĐ) đang là vấn đề xã hội của toàn cầu và
đang được xem là đại dịch của thế kỷ XXI là một trong những quan tâm về
sức khỏe cộng đồng của Y học
Bệnh đái tháo đường đang là nguyên nhân gây tử vong hàng thứ tư
hoặc thứ năm ở các nước phát triển và được xếp vào nhóm bệnh không lây
phát triển nhanh nhất thế giới. Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới

(WHO), bệnh đái tháo đường typ 2 chiếm khoảng 85 – 95% tổng số người
mắc bệnh đái tháo đường . Theo báo cáo mới nhất của Hiệp hội đái tháo

đường thế giới (IDF) vào năm 2010 có khoảng 285 triệu người mắc bệnh đái
tháo đường và vào năm 2030 ước khoảng 438 triệu người mắc. Tỷ lệ mắc
bệnh (ĐTĐ) ở việt Nam
nằm trong khu vực hai tỷ lệ từ 2% - 4% . Trong
nghiên cứu năm 2002-2003 trên toàn lãnh thổ Việt Nam thì tỷ lệ mắc bệnh
(ĐTĐ)trên toàn quốc là 2,7%, tỷ lệ đái tháo đường ở nữ là 3,7%, tỷ lệ tương
ứng ở nam là 3,3%. Vùng núi cao tỷ lệ mắc bệnh 2,1%; vùng trung du tỷ lệ
mắc bệnh là 2,2%; vùng đồng bằng tỷ lệ mắc bệnh là 2,7% (thấp nhất là 2,4%,
cao nhất là 4%); vùng đô thị và công nghiệp tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ 4,4% .
Theo đề tài nghiên cứu về bệnh (ĐTĐ) tại khoa khám
bệnh của BSCKI
Nguyễn Đăng Đổng tại bệnh viện đa Khoa khu vực Tháp Mười năm 2011 cho
biết tình hình bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường đang có chiều hướng gia tăng ở
Đồng Tháp đặc biệt ở dùng đô thị của Huyện Tháp Mười , tỷ lệ mắc bệnh tiểu
đường 6%
.
Căn bệnh này làm ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế thế giới: ước tính,
mỗi năm trên thế giới người ta phải bỏ ra khoảng 215 – 375 tỷ đô la để chữa
căn bệnh này. Nguyên nhân chính dẫn tới sự bùng nổ của căn bệnh này là do
cách sống thời đại ngày nay: đó là cuộc sống ít hoạt động theo phong cách
công sở và chế độ ăn uống không phù hợp.
Cho đến nay vẫn chưa có thuốc điều trị khỏi hẳn bệnh mà chỉ là nhằm
làm
giảm các triệu chứng, biến chứng do tăng glucose máu gây ra trên mắt,
1

thần kinh, thận, tim, mạch máu… Vì vậy, bệnh nhân đái tháo đường phải

dùng thuốc suốt đời, theo đó việc dùng thuốc lâu dài trở thành gánh nặng cá
nhân, các bệnh viện nói riêng và cho xã hội nói chung. Đó là chi phí thuốc,
chi phí khám chữa bệnh cùng với hậu quả giảm sức lao động xã hội của các
bệnh nhân mắc bệnh.
Bệnh viện đa khoa khu vực Tháp Mười , là bệnh viện tuyến huyện có
giường bệnh 250 gường , bệnh viện tuyến 3 trực thuộc Sở y tế Đồng Tháp.
Theo dõi qua các năm điều trị tại phòng khám
bệnh viện đa khoa khu
vực-Tháp mười chúng tôi nhận thấy tỷ lệ bệnh nhân (ĐTĐ) nhập viện ngày
càng tăng đồng thời kèm theo nhiều biến chứng về mắt , thận , các bệnh lý tim
mạch , thần kinh và mạch máu……Để giải quyết được phần nào nhu cầu bức
thiết đó, chúng tôi tiến hành đề tài “Khảo sát sử dụng thuốc điều trị đái

tháo đường typ 2 trên bệnh nhân ngoại trú tại phòng khám bệnh viện đa
khoa khu vực Tháp Mười” nhằm mục tiêu:
1. Khảo sát đặc điểm của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu .
2. Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trên bệnh nhân ĐTĐ typ 2 được khám
và điều trị ngoại trú ở bệnh viện.
3. Phân tích tính hợp lý an toàn trong sử dụng thuốc.
Từ đó đề xuất phương hướng nâng ca
o tính hiệu quả, hợp lý, an toàn trong
sử dụng thuốc điều trị đái tháo đường tại bệnh viện đa khoa khu vực Tháp
Mười.
2

Chương 1:
TỔNG QUAN
1.1.SƠ LƯỢC VỀ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG:
1.1.1. Khái niệm về đái tháo đường:[17]
Có rất nhiều yếu tố tham gia vào quá trình hình thành cơ chế bệnh

sinh của đái tháo đường typ 2. Trong đó đặc điểm quan trọng nhất là có sự
tương tác giữa yếu tố gen và môi trường.
*Yếu tố di truyền:[1]
- Bố mẹ bị đái tháo đường thì khả năng mắc bệnh của con từ 40 – 70%.

- Có 60 – 100% các cặp song sinh cùng trứng cùng mắc bệnh đái tháo
đường typ 2.
- Người mẹ suy dinh dưỡng khi mang thai kết hợp với khi đứa trẻ sinh
ra có chế độ dinh dưỡng không hợp lý, ít hoạt động thể lực…dễ gây béo phì.
Đây là một trong các nguyên nhân dẫn đến bệnh đái tháo đường giai đoạn sau
của cuộc đời
* Các yếu tố môi trường:
- Béo phì thừa cân được xem là hậu quả của sự mất thăng bằng năng
lượng và dẫn đến rối loạn chuyển hóa li
pid máu. Đây cũng là yếu tố góp phần
vào quá trình tăng đề kháng insulin làm đái tháo đường typ 2 phát triển.
- Chế độ ít vận động: sự tăng trưởng kinh tế, tốc độ đô thị hóa, thay đổi
về lối sống, thường làm cho con người lười vận động, phụ thuộc vào máy móc
nhiều hơn. Đặc biệt là ở các nước đang phát triển. có nhiều nghiên cứu đã
chứng m
inh tỷ lệ đái tháo đường typ 2 và suy giảm dung nạp glucose ở những
người ít vận động cao gấp 2 lần so với nhóm người có mức hoạt động bình
thường hoặc cao.
* Các yếu tố đặc biệt trong tiền sử:
+ Trẻ sinh ra có cân nặng thấp < 2500gram
3

+ Phụ nữ có tiền sử đái tháo đường thai kỳ hoặc sinh con nặng >
4000gram
+ Tiền sử đã được chẩn đoán rối loạn dung nạp glucose hoặc rối loạn

glucose lúc đói.
+ Tiền sử gia đình có bố, mẹ, hoặc con ruột, anh chị em ruột bị mắc
đái tháo đường.
+ Tăng huyết áp vô căn.
+ Thay đổi môi trường sống.
+ Tuổi ≥ 40.
* Đái tháo đường có đặc tính là vừa kháng insulin, vừa có suy giảm k
hả
năng bài tiết insulin
Bệnh đái tháo đường được đặc trưng bởi sự nhạy cảm của insulin
(kháng insulin) và sự suy giảm chức năng tế bào (suy giảm bài tiết insulin)
dẫn đến mất khả năng duy trì mức glucose máu bình thường. Nhưng vấn đề là
kháng insulin có trước? Hay suy giảm bài tiết insulin có trước? Câu hỏi này
vẫn đang được các nhà khoa học nghiên cứu.
Đái tháo đường (ĐTĐ), theo WHO, là hội chứng có đặc tính biểu hiện
bằng tăng glucose máu do hậu quả thiếu hoặc mất hoàn toàn insuli
n hoặc do
liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết và hoạt động của insulin .
Khái niệm khác,( ĐTĐ) là do thiếu hụt insulin về số lượng hoặc về chất
lượng dẫn đến tăng glucose máu, có thể có đường trong nước tiểu, kèm theo
rối loạn chuyển hóa lipid, protid và các tổn thương của hệ mạch .
Người bình thường glucose máu dao động từ 4,4 – 6,1mm
ol/L hay 80 –
110mg/dL. Thông thường, nồng độ glucose máu vượt quá 10mmol/L là xuất hiện
glucose trong nước tiểu. Nồng độ glucose máu mà khi vượt quá giá trị này sẽ có
glucose trong nước tiểu gọi là ngưỡng thải đường – hay ngưỡng thận .
Sẽ được kết luận là ĐTĐ khi :
- Hoặc nồng độ glucose máu lúc đói ≥ 7mmol/L (hay ≥126mg/dL).
4


- Hoặc nồng độ glucose máu thời điểm bất kỳ ≥ 11,1mmol/L (hay
≥200mg/dL ) kết hợp với các triệu chứng lâm sàng của ĐTĐ (uống nhiều, tiểu
nhiều, có glucose trong nước tiểu, gầy sút…).
- Hoặc nồng độ glucose máu ≥ 11,1mmol/L (hay ≥200mg/dL ) ở thời
điểm 2h sau nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống.
1.1.2. Phân loại đái tháo đường:
Dựa vào sinh lý bệnh, ĐTĐ được chia thành 2 nhóm cơ bản :

- ĐTĐ typ 1 (ĐTĐ phụ thuộc insulin): do tổn thương hoặc suy giảm
chức năng tế bào β nguyên phát của đảo Langerhans tụy. Tụy không bài tiết
đủ insulin nên phải điều trị bằng insulin bổ sung từ bên ngoài vào.
- ĐTĐ typ 2 (ĐTĐ không phụ thuộc insulin): do kháng insulin kết
hợp với giảm khả năng bài tiết insulin, tổn thương receptor insulin (giảm số
lượng hoặc giảm
tính cảm thụ của receptor). Insulin máu vẫn bình thường
hoặc có khi còn tăng.
1.1.3. Chẩn đoán đái tháo đường:[17]
1.1.3.1. Chẩn đoán xác định:
Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường, được Hiệp hội đái tháo đường của
Mỹ kiến nghị và được nhóm chuyên gia về đái tháo đường của WHO công nhận
vào năm 1998, tuyên bố và áp dụng vào năm 1999 gồm 3 tiêu chí sau:
-Mức glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ 11,1mmol/L
(200m
g/dl), nhưng kèm theo các triệu chứng lâm sàng của đái tháo đường.
-Mức glucose huyết tương lúc đói(tối thiểu 8h sau ăn) ≥ 7mmol/l
(126mg/dl).
-Mức glucose huyết tương ≥ 11,1mmol/l(200mg/dl) ở thời điểm 2 giờ
sau nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống.
5


1.1.3.2 Chẩn đoán tiền ĐTĐ
Rối loạn dung nạp glucose: mức glucose huyết tương ở thời điểm 2 giờ sau
khi làm nghiệm pháp tăng glucose bằng đường uống từ 7,8mmol/l (140mg/dl) đến
11,1mmol/l (198mg/dl).
Suy giảm dung nạp glucose máu lúc đói: mức glucose huyết tương lúc
đói từ 5,6mmol/l (100mg/dl) – 6,9mmol/l (125mg/dl) và lượng glucose huyết
tương ở thời điểm 2 giờ sau khi làm nghiệm pháp tăng glucose bằng đường
uống từ 7,8mmol/l (140mg/dl).
1.1.3.3. Chẩn đoán typ đái tháo đường:
Đái tháo đường có 2 typ để phân biệt đái tháo đường là typ 1 hay typ 2
người ta p
hải dựa vào các tiêu chuẩn để phân biệt bảng 1.1.
Bảng 1.1 Đặc điểm chẩn đoán phân biệt ĐTĐ typ 1 và typ 2
Đặc điểm Typ 1 Typ 2
Tuổi khởi
bệnh
Thường từ tuổi thơ ấu đến tuổi dạy thì Thường >40 tuổi
Khởi phát
bệnh
Rầm rộ, đủ các triệu chứng
Chậm, thường không
rõ các triệu chứng
Biểu hiện
lâm sàng
Triệu chứng từ trung bình đến nặng, tiến
triển tương đối nhanh .
+ ăn nhiều , tiểu nhiều , khát nhiều , mệt
mỏi , giảm cân nhanh ,nhiễm acid -ceton
Khởi đầu chậm , tiến
triển chậm ,tăng nhẹ

tiểu tiện , mệt mõi ,
không nhiễm – acid -
ceton
Béo phì Ít gặp Thường gặp
Tiền sử gia
đình
Ít liên quan Liên quan rõ rệt
Kháng thể
ICA dương tính
Anti GAD dương tính
ICA âm tính
Anti GAD âm tính
Điều trị Bắt buộc dùng Insulin
Thay đổi lối sống, các
thuốc hạ glucose máu
bằng đường uống,
hoặc insulin
Kết hợp với
bệnh tự miễn
Có Không
6

1.1.4. Nguyên nhân đái tháo đường:
Cho đến nay người ta chưa tìm ra một nguyên nhân cụ thể nào mà là
dựa trên 4 nguyên nhân cơ bản: bệnh lý tụy – gan, nguyên nhân nội tiết, bất
thường insulin, di truyền .
1.1.5. Các yếu tố nguy cơ của bệnh đái tháo đường typ 2:[1]
Mặc dù nguyên nhân gây bệnh chưa thật rõ, song các yếu tố nguy cơ
gây tỷ lệ mắc cao đã được chứng minh :
- Phụ nữ có tiền sử sinh con nặng trên 4000g.

- Gia đình có người mắc bệnh đái tháo đường.
- Béo phì, cuộc sống tĩnh tại, ít vận động.
- Những người từ 40 tuổi trở lên.
- Rối loạn mỡ máu, tăng huyết áp.
- Rối loạn dung nạp gl
ucose và rối loạn glucose lúc đói.
1.1.6. Biến chứng của bệnh đái tháo đường:[4]
Đái tháo đường hay nói chính xác hơn là tăng glucose máu ảnh hưởng
không nhiều bởi sự tăng glucose tạm thời trong m
áu mà nguy hiểm trở thành
vấn đề thời sự chính là bởi các biến chứng do hậu quả của sự tăng glucose
máu kéo dài gây ra. Có hai nhóm biến chứng cơ bản :
1.1.6.1 Các biến chứng cấp tính:[4]
* Nhiễm toan ceton và hôn mê nhiễm toan ceton do đái tháo đường:
Do chuyển hóa không hoàn toàn protid, glucid, lipid vì thiếu insulin tạo
ứ đọng Ace-CoA, dẫn đến tăng tạo các thể cetonic trong máu. Nhiễm toan
ceton còn có thể do nhịn đói kéo dài, do rượu. Biến chứng này chủ yếu xảy ra
ở bệnh nhân ĐTĐ typ 1, khi mà nồng độ glucose máu ≥ 13,9mm
ol/L (≥
250mg/dL).
* Nhiễm toan acid lactic:
Là một rối loạn chuyển hóa nặng, tỷ lệ tử vong cao do thiếu oxy tổ
chức vì bất kỳ nguyên nhân nào hoặc do các thuốc ĐTĐ nhóm biguaid, hoặc
tổn thương gan. Biến chứng này thường gặp ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 .
* Hôn mê do tăng áp lực thẩm thấu:
Khi glucose máu ≥ 33,3mmol/l (hay ≥ 600mg/dl) làm tăng áp lực thẩm
thấu m
áu đẫn đến mất nước tế bào, làm rối loạn cân bằng điện giải.
7


* Hôn mê do hạ glucose máu:
Là biến chứng thường gặp trong quá trình điều trị đái tháo đường cả typ
1 và typ 2. Nguyên nhân chủ yếu do các thuốc hạ glucose máu gây ra. Đó là
các nhóm thuốc insulin, sulfonylure.
* Các bệnh nhiễm trùng cấp tính:
Khi glucose tăng cao sẽ làm chậm khả năng di chuyển của các bạch cầu
hạt dẫn đến sức đề kháng kém nên dễ bị nhiễm trùng và khi nhiễm trùng lại
làm nguy cơ gây tăng glucose tạo vòng quẩn nhiễm trùng nặng hơn.
1.1.6.2. Các biến chứng mạn tính:[5]
Liên
quan chặt chẽ tới tổn thương hệ mạch. Bao gồm hai nhóm bệnh là
tổn thương trên vi mạch và tổn thương trên mạch máu lớn:
Tổn thương trên vi mạch:

Tình trạng tăng nồng độ glucose máu mạn tính dẫn đến tăng quá trình
glucosyl hóa của hemoglobin (tạo HbAlc), của albumin (tạo fructosamin) sinh
ra các gốc tự do phá hủy tế bào và vi mạch. Một giả thuyết khác: trong ĐTĐ,
glucose phải chuyển hóa polyol tạo ra fructose + sorbitol. Và chính sorbitol
gây ra bệnh lý thần kinh mạch máu phá hủy mô .
* Tổn thương mắt:
Bao gồm: đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp, tổn thương đáy mắt.
* Bệnh lý cầu thận, thận:
Thường xuất hiện sa
u 3 – 5 năm mắc bệnh ĐTĐ. Biểu hiện trước tiên là
sự tăng bài tiết microalbumin niệu, dần dần giảm khả năng lọc của cầu thận
dẫn đến giữ nước và phù xuất hiện .
* Bệnh lý thần kinh:
Thường xuất hiện rất sớm và có tác giả cho rằng đó là một triệu chứng
chứ không phải biến chứng. Tổn thương t
hần kinh đặc hiệu nhất là tổn thương

ngoại vi, tỷ lệ tăng theo tuổi và thời gian bị bệnh. Đó là các triệu chứng đau,
nóng rát ở bàn chân, cẳng tay, cảm giác tê bì, kiến bò, liệt dương .

8

Tổn thương trên mạch máu lớn:
* Bệnh tim mạch:
Chính quá trình tăng sinh gốc tự do của ĐTĐ đã làm giảm tổng hợp
nitro oxyd (NO), từ đó phá hủy lớp tế bào nội mạc. Tỷ lệ mắc các bệnh tim
mạch ở bệnh nhân ĐTĐ cao gấp 2,5 lần người không ĐTĐ .
* Tổn thương bàn chân:
Là sự phối hợp tổn thương mạch máu và thần kinh: loét bàn chân,
nhiễm trùng, hoại tử đầu chi, căng phồng mạch máu ở m
u bàn chân.
* Tổn thương răng miệng:
Do glucose máu tăng cao gây viêm, hoại tử các tổ chức quanh răng dẫn
đến viêm lợi, sâu răng, rụng răng.
1.2. ĐIỀU TRỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG:
1.2.1. Mục tiêu:
-Đưa glucose máu về càng gần giá trị bình thường càng tốt.
-Phòng những biến chứng có thể có.
-Nâng cao chất lượng cuộc sống.
Để đạt được mục tiêu cần chế độ ăn uống hợp l
ý; tăng vận động cơ
bắp, tránh lối sống tĩnh tại; dùng thuốc hạ glucose máu khi cần thiết .
Thực hiện chế độ ăn uống hợp lý là điều cần thiết đầu tiên và quan
trọng trong điều trị ĐTĐ .
1.2.2. Nguyên tắc điều trị đái tháo đường:
Nguyên tắc: để điều trị đái tháo đường có kết quả thuốc phải kết hợp
với chế độ ăn uống và luyện tập.

Khuyến cáo kinh điển:
với ĐTĐ typ 2, chỉ nên bắt đầu sau 4 – 6 tuần
điều trị bằng chế độ ăn và vận động hợp lý mà nồng độ glucose máu không
cải thiện. Bắt đầu dò từ liều thấp đến cao – điều trị bậc thang. Cơ sở lựa chọn
thuốc phụ thuộc vào cường độ tác dụng, thời gian tác dụng, cơ chế tác dụng,
tác dụng phụ, người bệnh .
9

Quan điểm mới – điều trị tích cực: sớm đưa nồng độ glucose máu trở
về mức sinh lý bình thường để hạn chế được nhiều biến chứng do bệnh ĐTĐ
gây ra. Phối hợp thuốc sớm, và nhiều biện pháp khác để kiểm soát glucose
máu cùng các chỉ số lipid máu, huyết áp, cân nặng hiệu quả nhất .
Có hai phương pháp cơ bản :
Phương pháp không dùng thuốc: chế độ ăn uống hợp lý, tăng vận động
cơ bắp, tránh lối sống tĩnh tại.
Phương pháp dùng t
huốc: khi phương pháp không dùng thuốc chưa đạt
hiệu quả mong muốn. Nếu phải dùng thuốc thì vẫn phải kết hợp chặt chẽ với
phương pháp không dùng thuốc.
* Chế độ ăn:
Mục đích của việc thực hiện chế độ ăn:
- Không để tạo ra thừa năng lượng.
- Duy trì lượng glucose máu phù hợp, không gây t
hừa, gây nhiễm độc
đường hoặc không gây ra hạ glucose máu.
*Tỷ lệ các chất dinh dưỡng:
- Protein: lý tưởng nhất là lượng protein 0,8g/kg/ngày.
- Lipid: thường chiếm tỷ lệ 15 – 20%, tùy theo tập quán ăn uống và
điều kiện địa lý. Nhưng lượng acid béo bão hòa luôn < 10%.
- Glucid: tỷ lệ chung có thể từ 60 – 65%. Sử dụng tối đa đường đa hạn

chế đường đơn.
Nhu cầu năng lượng:
- Theo nhiều nghiên cứu nhu cầu năng lượng đảm bảo cho hoạt động
của một người bình thường là 30-35calo/kg/ngày đối với nữ và 35–
40calo/kg/
ngày đối với nam giới.
- Trong một số trường hợp cần điều chỉnh mức năng lượng cho phù hợp
với đặc điểm nghề nghiệp:
10

Bảng 1.2 Nhu cầu năng lượng điều chỉnh theo giới và mức độ lao động
nhẹ
Mức lao động Nam Nữ
Tĩnh tại 30kcal/kg 25kcal/kg
Vừa 35kcal/kg 30kcal/kg
Nặng 45kcal/kg 40kcal/kg
Khi lập chế độ ăn cần lưu ý: tùy theo tuổi, tùy theo công việc, tùy theo
thể trạng. Phân bố bữa ăn: trong thực tế người ta vẫn duy trì ba bữa ăn chính:
sáng, trưa, tối, các bữa phụ vào giữa buổi sáng hoặc giữa buổi chiều và trước
khi đi ngủ.
* Luyện tập:
Nguyên tắc:
- Phải coi luyện tập là một phương pháp điều trị.
- Phải thực hiện nghiêm túc theo trình tự được hướng dẫn.
-
Phải phù hợp với lứa tuổi, tình trạng sức khỏe và sở thích cá nhân.
- Nên tập những môn rèn luyện dẻo dai bền bỉ hơn là những môn cần
sử dụng nhiều thể lực.
Mục đích: điều chỉnh glucose máu thông qua việc làm giảm tình trạng
kháng insulin nhờ:

- Giảm cân nặng, nhất là những đối tượng thừa cân, béo phì.
- Giảm kháng insulin.
Theo dõi chặt chẽ nồng độ gluc
ose máu hằng ngày, hằng tuần cũng như
các chỉ tiêu cân nặng, huyết áp, các chỉ số lipid máu.
1.2.3. Các thuốc điều trị đái tháo đường:[12][14]
Hiện nay trong điều trị ĐTĐ cả typ 1 và typ 2 có hai nhóm cơ bản :
+ Nhóm bào chế dạng tiêm: insulin và chế phẩm.
+ Các thuốc uống điều trị ĐTĐ typ 2 được chia thành các nhóm chính
dựa trên cơ chế tác dụng :
11

* Nhóm kích thích bài tiết insulin : sulfonylurea, meglitinid
* Nhóm tăng tác dụng insulin tại cơ quan đích : biguanid (metformin ) ,
thiazolidinedion , benfluorex.
* Nhóm ức chế hấp thu tại ruột: acarbose và miglitol.
Các sulfonylurea và biguanid ra đời sớm nhất và là sự lựa chọn điều trị
truyền thống ban đầu cho bệnh nhân ĐTĐ typ 2, các thuốc nhóm meglitinid là
lựa chọn thay thế cho sulfonylurea khi cần tác dụng ngắn.
Các thiazolidinedion được phát minh từ đầu những năm 1980, là nhóm
có tác dụng hiệu quả , làm giảm đề kháng isulin; tuy nhiên hiện nay các thuốc
trong nhóm này đều bị khuyến cáo hạn chế sử dụng vì gây ra
tác dụng không
mong muốn nặng nề ( tăng tỷ lệ tử vong do tim mạch với rosiglitazone hoặc
tăng ung thư bàng quang với pioglitazone ).
Các thuốc ức chế alpha-glucosidase có tác dụng tương đối yếu trong điều
trị ĐTĐ và các tác dụng phụ đáng kể , nhóm này được sử dụng chủ yếu cho
những bệnh nhân không thể đạt được glucose máu mục tiêu với các thuốc
khác .
1.2.3.1 Các sulfonyl

ure (SU):[21]
Tác dụng hạ glucose máu của các SU được Janbon cùng đồng nghiệp phát
hiện vào năm 1942, đến năm 1950 thì bắt đầu được đưa vào sử dụng. Và chúng
trở thành nhóm thuốc điều trị chủ lực ĐTĐ typ 2 từ cuối những năm 1970.
* Tác dụng và cơ chế:
Các sulfonylure tác động vào nhiều khâu khác nhau để làm tăng nồng
độ insulin trong máu đó là:
- Kích thích tụy tiết insulin: thông qua các kênh Kali phụ thuộc ATP
(gọi tắt là kênh K-ATP) và kênh Calci phụ thuộc điện thế nằm t
rên màng tế
bào β của tụy. Các SU liên kết với thụ thể của chúng định vị trên màng tế bào
tụy, hoạt động của phức hợp thụ thể này sẽ đóng kên K-ATP, gây khử cực
màng tế bào β; sự khử cực này cho phép mở kênh Calci phụ thuộc điện thế,
12

đưa Ca
2+
vào trong tế bào liên kết với calmodulin gây phóng thích insulin từ
các hạt chứa ra ngoại tế bào .
Các phân tử glucose cũng gây tăng tiết insulin tương tự SU: glucose
vào nội bào được phosphoryl hóa bởi glucokinase và chuyển hóa trong ty lạp
thể, tại đây ATP được tạo ra từ ADP, khi nồng độ ATP cao và ADP thấp hoặc
khi đường huyết tăng sẽ làm kênh K-ATP đóng lại, ion K
+
tích lũy trong nội
bào tăng cao gây khử cực, kênh Calci phụ thuộc điện thế lại mở ra, cho ion
Ca
2+
vào trong tế bào, nồng độ cao Ca
2+

nội bào làm di chuyển các hạt chứa
insulin ra bề mặt tế bào và phóng thích insulin ra ngoài .
- Ức chế giải phóng glucagon từ tụy.
- Tăng ái lực gắn insulin với receptor.
- Giảm chiết suất insulin qua gan.
- Giảm sự kết tập của tiểu cầu .
- Giảm stress oxy hóa .
Nhóm glinid cũng cùng cơ chế tác dụng với sulfonylure. Tỷ lệ
ATP/ADP tăng cao cũng làm đóng kênh K-ATP.
* Phân loại – đặc điểm:
Đến nay, các SU được chia ra làm 2 thế hệ:
- Thế hệ 1 gồm: acetohexami
d, carbatamid, clopropamid, tolazamid,
tolbutamid.
- Thế hệ 2 gồm: glibenclamid, glibomurid, gliclazid, glimepirid,
glipizid, gliquidon, glyburid .
Các thế hệ khác nhau về nguy cơ gây hạ glucose máu, độc tính với gan
thận, xương, tác dụng phụ trên tim mạch, tương tác thuốc. Nói chung thế hệ 1
nhiều hạn chế. Carbatamid là SU đầu tiên được đưa vào sử dụng song do ức
chế tủy xương nên đã nhanh chóng bị loại bỏ, clopropamid là 1 SU có thời
gian bán thải dài nhất và tác dụng phụ nhiều nhất
nên cũng đã lãng quên,
tolbutamid tác dụng phụ trên tim mạch.
13

Chính do cơ chế tăng bài tiết insulin bằng việc đóng kênh K-ATP nên các
SU nói chung gây nhiều tác dụng phụ trên tim mạch, vì kênh K-ATP trên tim bị
đóng sẽ làm giảm sự co cơ tim gây thiếu máu cục bộ cơ tim. Riêng gliclazid và
glimepirid gắn đặc hiệu với tế bào β tụy hơn trên tim nên tác dụng phụ trên tim ít
hơn, ngoài ra glimepirid còn có thời gian bán thải dài có thể dùng 1 lần/ngày,

cũng đã có nghiên cứu cho rằng glimepirid có tỷ lệ gây nguy cơ hạ glucose máu
quá mức thấp hơn các SU khác mặc dù hiệu quả tương tự, vậy nên gluc
lazid và
glimepirid hiện đang được xem là thế hệ mới. Riêng glimepirid, có tác giả xếp
vào thế hệ 3 .
Các SU hấp thu tốt qua đường tiêu hóa, tuy vậy thức ăn và tình trạng
tăng glucose máu có thể làm giảm hấp thu. Tỷ lệ gắn với protein huyết tương
cao (90 – 99%) gắn ít nhất là clopropramid, gắn nhiều nhất là glyburid. Thể
tích phân bố của hầu hết các SU là vào khoảng 0,2L/kg .
Trong cơ thể, tất cả SU được chuyển hóa qua gan thành những chất
không còn hoạt tính hoặc hoạt tính yếu (tolbutam
id, tolazamid, glipizide và
glyburide), an toàn hơn với bệnh nhân suy thận .
* Chỉ định, cách dùng:
- ĐTĐ typ 2 trên bệnh nhân gầy hoặc bình thường (BMI <23).
- Khởi đầu với liều thấp nhất có thể sau đó tăng dần sau mỗi hai tuần
dựa trên mức độ kiểm soát glucose máu và các triệu chứng. Khi dùng liều
thấp uống 1 lần/ngày vào trước bữa sáng, liều cao hơn sẽ chia ra dùng 2 – 3
lần/ngày. Việc sử dụng liều t
hấp đặc biệt quan trọng với người già vì họ
thường ăn ít và chức năng thận kém nên dễ bị hạ glucose quá mức .
* Tác dụng phụ:
Nói chung tần suất xảy ra với SU là thấp, thường gặp nhất với nhóm
này là nguy cơ gây hạ glucose máu quá mức, đặc biệt là người già và những
người suy chức năng gan thận. Tỷ lệ này phụ thuộc vào từng t
huốc, vào bệnh
nhân và nhiều yếu tố khác .
Rối loạn tiêu hóa (< 2%): hạn chế bằng cách uống cùng bữa ăn, ngoại
trừ glipizid. Phản ứng da (< 2%), tim mạch, tăng cân.
14


1.2.3.2. Các biguanid( Metformin )
* Tác dụng và cơ chế:
- Tăng độ nhạy cảm của insulin, không làm tăng tiết insulin như
sulfonylure mà làm tăng hiệu quả của insulin có sẵn trong cơ thể, tức làm
giảm tính kháng insulin.
- Ức chế quá trình tạo glucose ( từ glycogen, lactat…tại gan ).
- Ức chế hấp thu carbonhydrat qua ruột.
- Kích thích sử dụng glucose tại các mô.
- Đã có nghiên cứu chứng minh metformin còn có khả năng cải thiện
tình trạng của lớp nội mạc. Metformin còn làm giảm nồng độ chất ức chế hoạt
hóa plasminogen typ 1 (PAI-1:
Plasminogen Activator Inhibitor typ 1), tăng
adiponectin. PAI-1 và adiponectin là những chất do tế bào mô mỡ tiết, trong
ĐTĐ và nhồi máu cơ tim thì nồng độ adiponectin giảm hơn bình thường. Vì
vậy metformin còn có tác dụng trên tim mạch .
* Phân loại – đặc điểm:
Hiện tại có 3 thuốc: phenformin, buformin, metformin.
Các biguanit đã được đề xuất đưa vào nghiên cứu ứng dụng điều trị
ĐTĐ từ những năm 1920, song do sự phát m
inh vĩ đại ra insulin thời kỳ đó đã
làm các nhà khoa học xao lãng. Mãi đến 1957 phenformin là biguanid đầu
tiên mới được dùng, tuy nhiên đến năm 1970 phải ngừng sử dụng do tỷ lệ tử
vong cao do tim mạch (nghiên cứu UGDP – University Group Diabetes
Program bị gián đoạn do dùng phenformin) . Buformin dùng từ 1958.
Metformin được cục quản lý thuốc và thực phẩm Mỹ (FDA) cấp phép năm
1995 và hiện nay đang là thuốc dùng phổ biến nhất, trở thành thuốc đầu tay
trong các phác đồ, là 1 biguanid có tỷ lệ nhiễm toan lactic rất ít (5 –
9/100.000). Metformin không bị chuyển hóa, không gắn vào protein huyết
tương, bài xuất chủ yếu qua ống thận. Tuy nhiên, metform

in hấp thu không
cao, sinh khả dụng chỉ khoảng 50 – 60%.
15

Do những cơ chế tác dụng như trên nên biguanid không gây hạ glucose
máu quá mức nếu dùng đơn trị liệu.
Không gây tăng cân, một số trường hợp còn giảm cân nhẹ.
* Chỉ định – cách dùng:
- ĐTĐ typ 2, ưu tiên người béo phì, người mắc hội chứng chuyển hóa.
- Uống cùng bữa ăn và bắt đầu với liều thấp rồi tăng dần để hạn chế tác
dụng phụ. Metformin nên bắt đầu với liều 500m
g/lần/ngày x 1 tuần, sau đó
500mg/lần với 2 lần/ngày dùng trong 1 tuần, cứ điều chỉnh như vậy trong
khoảng liều đến khi đạt hiệu quả kiểm soát glucose. Ngưỡng hiệu quả lâm
sàng trong khoảng 1500 – 2000mg/ngày, và liều tối đa là 3000mg/ngày .
- Chụp cản quang động tĩnh mạch phải ngừng metformin trước 48 giờ.
* Tác dụng phụ:
- Rối loạn tiêu hóa: tiêu chảy, buồn nôn…thường xảy ra khi mới bắt
đầu điều trị, sau giảm dần.
-
Nhiễm toan acid lactic. Do buformin gây tỷ lệ nhiễm toan acid lactic
cao nên đã không còn dùng trên lâm sàng. Phenformin ngoài gây tác dụng
phụ trên tim mạch cũng gây tỷ lệ nhiễm toan acid lactic cao (64/100.000). Vì
vậy, hiện nay nhóm biguanid chỉ có metformin được dùng cho bệnh nhân
ĐTĐ typ 2 .
- Gây thiếu vitamin B12, acid folic nếu sử dụng biguanid kéo dài, do
biguanid làm giảm hấp thu vitamin B12 và acid folic .
- Không dùng cho bệnh nhân suy tim nặng, bệnh gan (kể cả nghiện
rượu), bệnh thận (creatinin máu > 160μmol/l).
1.2.3.3. Glitazon (thiazolidinedion - TZD), Rosiglitazon, Pioglitazon

[2][19].
* Tác dụng và cơ chế:
-
Tăng độ nhạy cảm, cảm tính kháng của insulin. Tác động của nó chủ
yếu là vào các mô cơ (nơi mà glucose được sử dụng), gan (nơi mà glucose
16

được tạo ra) và tổ chức mỡ. Thuốc làm tăng tính nhạy cảm insulin với các cơ
quan trên bằng cách hoạt hóa PPARγ (Peroxisome Proliferator Activated
Receptor gamma) vì vậy làm tăng thu nạp glucose từ máu vào cơ .
- Bộc lộ một vài protein có tác dụng thực hiện chức năng của insulin
trong vận chuyển glucose như GLUT1, GLUT4 .
- Ngăn cản giải phóng TNFα, leptin từ tế bào mỡ. Các nghiên cứu cho
thấy TNFα và leptin thường tăng cao ở những bệnh nhân ĐTĐ.
-
Tăng nồng độ adiponectin (glimepirid, một thuốc thuộc nhóm
sulfonylure cũng có tác dụng phụ này). Adiponectin là chất được tế bào mỡ tiết
ra nhưng lại có tác dụng ức chế lại tế bào mỡ tiết TNFα và leptin. Người ta
nhận thấy, những người có nồng độ adiponectin máu thấp là những bệnh nhân
bị ĐTĐ, có nguy cơ mắc các bệnh tim mạch cao. Vì vậy, các thuốc này còn có
vai trò quan trọng trong phòng ngừa biến cố tim mạch . Vì
vậy, glitazon có thể
có vai trò trong hạn chế bệnh tim mạch, song còn nhiều tranh cãi .
- Glitazon còn có tác dụng ngăn cản quá trình tân tạo glucose tại gan.
- Ngoài tác dụng chính là hạ glucose máu còn giảm triglycerid (10 –
20%), tăng HDL (khoảng 19%). Mặc dù tăng cả LDL (tới 12%) song các
nghiên cứu cho thấy cải thiện rõ rệt các biến cố ở mạch máu lớn khi dùng
pioglitazone cho ĐTĐ typ 2 . Tuy nhiên, một thuốc khác trong nhóm TZD là
rosiglitazone lại đang có một số đánh giá sơ bộ (chưa có kết luận chính thức)
cho thấy nguy cơ gây suy tim

và nhồi máu cơ tim tăng nên cũng khuyến cáo
không dùng ở bệnh nhân suy tim sung huyết .
* Phân loại, đặc điểm:
Nhóm TZD ra đời vào năm 1997, được xem là nhóm thứ hai có tác
dụng tăng mức độ nhạy cảm insulin (nhóm thứ nhất là biguanid). Troglitazon
là thuốc đầu tiên trong nhón TZD được dùng nhưng đến năm 2000, Mỹ rút
giấy phép lưu hành do tỷ lệ biến chứng nhiễm độc gan nặng. Hiện tại nhóm
TZD còn các thuốc được sử dụng là
rosiglitazone (biệt dược Avandia),
pioglitazone (biệt dược Actos). Và ciglitazone có liên quan đến suy tim sung
huyết nên một số quốc gia không dùng.
17

×